Skip to content

BÍ MẬT CỦA MỘT CHIẾN DỊCH PHẢN GIÁN (V)

Nguyễn Khắc Đức

Từ trái qua phải: Đồng chí Lê Thanh Vân (Sáu Ngọc), Giám đốc CA TPHCM và đồng chí Lê Tiền, kiểm tra “hàng đặc biệt” (tiền giả) mà ta thu được.

Chúng ta đã nắm được âm mưu và ý đồ của Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh trong việc chống phá cách mạng Việt Nam và ảo tưởng lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Lúc đầu, chúng chỉ đặt ra mục đích “giải phóng” miền Nam Việt Nam, nhưng sau đó được sự hậu thuẫn của các thế lực đế quốc và phản động quốc tế, Túy và Hạnh điều chỉnh ý đồ chiến lược đầy tham vọng. Lê Quốc Túy đổi tên “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Miền Nam Việt Nam” thành “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Việt Nam”.

Qua bức điện của Túy gửi cho CM-12, chúng ta thấy y cũng rất phấn khởi và rất muốn vào “quốc nội” như Mai Văn Hạnh để kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của chúng. Ngày 10/5/1982, Lê Quốc Túy điện cho biết là: “C4 và C5 sẽ vào cuối tháng với 12K và 8,5 tấn phân gồm 630 cục đá. Chương trình 5 hôm, ngoài việc gặp với các tổ, mỗi tổ 3 giờ, phải dự trù nửa ngày cho C.5 S.G ( Lê Quốc Quân – TG) và bác Tư (Huỳnh Vĩnh Sanh – TG). Riêng cậu út và thím Ba một ngày. Nếu có thể bố trí cho tổ N.C.B, A.Đ. và C.T lưu lại trong suốt thời gian nói trên. Sắp đặt không cho các tổ biết nhau. Sẽ xác định trước vài hôm ngày tới”.

Sau khi quán triệt sự chỉ đạo của lãnh đạo Bộ và căn cứ vào thực tế, Ban chỉ đạo Kế hoạch CM-12 bàn rất kỹ và thống nhất kế hoạch đối phó với địch trong thời gian tới. Đồng chí Lê Tiền, Tổ phó Tổ An ninh K4/2 được đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm cử ra Hà Nội báo cáo về kế hoạch đối phó của ta và xin chỉ thị của Bộ trưởng.

Thiếu tướng Lê Tiền, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, tham gia cách mạng từ lúc còn nhỏ, làm liên lạc cho Ủy ban Kháng chiến Liên khu 1, sau đó chuyển sang ngành công an. Trước khi vào miền Nam chiến đấu năm 1961, ông đã là Trưởng phòng Bảo vệ chính trị của Công an tỉnh Vĩnh Phúc. Khi vào miền Nam, ông chiến đấu ở chiến trường miền Tây Nam Bộ rồi ở miền Đông Nam Bộ. Ông có trí nhớ rất tuyệt vời và có tác phong làm việc cực kỳ tỉ mỉ, thận trọng. Cùng với đồng chí Nguyễn Phước Tân, đồng chí Lê Tiền là những trợ lý đắc lực của đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm trong công tác an ninh.

Ngày 12/5/1982, đồng chí Lê Tiền bay ra Hà Nội. Bộ trưởng sắp xếp làm việc với đồng chí Lê Tiền vào buổi tối hôm đó, từ 7 giờ tối đến 9 giờ. Cùng dự có cả đồng chí Thứ trưởng Trần Đông. Đồng chí Lê Tiền báo cáo với đồng chí  Bộ trưởng Phạm Hùng về nhận định về tình hình và kế hoạch đấu tranh của ta, trong đó có việc gây trở ngại để chưa cho Túy và Hạnh vào.

Sau khi hỏi thêm một số chi tiết, đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng và đồng chí Thứ trưởng Trần Đông trao đổi, nhận định tình hình, cân nhắc các tình huống có thể xảy ra, cuối cùng đồng chí Bộ trưởng kết luận như sau: Trong kế hoạch này ta nắm chặt toàn bộ lực lượng địch xâm nhập, vũ khí, phương tiện… Một phần lớn lực lượng nội địa của địch thông qua ta để móc  ráp, tuy ta chưa biết hết mạng lưới ở dưới nhưng đã biết được một số tên nòng cốt của từng mạng lưới. Cho nên Túy và Hạnh vào dù có quyết định những chủ trương liều lĩnh nào  đó, ta vẫn có đủ cách đối phó, địch có triển khai thêm lực lượng vào các địa bàn mới ta cũng có kinh nghiệm bắt chúng sử dụng theo ý định của ta. Bọn nội địa có thể có tên hung hăng, manh động, nếu thấy có nguy hiểm ta vẫn có thể chủ động đánh tỉa, bắt giữ, gây khó khăn, không để chúng hành động được. Cũng có thể có lúc địch nghi ngờ điều này, điều khác, ta phải làm cho địch tin bằng cách lý giải của ta. Có thể có lúc địch tạm dừng để xem xét, kiểm tra sau đó vẫn bắt buộc tiếp tục kế hoạch. Do đó, hiện nay ta nên kiên định kế hoạch đấu tranh, cho Túy và Hạnh vào để làm rõ thêm âm mưu, tổ chức và hành động sắp tới của chúng.

Đây là quyết định rất táo bạo nhưng được suy tính kỹ lưỡng trong việc cho cả Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh cùng vào, hơn nữa lại không kết thúc Kế hoạch CM-12 ngay mà vẫn cho hai tên đầu sỏ trở ra nước ngoài. Đồng chí Bộ trưởng cũng chỉ đạo cụ thể về kế hoạch đấu tranh của ta. Tuy nhiên, theo kế hoạch của địch, ta phải đối phó với hai vấn đề khá hóc búa như có cho chúng mang tiền giả vào hay không? Khi Túy và Hạnh vào kiểm tra có nên bắt hai tên đầu sỏ này hay chưa?

Lúc đầu Bộ trưởng Phạm Hùng không cho mang tiền giả vào. Phương án là có thể dùng lực lượng không quân ném bom tiêu diệt hai tàu B1 và B2 trên đường vào. Bộ trưởng Phạm Hùng có trao đổi phương án này với  Đại tướng Văn Tiến Dũng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Nhưng sau khi cân nhắc các yếu tố thì thấy có thể ảnh hưởng đến kế hoạch chung nên phương án này bị huỷ bỏ. Cuối cùng, Bộ trưởng Phạm Hùng chỉ đạo chấp nhận cho đưa tiền giả vào chỉ thị là bằng mọi giá kiên quyết không để lọt ra ngoài.

Vấn đề thứ hai thì qua tính toán, ta mới chỉ “hút” vào, bắt giữ và tiêu diệt khoảng gần 100 tên, trong khi đó ở trung tâm địch còn đang tuyển mộ thêm lực lượng, do vậy quyết định kiên trì mục tiêu chiến lược đã đề ra là “thu hút toàn bộ lực lượng của địch”, buộc chúng phải đưa hết lực lượng ở nước ngoài xâm nhập về theo kế hoạch của ta, tổ chức bắt gọn các toán gián điệp biệt kích, thu toàn bộ vũ khí, phương tiện. Vì vậy, lãnh đạo Bộ quyết định vẫn cho Túy và Hạnh trở ra sau khi “làm việc” để tính toán thực hiện chủ trương chiến lược.

Sau đó, đích thân Bộ trưởng Phạm Hùng vào TP HCM, kiểm tra công tác chuẩn bị “đón” Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh. Đặc biệt, trong chuyến này, theo kế hoạch của địch là đưa tiền giả (hàng đặc biệt) vào. Do đó, công việc nhận “hàng” lần này được bàn rất kỹ, nhất là số hàng “đặc biệt”. Công tác hậu cần phục vụ chiến dịch này được bảo đảm chu đáo, từ tàu thuyền, xe cộ, xăng dầu, lương thực, kinh phí, thuốc men. Mặt khác, trong Kế hoạch CM-12, chủ trương “dùng địch đánh địch” kể cả việc khai thác nguồn tài chính, một số cơ sở vật chất của địch cung cấp cho lực lượng “quốc nội” mà thực chất là của ta để đánh lại địch rất có hiệu quả.

Phải nói rằng, vào thời kỳ bao cấp, đất nước còn khó khăn, việc tổ chức được như thế là cả một vấn đề. Hơn nữa, lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước cũng rất quan tâm đến vấn đề này. Có lần đồng chí Phạm Hùng báo cáo với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng về quá trình tổ chức đấu tranh với địch trong Kế hoạch CM-12, người đứng đầu Chính phủ ta lúc đó đã nói là sẵn sàng ưu tiên cho lực lượng an ninh, nếu cần thiết thì sẽ chi cả kinh phí đặc biệt của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng để đảm bảo cho kế hoạch đánh địch thắng lợi.

Tất cả các bộ phận được phân công đều triển khai nhiệm vụ một cách khẩn trương và Ban chỉ đạo phân công từng đồng chí chỉ huy kiểm tra và báo cáo kết quả chuẩn bị. Mọi việc cũng đã sẵn sàng để đón “C4, C5”.

Vào ngày 23/5/1982, CM-12 có nhận được một bức điện của Trung tâm địch cho biết: “C4 đến trước với 10 cán bộ thành… C5 vào sau 2 ngày với phân bố như đã hứa. Mọi tổ chức để gặp nhau với tất cả các tổ và giới chức. Phải cẩn thận ai cũng có thể bị Cộng sản theo dõi”.

Việc C4 và C5 không cùng vào là tình huống nằm ngoài dự kiến của ta, vì vậy ta kiên quyết không để chúng thực hiện ý định này. Lấy lý do “rất khó bố trí tiếp đón và bảo đảm an ninh di chuyển đến nơi làm việc”, ta yêu cầu cả Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh cùng vào một lúc và nhắc lại đề nghị phải vào trước 21 giờ. Đề nghị này được đáp ứng. Ngày 25-5-1982, trung tâm thông báo cho Tổ đặc biệt “C4 và C5 sẽ tới tối 1/6 như trù liệu, sẽ có 600 gói hàng và 10 cán bộ thành”. Tuy nhiên, thực tế không diễn ra như mong muốn của ta và cả Lê Quốc Túy. Tàu của Mai Văn Hạnh đi nước khác về trễ hơn dự kiến, Túy liên tục hẹn vào tối 2 rồi 3/6 và cuối cùng ấn định chắc chắn là tối 4/6/1982 sẽ vào. Ngày 3/6, Túy sang tàu B2 cùng với Mai Văn Hạnh xâm nhập Việt Nam. Một toán gián điệp biệt kích gồm 11 tên (chứ không phải 10 tên như chúng thông báo) do T.N.M (K18) làm toán trưởng cùng vào trong chuyến này.

Sáng 4/6, anh em trong Tổ đặc biệt đi từ “nhà thiếc” – nơi đặt “sở chỉ huy tiền phương” của ta  ra huyện Trần Văn Thời. Chiều thì đến nơi và ra chốt chỉ huy. Trời tối dần. Biển tím ngắt. Gió thổi mát rười rượi. Thời gian nặng nề nhích từng phút một. Đúng 21 giờ 30 phút, từ trong màn đêm, đèn tàu địch xuất hiện và nháy sáng theo quy định. Khi tàu ta cập được vào tàu địch, Trần Văn Bá ra đón. Bọn gián điệp biệt kích nằm im và chĩa súng vào tàu của ta đề phòng bất trắc. Trần Văn Bá lên tiếng chào anh Hai (Tám Thậm) và K64 sau đó dẫn tới chỗ Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh để giới thiệu “anh Hai” với “Chủ tịch”. Lê Quốc Túy thông báo sơ bộ về “thuốc nổ đặc biệt” (tiền giả), vũ khí và toán của K18 trong chuyến này. Đồng chí Tám Thậm “báo cáo” cho “Chủ tịch” và “Chú Năm” biết về lịch trình đi vào việc tiếp nhận “hàng” và toán của K18. Túy và Hạnh chăm chú lắng nghe, vẻ hài lòng. Cả hai đều bận đồ bà ba màu đen như nhiều ông già Nam Bộ. Sau đó, Túy và Hạnh được anh Tám Thậm và K64 đưa vào nội địa theo kế hoạch.

Đưa Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh đi xong thì ta cũng “nhận” quân của toán T.N.M (K18). Cả toán gồm 11 tên được đưa vào hầm chiếc tàu và một chiếc ghe rồi đi thẳng vào cửa sông ông Đốc, sau đó đến địa điểm đã bố trí sẵn. Trong khi đó, đồng chí Mười Lắm cùng lực lượng thủy thủ của ta đi trên ghe nhận “hàng”. Đồng chí Thi Văn Tám chỉ huy việc đưa “hàng” về địa điểm tập kết tại cầu Sập, cách thị xã Bạc Liêu vài kilômét, bàn giao cho đồng chí Ba Bút nhận. Tiền giả địch mang vào rất giống tiền thật. Trong chuyến này, địch còn đưa vào 637 thùng thuốc nổ cực mạnh, ta cũng thu giữ an toàn.

Ngày hôm sau, đồng chí Phạm Hùng chỉ thị là bằng mọi biện pháp, bằng mọi cách đối phó, giữ ngay số tiền giả. Nếu đã đưa cho bọn chúng chở về thành phố thì phải tổ chức xét và lấy lại cho bằng được tất cả và giữ cả người.

* * *

Trong thời gian Túy và Hạnh ở “quốc nội”, ta cho A.Đ từ TP HCM xuống Minh Hải gặp lại người tình cũ. Đó là một phụ nữ trạc ngoài 40, còn chút nhan sắc. Thị chỉ mang theo một giỏ sầu riêng. Túy và cô bồ cảm động, mừng rỡ, ôm nhau một cách tự nhiên. A.Đ nói: “Được báo là em đi, chứ dọc đường không chắc là gặp anh ở đây. Không ngờ lại gặp anh ở Cà Mau”. Lê Quốc Túy hể hả: “Thấy không? Anh nói là anh làm mà. Anh làm là thành công. Hôm nay gặp đây là bước đầu của sự thắng lợi đó em”. Cả hai ngồi tâm sự trên chiếc giường nhỏ rất thân tình.

Còn Mai Văn Hạnh lặng thinh, có ý chờ đợi người tình của mình. Nhưng C.T không tới. A.Đ đưa cho Năm Hạnh bức thư của C.T. Hạnh lấy kính ra và đọc rất kỹ bức thư. Sau đó y đi ra ngoài và không nói gì.

Các ngày sau đó, ta bố cho Túy, Hạnh gặp lại Huỳnh Vĩnh Sanh, Lê Quốc Quân và một số cơ sở của ta theo kế hoạch. Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh trực tiếp nghe và có vẻ hài lòng với báo cáo của các tổ. Túy khen việc các tổ làm được là những “thắng lợi” bước đầu, sắp tới sẽ giải quyết yêu cầu cho các tổ. Túy nói việc cấp tiền và vũ khí sẽ do “Tổ đặc biệt” giải quyết. Sau đó Lê Quốc Túy khoe là đã đi vận động nhiều nước, kể cả CIA. Nào là “Mặt trận” bây giờ “tiếng tăm lừng lẫy”. Túy chê lực lượng của Hoàng Cơ Minh “không là cái gì” và nói khoác nếu Hoàng Cơ Minh muốn về nước thì Túy cho quá giang về. Lê Quốc Túy hứa cấp cho Lê Quốc Quân 500.000 đồng. Quân mừng lắm. Việc này Túy “chỉ thị” cho “Tổ đặc biệt” thực hiện.

Ta buộc phải đưa 500.000 tiền giả cho Lê Quốc Quân. Tuy nhiên, ta cũng đã có kế hoạch phá án TQ-42. Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ trưởng, lấy lý do Quân mang tiền giả ta bắt y trên đường về. Mười ngày sau đó, CM-12 điện thông báo cho Lê Quốc Túy biết là Quân đã bị bắt vì “xài tiền giả”.

Đến chiều 11/6, tàu của ta đưa Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh trở ra vàm Mỹ Bình. Trong khi đó, một con tàu đánh cá đi qua chiếc tàu chở Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh. Tất nhiên là Túy và Hạnh không biết trên tàu đó có những ai. Được sự đồng ý của đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm, các đồng chí Trưởng ty Công an các tỉnh từ Vũng Tàu  đến Minh Hải để chứng kiến việc ta tổ chức cho Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh xâm nhập theo kế hoạch, đồng thời đây cũng là dịp để các đồng chí chỉ huy công an ven biển tham quan chiến trường, có thể rút kinh nghiệm cho việc đấu tranh chống xâm nhập. Các đồng chí Sáu Ngọc (Giám đốc Công an TP HCM), Chín Nghĩa (Tây Ninh), Tư Nam (Bà Rịa – Vũng Tàu), Ba Trắng (Cửu Long), Mười Việt (An Giang), Ba Thành (Bình Dương), Tư Chiểu (Long An), Sáu Huấn (Tiền Giang), Võ Thái Hòa (Đồng Tháp), Hai Hồng (Kiên Giang) đã tham gia chuyến đi này.

Trời tối dần. Vào khoảng 19 giờ, bóng đêm buông xuống. Lúc đó, 2 tàu địch từ nước ngoài vào cũng vừa tới. Chuyến này địch cho xâm nhập một toán quân nữa gồm 12 tên do Đ.Q.B chỉ huy và đưa thêm 9 tấn vũ khí, gồm 450 thùng đạn B40 vào. Ta tiếp nhận và tổ chức bắt giữ chúng theo kế hoạch được chuẩn bị từ trước một cách chủ động. Còn Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh thoả mãn lên tàu trở lại Thái Lan sau một chuyến xâm nhập “thành công”. Đêm tối mênh mông nhưng yên tĩnh. ( còn tiếp)

BÍ MẬT CỦA MỘT CHIẾN DỊCH PHẢN GIÁN (IV)

Nguyễn Khắc Đức

Do phạm vi, đối tượng đấu tranh của CM-12 đã vượt tầm cỡ một “chuyên án”, mặt khác, do các đối tượng đấu tranh lại không đơn thuần là gián điệp biệt kích mà còn mang tính chính trị hết sức nhạy cảm, nên đến đầu tháng 6/1981, đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng gọi đây là “Kế hoạch CM-12”.

Lê Quốc Túy – Mai Văn Hạnh

Trong phiên liên lạc đầu tiên với trung tâm địch dưới danh nghĩa là “Tổ đặc biệt” vào lúc 21giờ ngày 25/5/1981, ta chỉ gửi một bức điện ngắn có nội dung như sau: “Tất cả đều an toàn và công tác đang xúc tiến. Vũ khí đã chôn giấu xong. Cần thêm cán bộ thành và tiền bạc. Hẹn 20 giờ ngày 28/5/1981 lên máy”. Trung tâm của địch cũng chuyển cho “Tổ đặc biệt” một bức điện: “Tàu đã về tới B. vô sự. Ngày giờ khởi hành chuyến thứ nhì sẽ cho biết sau. Tổng đài sẽ trực máy theo giờ quy định”.

 

Phiên liên lạc đầu tiên thành công.

 

Đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm rất vui, khen ngợi các cán bộ, chiến sĩ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ đặc biệt này. Đêm hôm đó tất cả cùng được thưởng thức một nồi cháo gà thật ngon lành. Anh em cảm thấy sung sướng vì công việc bước đầu đã thành công.

 

Sau khi anh em về nghỉ, đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm và đồng chí Nguyễn Phước Tân bàn bạc về những công việc sắp tới. Đồng chí gợi ý là ta phải thiết kế một kế hoạch, chọn bãi đổ, làm “mật cứ” giả… Rồi cần phải đấu tranh với các mảng của địch trong nội địa như thế nào, làm sao cho địch bộc lộ hết những cơ sở của chúng ở trong nước…

 

* * *

 

Sau thắng lợi ban đầu là thực hiện việc liên lạc giữa CM-12 và “Tổng hành dinh” đã được “nối”, cơ quan an ninh bàn kế hoạch đón chuyến xâm nhập mới của địch. Kế hoạch được vạch ra rất khẩn trương và được báo cáo lên đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng. Sau đó vài hôm, ngày 29/5, Bộ trưởng có ý kiến chỉ đạo và nêu rõ 4 điểm cần chú ý nghiên cứu kỹ và bố trí kế hoạch thực hiện cho chu đáo. Đồng chí Bộ trưởng còn chỉ đạo cụ thể về cách tổ chức đón bắt địch xâm nhập.

 

Do phạm vi, đối tượng đấu tranh của CM-12 đã vượt tầm cỡ một “chuyên án”, mặt khác, do các đối tượng đấu tranh lại không đơn thuần là gián điệp biệt kích mà còn mang tính chính trị hết sức nhạy cảm, nên đến đầu tháng 6/1981, đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng gọi đây là “Kế hoạch CM-12”.

 

Lãnh đạo Bộ Nội vụ nêu yêu cầu của Kế hoạch CM-12 là: Thu hút, đánh bắt hết các lực lượng xâm nhập theo kế hoạch của ta.  Thông qua bọn Túy – Hạnh để bóc gỡ lực lượng bí mật của chúng ở trong nội địa. Từ công tác đấu tranh phản gián trong Kế hoạch CM-12 ta cần nắm cho được  toàn bộ âm mưu của các thế lực thù địch với cách mạng nước ta. Bảo đảm an toàn tuyệt đối an ninh của đất nước, kiên quyết không để cho địch phá hoại. Nâng cao trình độ năng lực chiến đấu của lực lượng an ninh. Từng bước rút kinh nghiệm về tổ chức công tác an ninh trong quá trình đấu tranh.

Trong thời gian này, một mặt ta vẫn tiếp tục chuẩn bị về việc đón nhận chuyến xâm nhập tiếp theo của bọn gián điệp biệt kích, đồng thời tiến hành các biện pháp điều tra đối với các mảng khác trong nội địa có liên quan đến CM-12 như cụm Lê Quốc Quân,  cụm Lê Chơn Tình và cụm Hồ Tấn Khoa trong đạo Cao Đài. Tổ An ninh K4/2 được giao nhiệm vụ chỉ đạo và phối hợp với các đơn vị, công an các địa phương liên quan như thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, An Giang… đấu tranh với các chuyên án có liên quan. Yêu cầu bảo đảm bí mật đối với công tác đấu tranh với CM-12 rất cao, nhưng ta lại phải đấu tranh với nhiều chuyên án có liên quan, phạm vi khá rộng, có nhiều đối tượng, vì vậy nhiệm vụ lại càng khó khăn gấp bội.

 

* * *

 

Trong khi đó, các yêu cầu của “chủ tịch” Lê Quốc Túy đều được “tổ công tác đặc biệt” thi hành một cách “nghiêm chỉnh” nhưng cũng làm cho Túy hiểu là không phải hoàn toàn dễ dàng.

 

Để có lực lượng trực tiếp tham gia đấu tranh trong chuyên án này,  đồng chí Trần Phương Thế, tức Tám Thậm, Trưởng phòng Bảo vệ chính trị của Công an Minh Hải được chọn vào vai NK-A1, nghĩa là “Kinh Kha số 1” ở trong nước. Để tránh lộ bí mật, ta thường gọi NK-A1 là A1, tên thường dùng khi hoạt động của anh Tám Thậm là Hai Tài, còn bọn biệt kích thường gọi là Hai Râu vì anh Tám Thậm vốn có bộ râu quai nón rất đẹp.

 

Đồng chí Tám Thậm lúc đó mới ngoài ba mươi tuổi, tính điềm đạm, cẩn thận và chắc chắn. Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng chí làm hiệu thính viên, chữ viết rất đẹp. Địa bàn Cà Mau thì anh rất thông thuộc. Nếu có các tình huống xuất hiện ngoài dự kiến của Ban lãnh đạo kế hoạch anh cũng có đủ khả năng để xử lý khi cần thiết. Tuy nhiên, đồng chí Tám Thậm chưa hoạt động trong lòng địch, kinh nghiệm hoạt động bí mật chưa nhiều, chưa sử dụng ngôn ngữ trong chế độ cũ thường dùng trước đây.

 

Mặt khác, ở Minh Hải, rất nhiều người biết mặt đồng chí Tám Thậm, ta không loại trừ một số người vượt biên hoặc bọn biệt kích có thể nhận biết, nhất là trong trường hợp Túy, Hạnh yêu cầu ra nước ngoài để huấn luyện, hội họp… Nhưng đồng chí Tám Thậm có ngoại hình phù hợp với “vai” được giao, nhất là khi anh để râu quai nón, rất dễ ngụy trang và có thể khắc phục những “nhược điểm” ấy. Đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng và đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm tỏ ý hài lòng về sự lựa chọn này.

 

Người đóng vai NK-A2 là đồng chí Hồ Việt Lắm (hiện nay là Thiếu tướng, Cục trưởng Cục An ninh Tây Nam Bộ), lúc đó là Phó Công an huyện phụ trách An ninh của Công an huyện Trần Văn Thời.

 

Đồng chí Mười Lắm cũng là người địa phương này, am hiểu ngọn nguồn sông lạch và là người đã được đào tạo về nghiệp vụ trinh sát. Một số cán bộ của Tổ An ninh K4/2 như Nguyễn Khánh Toàn, Vũ Thành Hà, Trần Tôn Thất, Trần Lương Tư…, khi cần có thể thực hiện các vai được phân công. Đồng chí Nguyễn Văn Xíu, tức Ba Tài cũng được chọn đưa vào kế hoạch với vai phụ tá điện đài và lo cơm nước, bảo vệ…

 

Các đồng chí này đều phải làm việc trong điều kiện giữ bí mật tuyệt đối. Thậm chí, họ hàng và người ngoài không biết các đồng chí này còn làm việc cho công an nữa…

 

* * *

 

Trong các bức điện gửi cho “Tổ đặc biệt”, Lê Quốc Túy cho biết ý đồ của y là định đưa vào 3 chuyến trong tháng 9/1981 với khối lượng vũ khí khoảng 40-50 tấn. Ngày 25/8/1981, trung tâm địch gửi một bức điện hỏi “Tổ đặc biệt” là “trong đêm có thể đổ hai bãi cùng một lúc được không, khoảng 15 tấn 2 tàu”. Cũng trong bức điện này chúng còn yêu cầu K64 chuẩn bị một địa điểm an toàn tạm trú cho “6 cán bộ thành”.

 

Như vậy là có thêm tình huống địch sẽ cho một toán gián điệp biệt kích xâm nhập trong chuyến này. Công việc chuẩn bị của ta không chỉ đón “hàng” mà còn bắt bọn gián điệp biệt kích, tổ chức khai thác để phục vụ công tác nghiệp vụ tiếp theo.

 

Trong phiên liên lạc vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 31/8/1981, trung tâm địch thông báo cho “Tổ đặc biệt” 2 tàu xâm nhập sẽ khởi hành vào ngày 6/9/1981. Qua biện pháp trinh sát khác, chúng ta cũng nắm được quá trình chuẩn bị, tên tuổi cụ thể số “cán bộ thành” sắp xâm nhập  và chỉ huy chuyến xâm nhập này là T.N.C, có ám danh là K19.

 

Trong những ngày hạ tuần tháng 8/1981, công việc chuẩn bị rất khẩn trương. Sau khi nghiên cứu kỹ, ta quyết định chọn các bãi đổ cho Kế hoạch CM-12 ở vùng phía tây mũi Cà Mau chứ không ở phía đông. Vùng biển phía tây vừa có nhiều luồng lạch và thường lặng sóng. Bãi đổ ở khu vực này không sình lầy nhiều như vùng phía đông.

 

Kế hoạch được báo cáo lên đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng và được đồng chí Bộ trưởng phê duyệt.

 

Chiều 7/9/1981, đồng chí Cao Đăng Chiếm và đồng chí Nguyễn Phước Tân từ TP Hồ Chí Minh đi xuống Minh Hải. Các đồng chí Sáu Phương, Ba Dũng, Sáu Sáu, Tám Phú, Hoài Việt, Năm Xinh, Hai Minh từ công an các tỉnh đã có mặt tại trại Cây Gừa. Đồng chí Nguyễn Phước Tân thông báo tình hình và phân công từng đồng chí chuẩn bị khai thác đối tượng khi chúng bị bắt

 

Đúng như ta dự đoán, “Tổ đặc biệt” nhận được điện của trung tâm địch gửi, cho biết khoảng 20 giờ ngày 9/9 tàu sẽ đến bãi đổ.

 

Lực lượng của ta đã triển khai theo phương án chiến đấu thứ nhất. “Tổ đặc biệt” chuẩn bị ra bãi biển. Các đồng chí Thi Văn Tám, Trần Phương Thế, Hồ Việt Lắm và một số chiến sĩ Công an Minh Hải đã chuẩn bị đủ vỏ lãi để “nhận” người và không quên mang theo 6 chiếc khóa số 8.

 

Biển tốt. Gió nhè nhẹ. Đúng 19 giờ 10 phút ngày 9/9/1981, hai chiếc tàu đã vào đến bờ biển Minh Hải. So với thời gian dự định, chúng vào sớm gần một tiếng đồng hồ. T.N.C  (K19) quyết định cho hai chiếc tàu neo cách cửa sông ông Đốc khoảng 2.000 mét chờ các “chiến hữu” ra đón. Sau khi phát và nhận tín hiệu, hai bên gặp nhau và trao đổi những điều cần thiết. K19 ra lệnh cho bọn ở trên tàu ném “hàng” xuống biển. Phải mất hơn 3 tiếng mới thả “hàng” xong. K19 bàn giao thư và quà của Lê Quốc Túy gửi cho “Tổ đặc biệt”. Việc vớt vũ khí tương đối vất vả, mãi tới tối 10/9/1981 mới xong và chất lên ba chiếc tàu.

 

Trong lúc đó, 6 tên “cán bộ thành” đi theo người của “Tổ đặc biệt”. Cả toán đi được khoảng 4km thì đến một con kinh. Ở đây đồng chí Mười Lắm chỉ huy 12 chiến sĩ an ninh của ta đã mai phục bắt gọn 6 tên biệt kích. Diễn biến trận đánh rất nhanh, gọn, không một tiếng súng nổ.

 

Chiến công này có ý nghĩa rất quan trọng và quyết định đối với kế hoạch CM-12 sau này. Có thể gọi đây là chiến công đầu trong Kế hoạch CM-12. Lãnh đạo Bộ đánh giá cao thành tích của lực lượng tham gia đấu tranh với chuyên án. Thắng lợi này nâng cao tinh thần và càng củng cố niềm tin vào kế hoạch đánh địch tiếp theo.

 

Bộ trưởng Phạm Hùng đã báo cáo về Kế hoạch CM-12 cho các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước như đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn, đồng chí Trường Chinh, đồng chí Phạm Văn Đồng và đồng chí Lê Đức Thọ. Bộ Chính trị rất phấn khởi và căn dặn cần phải thận trọng, kiên quyết làm thất bại âm mưu của địch, nhưng đồng thời không để địch phá hoại ta trong quá trình thực hiện Kế hoạch CM-12.

 

* * *

 

Kế hoạch CM-12 tiếp tục giành được những thắng lợi quan trọng. Tháng 3/1982, Mai Văn Hạnh có ý định xâm nhập Việt Nam và thông báo cho “Tổ đặc biệt” biết qua bức thư của y, trong đó có yêu cầu liên lạc với Huỳnh Vĩnh Sanh và một số đầu mối khác, bố trí cho họ xuống gặp Hạnh tại Minh Hải.

 

Người của ta tiếp cận được với Huỳnh Vĩnh Sanh và  Lê Quốc Quân, thông báo ý kiến của Hạnh. Cả hai rất phấn khởi và nhận lời sẽ đi “căn cứ” gặp Hạnh. Đồng chí Lê Tiền chỉ đạo thực hiện kế hoạch đưa Huỳnh Vĩnh Sanh và Lê Quốc Quân xuống gặp Mai Văn Hạnh trong chuyến xâm nhập tới. Chúng ta cũng có kế hoạch  khéo léo khai thác thật kỹ Huỳnh Vĩnh Sanh để nắm được nội dung mà ông ta sẽ trao đổi khi gặp Mai Văn Hạnh.

 

Ban chỉ đạo Kế hoạch CM-12 lập kế hoạch đón, đưa, bố trí Mai Văn Hạnh vào nội địa và đặt ra yêu cầu đối phó với việc kiểm tra của Mai Văn Hạnh làm sao để Hạnh tin tưởng vào “Tổ đặc biệt” và các “cơ sở”,  qua đó, buộc chúng bộc lộ lực lượng ngầm, âm mưu, kế hoạch hành động sắp tới của chúng. Đồng chí Phạm Hùng thấy báo cáo hợp lý và phê duyệt kế hoạch của Ban chỉ đạo CM-12.

 

Lãnh đạo Bộ Nội vụ nhận định rằng, việc tổ chức thực hiện kế hoạch đón Mai Văn Hạnh vào kiểm tra thành công sẽ có ý nghĩa rất quan trọng, có tính chất quyết định Kế hoạch CM-12 tiếp tục hay không. Bởi vì nếu Hạnh vào thấy tình hình khả quan thì sẽ báo cáo lại cho Túy tiếp tục hành động. Mặc dù tính cách của Túy và Hạnh xung khắc với nhau nhưng Túy lại rất tin Hạnh và cần Hạnh.

 

Đúng như kế hoạch của Túy – Hạnh và ta đã khéo léo “tương kế tựu kế”, Mai Văn Hạnh xâm nhập Việt Nam trong một chuyến tàu mà ta đã biết trước và tổ chức “đón tiếp” khá chu đáo. Trong thời gian Mai Văn Hạnh ở Minh Hải, ta bố trí cho Huỳnh Vĩnh Sanh, Lê Quốc Quân gặp y.

 

Do chuẩn bị chu đáo và các cán bộ, chiến sĩ an ninh cũng như người của ta thực hiện tốt kế hoạch nên Mai Văn Hạnh và đồng bọn rất phấn khởi, tin tưởng vào “Tổ đặc biệt” và “các lực lượng ngầm” ở trong nước. Mặc dù Mai Văn Hạnh tỏ ra rất xảo quyệt, dùng thủ đoạn kiểm tra chéo, hỏi riêng từng người về một sự việc, nhưng do ta đã có kế hoạch đối phó rất bài bản nên y không nghi ngờ gì. Trái lại, y rất tin vào “Tổ đặc biệt”.

 

Lúc Huỳnh Vĩnh Sanh gặp Mai Văn Hạnh ở Minh Hải, Sanh phấn khởi nói với Hạnh:

 

– Tôi không thể tưởng tượng được là chúng mình lại được gặp nhau ở đây. Tôi nói thiệt, gặp anh ở đây là thắng lợi rồi. Trên thế giới không có tổ chức nào làm được điều này – ý của Huỳnh Vĩnh Sanh là nói đến các tổ chức phản động người Việt lưu vong hoạt động chống phá cách mạng nước ta không có được đám nào làm nổi việc này.

 

Do tàu của địch bị sự cố và phải khởi hành chuyến tiếp theo chậm hơn một ngày, nên ta để Hạnh ở thêm một ngày nữa ở trong nước. Sáng hôm sau, Mai Văn Hạnh và anh em mình “từ giã” ông bà Sáu Tiệm cơ sở của ta bố trí cho Hạnh ở trong thời gian ở “quốc nội”. Lại xuống ghe đi theo đường Kinh Xáng Bạc Liêu, qua Cà Mau rồi đến Rạch Ruộng. Đến Rạch Ruộng thì có các đồng chí Bảy Thất, Ba Tài ra đón. Các đồng chí này trong vai là cơ sở  “Tổ  đặc biệt”. Một cái chòi được dựng trong rừng là của ông bà Năm Tài.

 

Cái chòi này được giao cho đồng chí Mười Lắm chịu trách nhiệm chuẩn bị và đảm bảo an ninh trong thời gian diễn ra các hoạt động của kế hoạch. Đến gần 4 giờ chiều thì ghe tới rừng lá. Sau khi cơm nước xong cả toán ngủ lại một đêm ở trong chòi. Hôm sau khoảng 4 giờ chiều mới lên đường ra bãi biển.

 

Sau khi biết Mai Văn Hạnh vào trong nước an toàn, ngày 16/4, Lê Quốc Túy điện cho Mai Văn Hạnh yêu cầu Hạnh chỉ đạo “Các K trong quốc nội phải trực lo sẵn sàng đón rước C4 trong vòng tháng tới. C4 sẽ đón C5 khi trở về để bàn gấp chuyện này”. Như vậy là Túy cũng nóng lòng được vào Việt Nam như Hạnh.

 

Đến khoảng 20 giờ ngày 19/4/1982 thì tàu đón Hạnh do Trần Văn Bá chỉ huy xâm nhập vào bờ biển Minh Hải. Khi thấy tín hiệu của tàu xuất hiện, Mai Văn Hạnh mừng ra mặt. Phía ta có hai tàu ra đón, trong đó có một chiếc chở Mai Văn Hạnh. Chuyến này, địch đem gần 10 tấn vũ khí gồm đạn AK và B40. Do đồng chí Thi Văn Tám có sáng kiến dùng ống khóa lớn móc vào hai khoeo ở cột buộc dây neo của hai con tàu nên việc nhận “hàng” gọn gàng và đỡ nguy hiểm hơn trước rất nhiều.

 

Kế hoạch đưa đón Mai Văn Hạnh được thực hiện thắng lợi. Đây là một thành công quan trọng, tạo được niềm tin cho bọn đầu sỏ để tiếp tục duy trì Kế hoạch CM-12 theo chủ trương của lãnh đạo Bộ Nội vụ.(còn tiếp)

BÍ MẬT CỦA MỘT CHIẾN DỊCH PHẢN GIÁN (II)

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Các thế lực đế quốc xâm lược và tay sai thất bại thảm hại. Nhưng Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh vẫn không chịu nhìn nhận ra mà lại nảy ra một kế hoạch riêng. Đó chính là âm mưu tiến hành một cuộc “kháng chiến” để “giải phóng” miền Nam.  

 

Lúc nhỏ Lê Quốc Túy được bố mẹ cho đi học tại Trường tiểu học Hồng Ngự, sau đó sang học tại An Giang. Học xong tiểu học, Túy lên Sài Gòn học trung học tại Trường Pétrus Ký. Năm 1950, thi đậu tú tài 1. Năm 1953, trượt tú tài 2.

Tháng 7/1953, Túy tình nguyện gia nhập không quân Pháp. Khoảng một năm sau Túy được đưa đi đào tạo lớp phi công ở căn cứ 707 tại Marrakech (Maroc). Lúc đó Maroc là thuộc địa của Pháp. Một năm sau, Túy được chuyển về học tại căn cứ 702 của không quân Pháp ở Avord thuộc tỉnh Bourges.

Tháng 2/1956, Lê Quốc Túy trở về Việt Nam và phục vụ tại Đệ nhất Phi đoàn Vận tải số 3 Tân Sơn Nhất. Tháng 5/1958, Túy giải ngũ và sau đó xin làm huấn luyện viên phi công cho Nha Hàng không dân sự. Vốn có bản tính thích tự do và chơi bời, Túy đã bị truy nã và bị truy tố trước Tòa án binh quân đội Sài Gòn về tội đào ngũ nhưng lại được tha bổng. Trong phiếu cá nhân của Túy khi giải ngũ đã bị chỉ huy đơn vị của y ghi: “Kém về kỷ luật, tầm thường về chuyên môn, ham thích đời sống của Pháp hơn là Việt Nam, cho giải ngũ sớm vì không cần thiết cho quân đội Việt Nam Cộng hòa”.

Cuối năm 1958, Lê Quốc Túy cùng vợ và hai con xuất cảnh sang Pháp. Đến tháng 7/1961, Lê Quốc Túy xin nhập quốc tịch Pháp và ở luôn bên đó. Sau đó Túy có học thêm đại học và tốt nghiệp kỹ sư hóa học tại Paris.

Khoảng cuối năm 1963, Túy sang Phnôm Pênh làm đại diện cho một cơ quan của Liên Hiệp Quốc. Đến năm 1966 thì trở lại Pháp. Trong thời gian ở Phnôm Pênh, Lê Quốc Túy đã có dịp gặp và làm quen với cha con Hồ Tấn Khoa, Bảo đạo Cao Đài Tây Ninh đang chạy nạn do chính quyền Ngô Đình Diệm o ép.

Từ đầu năm 1967, Túy  làm giám đốc cho Hãng LUSTUCRU chuyên sản xuất bìa cáctông do Trần Văn Hữu làm chủ.

Đầu năm 1975, Túy về miền Nam Việt Nam hai lần: một lần đầu tháng 3 và một lần vào tháng 4 và sau đó bị kẹt lại vì miền Nam đã được giải phóng. Đến tháng 7/1975, ta cho Túy xuất cảnh trở lại Pháp vì y mang quốc tịch Pháp.

Còn Mai Văn Hạnh (bọn chúng thường gọi là Năm Hạnh hay chú Năm), sinh năm 1928, quê quán ở Hà Nội. Mai Văn Hạnh xuất thân trong một gia đình công chức thời Pháp thuộc. Lớn lên, Hạnh gia nhập lực lượng hải quân của quân đội Sài Gòn và đã được mang lon trung úy.

Mai Văn Hạnh là người có cá tính mạnh nhưng lại biết kiềm chế. Do bất mãn với chế độ Sài Gòn, Hạnh sang Pháp, lấy vợ Pháp, nhập quốc tịch Pháp và đi học nghề lái máy bay. Vợ của Mai Văn Hạnh là Mary Vone Dagorne nhưng đã ly dị vào năm 1976, kịp có với nhau 3 con: một trai, hai gái.

Sau khi học nghề lái máy bay, Mai Văn Hạnh làm phi công cho Hãng Hàng không AirFrance của Pháp trong nhiều năm. Hạnh quen biết Túy trong thời gian học lái máy bay tại Avoir. Năm 1972, lúc đang làm cho Hãng Hàng không AirFrance tại Algeria, trong một lần về thăm gia đình và ăn tết tại Paris, Mai Văn Hạnh đến chúc tết Trần Văn Hữu, cựu Thủ tướng chế độ Sài Gòn thời Bảo Đại làm “Quốc trưởng”.

Tại đây, Hạnh gặp lại Lê Quốc Túy sau 16 năm xa nhau. Lê Quốc Túy cho Hạnh biết là y đang làm việc cho nhóm Trần Văn Hữu với ý đồ tiến tới thành lập “Chính phủ hòa hợp, hòa giải dân tộc”. Năm 1973, Lê Quốc Túy sang Algeria tìm gặp Mai Văn Hạnh và mời Hạnh đến mùa hè 1974 sang Paris để đưa vợ chồng Trần Văn Hữu đi “du lịch” ở Nhật Bản. Hạnh đã nhận lời. Tuy nhiên, ý định của Trần Văn Hữu không thành. Mai Văn Hạnh biết điều đó nhưng vẫn ham làm chính trị và cộng tác với Trần Văn Hữu và Lê Quốc Túy trong một âm mưu đen tối.

Qua công tác khai thác hồ sơ, công tác trinh sát và khai thác một số tên ta đã bắt như Lê Chơn Tình, N.V.M… chúng ta đã nắm được âm mưu và quá trình hoạt động của chúng trong thời kỳ đầu năm 1975.

Khi cục diện của cuộc chiến tranh Việt Nam đầu năm 1975 xuất hiện một tình thế mà các lực lượng thân Pháp, trong đó có Trần Văn Hữu thấy có thể chen chân vào chính trường Sài Gòn, thậm chí nhảy ra cầm quyền. Lê Quốc Túy muốn tận dụng cơ hội này để kiếm một chức vụ  trong chính quyền Sài Gòn và sau đó có thể thực hiện ý đồ leo lên đến chức vụ cao hơn. Vào ngày 5/3/1975, Lê Quốc Túy bay về Sài Gòn với bức thư của Trần Văn Hữu gửi cho Nguyễn Văn Thiệu. Bức thư đề ngày 28/2/1975 có đoạn:

 

“… Chưa đặng tiện về xứ, tôi giao cho bạn Lê Quốc Túy  đặc phái đến trình với Tổng thống ý kiến của chúng tôi về phương cách đem lại hòa bình và hạnh phúc cho dân tộc. Tôi rất mong đây là một bước đầu để cùng nhau tiếp tục củng cố quyền lợi tối cao của nước nhà”.

Ý đồ thực của Trần Văn Hữu là lợi dụng quy định của Hiệp định Paris, ông ta vận động Nguyễn Văn Thiệu chọn phương án thành lập một chính quyền liên hiệp trong đó “lực lượng thứ ba” đóng vai trò chủ yếu. Theo cách giải thích của Túy thì “lực lượng thứ ba” không phải do Trần Ngọc Liễng ở Sài Gòn đứng đầu. Có lần Túy kể lại với đám tay chân rằng, vì Nguyễn Văn Thiệu dây dưa chứ nếu chấp nhận kế hoạch của Trần Văn Hữu thì y đã trở thành “phó tổng thống” rồi.

Về đến Sài Gòn, Túy tìm cách tới dinh Độc lập để xin gặp Nguyễn Văn Thiệu. Tuy nhiên, vào thời điểm này, Nguyễn Văn Thiệu vẫn chưa chịu rời bỏ chức vụ và đang cố bấu víu vào quan thầy Mỹ để tiếp tục duy trì quyền lực, chờ thời cơ phản công. Nguyễn Văn Thiệu tiếp Lê Quốc Túy một cách xã giao, không mặn mà gì.

Vài ngày sau, Lê Quốc Túy bay trở về Pháp báo cáo lại tình hình không mấy khả quan cho Trần Văn Hữu.

Trong khi đó, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta ở cả hai miền Nam-Bắc đang chuẩn bị cho một cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Trận đánh bất ngờ, táo bạo vào thị xã Buôn Ma Thuột ngày 10/3/1975 đã gây choáng váng cho ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn. Quân ngụy rút chạy khỏi Tây Nguyên…

Trước những tin tức nóng bỏng từ miền Nam Việt Nam, Trần Văn Hữu và Lê Quốc Túy ở Paris hết sức sốt ruột. Trần Văn Hữu vẫn còn hy vọng về một giải pháp tình thế là thành lập chính phủ liên hiệp như Hiệp định Paris và ông ta có thể về tham chính vào những năm tháng cuối đời của mình. Trần Văn Hữu gọi Lê Quốc Túy đến và lại giao cho Túy về Sài Gòn một lần nữa. Lần này, Trần Văn Hữu cũng viết một bức thư gửi cho Nguyễn Văn Thiệu. Nội dung bức thư như sau:

 

“Trước tình hình nghiêm trọng tôi đến yêu cầu Tổng thống giữ vững tinh thần, đối phó tận lực với hoàn cảnh khó khăn.

 

Phần chúng tôi, lúc này hơn lúc nào khác, chúng tôi tận tâm hoạt động đem cho nước nhà cả phương tiện lập lại hòa bình cho dân chúng.

 

Bạn Lê Quốc Túy sẽ trình Tổng thống chương trình của chúng tôi để xin ý kiến của Tổng thống.

 

Chúng tôi chắc rằng các nước bạn miền Nam sẽ giúp đỡ Tổng thống đem lại an ninh cho nước nhà…”.

Lần này về đến Sài Gòn, Lê Quốc Túy xin gặp Nguyễn Văn Thiệu ngay. Trong tình thế nguy cấp trên mặt trận, Nguyễn Văn Thiệu không còn bụng dạ nào nghĩ đến chuyện quốc gia đại sự nữa mà tìm kế thoát thân. Mặc dù Túy đã cố thuyết phục Thiệu ủng hộ giải pháp của Trần Văn Hữu đưa ra nhưng Thiệu khôn khéo từ chối. Điều này được thể hiện trong bức thư trả lời Trần Văn Hữu đề ngày 3/4/1975:

 

“Tôi rất cảm kích nhận được hai thư cụ gửi khích lệ tôi trong trách vụ lãnh đạo nhân dân miền Nam… Và cũng sau hai lần được ông T đặc phái viên của cụ trình bày rõ ràng lập trường của cụ và các nỗ lực mà cụ đã góp phần vào việc nước, tôi chân thành ngưỡng mộ lòng ái quốc của cụ…”.

Thấy Lê Quốc Túy không trở lại Paris và cũng không báo cáo tin tức gì, Trần Văn Hữu cho gọi Mai Văn Hạnh từ Maroc sang Paris và giao cho Hạnh nhiệm vụ về Sài Gòn thúc đẩy và giúp Túy thực hiện kế hoạch “cứu vãn tình thế”.

Về đến Sài Gòn, Mai Văn Hạnh liên lạc được với Lê Quốc Túy ngay và cùng đến ở với Túy  tại khách sạn Palace trên đường Nguyễn Huệ. Túy cho Hạnh biết là kế hoạch bất thành vì Thiệu không ủng hộ phương án của Trần Văn Hữu. Không những kế hoạch cứu vãn tình thế của Trần Văn Hữu không thành mà chính Nguyễn Văn Thiệu cũng phải cuốn gói ra đi ít ngày sau đó.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 của toàn quân và toàn dân ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Các thế lực đế quốc xâm lược và tay sai đã thất bại thảm hại.

Vào trưa ngày 30/4/1975, Mai Văn Hạnh và Lê Quốc Túy vẫn ở Sài Gòn. Túy và Hạnh nghỉ tại khách sạn Palace, đứng trên ban công khách sạn, Mai Văn Hạnh nhìn xuống đường Nguyễn Huệ lòng xốn xang, nửa buồn, nửa chưng hửng. Và trong những ngày này, Túy và Hạnh giải khuây bằng nhảy nhót, uống rượu với các cô cave Sài Gòn là A.Đ. và C.T.

Nhưng Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh vẫn chưa nhận ra được thực tế mới của quê hương và nảy ra một kế hoạch riêng. Đó chính là âm mưu tiến hành một cuộc “kháng chiến” để “giải phóng” miền Nam. Trong thời gian bị kẹt lại ở Sài Gòn, Túy cho người quen gọi Lê Chơn Tình từ Châu Đốc lên bàn tính kế hoạch xây dựng căn cứ ở Bảy Núi, tính kế lâu dài. Đồng thời, Lê Quốc Túy cũng cho người bắt liên lạc với Hồ Tấn Khoa là Bảo đạo Cao Đài ở Tây Ninh, thống nhất quy ước liên lạc. Một bạn thân khác của Mai Văn Hạnh là Huỳnh Vĩnh Sanh ở Sài Gòn cũng được Túy, Hạnh mời đến để bàn tính âm mưu đen tối. Tất nhiên, em trai của Túy là Lê Quốc Quân cũng được Túy giao nhiệm vụ xây dựng lực lượng ở trong nước, chờ ngày hành động…

Qua tài liệu khai thác, kết hợp với công tác trinh sát xác minh, cơ quan an ninh đã xác định: Lê Chơn Tình, nguyên thiếu tá, đã từng là dân biểu Hạ viện chính quyền Sài Gòn, Chủ tịch Hội đồng tỉnh Châu Đốc của chính quyền cũ. Bọn xâm nhập khai rằng Lê Chơn Tình được Túy phong cho là “chủ tịch” của “mặt trận…” ở “quốc nội”. Cậu Hai tức tên T.V.N., nguyên là đại úy chế độ cũ, đã học tập cải tạo về.

Sau khi móc nối, xây dựng được một số cơ sở ở nước ngoài, Túy và Hạnh thực hiện kế hoạch tuyển mộ lực lượng chủ yếu là người Việt vượt biên hiện đang phải sống trong các trại tị nạn mà chưa được phép đi sinh sống ở các nước thứ ba. Bắt chước theo một câu chuyện truyền thuyết trong lịch sử nước Pháp, Lê Quốc Túy có ý định chọn 100 thanh niên Việt Nam lưu vong tập hợp, huấn luyện thành những “hạt giống” đầu tiên của cái gọi là “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Việt Nam” do y lập ra để quay về “giải phóng Tổ quốc”.

Những “hạt giống” này Túy gọi là những “Kinh Kha” – nhân vật trong lịch sử của Trung Hoa. Để giữ bí mật tung tích và hoạt động của đám này, Lê Quốc Túy lấy chữ K. (viết tắt chữ cái đầu của từ Kinh Kha) làm “ám danh” và cộng thêm số thứ tự của từng tên gián điệp biệt kích. Số 100 tên đầu tiên của “tổ chức”, Túy đều đặt “ám danh”. Có lẽ Túy dành 8 “ám danh” đầu từ K01 đến K08 là cho những kẻ cầm đầu của tổ chức này; bởi vì chúng ta chỉ thấy các “ám danh” từ K09 trở đi. Lê Quốc Túy cũng mê tín nên không lấy các con số chẵn chục, tức là số “bù” thường bị những người mê tín coi là số “xui”, nghĩa là không may mắn, đặt cho những “Kinh Kha” của y.

Vào đầu năm 1980, Túy mở khóa huấn luyện đầu tiên gọi là “Minh Vương 1”. Khóa “Minh Vương 1” có 28 tên, kể cả Trần Văn Bá (K09) và Françoi Hân được Túy dụ từ Pháp đưa sang S. Thành phần của số “Kinh Kha” đầu tiên này của Túy phần lớn là số binh lính chế độ cũ trong đó có một số tên sĩ quan cấp úy. Cũng có một số học sinh, hoặc thanh niên nông thôn vì ham cuộc sống giàu sang ở nước ngoài mà vượt biên.

Vốn có tính độc đoán và liều lĩnh, Lê Quốc Túy vẫn nhất quyết tung toán “Minh Vương 1” về nước bằng đường bộ qua đất Campuchia và nhờ những tên Khmer Đỏ dẫn đường. Nhưng điều chủ yếu là Túy sợ mất mặt với một bộ phận trong giới cầm quyền nước sở tại, Khmer Đỏ và cả với các thế lực phản động quốc tế hậu thuẫn cho Túy  lúc đó.

BÍ MẬT CỦA MỘT CHIẾN DỊCH PHẢN GIÁN (III)

Chỉ trong vòng một ngày, ta tóm gọn toán gián điệp biệt kích xâm nhập đêm 15/5/1981. Toàn bộ toán “Minh Vương 2” sa lưới, riêng toán trưởng Nguyễn Văn Thanh bị bắn chết. Tiếp đó, lực lượng của ta tiến ra bờ biển thu giữ toàn bộ 3,5 tấn vũ khí. Đến khoảng 3 giờ chiều 17/5/1981 thì vớt được hết và đưa toàn bộ về đến Công an huyện.

Đ/c Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm và đ/c Nguyễn Phước Tân có mặt tại Cà Mau chỉ đạo kế hoạch CM-12

Ngày 27/1/1981, tại phòng họp lớn của Văn phòng Bộ Nội vụ ở phía Nam, có một cuộc họp rất quan trọng để bàn chủ trương, phương hướng, biện pháp đấu tranh và lề lối làm việc trong vụ án gián điệp biệt kích mới xảy ra. Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Hùng dự họp nhưng giao nhiệm vụ chủ trì cho đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm.

Đồng chí Phạm Hùng đã từng là Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (sau này là Phó chủ tịch HĐBT, Chủ tịch HĐBT – Thủ tướng), khi vào miền Nam công tác là Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Mặc dù bận trăm công nghìn việc, nhưng đồng chí Phạm Hùng đã nhạy cảm nhận thấy đây là một vụ án có tầm quan trọng đối với an ninh quốc gia. Chính sự chỉ đạo sát sao và việc đồng chí trực tiếp vào TP HCM để chỉ đạo đấu tranh vụ án này đã góp phần quyết định bước mở đầu đúng hướng của kế hoạch đấu tranh.

Dự cuộc họp quan trọng này gồm các đồng chí lãnh đạo Công an TP HCM, Công an một số tỉnh ở Nam Bộ và một số Cục nghiệp vụ.

Không khí của cuộc họp rất khẩn trương. Đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm trình bày tóm tắt diễn biến chính của vụ án, rút ra âm mưu, tính chất hoạt động của địch và phát biểu ý kiến chỉ đạo về phương hướng đấu tranh với chủ trương nghiên cứu đánh lại địch.

Sau đó, đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng phát biểu ý kiến đánh giá những kết quả bước đầu và thông báo tình hình chính trị, an ninh và những yêu cầu của cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới.

Nói về vụ lực lượng của Lê Quốc Túy – Mai Văn Hạnh xâm nhập Việt Nam, đồng chí Bộ trưởng nhận định:

– Đây là một toán biệt kích hoạt động táo bạo, có nhiệm vụ móc nối cơ sở, xây dựng căn cứ, gây tiếng vang chính trị. Vụ này rất nghiêm trọng, chúng xâm nhập vào nội địa ta bằng lực lượng vũ trang. Nếu trót lọt chúng sẽ còn những toán khác tiếp theo. Ta làm triệt để, ngăn được một toán đầu tiên mà còn phá được âm mưu của chúng. Tuy nhiên, ta cũng cần xem lại âm mưu và hoạt động tiếp theo của chúng.

Đồng chí Phạm Hùng nêu chủ trương của ta là: Đối phó phải toàn diện, trung ương phối hợp với địa phương, thống nhất hành động, truy quét và khai thác… Vụ này nằm trong âm mưu chung của địch, nên công tác đấu tranh của ta cũng phải thống nhất chỉ huy. Tất cả tin tức phải báo cáo về Bộ (tại TP HCM), không báo cáo nhiều nơi. Tất cả tài liệu báo cáo về Bộ phải tập trung vào anh Sáu Hoàng (đồng chí Cao Đăng Chiếm). Không được điện báo lung tung, không được dùng điện thoại. Tất cả tài liệu đều phải tập trung vào một đầu mối. Khi khai thác có những việc cần trao đổi, nếu khẩn trương lắm thì được phép trao đổi thẳng. Phải khẩn trương, không được làm theo lối hành chính.

Sau cuộc họp ngày 27/1/1981 do Bộ trưởng Phạm Hùng và Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm chủ trì, Công an các địa phương và các Cục nghiệp vụ ở phía Nam nhanh chóng triển khai chỉ đạo của lãnh đạo Bộ. Chỉ sau một thời gian ngắn, với tinh thần cảnh giác cao và được sự giúp đỡ của nhân dân các địa phương, chúng ta đã bắt gọn cả toán gián điệp biệt kích do tên Lê Hồng Dự cầm đầu xâm nhập.

Trên cơ sở kết quả khai thác bọn xâm nhập, tổng hợp các nguồn tin, lãnh đạo Bộ phán đoán địch sẽ tiếp tục tổ chức xâm nhập bằng đường biển. Vấn đề là chúng ta chưa biết đích xác địch sẽ xâm nhập vào thời gian nào, khu vực bờ biển tỉnh nào. Do đó, Công an các tỉnh ven biển từ Khánh Hòa đến Kiên Giang đều phải triển khai các phương án sẵn sàng đón bắt bọn xâm nhập.

Thế trận của ta được bố trí chặt chẽ, liên hoàn.

Lại nói về phía địch.

Sau khi tung toán “Minh Vương 1” xâm nhập Việt Nam không thành, Lê Quốc Túy quyết định tung toán “Minh Vương 2” xâm nhập Việt Nam bằng đường biển, tiếp tục thực hiện ý đồ tung quân vào rừng U Minh, xây dựng “căn cứ” và tăng cường hoạt động ở thành phố. Kế hoạch này hình thành trong đầu của Túy. Ý đồ của Lê Quốc Túy là sẽ đưa vào Việt Nam 10 tấn vũ khí và chiến cụ cùng với một toán quân nhằm mục đích trước mắt là thành lập “mật khu kháng chiến”. Để thực hiện kế hoạch có tên là “Chiến dịch Hồng Kông 1”, Lê Quốc Túy nhờ nước ngoài tạo điều kiện về chỗ neo đậu và cấp các thủ tục giấy tờ cho quân của Túy hoạt động.

Được T.V.V (K12) giới thiệu K64 là người Cà Mau, am hiểu vùng này và có thể lập kế hoạch xâm nhập được, cho nên Túy cho điều K64 từ “Mật cứ Tự Thắng” về trung tâm.

K64 là một người khá nhạy cảm, anh đoán được ý đồ của Túy và Hạnh là muốn đưa vũ khí và quân xâm nhập bằng đường biển nhưng chưa biết đưa vào vùng nào. Vì muốn thoát khỏi cái “án tử hình” treo lơ lửng do bị nghi là cộng sản, K64 chủ động gợi ý với Mai Văn Hạnh nên tổ chức xâm nhập vùng Cà Mau và nói thêm là muốn xâm nhập thì phải có người địa phương quen thuộc vùng này. Trong toán “Minh Vương 2” có hai người cùng quê với K64 là K59 và K61. Buổi chiều hôm đó, Mai Văn Hạnh cùng nhóm này bàn kế hoạch xâm nhập vùng biển.

Nhiệm vụ của toán “Minh Vương 2” là xây dựng cơ sở và phát triển lực lượng ở trong nước theo kế hoạch “Hồng Kông 1”. Chúng được giao những nhiệm vụ cụ thể là sau khi đã xâm nhập Việt Nam thì tổ chức tiếp nhận người và vũ khí từ nước ngoài chuyển về các chuyến sau, đưa khối lượng vũ khí đó về các địa bàn hoạt động. Toán này còn có nhiệm vụ tổ chức phá hoại, ám sát cán bộ ở các mục tiêu: trụ sở các cơ quan của đảng, chính quyền, công an, bộ đội, nhất là Tổng lãnh sự quán Liên Xô tại TP HCM, các cơ sở công nghiệp, điện, nước, kho xăng Nhà Bè, cầu cống, các trại cải tạo… Chúng dự kiến sẽ dùng tiền thuê bọn bụi đời, bọn tù được thả về, ngụy quân ngụy quyền cũ; giao vũ khí, mìn để bọn này làm những việc phá hoại

Toán “Minh Vương 2” do Nguyễn Văn Thanh mang ám danh “K44” làm toán trưởng. Hắn là một sĩ quan quân đội Sài Gòn trốn cải tạo. Chịu trách nhiệm “chỉ huy trưởng” toán “Minh Vương 2”, Thanh có nhiệm vụ liên lạc và giữ liên lạc với những “giới chức” trong nước, giới thiệu những “giới chức” đó với những “cán bộ” mà “trung ương” phái về. Ngoài ra, hắn còn được Túy giao những nhiệm vụ đặc biệt, những “tín vật”, ám hiệu để bắt liên lạc với các cơ sở của Túy ở Sài Gòn, kể cả nơi nhận tài liệu theo một đường dây chuyển ngân đen ở số nhà X đường Hoàng Phố, quận 8, TP HCM. Vai trò của tên Thanh rất quan trọng…

Ngày 12/5/1981, chiếc tàu của bọn Túy – Hạnh chở 16 tên gián điệp biệt kích khởi hành từ R đi xâm nhập Việt Nam. Cùng đi có một chiếc tàu hải quân nước ngoài hộ tống. Khi đến hải phận quốc tế, K12 chuyển sang tàu nước ngoài và quay trở về. Chúng dự định đổ bộ vào vàm sông Ông Đốc – vùng quê của K64.

Trong một phiên liên lạc, Lê Quốc Túy từ trung tâm ra lệnh cho Nguyễn Văn Thanh thủ tiêu HK121 và HK125 vì nghi là cộng sản. Tên Nguyễn Văn Thanh thi hành mệnh lệnh ngay và hất xác hai người này xuống biển. Sau đó, chúng cho tàu xâm nhập vùng biển Cà Mau.

Nhưng chúng không biết rằng, thế trận an ninh nhân dân của ta đã được triển khai.

* * *

Ngày 14/5/1981, Cơ quan trinh sát kỹ thuật phát hiện một tàu lạ ở hải phận Việt Nam và nhận định: bọn Lê Quốc Túy đã tổ chức xâm nhập bằng đường biển. Kết quả phát hiện có tính chất mở màn này lập tức được báo cáo lên Bộ Nội vụ và Ban chuyên án.

Lúc này đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng đang ở TP HCM. Đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm rất phấn khởi báo cáo với Bộ trưởng và nhanh chóng chỉ thị cho các lực lượng An ninh triển khai ở vùng biển Minh Hải – Kiên Giang. Nguồn tin kỹ thuật đã giúp Ban chuyên án không chỉ đạo dàn trải quân dọc biên giới nữa mà tập trung phía biển Kiên Giang – Cà Mau và khẳng định lần này chúng xâm nhập bằng đường biển.

Suốt dọc bờ biển từ Hà Tiên đến Cà Mau dài 350km đã được canh phòng chặt chẽ. Mạng lưới cảnh giác đã giăng kín.

* * *

 

Biệt kích bị bắt sau khi xâm nhập Việt Nam.

Đúng 21 giờ ngày 15/5/1981, chiếc tàu của bọn gián điệp biệt kích cập bờ biển khu vực Bãi Ghe gần vàm sông Ông Đốc (Minh Hải). Bọn gián điệp biệt kích được lệnh lên bờ. Chúng lục đục xuống tàu, lội bì bõm. Chúng nặng nề đi theo hướng tây, tính vượt đầm lầy vào U Minh.

Biệt kích bị bắt sau khi xâm nhập Việt Nam.

Trời đã dần dần sáng rõ. Thấy tình thế không ổn, Nguyễn Văn Thanh ra lệnh phân tán theo từng nhóm và hẹn nơi tập kết. Mạnh tên nào tên nấy tìm nơi ẩn nấp.

K64 đã tính toán một nước cờ mà chỉ riêng một mình anh biết, không hề nói cho ai. Anh quyết định sẽ ra đầu thú lập công chuộc tội và mong muốn được trở về với vợ con, gia đình. Và thế là K64 ra đầu thú tại Cơ quan Công an huyện Trần Văn Thời, tỉnh Minh Hải. Trước Cơ quan An ninh, anh đã thành khẩn thú nhận mọi tội lỗi của mình và đồng bọn, khai rõ mục đích ý đồ của “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Nam Việt Nam…”.

Chỉ trong vòng một ngày sau, ta đã tóm gọn toán gián điệp biệt kích xâm nhập đêm 15/5/1981. Toàn bộ toán “Minh Vương 2” bị sa lưới, riêng toán trưởng Nguyễn Văn Thanh bị bắn chết.

Sau đó, lực lượng của ta tiếp tục ra bờ biển thu giữ toàn bộ 3,5 tấn vũ khí. Đến khoảng 3 giờ chiều 17/5/1981 thì vớt được hết và đưa toàn bộ về đến Công an huyện.

Vào đêm 16/5, Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm gọi điện thoại cho đồng chí Nguyễn Phước Tân và yêu cầu đến nhà riêng ngay vào lúc nửa đêm. Đồng chí Cao Đăng Chiếm nói:

– Minh Hải vừa báo cáo có bọn xâm nhập. Đúng là của đám Túy – Hạnh, có mang theo vũ khí, điện đài. Có một số tên ra đầu thú. Ta đã bắt được tất cả. Tôi cử Hai Tân xuống Minh Hải thực hiện kế hoạch “tương kế tựu kế”, dùng địch đánh lại địch.

Đồng chí Cao Đăng Chiếm chỉ nói ngắn như vậy. Đồng chí Nguyễn Phước Tân hiểu đó là mệnh lệnh.

Khoảng 2 giờ sáng, đồng chí Nguyễn Phước Tân cùng đồng chí Thi Văn Tám, lúc đó là cán bộ của Tổ An ninh  cùng đi. Nhận được chỉ thị của đồng chí Cao Đăng Chiếm, Cơ quan trinh sát kỹ thuật cũng cử cán bộ đi Minh Hải ngay sáng hôm đó.

Đồng chí Nguyễn Phước Tân, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, năm 1986 được phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân là một cán bộ an ninh lão luyện, dày dạn kinh nghiệm đấu tranh với địch. Ông sinh năm 1930, quê ở Đồng Tháp. Tham gia hoạt động cách mạng từ thời thanh niên, ông được lãnh đạo An ninh khu Tây Nam bộ điều động về làm nhiệm vụ tổ chức và chỉ huy công tác điệp báo từ năm 1959.

Năm 1968, ông được Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam rút lên tổ chức và chỉ đạo một mạng lưới điệp báo an ninh ở ngay trung tâm Sài Gòn. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, từ sau tết Mậu Thân 1968, đồng chí Nguyễn Phước Tân là người chỉ huy trực tiếp của cố Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đình Ngọc, một cán bộ tình báo hoạt động trong lòng địch, sau này là Thiếu tướng Công an. Trong kế hoạch CM-12, đồng chí Nguyễn Phước Tân được lãnh đạo Bộ Nội vụ giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác đấu tranh với địch.

Ngày 22/5/1981 tại TP HCM, đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm chủ trì cuộc họp để quyết định kế hoạch này. Dự cuộc họp có các đồng chí Nguyễn Phước Tân, Lê Tiền và Hồ Khiết. Tại cuộc họp này, chuyên án CM-12 chính thức được quyết định mở màn. Hai chữ cái CM lấy hai chữ cái đầu của Cà Mau, còn 12 là ngày xuất phát của toán gián điệp biệt kích là 12/5/1981.

Ngày 23/5/1981, đồng chí Cao Đăng Chiếm xuống Cà Mau để chỉ đạo công việc. Địa điểm điện đài của “Tổ đặc biệt” được bố trí tại một căn nhà dành cho cán bộ công an của trại giam Rạch Ruộng. Căn nhà lá này nằm ở bìa trại. Một căn nhà khác được dành cho đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm làm việc và nghỉ ngơi cách đó chừng 10 mét  (còn tiếp))

BÍ MẬT CỦA MỘT CHIẾN DỊCH PHẢN GIÁN PHẦN 1

Nguyễn Khắc Đức

Cách đây 30 năm, vào tháng 9-1981, Chiến dịch phản gián mang tên “Kế hoạch CM-12” được khởi đầu bằng một chiến công ghi đậm dấu ấn của bản lĩnh và trí tuệ của Lực lượng Công an nhân dân Việt Nam. Chiến dịch phản gián có một không hai này được kéo dài 7 năm, từ năm 1981 đến 1988 là kết thúc. Trong đó, Kế hoạch CM-12 là phần cốt lõi nhất, thắng lợi to lớn nhất.

                                            Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh

Vào một ngày thượng tuần tháng 1/1981, đồng chí Phạm Hùng, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) gọi điện thoại cho đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm ở TP HCM:

– Ông biết gì chưa? Có bọn xâm nhập ở biên giới Tây Nam đấy. Cho triển khai ngay công tác xác minh và truy bắt bọn xâm nhập!Đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm báo cáo đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng là cũng đã nhận được tin này và triển khai ngay việc thực hiện lệnh của Bộ trưởng. Đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm gửi điện cho Công an các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang triển khai phương án truy tìm gián điệp biệt kích. Bức điện có nội dung:

“Theo tin từ Campuchia ngày 11 tháng 1, một toán gián điệp đang đi qua tỉnh Tà Keo để xâm nhập vào Việt Nam. Đề nghị các đồng chí triển khai phương án nắm tình hình và truy quét. Cần phải xác nhận tin này đúng không? Có tin tức gì cụ thể báo ngay K4 và K4/2”.

Vào lúc đó, tình hình an ninh miền Nam vẫn còn nhiều vấn đề phức tạp. Lãnh đạo Bộ Nội vụ phân công đồng chí Cao Đăng Chiếm phụ trách công tác công an ở các tỉnh miền Nam. K4 là ký hiệu của Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm, còn K4/2 là ký hiệu của Tổ An ninh trực thuộc đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm.

Xuất phát từ tình hình thực tế an ninh ở miền Nam, được sự đồng ý của đồng chí Bộ trưởng và tập thể lãnh đạo Bộ, một số cán bộ có kinh nghiệm được bố trí vào ba tổ công tác tham mưu cho đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm. Tổ K4/1 là bộ phận nghiên cứu tổng hợp. Tổ K4/2 giải quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ của lực lượng an ninh. Tổ K4/3 giải quyết các vấn đề thuộc lực lượng cảnh sát.

Tổ K4/2 về danh chính có chức năng tham mưu cho đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm là chủ yếu, nhưng trên thực tế, bộ phận K4/2 đã trở thành các đơn vị chiến đấu thực sự khi có các vụ án lớn xảy ra và được đồng chí Thứ trưởng trực tiếp giao nhiệm vụ.

Lãnh đạo Bộ Nội vụ cử đồng chí Nguyễn Phước Tân, Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị 2 làm Tổ trưởng Tổ An ninh K/2. Chức vụ này tương đương Cục trưởng. Các đồng chí Lê Tiền, Phó Cục trưởng phụ trách đơn vị PK9 và đồng chí Hồ Khiết, Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị 1 làm Tổ phó. Các đồng chí Nguyễn Phước Tân và Lê Tiền sau này được bổ nhiệm làm Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh.

Bộ cũng điều động một số cán bộ an ninh dày dạn kinh nghiệm, có trình độ nghiệp vụ giỏi từ các đơn vị về Tổ An ninh K4/2 như các đồng chí Nguyễn Khánh Toàn, Thi Văn Tám, Trần Tôn Thất,… Hiện nay, đồng chí Nguyễn Khánh Toàn là Thượng tướng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Công an; đồng chí Thi Văn Tám là Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an và đồng chí Trần Tôn Thất là Thiếu tướng, Phó Tổng cục trưởng Tổng Cục An ninh.

Trở lại với vụ xâm nhập của bọn gián điệp biệt kích.

Ngày 11/1/1981, Công an tỉnh Tà Keo (Campuchia) trao đổi cho chúng ta biết có một tên Khmer Đỏ ra đầu thú khai báo rằng y có tham gia dẫn một toán người Việt Nam từ nước ngoài đi qua Campuchia để xâm nhập về hoạt động chống Việt Nam. Tin này được báo cáo ngay cho đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng, các đồng chí Thứ trưởng Viễn Chi, Cao Đăng Chiếm và đồng chí Huỳnh Thanh Việt (Mười Việt), Giám đốc Công an tỉnh An Giang, địa phương có biên giới giáp tỉnh Tà Keo.

Nguồn tin cho biết: “Một tên Khmer Đỏ tên là Săm Sua đã ra đầu thú chính quyền cách mạng Campuchia tại Tà Keo. Y khai có tham gia dẫn đường cho 23 tên gián điệp biệt kích xâm nhập về Việt Nam”.

Thực hiện sự chỉ đạo của lãnh đạo Bộ, được sự đồng ý của chính quyền Campuchia, đồng chí Huỳnh Thanh Việt, Giám đốc Công an tỉnh An Giang và một số cán bộ an ninh là đồng chí Trần Văn Lệnh, Trưởng phòng Chấp pháp và đồng chí Huỳnh Hữu Chiến, Trưởng phòng Tổng hợp (hiện đồng chí Huỳnh Hữu Chiến là Thiếu tướng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh) ngay lập tức lên đường sang Tà Keo, Campuchia. Qua trực tiếp xét hỏi tên Săm Sua, đoàn Công an An Giang nhận thấy khả năng là tên Săm Sua đã khai báo thật. Ngày 12/1/1981, đồng chí Mười Việt đã báo cáo cho lãnh đạo Bộ nhận định về việc có một toán gián điệp biệt kích mang vũ khí, điện đài xâm nhập Việt Nam.

Tiếp đó, ngày 13/1, Công an Kiên Giang điện báo cáo lãnh đạo Bộ Nội vụ biết về việc có một toán gián điệp, biệt kích xâm nhập. Theo báo cáo của Công an Kiên Giang, ngày 8/1/1981, bộ đội làm kinh tế ở Bình Sơn (Kiên Giang) bắn chết 1 tên gián điệp, biệt kích từ nước ngoài xâm nhập về Việt Nam.

Qua nguồn tin của quần chúng phát hiện, Công an Kiên Giang đã thu được 12 súng AK báng gấp, 7 quả lựu đạn, 2 tay quay máy phát điện dùng cho điện đài và một số quân trang, quân dụng. Đáng chú ý là có một số phù hiệu đề là “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam”… Có dấu hiệu đây là một tổ chức phản cách mạng đưa quân xâm nhập vào Việt Nam.

Ngày 15/1/1981, đồng chí Phạm Hùng đã điện chỉ thị cho đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm tổ chức xác minh, khai thác và truy bắt cho hết bọn xâm nhập. Đồng thời, tin này còn được thông báo cho các Cục nghiệp vụ kiểm tra.

Báo cáo của lực lượng trinh sát kỹ thuật cũng phù hợp với những diễn biến toán gián điệp biệt kích xâm nhập trong thời gian cuối năm 1980.

Đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm trực tiếp đi miền Tây để chỉ đạo tại hiện trường. Các đơn vị nghiệp vụ an ninh của Bộ cũng được huy động tham gia, phối hợp cùng với công an các địa phương điều tra, truy bắt bọn xâm nhập. Các biện pháp nghiệp vụ trinh sát, điều tra được sử dụng. Chính vì vậy, chỉ ít ngày sau khi bọn địch xâm nhập bị phát hiện, công tác truy bắt đã có sự chỉ đạo thống nhất của lãnh đạo Bộ.

Chỉ trong vòng một thời gian tương đối ngắn, với sự chỉ đạo của lãnh đạo Bộ mà trực tiếp là đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng và đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm, các Cục nghiệp vụ an ninh và công an các địa phương Nam Bộ đã nhanh chóng phối hợp truy bắt và khai thác bọn gián điệp biệt kích xâm nhập.

Trong khi đang khẩn trương triển khai công tác truy bắt bọn gián điệp biệt kích xâm nhập, thì Công an Kiên Giang báo cáo là đã bắt giữ được 1 tên trong bọn chúng. Ngày 18/1/1981, Trần Minh Hiếu sau khi được lệnh của toán trưởng cho phân tán, y về quê ở An Biên. Sau một thời gian biền biệt không được tin gì kể từ ngày Hiếu vượt biên, nay thấy con trở về, mẹ của Hiếu vừa mừng lại vừa lo.

Hiếu nói thật cho mẹ biết về việc tại sao y lại trở về Việt Nam. Ông cậu ruột của Hiếu làm việc ở Tỉnh đội Kiên Giang biết được chuyện của Hiếu và động viên anh ta ra đầu thú công an. Trong khi Hiếu đang lừng chừng vì sợ thì người cậu của Hiếu đã báo cho công an địa phương biết. Công an Kiên Giang ngay lập tức bắt giữ Trần Minh Hiếu và khai thác.

Được công an động viên, giáo dục và thuyết phục, Trần Minh Hiếu đã khai nhận là một trong số 23 tên gián điệp biệt kích của tổ chức “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Việt Nam” của Lê Quốc Túy – Mai Văn Hạnh. Hiếu đã khai quá trình xâm nhập của toán gián điệp.

Qua lời khai của Hiếu, ta biết chúng sẽ gặp nhau vào ngày 15 và 30 hàng tháng ở bến Ninh Kiều (Cần Thơ). Hiếu cũng khai nơi ẩn náu của tên toán trưởng Lê Hồng Dự. Công an Kiên Giang và Công an Hậu Giang đã tổ chức bắt giữ Lê Hồng Dự tại Cần Thơ. Qua các buổi xét hỏi, Lê Hồng Dự khai báo quá trình xâm nhập của y và những hiểu biết của y về tổ chức phản cách mạng của Lê Quốc Túy – Mai Văn Hạnh. Những lời khai này khớp với lời khai của Trần Minh Hiếu.

Qua lời khai của Lê Hồng Dự và Trần Minh Hiếu, bước đầu chúng ta đã xác định đây là một tổ chức phản cách mạng do Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh cầm đầu có cơ sở hoạt động ở nước ngoài.

Để tiến hành đấu tranh với tổ chức này, về mặt tổ chức chỉ đạo, trên cơ sở tính chất, phạm vi hoạt động khá phức tạp và rộng của bọn Lê Quốc Túy – Mai Văn Hạnh, lãnh đạo Bộ nhất trí với đề xuất của Tổ An ninh là thành lập Ban chuyên án do đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm chỉ đạo và K4/2 trực tiếp thực hiện.

Chỉ vài ngày sau, đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng từ Hà Nội vào TP Hồ Chí Minh để trực tiếp chỉ đạo đấu tranh với vụ án này. Đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng đã yêu cầu đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm triệu tập ngay một cuộc họp để bàn biện pháp, kế hoạch đấu tranh với vụ án này tại TP Hồ Chí Minh
Cái gọi là “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Việt Nam” của Lê Quốc Túy – Mai Văn Hạnh là một tổ chức phản cách mạng được một số nước lớn và một số cơ quan tình báo nước ngoài ủng hộ, hậu thuẫn. Sau khi xác minh từ các nguồn tin, cơ quan an ninh đã nhanh chóng dựng lại quá trình hình thành và sự ra đời của tổ chức này.

Qua nhiều nguồn tin và tài liệu thu thập được, chúng ta biết được vào năm 1976, một tổ chức phản cách mạng Việt Nam lưu vong được thành lập tại Paris, thủ đô nước Pháp. Đó là “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Nam Việt Nam”.

Ngày 17/2/1976, tại khách sạn Méridien, Lê Quốc Túy và những kẻ cầm đầu tổ chức này làm một cuộc họp báo cho ra mắt cái gọi là “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Nam Việt Nam”. Chủ tọa cuộc họp báo này là Lê Quốc Túy – “chủ tịch”, Lê Phước Sang – “phó chủ tịch”, và Lại Hữu Tài làm “tổng thư ký”.

Tại đây, Túy ba hoa giới thiệu “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Nam Việt Nam” ở Pháp do y làm “chủ tịch” là một bộ phận của “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Việt Nam” được thành lập từ tháng 10/1975 tại đồng bằng sông Cửu Long bao gồm các lực lượng Cao Đài, Hòa Hảo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo và một số đảng phái chính trị, một số sĩ quan ngụy cũ do Hội trưởng Phật giáo Hòa Hảo Lương Trọng Tường làm “chủ tịch”. Lê Quốc Túy và đồng bọn quyết định dùng cờ vàng ba sọc đỏ của ngụy Sài Gòn làm cờ của “mặt trận”.

Trong buổi họp báo, Túy thay mặt “Hội đồng trung ương mặt trận” giới thiệu thành phần “lãnh đạo” của tổ chức này như sau:

– Lê Quốc Túy: chủ tịch mặt trận.

– Lại Hữu Tài: ủy viên sáng lập.

– Lê Phước Sang, ủy viên,

– Lương Trọng Văn, ủy viên.

– Mai Văn Hải, ủy viên.

– Thùy, phát ngôn viên của “mặt trận”.

Trong số người tham dự cuộc họp báo của Túy, có một người bạn thân của Lê Quốc Túy là Mai Văn Hạnh từ Marốc sang. Ngồi hàng đầu, người ta thấy có Trần Văn Hữu, cựu Thủ tướng ngụy thời Bảo Đại; Phạm Văn Huyến, Trần Xúy (người Việt gốc Hoa, nguyên là sĩ quan hậu cần của tướng ngụy Đỗ Cao Trí)…

Mặc dù tổ chức cuộc họp báo có vẻ ầm ĩ và tuyên bố huênh hoang nhưng thực lực của chúng lúc đó chưa có gì ngoài những gương mặt tham dự tại khách sạn Méridien hôm ấy.

Ngay từ khi mới phát hiện, cơ quan an ninh đã tập hợp được những tài liệu ban đầu về những tên đầu sỏ của tổ chức “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Nam Việt Nam”.

Lê Quốc Túy sinh ngày 1/1/1934 tại An Bình, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Túy sinh ra trong một gia đình giàu có trong vùng. Bố của Túy là Lê Văn Năm hay thường gọi là Quản Lọ, đã chết vào ngày 20/7/1957. Mẹ là Vương Thị Đối, sống cùng con trai là Lê Quốc Quân, em trai kề Túy tại số nhà 201/42 đường Hoàng Văn Thụ, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh. Lê Quốc Túy có hai đời vợ. Vợ thứ nhất là người Pháp có tên là Dupuis Jacqueline. Túy cưới cô gái Pháp này vào năm 1955 tại Paris khi y còn đang học trường không quân ở Pháp.

Năm 1974, Túy và Dupuis Jacqueline ly dị và họ đã có với nhau ba con: hai trai, một gái. Vợ thứ hai là Nhan Thị Kim Chi, một phụ nữ Việt Nam sang Pháp du học lúc còn nhỏ. Kim Chi khoảng 34 – 35 tuổi, kém Túy chừng 20 tuổi. Kim Chi là cháu gọi Trần Văn Hữu, cựu Thủ tướng chế độ Sài Gòn thời Bảo Đại bằng cậu ruột. Túy cưới Kim Chi vào năm 1976 tại Paris và có một con  (Còn tiếp)

CHỐNG CỘNG BẰNG CHIÊU XUYÊN TẠC

Xuyên tạc là một trong những biện pháp tuyên truyền chống cộng chủ lực của hầu hết các tổ chức chống cộng hải ngoại. Xuyên tạc có mục tiêu tạo dư luận bất lợi cho đối phương để đạt được mục đích nào đó. Xuyên tạc để biến những cái tốt của đối phương thành xấu, biến không thành có, xấu ít thành xấu nhiều và làm biến dạng sự thật theo chiều hướng bất lợi cho đối phương.

Với tiến bộ của truyền thông, xuyên tạc không thể dựng đứng lên một sự kiện để bôi nhọ hay tố cáo đối phương mà phải tạo dựng từ nhiều thông tin có thực chen lẫn với những thông tin khó kiểm chứng và ngụy tạo nhằm hướng dư luận vào mục đích mong muốn. Xuyên tạc là con dao hai lưỡi rất nguy hiểm. Nếu không thực hiện được mục đích xuyên tạc thông tin xuyên tạc sẽ là đòn giáng ngược lại kẻ xuyên tạc. Vì vậy kẻ xuyên tạc thường ẩn danh, ném đá giấu tay nếu lộ tẩy dư luận sẽ loãng ra như một dạng tin đồn vô căn cứ.

Xuyên tạc thường sử dụng những ngồn tin có thật, con người thật địa danh thật để chế biến thành một sản phẩm xuyên tạc hoàn chỉnh có thể đánh lừa dư luận thiếu thông tin. Thường thì xuyên tạc dựa vào thông tin khó kiểm chứng và những sự thật ngụy tạo để đánh lừa dư luận. Việc ngụy tạo sự thật là một công việc cần nhiều công sức và cả tiền của. Tuy nhiên để đạt được mục tiêu những kẻ chống cộng không từ việc gì.

Đưới đây là bài viết về quá trình tạo dựng sự kiện để xuyên tạc của đảng Việt Tân, một tổ chức chống cộng ở Mỹ. Chúng đào tạo những con người thật hoạt động cho mục tiêu định sẵn và thết kế một kế hoạch xuyên tạc rất công phu. Việc xuyên tạc sẽ không bị lộ nếu không có chính những người được đào tạo tố cáo tổ chức này.

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt
Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc

Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân – thông qua Văn phòng Trợ giúp pháp lý và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đã tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam. 

Sáng thứ sáu, ngày 20/7/2007, một nhóm gồm 5 phụ nữ người Việt, đã đến Văn phòng phía Nam – Chuyên đề ANTG, Báo CAND để trình bày về một vấn đề mà theo sự hiểu biết của họ, đây có thể là âm mưu thâm độc của một tổ chức phản động người Việt ở nước ngoài. Vì lý do an toàn cho bản thân họ, chúng tôi xin được phép thay đổi họ, tên…

Theo lời tường thuật của chị Bùi Thị Hoa, thì cả 5 người – dù hoàn cảnh quê quán khác nhau, nhưng cùng sang Đài Loan đã hơn 3 năm. Trong số đó, có người làm công nhân tại một nhà máy, có người lấy chồng Đài Loan.

Chị Hoa kể: “Nhiều lần, tôi bị gia đình bên chồng chửi mắng, sỉ nhục. Bơ vơ nơi đất khách, chẳng biết kêu ai, tình cờ một hôm ra chợ, tôi được một người đồng hương, giới thiệu cho tôi đến “Văn phòng Trợ giúp pháp lý và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office – VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468.

Khi tìm đến văn phòng ấy, theo lời chị Hoa, thì chị gặp một người đàn ông tên Nguyễn Văn Hùng. Tự giới thiệu mình là “linh mục”, ông Hùng sau khi hỏi han hoàn cảnh, đời sống, đã đề nghị chị dọn về ở tại khu tạm cư thuộc nhà thờ Chung Li, huyện Đào Viên, để được VMWBO dạy tiếng Hoa, học nghề thủ công rồi sẽ giới thiệu cho chị tìm một việc làm khác, hoặc giúp chị về lại quê nhà.

Cũng theo chị Hoa, vào thời điểm chị đến nhà thờ Chung Li, có khoảng 40 người –  cả nam lẫn nữ, đang tạm trú trong những dãy nhà thuộc khuôn viên  nhà thờ. Tất cả những người này đều là công nhân đi lao động hợp tác, hoặc lấy chồng Đài Loan nhưng vì nhiều lý do, đã bỏ ra ngoài.

Có người vì bị ngược đãi nhưng cũng không ít người, khi biết gia đình chồng không “giàu” như họ tưởng, nên họ tìm cách trốn đi, kiếm chồng mới, hoặc làm ăn vô kỷ luật, lại không thích ứng với cường độ lao động công nghiệp nên bỏ ngang để mong tìm được việc khác nhàn hạ hơn, lương cao hơn!

Chị nói: “Qua hỏi thăm, tôi được biết mỗi đợt học tiếng Hoa, học nghề ở đây là khoảng 3 tháng. Học xong, họ đi đâu không rõ nhưng hết đợt này đi, thì ông Hùng lại đưa đợt khác về”.

 

Việt Tân là gì?

Qua tìm hiểu của chúng tôi, thực tế VMWBO chỉ là vỏ bọc của cái gọi là “Việt Nam canh tân cách mạng” (gọi tắt là Việt Tân), được Hoàng Cơ Minh, nguyên Phó đề đốc quân đội Sài Gòn cũ lập ra, để chỉ đạo đường lối cho “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” – cũng của Hoàng Cơ Minh và phe nhóm, vào đầu những năm 80 thế kỷ trước.

Lúc đó, “mặt trận” đặt căn cứ tại vùng biên giới Thái Lan, tiếp giáp với Lào rồi sau những thất bại thảm hại trong 3 lần xâm nhập về Việt Nam, dưới tên gọi “chiến dịch Đông tiến” nhằm mục đích tổ chức bạo loạn, lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân. Trong khi Hoàng Cơ Minh cùng hơn 200 đồng bọn đã phải đền tội trong các chiến dịch Đông Tiến thì ở Mỹ, bọn chóp bu cầm đầu “Việt Tân” vội vã chia nhau số tiền hơn 10 triệu USD – là tiền mà “mặt trận” kiếm chác được từ cộng đồng người Việt hải ngoại bằng đủ mọi hình thức, kể cả hăm dọa, cưỡng ép, rồi dùng tiền ấy đầu tư vào thị trường chứng khoán, tàu đánh cá, xe vận tải, biến nó thành tài sản riêng.

Tuy nhiên, với bản chất chống Nhà nước Việt Nam triệt để, cũng như không thể buông tha miếng mồi béo bở – là những đồng đôla của bà con Việt kiều dành dụm, chắt bóp được, nên bọn chóp bu bằng mọi cách, vẫn cố duy trì cái mác Việt Tân bằng trang web “Viettan” trên mạng Internet, bằng Đài phát thanh “Chân trời mới”, “Tiếng nước tôi”, bằng tờ tạp chí “Hoa mai trắng”.

Sau nhiều phen thanh trừng, đấu đá nội bộ, Việt Tân được cầm đầu bởi Lý Thái Hùng và Đỗ Hoàng Điềm. Đầu năm 2001, trước một số biến động trên thế giới, cũng như một số thành phần cơ hội, bất mãn ở trong nước, bắt đầu lộ diện trên mạng Internet bằng những bài viết xuyên tạc tình hình Việt Nam, thì Việt Tân một mặt móc nối với những kẻ này, mặt khác hình thành kế hoạch đưa “thành viên” về nước hoạt động.

Bước đầu, nhằm phô trương thành tích, lừa bịp những người nhẹ dạ, thiếu thông tin, Việt Tân cử tay chân, đồng thời chi tiền cho vài nhà báo nước ngoài, nhập cảnh Việt Nam dưới hình thức thăm thân nhân, du lịch và sau đó, thuê mướn vài gã nghiện ma túy, gái mại dâm, cho học “thuộc bài”, cho đội mũ xùm xụp, đeo khẩu trang, mang kính đen nhằm tạo ra yếu tố ly kỳ, bí mật rồi tiến hành quay phim, dàn dựng, biến nó thành cuộc “phỏng vấn thành viên Việt Tân quốc nội”.

Trò hề này nhanh chóng bị lật tẩy bởi lẽ tất cả những cuộc “phỏng vấn”, quanh đi quẩn lại vẫn chỉ là mấy bộ dạng hom hem, vẫn chỉ là những lời phát biểu nhai đi nhai lại như vẹt.

Vì thế, để tuyển mộ “thành viên”, để chứng minh rằng Việt Tân hiện có “hàng nghìn thành viên đang hoạt động tại quốc nội” như bọn chóp bu đã hùng hồn tuyên bố, thì một trong những mục tiêu mà Việt Tân nhắm tới, chính là Đài Loan, nơi có khoảng 200 nghìn người Việt sinh sống, bao gồm 80 nghìn người là công nhân hợp tác lao động, và khoảng 120 nghìn phụ nữ lấy chồng Đài Loan.

Đến đây, cũng cần phải nói thêm về vai trò của một vài cơ quan trong nước, làm dịch vụ đưa công nhân sang Đài Loan lao động. Họ chưa thật sự quan tâm đến đời sống, sinh hoạt của công nhân, chưa có những hỗ trợ thực tế mỗi khi công nhân gặp khó khăn.

Bên cạnh đó, các hoạt động trợ giúp những “cô dâu” người Việt ở Đài Loan bị ngược đãi của các đoàn thể, tổ chức xã hội trong nước cũng vẫn rất mờ nhạt. Lợi dụng nhược điểm này, Việt Tân cho ra đời VMWBO, núp bóng dưới hình thức “tổ chức phi chính phủ” nên bước đầu, đã tạo được lòng tin với một bộ phận “cô dâu”, công nhân người Việt.

Đứng đầu VMWBO là Nguyễn Văn Hùng, thành viên Việt Tân tại Australia, phó là Nguyễn Hùng Cường, thành viên Việt Tân ở Mỹ. Phụ trách vấn đề công nhân, “cô dâu” Việt Nam là Mai Thị Loan. Phụ trách tài chính, kế hoạch là Lê Mỹ Nga, còn Lương Thị Thanh Ánh làm nhiệm vụ thư ký.

Để khuếch trương vai trò của VMWBO trong giới công nhân, “cô dâu” Việt, Nguyễn Văn Hùng lập 2 trang web trên mạng Internet, in ấn tài liệu nói về tự do, dân chủ, tuyên truyền đường lối, cương lĩnh của “Việt Tân” rồi tán phát cho công nhân, “cô dâu” Việt Nam.

Lợi dụng những tranh chấp của công nhân với chủ thuê mướn về giờ giấc lao động, tiền lương, cũng như hoàn cảnh khó khăn của các “cô dâu”, nhóm VMWBO tiến hành các cuộc tiếp xúc, rồi lôi kéo những thành phần bất mãn về ở tại các khu tạm cư trong khuôn viên nhà thờ Chung Li.

Tại đây, hàng ngày mỗi người được cấp 9 USD là tiền ăn uống, được Vũ Đình Thôn, Nguyễn Minh Chính, Trần Cao Tường, Dương Bá Hoạt, Trần Văn Phúc…, là thành viên Việt Tân dạy tiếng Hoa, dạy một số nghề thủ công như may vá, sửa chữa điện dân dụng, thợ hồ.

Ngoài ra, nhóm VMWBO còn thành lập trong khu tạm cư cả một thư viện với máy tính truy cập Internet, với sách báo phản động, tài liệu tuyên truyền cho Việt Tân. Bên cạnh đó, cứ mỗi dịp lễ như: Giáng sinh, tết Dương lịch, tết Âm lịch, nhóm VMWBO lại tiến hành những buổi họp mặt công nhân, “cô dâu” để liên hoan ăn uống, thăm hỏi, tặng quà. Mục đích của những việc làm này là nhằm để dần dà, nhiều người ngộ nhận rằng đây chỉ là một tổ chức từ thiện thuần túy.

 

Âm mưu của Việt Tân

Trở lại chuyện 5 phụ nữ Việt Nam, theo lời chị Bùi Thị Hoa, khoảng nửa tháng sau khi đến tạm cư tại khu vực nhà thờ Chung Li, chị cùng một số người khác, thường xuyên được Nguyễn Quốc Quân, Ngô Trọng Đức, Võ Chương – là nhóm cốt cán của Việt Tân trong chiến dịch đưa “thành viên” về Việt Nam, gặp gỡ, thăm hỏi.

Thoạt đầu, những gã này chỉ khơi gợi tình cảm gia đình, tình làng nghĩa xóm. Dần dà, bọn chúng chuyển sang đề tài chính trị, lợi dụng một số vụ tham nhũng xảy ra tại Việt Nam, hoặc chuyện bà con khiếu kiện đất đai, những bất cập trong quản lý kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục…, để từng bước nhồi nhét vào đầu họ quan điểm chống phá Nhà nước Việt Nam.

Khi thấy tư tưởng của người nghe có biểu hiện chuyển biến, chúng đi tiếp bước thứ hai. Chị Phan Thị Thu Nguyệt, kể: “Trong một lần nói chuyện, Nguyễn Quốc Quân cho em biết, người nằm bên cạnh giường em, là kẻ xấu chui vào để phá hoại. Ông ta nhờ em theo dõi tất cả mọi hoạt động thường ngày của người này, đồng thời phải tạo ra sự thân tình, để xem quan điểm ra sao”.

Vì không nhận ra âm mưu thâm độc của chúng, chị Nguyệt đã làm theo mà không ngờ, người chị được lệnh phải theo dõi, chính là người của Việt Tân và việc “theo dõi”, chỉ là thử thách!

Sau một vài lần “thử thách” như thế, chị Nguyệt được chúng công nhận là “cảm tình viên”. Đến lúc này, bộ mặt Việt Tân hiện nguyên hình bằng những buổi học tập, thảo luận đường lối, chính sách của “tổ chức”, cùng vai trò, nhiệm vụ của “thành viên” trong âm mưu, kế hoạch chống lại Nhà nước Việt Nam.

Tiếp theo, Nguyễn Quốc Quân, Ngô Trọng Đức, Võ Chương lần lượt dạy chị cùng một số người khác về các hoạt động bí mật, như tạo địa chỉ e-mail trên mạng Internet, cách viết thư bằng mật mã, cách chụp hình, gửi hình, gửi file âm thanh kèm theo e-mail mà một ai đó, dẫu có vô tình biết được mật khẩu hộp thư, thì nếu mở ra cũng chẳng xem được.

Bên cạnh đó, “cảm tình viên” còn học các quy ước liên lạc với người của “tổ chức”, cách theo dõi và chống theo dõi. Một số người sau khi trải qua lớp huấn luyện ấy, được Việt Tân làm lễ kết nạp, rồi đưa về lại Việt Nam với trang bị gồm máy tính xách tay, máy chụp hình kỹ thuật số và tiền lương khởi đầu mỗi tháng 100 USD.

Chị Lê Thị Hậu cho biết: “Sau khi kết nạp xong, ông Nguyễn Quốc Quân đốt ngay hồ sơ xin gia nhập của em trước mặt em, để em tin rằng chuyện em vào “tổ chức” là hoàn toàn bí mật, ngoài ông Quân ra thì không còn ai biết”.  Nhưng chị – cũng như rất nhiều người khác đều không ngờ rằng, hồ sơ ấy đã được Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Quốc Quân chụp lại, rồi lưu vào máy tính và chuyển về cho bọn đầu sỏ ở Mỹ là Lý Thái Hùng, Đỗ Hoàng Điềm.

Về Việt Nam, nhiệm vụ khởi đầu của “thành viên Việt Tân” là viết những e-mail, xem ra rất hiền lành, tường thuật lại những gì đang xảy ra tại địa phương mình, từ chuyện làm ăn đến chuyện sinh hoạt, đời sống, hoặc những vụ việc mà báo chí trong nước đăng tải công khai (và đó cũng là cách Việt Tân kiểm tra thái độ hoạt động của họ).

Khi đã được tin tưởng, Việt Tân chuyển tiền về để họ mở quán cà phê, quán ăn, quán tạp hóa, làm vỏ bọc. Một thời gian sau, dưới hình thức du lịch, Việt Tân đưa họ sang Thái Lan, sang Malaysia tái huấn luyện rồi khi trở về, họ sẽ làm nhiệm vụ móc nối thêm những người khác.

Chị Trần Thị Huệ cho biết: “Em về TP HCM được gần 1 tháng. Nhà em ở đường Hồ Văn Huê, quận Phú Nhuận. Hôm vừa rồi, họ gửi e-mail, dặn em nếu tối có phóng viên của Đài phát thanh “Chân trời mới” gọi, hỏi về vấn đề người dân khiếu kiện đất đai, thì em phải trả lời là tận mắt em chứng kiến Công an Việt Nam xịt hơi cay, phun vòi nước chữa lửa và đánh đập dã man người khiếu kiện. Thật tình em biết không hề có chuyện đó, nhưng họ dặn em phải nói vậy nên em sợ quá, tối đó em tắt điện thoại luôn”.

Cho đến nay, theo lời những phụ nữ đã tiếp xúc với chúng tôi, thì Việt Tân – thông qua tổ chức VMWBO, đã tuyển mộ được một số người trong số những người mà chúng lôi kéo, rồi dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam.

Thậm chí chúng còn nhắm đến cả Hàn Quốc, nơi có hàng chục nghìn lao động và “cô dâu” người Việt, đang làm ăn, sinh sống. Thâm độc hơn, chúng sẽ phát triển và sử dụng những người này để tạo ra tình trạng bất ổn xã hội – mà cụ thể là trong một số vụ người dân tụ họp khiếu kiện về đất đai ở một số địa phương, bọn Việt Tân đã cho người luồn lách vào để kích động rồi nương theo đó, tổ chức bạo loạn, khủng bố, lật đổ chính quyền.

Thực tế cho thấy, vấn đề một bộ phận nhỏ công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan bị ngược đãi là vấn đề tồn tại đã lâu, nhưng các biện pháp giải quyết thì đến nay, xem ra vẫn chưa đạt được kết quả mong muốn. Vì thế, bọn phản động mới có cơ hội lợi dụng.

Để phá tan âm mưu thâm độc của Việt Tân, những đơn vị đưa người đi hợp tác lao động, những tổ chức xã hội cần thấy rõ trách nhiệm của mình hơn nữa bằng việc phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng Đài Loan, nhằm giải quyết nhanh chóng, và kịp thời những bức xúc chính đáng của người lao động.

Bên cạnh đó, cần thiết phải có những buổi sinh hoạt, thăm viếng thường kỳ của các văn phòng đại diện người Việt ở Đài Loan, để tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng và cũng là để người lao động nhận ra những âm mưu chia rẽ, phá hoại – không riêng gì của Việt Tân, mà của cả những tổ chức phản động khác, núp dưới những chiêu bài nghe rất lương thiện và hiền lành

PV, CAND, ngày 12/8/07

CHỐNG CỘNG CỜ VÀNG ĐI VỀ ĐÂU?

xichloviet

Mấy chục nay nay giới chống cộng cờ vàng thường đổ lỗi cho nhau về việc thiếu đoàn kết, chia rẽ trong cộng đồng làm yếu đi sức mạnh chống cộng. Đoàn kết xưa nay vẫn là vấn đề xa xỉ trong cộng đồng cờ vàng. Nói đến đoàn kết phải nói đến sự đồng thuận trong một mục tiêu chung, dẫn đến chiến lược chung và thống nhất hành động. Như thế mới tạo được sức mạnh. Có vẻ như họ đã thống nhất được mục tiêu chung là “ chống cộng” nhưng lại không đồng thuận được với nhau vì mỗi người diễn giải và định nghĩa việc chống cộng một cách khác nhau. Nếu hỏi chống cộng để đi đến đâu, tại sao phải chống và chống rồi sẽ làm gì thì gần như quan điểm khác nhau rất xa, mỗi người có động cơ riêng.

Vì xuất phát từ động cơ cá nhân cho nên gần bốn chục năm qua họ chỉ là kẻ gây rối và không thể gọi họ là một tổ chức đấu tranh được. Họ sử dụng lá cờ vàng làm biểu tượng tập hợp lực lượng mà quên rằng cả một chế độ với bộ máy và lực lượng chống cộng cả tỷ đô la tập hợp dưới lá cờ này với sự trợ giúp tối đa của Mỹ đã tan rã một cách tủi nhục. Dùng biểu tượng rách nát của lá cờ vàng để tập hợp lực lượng có sức mạnh chống cộng là điều quá hoang đường. Những hội đoàn chống cộng tập hợp dưới lá cờ này chỉ mang tính chất hoài niệm không thể gọi là một lực lượng tranh đấu. Nó chẳng khác gì như một hội cờ tướng, hội chơi chim.

Những ràng buộc có tính kỷ luật giữa các thành viên hội đoàn và giữa hội đoàn cờ vàng với nhau không có dẫn đến ranh giới giữa “quốc gia” và “việt gian” rất mong manh. Hôm nay anh là người quốc gia anh sẽ trở thành việt gian bất cứ lúc nào. Sự vô tổ chức vô kỷ luật và vô văn hóa đã giải thích tại sao hơn bốn chục năm không có ai đủ tầm cỡ có thể đại diện cho tiếng nói cờ vàng để đối thoại yêu sách với CS

Không bao giờ có được đoàn kết và thống nhất hành động trong giới chống cộng hải ngoại và cũng không bao giờ làm nên chuyện lật đỏ CS Vì sao? Không có người xứng tầm lãnh tụ – Không có cùng mục tiêu, lý tưởng và cách hành động chung –- Mục tiêu đấu tranh để lật đổ CS càng ngày càng không tưởng và không có sách lược nào thực hiện mục tiêu này – Mục tiêu đấu tranh không được đa số dân chúng ủng hộ – Qúa non kém so với tổ chức chặt chẽ kỷ luật của đảng CS – Không có lực lượng và hoàn toàn không có hậu thuẫn từ quốc tế – Đấu tranh hoàn toàn ngẫu hứng và tự phát – Điều quan trọng nhất làm họ thất bại là động cơ đấu tranh xuất phát không phải vì tình yêu đất nước mà từ lòng hận thù cá nhân vị kỷ .

Cái họ thường gọi là “sức mạnh cộng đồng” chính là một thứ quyền lực đen họ tạo ra để chi phối cộng đồng. Không phải họ không nhận ra nó không thể làm yếu đi chế độ tại VN chứ đừng nói đến việc lật đổ nó. Họ luôn tìm cách củng cố thứ quyền lực này để nuôi dưỡng một thứ dopping cho họ và phần nào họ đã thành công. Họ không muốn mất đi thứ quyền lực này và cái gọi là “đấu tranh” của họ chỉ là đấu nhau để khẳng định và duy trì củng cố nó. Họ phải kết bè phái để tranh giành ảnh hưởng với nhau. Bè phái nào tập hợp đựợc một cuộc biểu tình đông đảo xem như đã tạo được số má giang hồ, có thể dùng nó để áp đảo những băng nhóm hoặc cá nhân trái với luật cờ vàng của băng nhóm mình.

Gần bốn chục năm “đấu tranh” như thế câu hỏi chống cộng cờ vàng đi về đâu ai cũng đã tự có câu trả lời.

Vài nhận xét về buổi Hội luận Chính trị 30/4/09 do đài SBTN tổ chức

Tôi đến đài SBTN là lúc gần 6 giờ, theo lời mời của nhà báo Vi Anh Bùi Văn Nhân, trong cuộc hội thảo do đài này tổ chức nói về hiểm họa của Trung Quốc đối với Việt Nam. Khi bước vào hội trường thu hình, tôi nhìn thấy đã có khoảng hơn 40 người có mặt, đa số là thành phần báo chí và một số nhân vật thường tham gia sinh hoạt cộng đồng, theo lời của ông Vi Anh thì chương trình hội thảo này sẽ kéo dài 3 tiếng đồng hồ và được trực tiếp phát hình trên hệ thống DirecTV cũng như trên trang Web của SBTN.

Khoảng 6 giờ 15 thì chương trình bắt đầu, người được xem là điều hợp chương trình có tên là Cát, tôi không biết họ, anh đứng ở góc bên phải của sân khấu nếu nhìn từ dưới lên. ở giửa có một bàn dài và có 4 người đã ngồi sẳn, đếm từ trái sang thì có ông tiến sĩ Mai Thanh Truyết, cựu đại sứ Bùi Diểm, nhà báo nhà chính trị Võ Long Triều và cuối cùng là cựu tướng Lê Minh Đảo. Ngay từ lúc mở đầu, đã có một số trục trặc về kỷ thuật, rồi sau đó cô Diệu Quyên cho biết, trong lúc thu hình người tham dự không thể chụp hình hoặc thu video.

Ông Võ Long Triều giử nhiệm vụ điều hợp cho các tham luận viên, ở lúc này tôi thấy có sự lủng củng, vì không biết ông Võ Long Triều hay anh Cát mới là người điều hợp chính, vai trò bị lẫn lộn. Ngay khi bắt đầu thu hình có một khan giả gọi vào đặt ngay câu hỏi rằng tại sao không có mặt của cựu tướng Lữ Lan, dù rằng con gái của ông là cô Lữ Anh Thư cũng đang có mặt trong sàn quay, theo lời giải thích của ông Võ Long Triều thì ông Lữ Lan đã có mặt tại Quận Cam nhưng vì lý do sức khỏe nên đã không thể tham dự, dù rằng ban tổ chức đã có chuẩn bị chổ ngồi cho ông Lữ Lan. Tuy nhiên, sau đó, ông Đoàn Trọng trong phần phát biểu cho biết cô Lữ Anh Thư xác nhận rằng sức khỏe của ông Lữ Lan rất tốt hoàn toàn không có vấn đề.

Phía những người ngồi trên bàn cho biết, họ sẽ thảo luận 3 đề tài chính, đó là vụ chính phủ Việt Nam cho phép Trung Quốc khai thác Bauxit tại cao nguyên trung phần Việt Nam, hiệp ước biên giới giửa Việt Nam và Trung Quốc cũng như việc Trung Quốc muốn chiếm quần đảo Trường Sa, và thứ ba là hiểm họa của Trung Quốc đối với Việt Nam. Ông Võ Long Triều cho biết mỗi đề tài sẽ thảo luận khoảng một tiếng đồng hồ, đồng thời cho biết sẽ thảo luận vấn đề Bauxit trước.Tiếp đến, ông chuyển Micro cho các người còn lại trên bàn, bao gồm các ông Bùi Diểm, Lê Minh Đảo và Mai Thanh Truyết. Riêng ông Mai Thanh Truyết thì tường trình về chuyên môn của ông trong vấn đề môi sinh, đồng thời tố cáo rằng việc khai thác Bauxit không có lợi cho Việt Nam, ngược lại sẽ gây ảnh hưởng môi sinh, cũng như tạo cơ hội cho lao công Trung Quốc tràn sang Việt Nam. Ở điểm này, cô Lữ Anh Thư  xin phát biểu và cho biết, một công ty của Hoa Kỳ  đã chính thức ký kết với một công ty trong nước Việt Nam để khai thác Bauxit cũng trên khu vực cao nguyên trung phần Việt Nam, cô nói thêm rằng phía Hoa Kỳ chiếm 49% còn phía Việt Nam chiếm 51%, văn thư chính thức được công bố hôm 28 tháng tư, tức là chỉ một ngày trước buổi hội thảo. Thông tin này đưa ra khiến ông Mai Thanh Truyết bị lúng túng, không biết ông lúng túng vì không đủ thông tin [1] hay vì chỉ muốn dùng vụ Bauxit để công kích phía nhà nước Việt Nam bán lãnh thổ cho Trung Quốc.

Ngay sau đó thì các tham luận viên được mời phát biểu, đầu tiên là bà An Nguyễn Kiều Mỷ Duyên, rồi đến các ông như Trần Phong Vũ, Vi Anh, Chu Tất Tiến, Huy Phương, Nguyên Huy v.v… Rất nhiều người được phát biểu xen lẫn với các câu hỏi, đề nghị của khán giả truyền hình xem trực tiếp gởi vào, giới báo chí có mặt cũng giơ tay đặt câu hỏi nhưng hầu như không được chú ý. Hầu hết các lời phát biểu của những tham luận viên đều mang tính chất kích động với những thông tin khiến cho người xem có cảm tưởng rằng Việt Nam đã bị Trung Quốc xâm lấn rồi, và chính quyền Việt Nam đã bán sạch sẽ đất đai của tổ tiên cho phương bắc.

Trong cuộc thảo luận khi nói về CSVN, ông Lê Minh Đảo còn đưa ra các thông tin cho rằng chiến thắng Điện Biên Phủ của tướng Việt Minh Võ Nguyên Giáp là chiến thắng của…….Trung Quốc, ông nói rằng Trung Quốc lợi dụng xương máu của người Việt Nam để chiến thắng trận Điện Phủ, nên công trạng đó là của …..Trung Quốc chứ không phải của Việt Minh, khi ông Đảo phát biểu như vậy, tôi thật thắc mắc vì chưa đọc cuốn sách nào hay báo chí nào nói rằng đó là công trạng của người Trung Quốc.

Ngoài ra khi nói về cuộc chiến năm 1974, khi quân đội Việt Nam Cộng Hòa bị Trung Quốc đánh bại và mất cả Hoàng Sa, ông Đảo lại không can đảm dùng chử “thua trận” mà chỉ cố gắng dùng chử “nhượng bộ” để ca ngợi tinh thần của những người lính đã hy sinh bảo vệ lãnh thổ Việt Nam.

Bên cạnh đó, các ông như Huy Phương, Vi Anh Bùi Văn Nhân thì cho rằng chiến dịch không về Việt Nam trong dịp tháng tư đã thành công vì vé máy bay xuống giá chỉ còn khoảng $600, trong hội trường có người lại cho biết là xuống còn …..$450.Cuộc hội thảo kéo dài 3 tiếng nhưng đã không đi theo trình tự lúc ban đầu ông Võ Long Triều đặt ra, mà hầu hết chỉ loanh quanh trong vấn đề người Việt Hải Ngoại phải làm gì trước hiểm họa của Trung Quốc.

Tôi vốn có nhiều câu hỏi muốn đặt ra cho các tham luận viên chủ tọa đoàn nhưng giơ tay rất nhiều lần vẫn chưa được, cuối cùng, hơn 8 giờ, thì ông Cát người điều hợp viên mới xướng tên của tôi để đặt câu hỏi. Theo qui định của ban tổ chức thì mỗi người đặt câu hỏi chỉ gói gọn trong vòng 30 giây, mặc dù ông Võ Long Triều có nói rằng điều này có thể du di. Vì biết mình khó còn cơ hội trở lại đặt câu hỏi nên sau khi cầm được Micro tôi đã cố gắng nói nhanh để đặt ra 3 câu hỏi :

1.      Quí vị nói rất nhiều về Trường Sa Hoàng Sa, vậy quí vị (chủ tọa đoàn) có biết hiện này quần đảo Trường Sa, Trung Quốc chiếm bao nhiêu đảo ? Việt Nam chiếm bao nhiêu đảo ? Philippines bao nhiêu đảo ? Brunei bao nhiêu đảo hay  không ?

2.      Về hiệp ước biên giới Việt Nam-Trung Quốc được ký kết năm 2008, một số bạn trẻ trong nước cho rằng, nếu bây giờ không ký, 20 năm nữa Trung Quốc trở thành con khủng long, thì làm sao ký, có thể lúc đó bị mất đất nhiều hơn, quí vị nghĩ sao ?

3.      Hôm nay 29 tháng tư, đánh dấu 34 mất miền nam Việt Nam, quí vị (chủ tọa đoàn) ngoại trừ ông Mai Thanh Truyết, 3 vị còn lại là thành phần lãnh đạo của miền nam Việt Nam, có bao giờ quí vị nghĩ đến việc xin lổi quốc dân về tội làm mất miền nam Việt Nam hay không ?

Đó là 3 câu hỏi tôi cố gắng hỏi thật nhanh, nhưng tôi nghĩ tôi cũng đã không thể hỏi trong vòng 30 giây, ông Võ Long Triều đã trả lời câu hỏi số 2 của tôi rằng, chưa chắc 20 năm sau sẽ mất đất nhiều hơn mà có thể ngược lại, vì không ai biết chuyện xảy ra 20 năm sau, rồi ông trả lời câu hỏi thứ ba một cách thẳng thắn rằng, ông đã xin lỗi trên những bài báo mà ông viết trước đây, đồng thời ông cũng đã trả giá những năm tù vì là kẻ bại trận. Câu trả lời tương đối có sức thuyết phục đối với tôi.

Riêng tướng Lê Minh Đảo, sau khi nhận micro từ tay ông Võ Long Triều, thay vì trả lời các câu hỏi của tôi thì ông ta quay ra ca ngợi sức chiến đấu của các binh lính Việt Nam Cọng Hòa, rồi cho rằng Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh, sau đó ông cho rằng nhờ sự “chiến đấu” của ông và quân đội mà giới trẻ chúng tôi mới có được ngày hôm nay, rồi ông ca ngợi sự thành công của các H.O. đã nuôi dạy con cái thành tài ở Mỹ, cuối cùng ông hét to lên rằng không những thành phần lãnh đạo như ông mà toàn dân đều có tội làm mất miền nam Việt Nam.

Riêng phần phát biểu của ông Đảo, tôi tự nhủ ở trong bụng rằng, thứ nhất tôi chỉ hỏi thành phần lãnh đạo chứ không hỏi về những người lính đã chiến đấu, thứ hai khi ông phát biểu rằng toàn dân đều có tội, như vậy lúc đó tôi chỉ là một đứa trẻ 7 tuổi thì tôi có tội gì mà phải mang chung tội làm mất miền nam Việt Nam ?

Kết cuộc, sau phần phát biểu của ông Đảo, cả chủ tọa đoàn không ai trả lời câu hỏi thứ nhất của tôi, và tiếp tục quay lại vấn đề phải làm gì trước hiểm họa TQ.

Lúc ngưng thu hình chạy quảng cáo, đột nhiên nhạc sĩ Trúc Hồ xuất hiện, có hỏi Việt Dũng và Cao Xuân Huy là 2 người nhận điện thoại của khán giả gọi vào rằng: Có khán giả từ Việt Nam đặt câu hỏi hay không ? Việt Dũng lắc đầu, thế mà sau khi thu hình trở lại thì ông Cát điều hợp chương trình đã đọc một lời phát biểu của khán giả từ Việt Nam gởi vô ?

Gần cuối thì có một nữ khán giả đề ra giải pháp rằng, ngày 13 tháng 5 là thời hạn cuối cho các quốc gia thành viên LHQ nộp bản đồ biên giới, dù chính quyền Việt Nam đã gởi, nhưng phía cộng đồng vẫn có thể trực tiếp gởi các bản đồ đó lên LHQ, ông Vi Anh sau khi nghe vội vàng chụp micro và nói rằng ông và một bạn hữu đã làm điều đó, đồng thời đã có biên nhận gởi đi. Cô Lử Anh Thư sau khi nghe phát biểu thì nói rằng LHQ là tổ chức với thành viên là các quốc gia không phải hội đoàn, nên dù có gởi thì họ ghi nhận chứ không làm gì hết, lời phát biểu của cô Anh Thư như gáo nước lạnh tạt vào ý kiến và việc làm của ông Vi Anh. Cuối cùng ông cựu đại sứ Bùi Diễm đã được mời đúc kết cuộc hội thảo với những đề nghị của mọi người là phải làm gì.

SBTN là cơ sở tổ chức đã tổ chức buổi hội thảo này, bỏ qua các trục trặc về kỷ thuật không đáng kể, xét về mặt truyền thông, SBTN đã đáp ứng được nhu cầu của khan giả họ, đó là mở hội luận cho những đề tài nóng bỏng đang diển ra, đây là sự thành công, tuy nhiên tôi hơi thắc mắc là những người có khả năng như Việt Dũng tại sao không điều hợp chương trình cho suông sẽ hơn lại mời ông Cát nào đó giử trách nhiệm này. Ông Cát chưa đủ khả năng điều hợp vì tôi nhìn thấy ông còn thái độ cả nể không dám cắt ngang những lời phát biểu quá dài. Nói chung, dù nội dung thế nào, phía SBTN đã thực hiện đúng vai trò của truyền thông.

Tuy nhiên, phía các người tham dự, kể cả chủ tọa đoàn, thì không những là thiếu kinh nghiệm tổ chức, chuyên môn ngay cả sắp xếp người phát biểu hay cho kỷ giả đặt vấn đề cũng không ổn thỏa, cho thấy sự yếu kém quá nhiều. Ngoài ra, khi tổ chức lại không chuẩn bị đầy đủ các thông tin chính xác, ngược lại còn thêm những thông tin mù mờ để kích động, khiến cho buổi hội thảo có lúc trở thành buổi tố cáo tội ác CSVN thay vì chủ đề là hiểm họa của TQ.

Trên đường ra về, tôi tự hỏi nếu thật sự có một cuộc đối thoại thẳng thắn với chính quyền CSVN về quá khứ, hiện tại và tương lai của đất nước Việt Nam, với não trạng như vậy liệu những người này có đủ khả năng đương đầu với kẻ thù từng thắng họ trên mặt trận quân sự hay không ? Và nếu có một nước Việt Nam không CS, thì nếu nằm dưới sự lãnh đạo của những não trạng này, đất nước Việt Nam sẽ đi về đâu ?

Câu hỏi xin cho các độc giả tự trả lời.

 

Trần Nhật Phong, Việt WEEKLY, 5/2009

BẠI TƯỚNG CŨNG CẦN CÓ BẢN LÃNH

Ông Dương Văn Minh khi ấy có một chiếc trực thăng riêng. Nhưng ông ấy đã cho mấy người phi công đi về hết. Ông ấy nói: Qua không thể bỏ dân chúng Sài Gòn được”, Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh nói.

Trong hồi ức của mình, Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái, người có mặt khi Tướng Dương Văn Minh đọc tuyên bố đầu hàng tại Đài Phát thanh Sài Gòn vào trưa 30.4.1975, đã viết: “… Dẫu sao ông cũng đã hy sinh danh dự của một tướng lãnh (dù là một tướng bại trận) để cứu thành phố này khỏi cảnh tàn phá và đổ nát. Sau này tôi mới biết là ông và bộ tham mưu từ mấy ngày qua đã quyết định đầu hàng dẫu có bị đối xử không tương xứng của phía đối nghịch.

Đó cũng là một hành động can đảm và đáng ca ngợi của một Phật tử vào cuối đời. … Ít ra ông còn giữ được nguyên vẹn Sài Gòn và phần còn lại của miền Nam tránh khỏi đổ nát và đổ máu thêm một cách vô ích…

Nhận xét của người cựu Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn đã được một nhân chứng lịch sử – cựu Đại uý Phạm Xuân Thệ (nay là Trung tướng) – khẳng định một phần trong các bài viết về ông.

Phần còn lại cũng đã được minh chứng bởi những nhân chứng lịch sử khác, ở một lát cắt lịch sử khác, và từ một góc nhìn khác. Họ là Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Luật sư Triệu Quốc Mạnh, hay nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu – những thành viên của cái nội các cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Thường là trong các cuộc họp báo quốc tế, được tổ chức 5 năm một lần.

Ngày 28.4 năm ngoái, họ lại tiếp tục thực hiện cái nhiệm vụ định kỳ này. Nhưng với họ, cuộc họp báo hôm đó không hề mang tính nghĩa vụ nữa, mà đã có thêm ý nghĩa của một sự sẻ chia một hồi ức chung. Và những câu hỏi từ dưới cử toạ lại mang ý nghĩa của một sự gợi mở.

Bởi trong số cử toạ ở dưới có một nhóm nhỏ phóng viên quốc tế – những người đã từng có mặt trên mảnh đất Sài Gòn này trên dưới bốn thập kỷ trước, và cũng chứng kiến được nhiều điều tương tự như họ. Mặc dù, không nhất thiết phải là những ngày cuối của tháng Tư năm 1975.

Đó là những cái tên như Simon Dring và Jim Pringle (Reuters), Don Kirk (Washington Star), Mike Morrow (Dispatch News Service), hay James Caccavo (Red Cross)

Các phóng viên nước ngoài tại cuộc họp báo quốc tế tổ chức ngày 28.4.2010 tại TP.HCM

Tất cả những điều đó gộp lại đã khiến cho người viết, từng tham dự ba cuộc họp báo tương tự trước đó, kể từ năm 1995, tại Sở Ngoại vụ TP HCM, cảm nhận được một sự cởi mở chưa từng có, đúng hơn là sự “mở lòng”. Nhất là khi các nhân chứng nói về Tướng Dương Văn Minh – một nhân vật gây tranh cãi trong những ngày cuối cùng của tháng Tư lịch sử ấy, trước khi Đại uý Thệ và các đồng đội của ông tiến vào Dinh Độc Lập.

Và qua đó, người viết cũng hiểu thêm rằng, tại sao cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhận xét về ông Dương Văn Minh trong bài trả lời phỏng vấn tuần báo Quốc tế nhân 30  năm thống nhất đất nước (30.4.2005)

“Bản thân tôi cùng với anh em được giao tiếp quản Sài Gòn năm 1975, một Sài Gòn nguyên vẹn sau một cuộc chiến tranh như vậy, tôi nghĩ không thể không nói đến vai trò của nội các Dương Văn Minh và các lực lượng chính trị đối lập với Mỹ – Thiệu, có quan hệ với chính phủ Dương Văn Minh lúc bấy giờ”.

 

Tuần Việt Nam ghi lại cuộc họp báo quốc tế tại TP.HCM ngày 28/4/2010 như một tư liệu để tham khảo.

Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, nguyên phụ tá Tổng tham mưu trưởng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, kể:

… Tất cả những gì ở Miền Nam Việt Nam này hồi đó, từ chính trị, ngoại giao, đến quân sự là Mỹ nắm hết. Không có một ông Tổng thống nào tồn tại được nếu không nghe lời Mỹ.

Ông Dương Văn Minh làm những việc Mỹ không thích, họ đã quyết định bỏ Dương Văn Minh, đưa ông ra ở nước ngoài (đi làm Đại sứ ở Thái Lan). Cái đó làm cho chúng tôi phải suy nghĩ.

Khi trở về, ông Dương Văn Minh trở thành người đối lập với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Dương Văn Minh là người muốn chấm dứt chiến tranh cho đất nước Việt Nam, mặc dù ổng cầm súng của Mỹ. Có nhiều người có nhiều cách nói về ông ấy lắm. Nhưng mà tôi muốn nói rằng ông Minh muốn ở lại đây (Sài Gòn).

Bởi vì ông ấy có một chiếc trực thăng riêng. Nhưng ông ấy đã cho mấy người phi công đi về hết. Ông ấy nói rằng “qua không thể bỏ dân chúng Sài Gòn được”.

Khi ông ấy lên Tổng thống, ông ấy ký một cái giấy yêu cầu cố vấn của Mỹ phải rút đi trong vòng 24 tiếng đồng hồ, để giải quyết vấn đề chiến tranh Việt Nam.

Simon Dring: Vào thời điểm cuối 1964, khi lực lượng Việt Cộng hoạt động rất mạnh và rất gần khu vực Sài Gòn, một số người nghĩ rằng Sài Gòn sẽ nhanh chóng bị thất thủ. Lúc đó, Mỹ chưa đưa quân vào Việt Nam.

Xin cho biết cảm nghĩ của ông lúc đó. Ông muốn chiến tranh kết thúc với sự thất thủ của Sài Gòn, hay người Mỹ đưa quân vào?

Nguyễn Hữu Hạnh: Tôi là trung tá, trưởng phòng 2 cho ông Dương Văn Minh, từ năm 1959. Lúc đó, ông Minh là Tư lệnh Bộ Tư lệnh Hành quân.

Tất cả những nhân vật quan trọng (của Mỹ) đến Việt Nam đều đến thăm ông Minh hết, và (những lần đó)  đều có mặt tôi hết. Họ đều hỏi ý kiến ông Minh về việc đưa quân Mỹ vào Việt Nam. Nhưng ông Minh đều từ chối.

Khi đảo chính Ngô Đình Diệm, ông Minh đã phá tất cả những ấp chiến lược mà Mỹ đã làm. Điều đó đã khiến Mỹ không bằng lòng.

Mỹ lại yêu cầu đổ quân vào miền Nam, và ông Minh lại từ chối. Mỹ yêu cầu ném bom miền Bắc và phá đê sông Hồng, ông Minh cũng lại từ chối. Lúc đó, người Mỹ nói rằng ông Minh là người khó hợp tác. Thế là năm 1964, Nguyễn Khánh đảo chánh Dương Văn Minh.

Mike Morrow: Tôi được biết Dương Văn Minh có người em trai ở phía bên kia. Vậy ông Minh, và có thể là cả ông nữa, lần đầu tiên liên hệ với Mặt trân Dân tộc Giải phóng là khi nào? Những năm 50, 60, hay chỉ đến khi Sài Gòn chuẩn bị sụp đổ?

Nguyễn Hữu Hạnh: Câu hỏi tốt. Tôi có thể nói rằng người Việt Nam chúng tôi có tới 95% là có người thân ở cả hai phía. Tôi cũng có những người bà con là đảng viên cộng sản. Hay ông Võ Văn Kiệt, một người lãnh tụ ở miền Nam này, cũng có người thân bên phía chúng tôi.

Có điều, lúc đó người Mỹ chưa có hiểu người Việt Nam đâu. Nếu có ai đó mà có tội do liên quan đến cộng sản, ngay ở chính quyền Sài Gòn cũng vẫn có người cảm thông, giúp đỡ. Tôi không hiểu người Mỹ, hay CIA, có hiểu được điều này không, nhưng đây là một đặc điểm quan trọng của người Việt chúng tôi.

Vào ngày 2.5.1975, khi mà ông Dương Văn Minh gặp ông Trần Văn Trà – một tướng cộng sản, người nhận lãnh thành phố này -, ông Trà đã nói rằng giữa chúng ta không có kẻ thua người thắng, mà dân tộc Việt Nam chúng ta thắng đế quốc Mỹ.

Don Kirk: Tôi có nghe về những trại cải tạo sau 4.1975. Chẳng hạn, đến năm 1985, tôi được nghe rằng có những người đi cải tạo mà vẫn chưa được về. Điều này có ngược lại tinh thần của Tướng Trà nói với Tướng Minh hay không?

Câu hỏi này cũng rất hay. Chắc ông cũng biết là trong lúc mới giải phóng, ý tưởng của Đảng (Cộng sản Việt Nam) là như vậy.

Nhưng nói thực sự với quý ông, tôi được mời tham vào Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của thành phố (HCM), nhưng mà tôi vẫn ái ngại về điều đó. 30 năm đánh nhau ắt hẳn phải có điều nọ điều kia giữa những người nọ và những người kia.

Vào năm 1988, tôi có viết một cái bài về hoà hợp dân tộc. Tôi vẫn nghĩ rằng (mặc dù) Đảng Cộng sản Việt Nam muốn điều này, nhưng vẫn còn để một số vấn đề xảy ra.

Sau bài viết của tôi, ông bí thư (thành uỷ), rồi ông chủ tịch Mặt trận, đã có những hành động tốt. Các quý vị cũng biết là sau khi hai bên đánh nhau, thì cũng có nhiều khó khăn để giải quyết lắm, và cũng cần thời gian.

Nhà sử học Nguyễn Đình Đầu, nguyên Trưởng đoàn đàm phán của chính quyền Dương Văn Minh tại trại David, kể:

Chiều 28.4, ông Dương Văn Minh nhậm chức. Sáng 29.4, ông Dương Văn Minh cử tôi đưa một phái đoàn đi trại David, nơi có đại diện của chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, để điều đình việc ngưng chiến.

Tôi được đại diện của phía bên kia cho biết là chiến dịch Hồ Chí Minh đã bắt đầu, và vì thế không thể ngưng chiến ngay được, mà cần một thời gian.

 

Simon Dring: Vào lúc 11:30 ngày 30.4, ông đang ở đâu? Có phải đang trong trại David không?

 

Nguyễn Đình Đầu: Trưa 29.4 tôi đã về rồi.

Simon Dring: Khi đến trại David, không biết ông có thảo luận với phía Mỹ ở đó không?

Nguyễn Đình Đầu: Không. Tôi chỉ đến gặp đại diện của Chính phủ Cách mạng Lâm thời thôi.

Chiều 29.4 vẫn còn đánh nhau. Chúng tôi cùng với ông Dương Văn Minh nghĩ rằng ngoài vấn đề thương thuyết, có lẽ chính quân đội của ông phải có thái độ “đàm phán” mạnh hơn nữa thì mới có thể ngưng chiến được.

Sáng 30.4, chiến sự vẫn diễn ra gần Sài Gòn. Đến 9 giờ ông Dương Văn Minh đã ra nhật lệnh cho quân đội là đơn phương ngừng bắn, và chờ bên đối phương đến để trao quyền hành.

Cho nên, việc giải phóng thành phố này không có chiến tranh, không có chuyện hai bên đánh nhau. Và đến 11:30 quân giải phóng chiếm được Dinh Độc lập.

Nhiệm vụ của tôi tuy không thành công, nhưng vẫn coi như đã thành công.

Nữ phóng viên từ Romania: Xin cho biết cuộc sống của ông 35 năm vừa rồi ra sao.

Nguyễn Đình Đầu: Trước 30.4.1975, người ta coi tôi thuộc thành phần thứ ba. Tôi có một số người bạn ở chế độ cũ, và có một số người bạn bên cách mạng. Do lẽ đó mà ông Dương Văn Minh nhờ tôi đi điều đình việc ngừng bắn vào 29.4.

Lúc đó tôi 55 tuổi, còn bây giờ tôi 90 tuổi. Sau ngày giải phóng, tôi không có công, nhưng cũng không có tội. Thành thử tôi được làm nghề nghiên cứu tự do. Nhờ trời thương nên cũng có một số kết quả trong các công trình nghiên cứu sử, địa.

Tôi muốn nhắc lại là cái giá của 30 năm chiến tranh (1945-1975) nó nặng nề lắm. Mọi người phải hiểu, để bình tĩnh mà phát triển.

Luật sư Triệu Quốc Mạnh, nguyên Đô trưởng cảnh sát Sài Gòn – Gia Định, kể:

Trước giải phóng tôi là thẩm phán, từ năm 1963 đến tháng 4. 1975. Khoảng 14 ngày trước giải phóng, ông Dương Văn Minh ngỏ ý mời tôi nắm chức đô trưởng cảnh sát Sài Gòn – Gia định. Và khi nhậm chức, người đầu tiên ông Minh tuyên bố bổ nhiệm là tôi.

Cảnh sát Sài Gòn tác chiến cũng khá lắm, bởi họ học trường quân sự và được quân sự hoá lâu rồi. Mỗi một cụm cảnh sát là có một khẩu đại liên, sử dụng cả mìn claymore, xài cả M79 (súng phóng lựu). Giỏi lắm chứ không phải đùa đâu. Dữ lắm, chứ không hiền đâu.

Mặc dù trong chính phủ Dương Văn Minh cũng có những người muốn nắm giữ cảnh sát để tiếp tục chống lại Cách mạng, nhưng ông Dương Văn Minh, theo chúng tôi biết, đã không muốn như vậy.

Cho nên, khi tôi nắm được cái đài chỉ huy tác chiến và lệnh của tôi là không được nổ súng trước. Lý do mà tôi giải thích là lúc đó là thời gian đang thương thuyết.

Tôi nói láo với họ rằng việc đàm phán là có kết quả 60% rồi cho nên toàn thể phải nghe tôi. Tôi chỉ huy bằng cách ra lệnh không được nổ súng trước, nên rất thuận lợi cho việc tiến quân vào Sài Gòn của bộ đội.

Điều thứ hai là tôi lập danh sách tất cả những tù chính trị và ký tên để phóng thích họ.

Điều thứ ba là giải tán lực lượng cảnh sát đặc biệt. Bởi cảnh sát có hai loại, một là loại mặc sắc phục chuyên giữ trật tự trị an, và hai là là loại đặc biệt, chuyên bắt bớ những người làm chính trị, sinh viên, công nhân….

Tôi ngồi trên chiếc xe, mang quân hàm chuẩn tướng, đi thị sát một số nơi, chứ không ở cùng nội các ông Minh trong Dinh Độc lập.

Tôi có thể nói với quý vị, chỉ huy kiểu đó, chắc có người cười tôi lắm. Nhưng sự hiệu quả là bộ máy cảnh sát gồm 16 ngàn người trở nên rệu rã trong ngay ngày 29.4.

Jim Pringle: Ông nghĩ như thế nào về việc Tướng Loan (Nguyễn Ngọc Loan), cũng là chỉ huy trưởng lực lượng cảnh sát, đã bắn chết một tù binh Việt Cộng trong ngày thứ nhất, hoặc ngày thứ hai của cuộc Tổng tấn công Mậu Thân 1968?

Triệu Quốc Mạnh: Lúc đó, tôi biết Tướng Loan. Tôi xin diễn tả hình ảnh Tướng Loan một chút thì các vị sẽ biết Tướng Loan là ai. Một kẻ điên hay khùng, hay gì đó tương tự.

Ngày nào cũng vậy, (ông ta) cặp nách một chai rượu và tay bên kia cầm một khúc chả lụa,. Vừa nốc rượu, ông ta vừa làm việc với sĩ quan của mình.

Khi đó, Bộ trưởng Tư pháp của chế độ Sài Gòn là Huỳnh Đức Bửu dự hội nghị ở Teheran, và họ đã đưa cái ảnh đó (Tướng Loan bắn tù binh Việt Cộng) ra. Tay bộ trưởng này về nói với chính phủ là muốn độn thổ luôn.

Hồng Nga (BBC):

Tôi biết ông là đảng viện cộng sản. Vậy ông vào Đảng thế nào, và ông Dương Văn Minh có biết điều đó không, khi ông ta bổ nhiệm ông làm đô trưởng cảnh sát?

Gần 10 năm sau, khi có một bài báo của một người rất quan trọng viết, ông ta mới tiết lộ rằng tôi là người của Cách mạng.

Gia đình tôi, bạn bè tôi, tuyệt đối không ai biết tôi là người cộng sản. Chính vì vậy, ông Dương Văn Minh và nội các của ông ta cũng hoàn toàn không biết điều đó.

Cái ý của ông Minh, theo tôi nắm được, là một ngày nào đó có sự bàn giao giữa chính quyền mới và cũ sẽ có sự xáo trộn trong dân rất lớn. Thù oán, xung đột, giết chóc nhau. Vậy ai giữ gìn cái này, và ai có kinh nghiệm của xã hội Sài Gòn lúc này?

Chắc là anh em xung quanh ông Dương Văn Minh đánh giá tôi là người có sự chuyên nghiệp. Bởi tôi sinh tại đây, sống tại đây, trưởng thành tại đây, học và làm quan toà tại đây. Tôi cũng rất gần gũi với cảnh sát tại đây.

Simon Dring: Kể từ khi vào Đảng, ông đã có những đóng góp tích cực gì cho Cách mạng với tư cách thẩm phán?

Triệu Quốc Mạnh: Tôi vào Đảng Cộng sản tháng 6.1966. Tôi vừa đóng vai nói trên, vừa hoàn thành nhiệm vụ thẩm phán một cách hoàn hảo.

Về đóng góp cho Cách mạng, tôi có hai việc làm được.

Với tư cách thẩm phán, tức là làm cho Bộ Tư pháp, tôi nắm được mấy hồ sơ mật về an ninh mà toàn quốc gửi về cho Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp. Tôi thấy cái nào có lợi cho việc sớm chấm dứt chiến tranh, có lợi cho Cách mạng, tôi cũng có bàn với những người lâu lâu có liên hệ với tôi.

Nhiệm vụ thứ hai là tôi làm thẩm phán, có gần gũi với những người hoạt động chính trị, có xu hướng đòi độc lập, đòi hoà bình, thì bàn với họ làm sao để có cách hoạt động, nhất là gầy dựng phong trào có lợi

HUỲNH  PHAN, ngày 29/4/2011, tuanvietnam

.

Phó Đề Đốc Hải Quân Mỹ – hậu duệ cờ vàng ?

xichloviet

Nắm bắt được tâm lý thích sĩ diện của cộng đồng cờ vàng,   tên hạ sĩ quan Mỹ gốc Việt đã giải ngũ Nguyễn Võ Trung Quân khoác quân phục tướng phó đề đốc hải quân Mỹ lừa được cả cái cộng đồng cờ vàng làm cho hội cờ vàng đê mê xuýt xoa hãnh diện thầm sung sướng mong ước  rồi đây một hậu duệ cờ vàng sẽ làm nên việc lớn.

Chuyện xảy ra tại thủ đô Hoa Kỳ năm 2007 nhân  ngày  “quân lực VNCH”. Tổ chức tại khu Thương Mãi Eden, Falls Church, VA. Gồm khoảng 200 người đại diện cho các “binh chủng” Không Quân, Hải Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Nhảy Dù, Sư Đoàn 9 BB, Địa Phuơng Quân, Sĩ Quan Võ Bị Thủ Đức trong quân phục và rất đông đồng bào…

Đặc biệt có sự tham dự của Phó Đề Đốc Nguyễn Võ Trung Quân, Người Nhái thuộc Bộ Tư Lệnh Hỗn Hợp Liên Quân Hoa Kỳ , đặc trách chống khủng bố (thế hệ thứ hai). Sau những nghi thức thông thường Phó đề đốc Nguyễn Võ Trung quân được giới thiệu lên phát biểu như sau :

“Kính chào quý đồng hương.

Thật là một vinh hạnh cho cháu được có mặt hôm nay để nói một vài câu với Chú bác. Chú Bác cũng biết cháu còn nhỏ tuổi, nhưng 23 năm qua cháu đã gìn giữ an ninh trật tự và xây dựng cho đất nước này. Cháu mong một ngày nào đó có thể đem cái vinh dự này cho đất nước của chúng ta, quê hương yêu mến của chúng ta.

Dù cháu qua Mỹ bao nhiêu năm đi nữa, có lon cao bao nhiêu nữa, cháu cũng là người Việt Nam (tiếng vỗ tay vang dội). Trước sau gì nữa cháu cũng là con của cựu quân nhân, từ ông Ngoại cho đến ba cũng bên Cộng Hòa VN. Điều đó cháu sẽ không bao giờ quên. Cháu sẽ dạy con cháu và mấy đứa cháu của cháu trong tương lai, trước sau gì mình cũng là người Việt Nam. Kính chào”.

Kết thúc là buổi diễu hành của các binh chủng biểu dương lưc lượng với với quân kỳ quân nhạc súng nhựa hòanh tráng vòng quanh khu Thương mãi Eden. Trong tiếng nhạc oai hùng, niềm vui tràn trào, mọi người thầm mong một ngày về quê hương vinh quang dưới bóng cờ vàng.

Phóng viên Tuyết Mai viết : Sau khi bản tin được phổ biến, cả vùng Hoa Thịnh Đốn và gần như khắp mọi nơi trong thế giới điện toán toàn cầu đều hết sức vui mừng hãnh diện về vị tướng lãnh oai hùng gốc Việt. Con người với chức vụ quan trọng mang cấp bậc cao mà ăn nói sao lại lễ độ biết chừng nào. Ai cũng muốn biết rõ nhân vật nay xuất thân từ đâu mà vì sao lâu nay không ai biết. Con cái nhà ai, đi lính từ năm nào, lên đại tá bao giờ mà nay đeo lon tướng ngon lành? Hỏi ban tổ chức Ngày Quân Lực thì không ai biết rõ. Chỉ biết là “chàng” đeo sao, mặc quân phục tướng hải quân Hoa Kỳ lừng lững một cây, huy chương đầy ngực. Rồi “người” được mời lên nói đôi lời. Nói năng ngon lành như thế thì làm gì bà con ta không hoan hô.

Một email phổ biến về lai  lịch vị tướng trẻ củng cố thêm cho niềm tin cho các cụ cờ vàng :

To: “drhuuvo@hotmail.com “

From:

Date: Thu, 19 Jul 2007 14:39:20 -0700

Subject: [Nuoc_VIET] Mot vi tuong My goc Viet dau tien tai hoa ky

Nam 1981 mot goa phu dem hai con sang My, chau trai khoang muoi may tuoi, chau gai khoang 6-7 tuoi.Hai chau rat ngoan hien va hoc rat gioi.Khi tot nghiep trung hoc hai chau deu tren 4.0 uu hang va deu o trong top 10 toan truong.

Ngay cong dong phat thuong hai chau deu khong du, ong cau la mot thanh vien ban chap hanh phai dem bang tuong le ve nha vi tinh hai chau rat khiem nhuong.

Sau khi tot nghiep trung hoc chau trai tinh nguyen di Hai Quan-Navy vi ba chau hoi xua cung la mot quan nhan VNCH, chau gai thich di Y duoc nen lam thien nguyen vien o phong mach va sau do tot nghiep Duoc Si.

Nguoi me mot minh voi hai con noi xu nguoi van day do cho con nen nguoi.Niem vui mung va hanh dien la thanh qua cua hai chau.

Hai chau deu rat thuong me, le phep voi moi nguoi va hoc hanh gioi giang.

Cach day may thang nguoi me hanh dien cho biet chau trai da duoc de nghi len tuong nhung dang doi thuong vien chap thuan.Khi gap chau o dam cuoi nguoi em gai chau chi noi chuyen nhung khong nhac den chuyen da duoc de nghi len tuong.

Ngay quan luc o D.C toi doc bao duoc biet chau da duoc moi phat bieu va cac bao chi da khen ngoi vi tinh khiem nhuong va le phep cua chau khi chau da mo dau kinh thua cac chu bac… Ngay hom nay chau denday… va nguoi ta ta de tieu de Mot tuong lanh My xung chau voi Cong dong nguoi Viet.

Cach day hai ngay chau cho biet chau da duoc thuong vien thong qua , chau cung cho biet TNS John McCain da ho tro chau va da duoc bo nhiem ngay 17/6/07 ,chau cung da dau bang Bac Si Tam Ly, Ph.D in Psychology va co bang hanh nghe tai mot vai tieu bang va nhieu thanh tich khac nhung khong tien noi ra.

Day la mot niem hanh dien cho cong dong nguoi Viet ty nan da co mot vi tuong My goc Viet dau tien van , vo song toan Rear Admiral NGUYEN VO TRUNG QUAN Ph.D.

Chau co hai giac mo

1.Mong muon Cong Dong nguoi Viet doan ket .

2.Tiep tuc hoc hoi de duoc lam Joint Chief of Staff.

Xin chuc mung chau va mong rang giac mo cua chau som thanh su that

BS Vo Dinh Huu

Cong dong Nguoi Viet Pomona Valley, California

Giao Chỉ San Jose

Ôi một tướng trẻ gốc Việt cờ vàng vừa thành đạt vừa có lý tưởng quốc gia vừa lễ phép như thế các cụ không đê mê sao được. Rồi đây Trên bước đường quang phục quê hương Phó Đề đốc cờ vàng này sẽ phải làm nên việc lớn.

Một tướng Mỹ mặc quân phục đeo lon, ngực đầy huy chương lại đeo cả kính đen mà các cụ chẳng thắc mắc gì vì các cụ choáng ngợp bởi cái hào quang của vị tướng trẻ hậu duệ cờ vàng.

Thế mới biết bất cứ điều gì dù mong manh khơi dậy được niềm hy vọng “phục quốc” là các cụ cờ vàng bám ngay lấy để sướng.

Theo tin Washignton Post ngày Thứ Năm, 9 Tháng 10, 2008, Phó Đề Đốc giả mạo Nguyễn Võ Trung Quân đã bị đưa ra tòa U.S. District Court ở Alexandria VA về tội giả dạng là một Phó Đề Đốc Hải Quân HK.

Sự thực, Ông Nguyễn Võ Trung Quân, cư dân của Middletown, Delaware, chỉ là một cựu quân nhân, Hạ sĩ quan, E-4, cấp 3, tương đương với Hạ sĩ. Ông đã phục vụ trên the USS Missouri, USS Constellation và Naval Air Station ở North Island San Diego. Ông ở trong Hải Quân bốn năm và giải ngủ trong danh dự, đã rời Hải Quân được 13 năm.

Rồi đây nếu có một  ngày các hùng hổ cụ hội chống cộng vác cờ vàng biểu tình chống một tên homeless tung tin là cán bộ cao cấp CS đến Cali thì chúng ta cũng không hề ngạc nhiên.

Tim Page: “Việt Cộng là những huyền thoại…”

Tim Page sinh tại Kent, Anh, năm 1944. Ông bắt đầu sự nghiệp năm 18 tuổi tại Lào. Năm 1965 làm phóng viên ảnh chiến trường ở Việt Nam cho UPI, AP, và tờ Paris Match. Ông cùng với một số đồng nghiệp sáng lập và là thành viên của Quỹ tưởng niệm các nhà báo Đông Dương (IMMF).

Ông có nhiều họat động đóng góp cho sự nghiệp nhiếp ảnh Việt Nam, được Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh VN trao tặng Huy chương “Vì sự nghiệp nhiếp ảnh Việt Nam” tháng 1/2002. Sau chiến tranh ông đã nhiều lần sang VN làm phim, mở workshop ảnh báo chí, làm sách…

Với mái tóc xám bạc, giọng nói trầm ấm, đôi mắt xanh tinh anh, chiếc máy ảnh Leica và khăn rằn quàng cổ; Tim là một con người cởi mở, chân tình và thân thiện, rất hào phóng nụ cười và sẵn sàng trả lời tất cả những câu hỏi của mọi người, không sợ mất thời gian nhiều khi chỉ để nhận xét và góp ý cho 1 tấm ảnh…

Sau đợt đó, thêm 2 lần nữa mở worldshop do IMMF tài trợ năm 2005, 2007, lần nào sang VN ông cũng cho tôi biết, để có thể gặp lại nhau như người bạn cũ.

Trong câu chuyện cứ được một lúc là ông lại chuyển về đề tài VN, và không lần nào không thốt lời thán phục: “Việt Cộng” là những huyền thoại”. Đặc biệt ông rất khâm phục những phóng viên ảnh chiến trường của VN thời chống Mỹ.

– Hiện thời ông đang làm gì?

– Tim Page: Tôi từ giã nghề phóng viên chiến trường, vì sức khỏe, tuổi tác và nhiều thứ khác nữa không thể “theo” được, như độ nhanh nhạy và phản xạ khi tác nghiệp, không thể như thời cách đây 30- 40 năm.

Nhưng tôi vẫn “tâm” hướng ra chiến trường, bằng cách tích cực họat động tưởng nhớ tới các đồng nghiệp đã hy sinh, không phân biệt quốc gia nào, phe phái nào ở cuộc chiến tranh tại Đông Dương, trong đó có VN. Hiện thời tôi cũng có một nghề nghiệp ổn định, giáo sư ảnh báo chí ở ĐH. Griffith, Australia.

– Xuất phát từ đâu mà ông cùng đồng nghiệp sáng lập IMMF?

– Đầu năm 1970, tôi nhận tin người bạn thân nhất của mình, Sean Flynn, cũng là phóng viên ảnh, bị bắt và mất tích ở chiến trường Campuchia. Rất buồn. Sau chiến tranh, tôi đã nhiều lần tìm kiếm, nhưng tới cuối năm 1990, qua các chương trình POW/MIA, tôi mới biết được nơi chôn cất người bạn thân ấy.

Sau sự kiện này, tôi có làm phim tài liệu khai thác số phận của 2 phóng viên ảnh chiến trường là Sean Flynn và Dana Stone.

Tiếp đó tôi cùng vài đồng nghiệp khác như Horst Fass (từng 12 năm phụ tránh văn phòng AP ở Sài Gòn 1962-1973) và một số phóng viên ảnh chiến trường kỳ cựu của AP, UPI… thành lập Indochina Media Memorial Foundation (IMMF), một tổ chức phi lợi nhuận tưởng nhớ tất cả các nhà báo đã tử thương hoặc mất tích ở chiến trường Đông Dương trong thời gian từ 1945- 1975, thông qua các dự án đóng góp cụ thể cho các địa phương.

– Điều gì ám ảnh ông và đồng nghiệp làm cuốn sách ảnh Requiem – Hồi niệm, đã được đưa qua nhiều nước triển lãm và được giữ lại Bảo tàng Chứng tích chiến tranh VN tại TP.HCM vĩnh viễn?

– Đúng là bắt đầu từ những người bạn của tôi Sean Flynn,Dana Stone, Ken Potter, Sawada Kiochi…đều tử nạn ở chiến trường VN. Nhưng sau đó, khi tập hợp các tấm ảnh, tôi đã cảm nhận một điều gì đó những đồng nghiệp đã hy sinh của tôi muốn nói, những bức ảnh ngọ nguậy, sống động…

Vâng! Hôm nay, thế giới vẫn còn chiến tranh. Phải để cho nhân lọai thấy chiến tranh là sự hủy diệt, là sự vô nghĩa. Là như các thông điệp của các bạn tôi đã để lại từ những tấm ảnh chiến trường đẫm máu, đầy chết chóc.

Những đồng nghiệp VN- Quân Giải phóng, không chỉ họ là phóng viên chiến trường thuần túy như chúng tôi, họ còn là những anh hùng, là chiến sĩ vì Tổ quốc mà hy sinh. Ảnh của họ tóat ra những thông điệp chiến thắng của một dân tộc bất khuất.

Họ cũng đã hy sinh để những khoảnh khắc không thể nào quên của cuộc chiến tranh chính nghĩa cho tất cả hôm nay. Tôi muốn điều đó có trong “Hồi niệm”, cũng là lời cảnh báo cho các cuộc chiến tranh hủy diệt hôm nay, không có thế lực nào bẻ gẫy ý chí của một đất nước, một dân tộc, dù phải hy sinh mất mát.

– Thời gian làm phóng viên chiến trường ở miền Nam VN, kỷ niệm nào ông nhớ nhất?

– Ba lần bị thương, tưởng vĩnh viễn không còn nhìn thấy thế giới hòa bình. Nhưng nhớ thì tôi lại bị chính mấy tấm ảnh của các ông “Việt Cộng”, được các báo phương Tây lấy từ nguồn của TTXVN, báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân.

Tôi còn nhớ khi thấy tấm ảnh “Chiếm căn cứ Đầu Mầu” của ông Đòan Công Tính, tôi đã rất khâm phục, sau đó là lọat ảnh chiến sự về Thành cổ Quảng Trị của ông ta, mà khi đó chúng tôi không thể lọt vào được.

Rồi sau này được nghe kể, để có được những tấm ảnh đó, ngòai lòng dũng cảm, ngòai cái máy ảnh, ngòai nhạy cảm sắc bén của người phóng viên chiến trường, ông ta (ĐCT) chỉ có bát sắt và ống giầy làm phương tiện tráng rửa ảnh.

Đối với tôi, VN và các chiến công của họ đã là huyền thọai, phóng viên Việt Cộng còn huyền thọai hơn. Tôi cũng biết họ đã phải đổ nhiều máu cho những tấm ảnh chiến sự, để kịp thời khích lệ tinh thần của quân và dân VN trong một cuộc kháng chiến toàn dân bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Sau Requiem- Hồi niệm, ông còn có những gì liên quan đến các đồng nghiệp “Việt Cộng”?

– Năm 1997, Requiem- Hồi niệm tập hợp ảnh của 135 phóng viên ảnh chiến trường hy sinh ở Đông Dương,trong đó có 72 phóng viên- liệt sĩ Việt Cộng như Hồ Ca, Bùi Đình Túy, Lương Nghĩa Dũng, Trần Bỉnh Khuôi…, duy nhất có một ảnh của một phóng viên “Việt Cộng”, còn sống đến hôm nay, ông Thế Đính, đang sinh sống tại Hải Phòng.

Đó cũng là kỷ niệm hy hữu của cuốn sách này (để kể lại thì là một câu chuyện dài).1999 sách hòan thành và đã đi nhiều nước trên thế giới. Tháng 4.2000, sách đã được giới thiệu ở VN, và tháng 1.2001 nó được ở lại VN vĩnh viễn trong Bảo tàng Chứng tích chiến tranh TP.HCM.

Tháng 4/2002, tại Mỹ, tôi cho ra mắt cuốn “Another Vietnam”- Ảnh chiến tranh từ phía bên kia (VN), tập hợp hàng trăm tấm ảnh của các phóng viên chiến trường VN như Minh Trường, Đoàn Công Tính, Lâm Tấn Tài, Dương Thanh Phong, Đinh Quang Thành, Văn Bảo, Trọng Thanh… trong đó có cả ảnh chưa công bố ở VN.

Tôi vẫn say mê với kho tàng quý giá ảnh chiến tranh của các bạn. Sau “Another Vietnam”, tôi đã phác họa cuốn sách thứ 3 về chiến tranh VN: “Out of the shadows: Thirty years of war through Vietnam Eyes”- 30 năm chiến tranh qua cái nhìn của người VN.

Tôi đã qua lại VN nhiều lần, sưu tầm, lùng tìm và lựa chọn. Các bạn đang giữ một kho báu vô giá, không chỉ tôi mà nhiều người khác cũng đang muốn sang VN để làm sách ảnh về chiến tranh VN. Tôi cũng còn có thêm 1 cuốn sách về VN: “Mindful Moment”, sẽ giới thiệu sau với các bạn VN.

– Vì sao VN lại có thể làm cho ông bỏ nhiều thời gian, không chỉ làm phim, làm sách ảnh, còn trực tiếp tổ chức giảng dạy những khóa bồi dưỡng nghiệp vụ ảnh báo chí cho phóng viên VN… mà tất cả là “phi lợi nhuận”?

– 1965 tôi là một chàng trai trẻ, lần đầu tới VN và bị “vứt” vào một cuộc chiến tranh mà càng chứng kiến càng thấy sự phi lý và tàn bạo không thể chấp nhận được. Nhiều người bạn của tôi đã nằm xuống, trong đó có những người cho đến hôm nay vẫn là ẩn số. Quá nhiều máu của người vô tội VN không liên quan gì đến nước Mỹ xa xôi đổ xuống.

Nhưng cũng chính được tận mắt chứng kiến mà tôi khâm phục “Việt Cộng”, những người dân VN, là huyền thọai sống, đã kiên cường và quyết liệt để chiến đấu,một cuộc chiến không cân sức, nhưng đã giành được chiến thắng một cách thần kỳ.

ôi có nhớ câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong một cuốn sách: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Một đất nước có ý chí như thế thì không sức mạnh nào đè bẹp được.

Tôi cảm phục. Và tôi yêu đất nước VN. Rồi tôi muốn khám phá VN khi chiến tranh đã là “hồi niệm” của các bạn. Tôi tò mò, VN sau chiến thắng, đi qua cuộc chiến tranh với nhiều mất mát hy sinh thương vong, đổ nát… sẽ làm như thế nào để tiếp nối những huyền thọai về lòng quả cảm, kiên cường, chịu thương chịu khó, vượt qua khó khăn, vươn lên mạnh mẽ, tạo dựng một cuộc sống hạnh phúc cho người dân.

Vâng! Lại là những gì tôi chứng kiến. Năm 1985, 10 năm sau chiến tranh, tôi đi theo đòan làm phim của Anh sang VN, những gì tôi thấy đã để lại trong trái tim tôi nhiều cảm xúc. Lúc đó VN còn khó khăn lắm, còn bị Mỹ cấm vận, chưa được phát triển mạnh mẽ về mọi mặt như hôm nay.

Tôi đã nghĩ sẽ làm một điều gì đó giúp VN trong khả năng của tôi, cũng như một sự chuộc lỗi vì sự có mặt của tôi trong chiến tranh. Và sau đó tôi đã nhiều lần sang VN với những mục đích rất thân thiện , như bạn đã biết.

Còn một riêng tư nữa, tôi sang VN, trước hết là muốn hưởng không khí thanh bình đến ngọt ngào của đất nước bạn. Thế giới vẫn bất ổn ở nhiều nơi, bom đạn vẫn còn gieo chết chóc khổ đau cho nhiều người, chỉ có VN, cảm giác đúng là bình an.

Và một chút tham vọng, tôi vẫn muốn tìm hiểu những bí ẩn gần như là huyền thọai của các đồng nghiệp Việt Cộng năm xưa trên chiến trường, vì sao mà họ có những tấm ảnh tuyệt vời đến thế, nó “sống” như một nhân chứng lịch sử vô giá.

– Ước mơ lớn nhất trong cuộc đời của ông?

– Hòa bình. Chắc bạn cũng biết là khi tôi ký tặng ai chữ ký của mình, tôi thường viết câu: “Reality check with Peace”- Thực tế phải kiểm chứng bằng hòa bình.

Tôi là phóng viên chiến trường, đã chứng kiến quá nhiều chết chóc, tàn phá, hủy diệt, bản thân tôi cũng tưởng rằng nằm lại trên chiến trường, nên hòa bình là ước mơ không chỉ riêng tôi.

Để có được hòa bình, đất nước các bạn đã phải trả bằng bao nhiêu sự hy sinh của bao nhiêu thế hệ, lịch sử của đất nước bạn đã chứng minh. Hòa bình và Hòa bình.

Và cho tôi qua bạn gửi lời chúc phúc đến VN. Chúc đất nước VN mãi sống trong hòa bình, an vui , hạnh phúc, giàu có, vững mạnh.

– Cảm ơn nhiếp ảnh gia Tim Page!

*
Hoài Hương (thực hiện)

“Anh hùng” Lý Tống

xichloviet

Ở Hải ngoại không ai là không biết đến Lỹ tống, được cộng đồng cờ vàng ca ngợi là anh hùng . Nhưng cũng có người gọi hắn là “anh khùng” vì những hành động của hắn không giống ai. Xâu chuỗi lại những việc làm của Lỹ Tống người ta có thể nhận ra rằng hắn háo danh vô cùng. Điều này Trần Mạnh Quỳnh một bạn tù hồi còn ở ở VN với hắn đã tố cáo rằng chính hắn từng phát biểu là cần đựoc nổi tiếng. Để được tâng bốc hắn có thể làm bất cứ điều gì. Trong tù hắn bợ đỡ cán bộ quản giáo để được sướng thân. Có lần hắn khoe được quản giáo cho . . . ăn thịt chó. (xem chi tiết này ở dưới đây)



Để đạt được mục đích nổi tiếng hắn chấp nhận liều. Khi tên tuổi hắn bị quên lãng thì hắn lại liều và lại làm khuấy động ồn ào dư luận. Theo hắn kể thì hắn từng có thành tích cướp máy bay rải truyền đơn ở VN CUBA, Bắc Hàn. Hắn là kẻ ba hoa và thực hiện một mình cho nên những gì hắn kể có lẽ có khoảng 20% sự thật. Chi tiết nguời ta có thể tin hắn phần nào là hắn thực sự ở tù ở VN về tội xâm phạm an ninh và ở tù ở Thái Lan vì tội không tặc.

Hết hạn tù về đến Mỹ hắn tiếp tục ba hoa và tìm cách gây chú ý trong cộng đồng. Là một kẻ sống thừa của xã hội Mỹ hắn chỉ sống bằng nghề chống cộng. Những hoạt động gây chú ý của hắn thường mang tính cách giang hồ hạ cấp không ai làm. Hắn vào phòng triển lãm xịt sơn và trùm quần lót phụ nữ vào những bức tranh mà hắn cho là tối nghĩa không rõ thông điệp chính trị. Hắn giả đàn bà xịt hơi cay và một ca sĩ từ VN sang vì cho anh này là văn công CS. Vụ này hắn ra tòa 14 lần đến nay chưa xong. Hầu hết những comment trên internet đều chửi rủa hắn thậm tệ.

Trong khi lá cờ đỏ sao vàng tung bay khắp thế giới, tung bay trên tòa nhà liên hiệp quốc tung bay trên đỉnh cao nhất địa cầu là đỉnh everest thì gần bốn chục năm qua , cộng đồng cờ vàng cứ loay hoay mãi tìm chỗ cắm lá cờ vàng mà không xong . Bắt được tâm lý này của cộng đồng cờ vàng hắn đột nhập vào trường USC tháo lá cờ đỏ sao vàng thế vào lá cờ vàng và hắn lại được tung hô như một anh hùng.

Những hành động của hắn thế mà được cộng đồng cờ vàng tâng bốc là “anh hùng” và hắn cho những hành động đó là “đấu tranh” . Dĩ nhiên họ chỉ sướng với nhau làm ồn ào trong cái cộng đồng nhỏ bé. Hiệu quả cái gọi là “đấu tranh” chống cộng vẫn chỉ là con sống không to tướng.

Lý Tống rất nông cạn và dốt nát về chính trị. Tuy nhiên cái danh hão được cộng đồng cờ vàng tung hô làm hắn hoang tưởng mình là lãnh tụ chống cộng. Hắn từng phát biểu nhiều lần câu nói “ mưu sự tại Lý Tống thành sự tại đồng bào” và nêu những kế hoạch “giải thể chế độ CS” hoang tưởng có một không hai. Một trong những kế hoạch hoang tưởng khiến hắn trở thành nổi tiếng trong cộng đồng mạng là kế hoạch “cách mạng đua xe” mà hắn nổ như sau.

Người đua xe sẽ đồng loạt lên xe đã gở ống Bô, sắp hàng chạy rầm rộ, náo nhiệt theo các trục lộ dự định, không chạy “đua” với tốc độ tối đa, chỉ cần rồ máy lớn, chạy tốc độ trung bình, nhưng với số lượng 3-4 triệu xe gắn máy hiện có tại VN, sẽ gây hỗn loạn và náo động trên đường phố bằng tiếng máy xe nổ chấn động đủ để làm rung chuyển đất, “sập trời” thì Chế độ CSVN sẽ “sập” đổ trong dịp Quốc Khánh VC. Tại sao chúng ta cần áp dụng biện pháp đua xe thay vì chỉ biểu tình, cắm trại… như Cách Mạng Da Cam, Cách Mạng Nhung… xẩy ra trên khắp thế giới trong thời gian qua, từ 1989 đến nay, đã “giật sập” 23 chế độ độc tài quân phiệt, độc tài CS trên toàn thế giới ? Đua xe là thú đam mê thứ nhì của quần chúng VN tại Quốc nội, nhất là giới trẻ, sau bóng đá. Đua xe là một tệ nạn xã hội trầm kha mà công an CSVN bất lực, không thể dẹp trừ được dù các cuộc đua xe này thường chỉ có từ 50 đến 100 xe tham dự, huống hồ gì 3-4 triệu xe cùng đua khắp các tỉnh thành, nhất là tại Sài Gòn và Hà Nội? Đua xe sống động và tích cực hơn các biện pháp thụ động và kém hào hứng trong các cuộc cách mạng “Sức Mạnh Quần Chúng” (People’s Power) đã được thực hiện. Hơn nữa các cuộc Cách Mạng vừa qua số người tham dự có nơi chỉ hàng trăm ngàn người, tối đa một vài triệu người, đặc biệt ở Nepal chưa tới 10 ngàn người, cũng đã thành công, huống gì toàn thể nhân dân VN, 80 triệu người, đồng lòng quyết tâm giành lại Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền, mà không phải đổ máu, hy sinh tính mạng, thì việc Khai tử Chế độ CSVN ngày Khai sinh 2/9 là điều khả thi và chắc thắng.
Ngoài đua xe, Đồng Bào tham dự biểu tình có thể tổ chức đá bóng trên đường phố sau khi xe đua đi qua, đánh cờ, đánh bài, nghe nhạc do ban nhạc địa phương trình diễn nhạc kích động, chiến đấu cùng khiêu vũ để giải trí . Dùng phương pháp “Dĩ độc trị độc,” bằng cách chuẩn bị một số Khỉ mang khẩu hiệu “Đả đảo Cộng sản,” “Dân chủ, Tự do, Nhân quyền cho Việt Nam” thả chạy rong trên đường phố, tức dùng khỉ-rừng để diệt khỉ-thành VC .

Vận mệnh của Tổ Quốc và Dân Tộc đang nằm trong tay chúng ta.
xuống đường thực hiện cuộc “Cách Mạng Đua Xe” để cứu nước, để Khai Tử Chế độ CS vào ngày Khai Sinh 2/9.

Và đây là Hịch Kêu Gọi Đồng Bào của Lý Tống Nhằm Phá Vỡ Cuộc Bầu Cử Quốc Hội Độc Đảng 0-5-07 của CSVN

ĐỒNG BÀO QUỐC NỘI THÂN MẾN

Ngày tàn của Cộng Sản Việt Nam đã đến! Hãy lợi dụng cuộc Bầu Cử ngày 20-5-2007 để xuống đường thực hiện cuộc “Cách Mạng Đua Xe”.

Chuẩn bị mì gói, đồ hộp một tuần và xăng đủ để đua xe.Sáng 20-5-2007 mọi người Tẩy Chay Bầu Cử, Đình Công Bãi Thị bằng cách ra khỏi nhà, mặc Áo Trắng, và ngồi dọc theo các trục lộ chính. Khối 8406 sẽ lãnh đạo, điều hợp cuộc Cách Mạng Đua Xe. Những ai có xe gắn máy sắp hàng rầm rộ chạy dọc theo các trục lộ chính. Đồng bào ngồi bên đường la hét cổ động, cổ võ cuộc đua xe. Các ban nhạc tại địa phương trình diễn các bản nhạc có tính chiến đấu, kích động tinh thần đồng bào tham dự. Một bộ phận phụ trách rải truyền đơn bươm bướm bằng bong bóng có nội dung:

Một mặt in cờ Việt Nam Cộng Hòa, một mặt in các câu:

”Ta Cúi Đầu, Cộng Cỡi Cổ. Ta Đứng Dậy, Cộng Sụp Đổ”. “Người Người Đua Xe, Nhà Nhà Đua Xe. Đua Xe Đến Giờ Phút Thắng Lợi”.

Hãy kiên trì ngồi, ngủ tại chỗ và đua xe từ 1 ngày đến 7 ngày, chắc chắn bọn Đầu Gấu trong Bộ Chính Trị và Ủy Ban Trung Ương Đảng CSVN sẽ cuốn gói, nhập vào dòng xe đua và chạy trốn qua Trung Cộng hoặc Lào Cộng để tỵ nạn.

“Quốc Gia Hưng Vong, Thất Phu Hữu Trách”. Phần lớn các chế độ độc tài Cộng Sản, Quân Phiệt đã bị lật đổ khắp thế giới nhân dịp Bầu Cử bằng “Sức Mạnh Quần Chúng” (People’s Power), với số người biểu tình từ vài trăm ngàn đến vài triệu. Nếu toàn dân Việt Nam quốc nội quyết tâm giành lại Quyền Làm Chủ, Làm Người, Quyền Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền cho bản thân, gia đình và các thế hệ tương lai, 80 triệu con dân Việt Nam hãy xuống đường thực hiện cuộc “Cách Mạng Đua Xe”, chắc chắn chế độ CSVN sẽ sụp đổ vào tháng 5-2007.

“MƯU SỰ TẠI LÝ TỐNG. THÀNH SỰ TẠI ĐỒNG BÀO!”

Hãy giải thể chế độ Cộng Sản Việt Nam bằng cuộc Cách Mạng Đua Xe vì tiền đồ của Tổ Quốc và Dân Tộc Việt Nam .

LÝ TỐNG

4/2007

Đó là những nét khái quát chân dung “anh hùng cờ vàng “ Lý Tống. Hắn đã đạt được mục tiêu nổi tiếng như mong đợi. Tờ vietweekly từng cho hắn là “dị nhân” nhưng khi xem hết thành tích và phản ứng của người Việt trên internet ai cũng nhận ra hắn là loại “thằng khung vô não”. Nhận thức chính trị của hắn rất ngây ngô nhưng hắn vẫn đang là “anh hùng” của cộng đồng cờ vàng đấy bà con ạ.

Lịch sử cờ vàng

NGUYỄN MẠNH QUANG

Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có quốc kỳ và quốc ca. Quốc kỳ và quốc ca gần như là một cặp song sinh hay bóng với hình. Nhìn thấy quốc kỳ là người ta nhớ đến quốc ca, và nghe thấy quốc ca là người ta hình dung đến lá quốc kỳ. Thông thường quốc kỳ có trước rồi mới có quốc ca.
Có người đã đặt ra câu hỏi tại sao quốc kỳ phải có trước quốc ca?
Người viết không biết phải trả lời thế nào cho nó đúng với câu hỏi trên đây. Có thể các nhà ái quốc khi tham gia vào các phong trào chiến đấu đánh đuổi quân xâm lăng vì xúc động trước lòng nhiệt huyệt quyết tâm liều chết cho đại cuộc cứu nước nên đã sáng tác ra được bài quốc ca có giá trị thích hợp với hoàn cảnh lịch sử và trở thành linh hồn cho lá quốc kỳ mà tác giả thực sự là một thành phần đang chiến đấu cho cái lý tưởng họ đang theo đuổi. Đây là trường hợp quốc kỳ và quốc ca của nước Pháp nước Mỹ và nước Việt Nam hiện nay. Người viết đem những trường hợp này làm tiêu biểu vì là những lá cờ quen thuộc với dân Việt Nam từ thời Pháp thuộc cho đến nay.
Về trường hợp quốc kỳ và quốc ca của nước Pháp hiện nay, lá cờ hiện nay của nước Pháp đã có từ ngày sau khi Cách Mạng Pháp bùng nổ và ngày 14/7/1789. Nói về sự xuất hiện là cờ tam tài của Pháp hiện nay, sách “Cách Mạng và Hành Động” viết:

“Sau khi nghe ngục Bastille thất thủ, nhiều người trong hoàng tộc bỏ Vua Louis XVI để xuất ngoại. Bị cô lập trong điện Versailles, Louis XVI đành chịu đầu hàng. Ngày 15/7 vua ra mắt Quốc Hội chính thức báo tin rằng sẽ giải tán những quân đội tập trung gần điện Versailles. Tới ngày 17/7 (1789), vua ngự giá tới Ba Lê, và chấp nhận lá cờ cách mạng; cờ này gồm ba mầu, xanh và đỏ là màu của Ba Lê, và mầu trắng tượng trưng cho nhà vua.” Nghiêm Xuân Hồng, Cách Mạng và Hàng Động (Sàigòn: Quan Điểm, 1964), tr. 34.
Một nguồn tài liệu khác cũng ghi nhận như vậy:
“The colours are those of Paris (blue and red) combined with the Royal white (the dispossession and execution of the King still lay in the future when the tricolore was first used). http://www.languedoc-france.info/06141201_tricolore.htm
Cho tới khi nước Pháp bị Liên Minh Thánh Phổ – Áo – Vatican tràn vào lãnh thổ vào năm 1792 với dã tâm đập tan chính quyền Cách Mạng để tái lập vương quyền cho vua Louis XVI và phục hồi quyền lực và quyền lợi cho Vatican thì bản quốc ca Pháp mới ra đời khi đoàn dân quân cách mạng vừa tiến về Paris vừa ca bản Marseillaise. Cụ Nghiêm Xuân Hồng ghi lại sự kiện này như sau:
“Chưa bao giờ cuộc khởi loạn lại được chuẩn bị một cách công khai như thế. Dân chúng đều gần như biết trước nhật kỳ khởi loạn. Trong thời gian đó, một số tình nguyện quân của các tỉnh đã tới Ba-lê. Khi đí đường đám quân tình nguyện Marseillais đã đặt một bản hành khúc lấy tên là “La Marsaillaise” để cổ võ dân chúng đầu quân chống xâm lăng. Khi các tình nguyện quân tới Ba-lê, Robespierre yêu cầu họ ký kiến nghị truất phế nhà vua. Tới đêm 9/8/(1792), 48 khu phố Ba-lê bầu cử những đại diện mới tới tòa Thị Chính để thay thế nhân viên của của Ba Lê Công Xã mà họ cho là thiếu cương quyết. Nhóm Ba Lê Công Xã Mới được mệnh danh là Công Xã Khởi Nghĩa.” Nghiêm Xuân Hồng, Sđ d., tr. 49.
Wikipedia, the free encyclopedia, viết:
“Bản nhạc La Marseillaise do Claude Joseph Rouget de Lisle thuộc phe bảo hoàng ở Strasbourg sáng tác vào ngày 25/4/1972. Nguyên thủy, tên của bản nhạc này là “Khúc Ca Quân Hành” của đạo quân Rhin”. Tác giả viết bài ca chiến tranh của quân đội xứ Rhin để tặng Thống Chế Nicolas, vị tướng lãnh Pháp gốc ở Cham sinh tại Bavarian. Bài ca này là tiếng gọi dân Pháp vùng lên theo Cách Mạng Pháp và trở thành quốc ca vì được quân lính cách mạng hát lên trên đường từ Marseille tiến tới Kinh Thành Paris.” Nguyên văn: “La Marseillaise” is a song written and composed by the Royalist citation needed Strasbourg on April 25, 1792. Its original name was “Chant de guerre de l’Armée du Rhin”, “Marching Song of the Rhine Army” and it was dedicated to Marshal Nicolas Luckner a Bavarian born French officer from Cham. It became the rallying call of the French Revolution and received its name because it was first sung on the streets by troops (fédérés) from Marseille upon their arrival in Paris
”Quốc Ước Hội Nghị chấp thuận bài ca này làm bài quốc ca bằng một quyết định vào ngày kỷ niệm phá ngục Bastille năm 1795, nhưng sau đó bị cấm trong thời các chính quyền của Hoàng Đế Napoléon I, Vua Louis XVIII và Hoàng Đế Napoléon III, chỉ được sử dụng lại trong thời kỳ Cách Mạng tháng 7/1830, rồi tới năm 1879 mới được sử dụng liên tục cho đến ngàn nay.” Nguyên Văn: The Conventiion accepted it as the French national anthem in a decree passed on Bastiile Day 1795, but it was then banned successively by Napoléon I, Louis XVIII, and Napoléon III, only being reinstated briefly after the July Revolution of 1830 and then permanently in 1879.”
Về trường hợp quốc kỳ và quốc ca của nước Mỹ hiện nay, giống như trường hợp quốc kỳ và quốc ca của Pháp, lá quốc kỳ của nước Mỹ đã có từ thời chiến tranh Cách Mạng 1776-1783, nhưng mãi tới khi đang tiến hành cuộc chiến Anh – Mỹ 1812, bản quốc ca Hoa Kỳ mới ra đời do một sĩ quan Hải Quân Mỹ sáng tác và sau đó được Quốc Hội Mỹ chấp thuận. Về lá cờ Mỹ hiện nay, The Intenet Archive viết:

“Lá cờ sao sọc được Hội Nghị Đại Lục chính thức công nhận là quốc kỳ vào ngày 14/6/1777, một năm sau khi Hoa Kỳ tuyên bố độc lập.” Nguyên văn: “Well, the Stars and Stripes came to be regarded as the national flag with the official recognition of the Continental Congress on June 14, 1777. This was the year following our nation’s independence.”)
“Năm 1818, có thêm 5 tiểu bang mới được thâu nhận vào Liên Bang Hoa Kỳ. Năm đó Quốc Hội ban hành luật quy định số sọc vẫn là 13 sọc, số sao là số của số của các tiểu bang trong Liên Bang. Luật này cũng quy định rằng khi Liên Bang có thêm một tiểu bang mới, thì quốc kỳ sẽ có thêm một ngôi sao nữa và ngôi sao mới này sẽ được thêm vào quốc kỳ vào ngày lễ Độc Lập 4/7 kế tiếp của ngày tiểu bang đó được thâu nhận vào Liên Bang. Kể từ đó cứ theo quy luật này.” Nguyên văn: “In 1818, with five more states being admitted, the Congress enacted legislation. This stated that henceforth the stripes should remain 13, whereas the number of stars should always match the number of states. It was also decided that any new star should be added on the July 4 following a state’s admission. This has been the system ever since.”
Về bản quốc ca Hoa Kỳ, Wikipedia, the free encyclopedia viết:
“Bài hát the Star Spangled Banner là quốc ca của Hoa Kỳ, với bài thơ tình cảm do Francis Scott Key sáng tác vào năm 1814. Tác giả vốn là một luật sư, lúc đó ở vào tuổi 35 và là một thi sĩ tài tử (không chuyên nghiệp). Ông viết bài ca này như một bài thơ vào sau khi ông nhìn thấy cảnh Đồn McHenry ở Baltimore, Maryland bị các chiến tàu Anh từ Vịnh Chesapeake trong cuộc Chiến 1812 bắn phá dữ dội. Bài thơ này có tựa đề là “Bảo Vệ Đồn McHenry” và được hát theo giọng của bài dân ca uống rượu có tên là “The Anacreontic Song” của người Anh , dòng thơ đầu tiên “Cho Anacreon ở Thiên Đường” được nhiều người biết và trở thành bài ca yêu nước nổi tiếng của người Hoa Kỳ. Với âm giai một và một rưỡi rất khó hát. Bài ca này được chính thức công nhận là Hải Quân Hành Khúc của Hải Quân Hoa Kỳ vào năm 1889, năm 1916 được Tổng Thống (Woodrow Wilson) [đề nghị Quốc Hội chấp nhận] và vào ngày 3/3/1931 được Quốc Hội quyết định chọn làm quốc ca. Mặc dầu bài ca này có 4 đoạn, những chỉ có đoạn thứ nhất là thường được hát với đoạn thư 4 ( “O thus be it ever when free men shall stand …”) được hát thêm vào những trường hợp trang trọng.”. Nguyên văn: “The Star-Spangled Banner” is the national anthem of the Unité States, with lyrics written in 1814 by Francis Scott Key. Key, a 35-year-old lawyer and amateur poet, wrote them as a poem after seeing the bombardment of Fort McHenry in Baltimore, Maryland, by Britishships in Chesapeake Bay during the War of 1812.The poem, titled “Defense of Fort McHenry,” was set to the tune of the popular British drinking song “The Anacreontic Song”, more commonly known by its first line, “To Anacreon in Heaven”, and became a well-known American patrotic song. With a range of one and a half octaves, it is known for being difficult to sing. It was recognized for official use by the Navy in 1889 and the President in 1916, and was made the national anthem by a Congressional resolution on 3 March 1931 (46 Stat. 1508, codified at 36 USC §301). Although the song has four stanzas, only the first is commonly sung today, with the fourth (“O thus be it ever when free men shall stand …”) added on more formal occasions.”
Về quốc kỳ và quốc ca Việt Nam hiện nay.- Tương tự như quốc kỳ và quốc ca của nước Pháp và nước Mỹ, quốc kỳ Việt Nam hiện nay cũng ra đời trước, rồi sau đó bản quốc ca mới xuất hiện và mới được quốc hội chấp thuận. Nói về lịch sử quốc kỳ và quốc ca Việt Nam hiện nay, Báo Nhân Dân Việt Nam số ra ngày 27/6/06 trình bày khá đầy đủ với nhiều chi tiết. Nếu ghi lại toàn bộ bài viết này sẽ làm cho chương sách này quá dài. Chúng tôi chỉ ghi lại một vài đoạn để độc giả nhìn rõ cái điều quan trọng ở đây là quốc kỳ có trước quốc ca. Dưới đây là mấy đoạn quan trọng nói về quốc kỳ Việt Nam hiện nay:

“Lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện lần đầu tiên trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chống thực dân Pháp (23/11/1940). Tác giả sáng tạo ra lá cờ nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh này là đồng chí Nguyễn Hữu Tiến (sinh ngày 5/3/1901 tại Hà Nam, hy sinh ngày 28/8/1941). Tâm huyết của tác giả khi sáng tạo ra lá cờ tổ quốc được khắc họa rõ nét trong bài thơ của ông:
Hỡi những ai máu đỏ da vàng
Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc
Nền cờ thắm máu đào vì nước
Sao vàng tươi, da của giống nòi
Đứng lên mau hồn nước gọi ta rồi
Hỡi sỹ nông công thương binh
Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh.
Tháng 5/1941 tại Khui Nậm, Cao Bằng, Lãnh tụ Hồ Chí Minh chủ trì hội nghị Trung ương VIII quyết định thành lập tổ chức Việt Nam Độc Lập đồng minh – đoạn mở đầu chương trình Việt Minh ghi rõ: “Sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp, Nhật, sẽ lập nên Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, lấy cờ đỏ sao vàng 5 cánh làm Quốc kỳ”. Đây là văn bản đầu tiên, chính thức quy định Quốc kỳ của nước Việt Nam là cờ đỏ sao vàng.
Ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào, Tuyên Quang đã quyết định Quốc kỳ Việt Nam là nền đỏ. ở giữa có một sao vàng năm cánh.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Quốc hội khóa đầu tiên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa năm 1946 đã ghi vào Hiến pháp: “Quốc kỳ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh”.
Bài hát “Tiến quân ca” được nhạc sỹ Văn Cao (1923-1995) sáng tác vào cuối năm 1944. Ngay sau khi ra đời, bài hát đã được các chiến sỹ cách mạng tiếp nhận và trở thành bài hát chính thức của Mặt trận Việt Minh. Quốc hội khóa đầu cuả nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã quyết định lấy bài “Tiến Quân Ca” làm quốc ca Việt Nam.
(Theo Nhân Dân hàng tháng, số 4/8 – 1997)
Trích NDVN, ngày 27/6/06

VỀ QUỐC KỲ VÀ QUỐC CA
CỦA CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM

Như đã trình bày ở trên, quốc kỳ và quốc ca của chính quyền Quốc Gia Việt Nam thoát thai từ Giải Pháp Bảo Đại do Liên Minh Thánh Pháp – Vatican cho ra đời vào ngày 5/6/1948. Sư ra đời của lá cờ này có một tính cách nghịch thường vì nó được cho ra đời sau bài quốc ca tới hơn sáu năm. Điều này cũng giống như tính cách nghịch thường của các chính quyền Bảo Đại cũng như chính quyền Ngô Đình Diệm và các chính quyền khác ở miền Nam cho đến ngày 30/4/1975. Nghịch thường vì rằng những thành phần lãnh đạo, các viên chức cao cấp và nhân viên thừa hành, các bộ, quân đội và các tổ chức phụ thuộc của các chính quyền này đều do các thế lực ngoại bang nặn ra, nuôi dưỡng, trả lương và trang bị bằng đồng tiền của người ngoại bang, được bảo vệ bằng quân đội của người ngoại bang để thi hành những lệnh truyền của người ngoại bang với mục đích phục vụ cho quyền lợi của người ngoại bang.
Ấy thế mà chính quyền này lại được gọi là “chính quyền quốc gia”!
Những người lãnh đạo chính quyền này là những tên Da-tô Việt gian mang quốc tịch Vatican “tuyệt đối tin tưởng vào Vatican” đã “đem nước Việt Nam dâng cho Vatican trong một buổi lễ được tổ chức hết sức long trọng vào tháng 2/1959. Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr 126-127. ”[i] mà lại được chúng gọi là “các nhà chí sĩ yêu nước” là “các nhà ái quốc” . Rồi tới khi thế lực nặn ra cái chính quyền quốc gia này triệt thoái, rút ra khỏi đất nước thì toàn bộ các nhà lãnh đạo và nhân viên cao cấp của cái chính quyền nghịch thường này cũng cuốn gói ra đi chạy theo chân quan thày ra nước ngoài sống lưu vong nuối tiếc cái thời oanh liệt và hè nhau mưu đồ bơi ngược dòng lịch sử “rước con voi Vatican về giầy mả tổ Việt Nam” như ông cha họ đã làm hồi thế kỷ 19.

A.- VỀ BÀI HÁT TIẾNG GỌI THANH NIÊN
Quốc ca của chính quyền quốc gia do Lỉên Minh Thánh Pháp – Vatican cho ra đời là bài Tiếng gọi Thanh Niên của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sáng tác vào đầu năm 1942. Về bài hát này, ông Nguyễn Ngọc Huy ghi nhận như sau:
“Bản quốc ca của chúng ta hiện nay có một lịch sử đặc biệt. Người sáng tác bản nhạc là Lưu Hữu Phước, một cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký và cựu sinh viên Viện Ðại Học Hà Nội. Nếu tôi không lầm thì bản nhạc này đã được soạn ra lúc Lưu Hữu Phước còn học ở trường Pétrus Ký. Năm 1942, anh ta là sinh viên của Viện Ðại Học Hà Nội. Thời Thế Chiến II, Viện Ðại Học này là Viện Ðại Học duy nhứt của các nước Ðông Dương. Nó có khoảng 800 sinh viên trong đó phân nửa là người Việt Nam, còn lại là người Khmer, người Lào, người Pháp và ngay cả người một số nước láng giềng như Trung Quốc và các nước Ðông Nam Á Châu.
Vì là Viện Ðại Học duy nhứt của Ðông Dương nên Viện Ðại Học Hà Nội đã họp tập tất cả sinh viên Việt Nam thời đó. Các sinh viên ái quốc gia nhập các chánh đảng cách mạng tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam đã tổ chức những tổ bí mật tại đó. Ðặc biệt Ðại Việt Quốc Dân Ðảng có đảng trưởng Trương Tử Anh và một cán bộ nồng cốt là Anh Nguyễn Tôn Hoàn học tại Viện Ðại Học Hà Nội thời Thế Chiến II. Anh Nguyễn Tôn Hoàn là người giỏi về nhạc nên được bầu làm Trưởng Ban Âm Nhạc của Tổng Hội Sinh Viên Ðông Dương (Association Générale des Eùtudiants Indochinois) và anh đã lãnh nhiệm vụ bí mật hướng dẫn các sinh viên hoạt động về văn hóa theo chiều hướng tranh đấu chống thực dân.
Chiều ngày 15 tháng 3 năm 1942, Tổng Hội Sinh Viên Ðông Dương (THSVÐD) đã tổ chức tại Ðại Giảng Ðường của Viện Ðại Học Hà Nội một buổi hát để lấy tiền giúp các bịnh nhơn nghèo của các bịnh viện được dùng làm nơi thực tập cho các sinh viên Khoa Y Dược. Các sinh viên Việt Nam đóng vai tuồng chủ động trong Tổng Hội đã quyết định nhơn cơ hội này tung ra một bản nhạc đặc biệt là Sinh Viên Hành Khúc, tên Pháp là Marche des Étudiants. Anh Nguyễn Tôn Hoàn được ủy nhiệm chọn bản nhạc dùng vào công việc đó. Lúc ấy, Lưu Hữu Phước đã đưa cho anh một số bài nhạc do anh ta soạn. Anh Nguyễn Tôn Hoàn nhận thấy rằng trong tất cả các dự thảo của Lưu Hữu Phước, bản nhạc mà chúng ta hiện dùng làm quốc thiều có tánh cách khích động tinh thần tranh đau hơn hết nên đã chọn nó làm nhạc cho Sinh Viên Hành Khúc. Sau đó, một ủy ban soạn lời ca cho bản nhạc này đã được thành lập với Ðặng Ngọc Tốt, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng, Phan Thanh Hòa, Hoàng Xuân Nhị.
“Buổi hát chiều ngày 15 tháng 3 năm 1942 đã đưa đến những kết quả mỹ mãn và bản Sinh Viên Hành Khúc tên Pháp là Marche des Étudiants đã được chánh thức công nhận là bản nhạc của THSVÐD. Mùa hè năm đó, Tổng Hội này lại tổ chức một buổi lễ mãn khoá tại Nhà Hát Lớn Hà Nội. Lần này, có Toàn Quyền Ðông Dương và nhiều viên chức cao cấp Pháp khác đến dự. Bản Sinh Viên Hành Khúc được dàn nhạc của Hải Quân Pháp trình tấu. Âm điệu hùng hồn của nó đã làm mọi người khích động và khi nó được trổi lên, tất cả mọi người tham dự lễ mãn khoá năm 1942 của Viện Ðại Học Hà Nội, kể cả các viên chức cao cấp Pháp, đều đã nghiêm chỉnh đứng dậy để chào nó. Sau đó, nó được phổ biến khắp nơi. Các sinh viên Pháp, Khmer và Lào dĩ nhiên là theo lời ca Pháp. Về phía Việt Nam thì các sinh viên chỉ lo đi học chớ không có nhiệt tâm tranh đấu chánh trị cũng chỉ biết có lời ca Pháp. Phần các sinh viên Việt Nam có nhiệt tâm tranh đấu cho nền độc lập của dân tộc thì đem ra phổ biến ở khắp cả ba kỳ trong kỳ nghỉ hè năm đó với lời ca tiếng Việt, nhứt là đoạn I nói trên đây. Vì thế, từ năm 1943, bài Sinh Viên Hành Khúc đã được người Việt Nam ở cả ba kỳ biết.” http://www.yahoo.com. “Tiếng Gọi Thanh Niên[ii]
Nói về bài hát Tiếng Gọi Thanh Niên này, ông Nguyễn Quang Minh nói rằng:
“Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước làm bài hát này là để đánh Tây, đuổi Mỹ, chớ đâu để cho người miền Nam hát như con vẹt.” Nguyễn Quang Minh. “Chuyện Lá Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ.” .NGUYENQUANGMINH1@aol.com, ngày Thứ Ba 9/8/2005 phổ biến rộng rãi trên các thư nhóm -mail groups[iii] .

B.- VỀ LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ
Nói về tác giả hay thế lực nào đã hoạ kiểu hay chế ra lá cờ vàng ba sọc đỏ, chúng tôi xin ghi lại một tài liệu nói về lá cờ này trong cuốn Tâm Thư của cụ Đỗ Mậu với nguyên văn như sau:
“Ai là tác giả lá cờ vàng ba sọc đỏ?
Đọc trong cuốn Việt Nam Nhân Chứng của Tướng Trần Văn Đôn, ở trang 74, ông có cho biết ông đã đề nghị thay lá cờ chữ Ly của chính phủ Trần Trọng Kim ra lá cờ vàng ba sọc đỏ.
Nhưng ai đã vẽ ra lá cờ đó?
Tình cờ tôi đọc được trong quyển: Giải Phóng: The Fall and Liberation of Saigon của Tiziano Terzani (St. Martin’s Press, New York, 1976), viết như sau:
With LeMaitre gone, relations improved between the new authorities and the Church, even the official one. Archbishop Nguyen Van Binh gave his support to Father Thi’s group and to the magazine Cong Giao va Dan Toc (“Catholics and People”), and participated along with 250 other prelates in a meeting organized at Doc Lap where members of the PRG explained their policy and reassured the Catholics.
Binh tried to bring Monseigneur Thuan along to the meeting, but the palace told him that his presence was not needed. When I left Saigon, Thuan was rumored to be negotiating his resignation in exchange for permission to leave Vietnam.
As a first concession to the new authorities the Church agreed to participate in a joint committee that quietly began studying the possibility of changing the wording of prayers.
“I don’t see what there is to change. Thousands of Vietnamese have gone to heaven with those prayers,” Father Tran Huu Thanh said acidly. Father Thanh had stayed in Saigon. He had not placed himself at the head of an armed band of Catholic resisters and he had not been imprisoned by the bo doi, as it was rumored after the liberation. Even he, one of the symbols of the most deepseated Catholic anti-Communism, was able to carry on with his life in the Redemptorist church on Ky Dong street. When I went to see him one Sunday in June he had just finished saying mass. The sacristy was full of people coming to confess or to ask advice, and in front of the gaudy Madonna there was the usual crowd of women praying and beggars holding out their hands.
Of all the parish priests who had fled from the North in 1954, he had been one of the most influential. An ideologue and adviser to Diem, it was who designed the “three banded” flag that flew over Saigon until the Liberation.
“The three red stripes represent the three regions of Vietnam – Tonkin, Annam, and Cochin-China – but also the Trinity,” he once explained to me. (tr, 261).”
Tạm dịch: Với sự ra đi của Khâm-sứ LeMaitre, sự liên hệ giữa chính quyền mới và Nhà Thờ sẽ tốt hơn ngay cả với giới lãnh đạo. Được sự hậu thuẫn của nhóm Linh-mục Thi và tờ báo Công Giáo và Dân Tộc, Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình cùng với 250 tu sĩ cao cấp khác đến tham dự buổi họp với các thành viên của Ủy Ban Quân Quản Sàigon tại Dinh Độc Lập để họ giải thích chính sách của họ và để trấn an những người Thiên Chúa giáo.
Đức Cha Bình cố gắng đưa Đức Cha Thuận đi theo tới chỗ họp, nhưng Ủy Ban Quân Quản Sàigon bảo rằng sự hiện diện của Đức Cha Thuận là không cần thiết. Khi tôi rời Sàigon, có tin đồn rằng Đức Cha Thuận đã thương lượng xin từ chức để đổi lấy sự ra đi khỏi Việt Nam.
Sự nhượng bộ đầu tiên với chính quyền mới là Nhà Thờ đã đồng ý cộng tác với chính quyền để xem chỗ nào có thể thay đổi được trong những lời cầu nguyện.
Linh-mục Trần Hữu Thanh chua chát nói: “Tôi không thấy cần phải thay đổi điều gì. Hàng ngàn người Việt Nam đã lên thiên đường với những lời cầu nguyện đó.”
Linh-mục Thanh ở lại Sàigon. Ông ta không chịu làm lãnh tụ nhóm Da-tô vũ trang chống chính phủ, và ông cũng không bị bộ đội bắt bỏ tù như tin đồn sau Giải Phóng. Ngay cả ông ta, một trong những biểu tượng của Da-tô giáo chống Cộng mãnh liệt nhất, vẫn có thể tiếp tục cuộc sống trong Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng.
Tôi đến gặp Linh-mục Thanh vào một ngày Chủ Nhật trong Tháng 6 (1975) khi ông vừa làm lễ xong. Nhà thờ đầy người tới xưng tội hay xin ý kiến, và ở trước tượng Đức Mẹ là đám đông đàn bà thường hay đến đó cầu nguyện và có những người ăn mày chìa tay ra xin.
Trong số các linh mục di cư từ Bắc vào Nam năm 1954, Linh-mục Thanh là một trong số những linh mục có nhiều ảnh hưởng nhất. Vừa là một người có ý thức hệ cực đoan vừa là cố vấn cho ông Diệm, chính ông là người vẽ ra lá cờ “ba sọc” bay phất phới tại Sàigon cho đến ngày Giải Phóng. Ba sọc đó tượng trưng cho ba miền của Việt Nam: Bắc, Trung, Nam – nhưng cũng là “Ba Ngôi” (Trinity, tam vị nhất thể, chúa cha, chúa con và Thánh thần), ông đã có lần giải nghĩa cho tôi nghe như vậy.”[iv]
Dưới đây là lời nhận xét của cụ Đỗ Mậu:
“Một linh mục đã nói ra tôi tin ông không nói dối và trong giai đoạn đó nói dối được cái gì. Linh-mục Thanh còn sống. Tác giả Terzani còn sống, chúng ta có thể kiểm chứng được. Như vậy, người vẽ ra lá cờ vàng ba sọc đỏ là Linh-mục dòng Tên Trần Hữu Thanh, người chấp nhận là Quốc Trưởng Bảo Đại, ông ta là con nuôi của Khâm-sứ Jean Charles. Bảo Đại sang Pháp đi học đã ở nhà bố nuôi từ năm 1922 đến năm 1932 (Bảo Đại còn sống có thể kiểm chứng). Người ký “Pháp Qui Tạm Thời” cho thi hành treo Quốc Kỳ vàng ba sọc đỏ và bài Quốc Ca của Lưu Hữu Phước vào ngày 1/6/1948 tức là ngày 24/4 năm Mậu Tý là Thủ Tướng dân Tây Nguyễn Văn Xuân có vợ đầm, có Đổng Lý Văn Phòng Phủ Thủ Tướng là ông Tây André Bauvais – Người đề nghị lấy lá cờ vàng ba sọc đỏ thay cho cờ quẻ Ly là André Trần Văn Đôn, từng xách cặp, tức “Aide de camp” của ông Xuân.
(Lại có tin ông Nguyễn Văn Tâm, Hùm Xám Cai Lậy, cũng tự nhận là tác giả lá cờ vàng ba sọc đỏ. Lịch sự hình thành lá cờ vàng ba sọc đỏ là như thế.).” [v]
Phần trình bày trên đây cho chúng ta thấy rõ “lá cờ vàng ba soc” do chính Giáo Hội La Mã chủ động họa kiểu đưa ra với mục đích làm biểu tượng cho quyền lực của Vatican và được ngụy tạo làm biểu tượng cho “chính nghĩa quốc gia” của “những người Việt quốc gia”. Việc chế ra là cờ này có mục đích là để vừa làm bức bình phong che đậy cái bản chất làm tay sai cho Pháp và Vatican của cái chính quyền quốc gia này, vừa giúp cho những tên Việt gian trong hàng ngũ quan lại trong thời “trăm năm nô lệ giặc Tây” bấu víu lấy nó để trút được cái gánh nặng mặc cảm tội ác làm Việt gian của họ. Đồng thời, trong việc chế ra cờ này, Giáo Hội La Mã cũng lthâm ý là để vừa lạc dẫn (đánh lừa) những thị dân tiểu tư sản hay các thành phần phú hào sống trong vùng “tạm chiếm” nhằm lôi cuốn họ theo phe Liên Minh Thánh Xâm Lược Pháp – Vatican mà họ lầm tưởng rằng sẽ không sợ bị mang tiếng là Việt gian phản quốc, nhất là đối với những thị dân ngây thơ và ít học, không bao giờ được học lịch sử thế giới và cũng chẳng bao giờ được học những bài học lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại một cách trung thực. Do đó, họ không biết gì về vai trò đạo diễn của Giáo Hội La Mã trong chủ trương tấn chiếm thống trị Việt Nam từ hồi thế kỷ 19 cũng như trong mưu đồ tái chiếm Việt Nam vào giữa năm 1945.

Chân dung chiến hữu cờ vàng Bùi Kim Thành

xichloviet

Bùi Kim Thành từng được xem như người hùng của cộng đồng cờ vàng . Khi còn ở trong nước, hành động hoang tưởng quá quắt của bà này đã bị chồng và các con gửi vào BV tâm thần. Sở dĩ bà này có mặt ở Mỹ cũng xuất phát từ căn bệnh tâm thần hoang tưởng nặng nề này. Tuy nhiên cộng đồng cờ vàng lại cho rằng chồng bà là cán bộ CS cao cấp muốn tống khứ bà vì hành động của bà chống lại nhà nước làm tổn hại đến ông ta.

Một bệnh nhân tâm thần luôn nhận mình là luật sư của dân oan đòi ứng cử vào các cơ quan dân cử gây rối an ninh trật tự dĩ nhiên phải bị cưỡng chế trị bệnh theo đúng pháp luật. Tuy nhiên cộng đồng cờ vàng mừng lắm xem đây là cơ hội để tố chính quyền VN đang đàn áp những người đòi dân chủ. Họ phóng đại sự việc lên làm ồn ào dư luận hải ngoại, không cần biết đến nội vụ sự việc và dĩ nhiên họ đưa bà này lên thành nữ nhi anh hùng đang dũng cảm chống lại “cường quyền cộng sản”.

Những cái loa hải ngoại thay phiên nhau tô hồng cho cái lý lịch chống cộng của bà và bôi đen chính quyền VN như “lùa” bà vào thanh niên xung phong, chích thuốc cho bà điên, đánh đập tra tấn bà dã man v.v… (Những ai ở SG sau năm 1975 đều biết chẳng có ai bị “lùa” vào TNXP mà đều hầu hết đều không công ăn việc làm phải làm đơn xin vào đó để kiếm 13 ký gạo hàng tháng. ) Những tổ chức nhân quyền, những đài phát thanh chống cộng được dịp nhảy vào ăn có kêu gọi phải thả bà “ngay lập tức”

Hơn ai hết chính quyền VN biết bà này khùng cỡ nào. Quản lý một con mụ tưng tửng hoang tuởng như bà này thật là mệt hơi cho nên khi Mỹ nhận mụ này định cư chính quyền VN mừng húm OK tức khắc.

Ở Mỹ ngay khi mụ xuống phi trường đã được cộng đồng săn đón tấp nập, rồi họp báo, phỏng vấn búa xua, mụ đáp lại bằng cử chỉ hôn lá cờ vàng thắm thiết. Có dịp bà tố cộng đến sùi bọt mép người điều hành phải stop bớt bà lại. Nội dung tố cộng của bà toàn dao to búa lơn nhưng cũ rích và rỗng tuếch, cử tọa đã mơ hồ nhận ra là bà này có dấu hiệu tứng tửng từng tưng.

Chẳng cần nhiều thời gian để cộng đồng cờ vàng nhận ra bà này tửng thứ thiệt không có giá trị lợi dụng và có nguy cơ bôi bẩn cộng đồng cờ vàng. Từ đó xuất hiện những bài viết cho rằng bà là CS được cài vào cộng đồng để gây chia rẽ. Cái khăn vàng ba sọc đỏ luôn đội trên đầu của bà như là một bức tranh biếm họa về lá cờ làm cho cộng đồng cờ vàng càng ngày càng né bà và bắt đầu sợ sự có mặt của bà. Chỗ hội họp nào có mặt bà là cảnh giác cao độ với bà vì ai cũng sợ một con mẹ tâm thần làm hỏng việc.

Không còn giá trị lợi dụng về mặt chính trị nhưng bây giờ bà là diễn viên hài số 1 của phố bolsatv. Những câu nổi tiếng của bà như “ luật sư của hàng triệu dân oan” “lấy quyền làm người tiêu diệt bọn khủng bố VC bảo vệ nước Mỹ “ trở thành “thương hiệu Bùi Kim Thành”. Bây giờ cứ lên youtube gõ vào từ khóa Bùi Kim Thành sẽ cho ra vô số clip về bà, nhớ đọc những comment bên dưới để xem khấn giả bình luận thế nào về người hùng của cộng đồng cờ vàng.

Có lẽ vẫn còn những thành viên cộng đồng cờ vàng tự an ủi mình rằng bà vẫn là người hùng, bà là chiến sĩ đấu tranh cho dân oan, bà là chiến sĩ cờ vàng nếu không sao lại hôn lá cờ vàng thắm thiết đến thế, còn hơn cả chến sĩ cờ vàng thứ thiệt. Bà là cái gai trong mắt CS, Bà là một luật sư tài năng. Ở VN bà đấu tranh dũng cảm và sáng suốt không hề tâm thần như cáo buộc của CS , bà bị bọn khủng bố việt cộng rất thâm độc và tinh vi chích thuốc khùng tác dụng chậm tính toán sao cho qua đến Mỹ thuốc mới ngấm nên bà mới ra nông nỗi này.

Hãy vào đây để thưởng thức những clip về một chến hữu của cộng đồng cờ vàng.

BKT làm thơ

Tranh luận với Jame Du

Hội thảo tự do báo chí

Kể chuyện bị cảnh sát Mỹ bắt.

Biểu tình

Nhận thư TT Obama

Đòi nợ giùm

Nhiều quá mời vào you tube xem thêm.

Một cách nhìn khác về văn thư của Phạm Văn Đồng

ĐÔNG DUY

Hội nghị Fontaine Bleau khai mạc ngày 6-7-1946 đè nặng tâm tư phái đoàn Việt Nam, với những tin buồn vừa nhận được từ quê nhà, việc ông cao ủy tu xuất D’Argenlieu công bố thành lập Nam Kỳ quốc tự trị, trong đó có việc thành lập một liên bang Đông Dương với năm nước Nam Việt, Trung Việt, Bắc Việt, Cao Miên, Ai Lao, ngay cả dự trù cao nguyên Mọi cũng tách riêng thành một khu tư trị.
Điện cho Trưởng phái đoàn Pháp tại hội nghị là Max Andre’, D’Argenlieu đe dọa: “Đừng để họ lên giọng, tôi khẳng định một lần nữa là những quyền lực mà chúng ta đã tái lập được ở Đông Dương đủ vững mạnh để có thể tuỳ nghi sử dụng và mang lại thắng lợi cho chính sách tự do và sáng suốt của chính phủ Cộng Hòa Pháp ở Đông Duơng”.
Không khí lạnh lẽo bao trùm Hội nghị ngay từ phút đầu, sau diễn văn chào mừng của phái đoàn Pháp, khi trưởng phái đoàn Việt Nam, Phạm Văn Đồng, lên đáp từ. Bằng những lời lẽ hùng hồn, và những ngôn từ dữ dội, lên án âm mưu chia cắt đất nước của ông, để thành lập một Nam Kỳ tự trị với chính phủ Nguyễn Văn Thinh, Phạm Văn Đồng nói: “Chúng tôi quyết tâm phản đối đến tận cùng, bằng tất cả sức mạnh của một dân tộc 20 triệu người, đứng lên bằng một hành động tự vệ cuối cùng, chống lại sự chia cắt đất nước chúng tôi, chống lại sự thành lập một quốc gia tự trị Nam Kỳ”ø.
Đã trên nửa thế kỷ qua, trên đất nước của kẻ thù, không võ khí trong tay, không bạn bè, con người đã nói được những lời lẽ như trên, và sau đó dành trọn một đời mình đi làm cách mạng, có lẽ nào, nỡ lòng nào, ở cuối đời lại muốn đi vào lịch sử với việc cắt thân thể của tổ quốc ra dâng đất cho ngoại bang.
Tôi không tin một điều như vậy, mặc dù hiện nay, ở hải ngoại, người ta tiếp tục chụp lên đầu ông Phạm Văn Đồng nhãn hiệu Việt gian đã ký giấy dâng cho Trung Cộng những đảo trong vùng biển Nam Hải, đặc biệt là Hoàng Sa và Trường Sa, từ năm 1958.
Đây là một lời cáo buộc nghiêm trọng, không những chỉ liên quan tới vai trò lịch sử của cá nhân ông Phạm Văn Đồng, mà nó còn mang lại những hậu quả chính trị tai hại cho nỗ lực của nước Việt Nam nói chung, trong việc bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ của tổ quốc.
Trước khi đi sâu hơn vào nọâi dung những nỗ lực đấu tranh từ âm thầm qua ngả ngoại giao hoặc xương máu bằng quân sự những yếu tố pháp lý hoặc những đòi hỏi và hành động áp chế của Trung Hoa Lục Địa, hoặc những tài liệu đã được nói đến thật nhiều về bằng chứng chủ quyền của Việt Nam, chúng ta có thể khởi đầu với việc tìm hiểu căn nguyên của những lời cáo buộc này. Vấn đề thật ra không đơn giản như việc vu vơ tố cáo  cựu Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng là bán nước dâng đất cho ngoại bang, trái lại nó liên quan đến nhiều yếu tố thuộc phạm vi chiến lược quốc tế mà thái độ chống Cộng xuẩn động của một số người ở hải ngoại, mang hại nhiều hơn lợi.
Luận điểm cáo buộc ông Phạm Văn Đồng như nêu trên dựa vào một văn thư ngoại giao, mang chữ ký của ông Phạm Văn Đồng, trong cương vị Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, để trả lời một bản “tuyên bố” của Trung Hoa về việc nới rộng hải phận 12 hải lý.
Có hai điểm chính cần được nói đến ngay, đó là công hàm ngoại giao này chỉ là một “trao đổi quan điểm” giữa hai nước “không có giá trị như một hiệp ước”, hoặc chỉ là một thỏa thuận “giới hạn trong thời gian”. (Nói khác đi phút này đồng ý phút sau đổi ý, tùy nhu cầu và mối tương quan giữa hai nước).
Nếu đọc kỹ bản văn trên, người ta còn thấy sự khôn khéo trong cách hành văn ngoại giao, trong đó phía Việt Nam chỉ nói: “Chúng tôi ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-56 của chính phủ Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.”
Có lẽ cần lưu ý đặc biệt những từ ngữ quan trọng nhất trong câu này đó là: ghi  nhận, tán thành và… bản tuyên bố.
Câu văn này có nghĩa là phía Việt Nam ghi nhận ý muốn của Trung quốc muốn nới rộng hải phận qua một tuyên bố đơn phương của mình, và tán đồng ý muốn này.
Và đoạn văn kế đó có thể hiểu ngầm là trong tình trạng giao hảo “lúc đó” giữa hai nước, phía Việt Nam sẽ tôn trọng ý muốn 12 hải lý hải phận của Trung quốc.
Vấn đề “tự ý công bố” về hải phận quốc tế và chủ quyền tài nguyên hàng hải không phải là chuyện mới lạ gì trên thế giới, vì biên cương của các quốc gia vốn không phải là một bờ biển thẳng băng, hay là những hải đảo cô lập ngoài biển khơi, vì thế từ lâu rồi vẫn thường có những tranh chấp quanh vấn đề này, vì hầu như mọi quốc gia đều có những khu vực bờ biển chồng lên nhau, nếu dựa vào ấn định độ xa từ bờ của vùng hải phận quốc gia.
Từ thế kỷ 16, khi các quốc gia Âu châu phát triển những thuyền buồn viễn duyên trang bị súng đại bác, việc xâm lăng được đẩy mạnh nhiều hơn bằng đường biển, nên hải phận quốc gia khởi đầu được ấn định chỉ có 3 hải lý, (dựa vào tầm bắn xa nhất của súng đại bác và tốc độ di chuyển của các tầu đổ bộ). Hải phận này được tăng cường rộng hơn, thành 5 hải lý và 12 hải lý dựa vào khả năng tân tiến của võ khí và hạm đội thù nghịch. Không những thế, về hải phận đánh cá và kinh tế người ta còn chấp nhận vùng hải phận quốc gia mở rộng tới 200 hải lý.
Hiện nay, 12 hải lý hải phận quốc gia hầu như đã được nhiều quốc gia thừa nhận, (trong đó có cả hai anh khổng lồ Hoa Kỳ và Nga), và ấn định này có khuynh hướng càng ngày càng được nới rộng hơn, vì có liên quan tới việc khai thác tài nguyên dưới đáy biển của những quốc gia chung nhau những đại dương.
Bên ngoài 12 hải lý hải phận quốc gia là khu vực thêm “12 hải lý giao thoa”, nới rộng ra thêm là 200 hải lý gọi là vùng “exclusive economic zone”.
Chữ “exclusive” này thật khó diễn tả vì nó không hẳn được hiểu là “đặc quyền kinh tế”, nhưng nó cũng hàm ý là một thứ quyền lợi mà người ngoài không được xía vào. Nói khác đi, phải hiểu đặc quyền (exclusive) khai thác kinh tế này, thuộc về nhiều quốc gia có lãnh thổ đất liền tiếp xúc với biển cả.
Vì những ấn định này nên mới có chuyện “khôi hài mà có thật”, đó là vài năm trước đây, trong một vùng biển giữa Thái Bình Dương mênh mông, bên ngoài lãnh thổ Nhật Bản, có một ngọn núi lửa ngầm đột nhiên hoạt động phun nham thạch lên tạo thành một đảo nhỏ. Hòn đảo này, cũng không khác gì tình trạng của phần lớn những tiểu đảo san hô nửa chìm nửa nổi ở Hoàng Sa hay Trường Sa, chỉ trồi lên trên mặt biển khi thủy triều xuống thấp, nhưng chính phủ Nhật Bản vì nghĩ đến “200 hải lý đặc quyền kinh tế” đã tìm cách xác nhận chủ quyền trên đảo này. Hàng trăm tầu vận tải được vận dụng chở đá và cát  tới khu vực để bồi đắp hải đảo tý hon này cao lên trên mặt biển (khi thủy  triều lên cao).
Sau đó, để ăn chắc chuyện xác nhân chủ quyền lãnh thổ một hải đảo chưa ai tranh giành giữa biển, người Nhật cho xây dựng ngay một hải đăng trên vùng đất bồi.
Vụ hải đảo ngầm này cho thấy một sự giao thoa quan trọng cần phải suy ngẫm về “chủ quyền lãnh thổ” và sự đòi hỏi quyền khai thác tài nguyên biển cả. Hai yếu tố này tuy hai mà một.
Càng mở rộng ý niệm về hải phận, vùng quyền lợi giao thoa (overlap) giữa hai quốc gia, hay nhiều quốc gia càng trở nên phức tạp, mà nếu một quốc gia nào đó ỷ có sức mạnh quân sự lấn lướt, rất dễ tạo nên chiến tranh từ cục bộ tới chiến tranh toàn vùng.
Hiện nay, trải qua không biết bao hội nghị quốc tế về luật biển, nhưng vẫn chưa đâu vào đâu vì ý niệm về an ninh lãnh thổ, hoặc quyền lợi của những quốc gia ven biển vẫn thay đổi không ngừng, theo sự tiến triển của khoa học, kỹ thuật.
Trên 100 năm trước, các chúa Nguyễn lập ra Đội Hoàng Sa chỉ để khai thác những báu vật, kho tàng của các tầu bè trôi dạt, người ta chưa biết đến việc khai thác chất máu đen dầu hỏa từ đáy biển.
Ngành đánh cá cũng chỉ lẩn quẩn cận duyên vì không có phương tiện ướp lạnh. Hiện nay, trong lòng biển đến đáy biển đã trở thành những kho tài nguyên vô tận và miễn phí cho các quốc gia ven biển. Những tranh chấp cũng khơi lên từ đó.
Trong nhiều trường hợp, để tránh đổ vỡ nguy hiểm đưa tới chiến tranh, các quốc gia có vùng hải phận giao thoa, phải tìm cách tương nhượng để đạt “lợi nhuận hợp lý” cho phía mình mà không cần chiến tranh.
Một vài thí dụ điển hình như vùng biên giới cực bắc Hoa Kỳ, tiểu bang Alaska và biên giới Nga, vùng eo biển Bering, vùng vịnh Bengale giữa Ấn Độ và Sri Lanka. Nhiều lắm, khắp nơi trên thế giới đều gặp những khó khăn về hải phận, và những đường biên giới vô hình được “tạm chấp nhận” này, luôn luôn là những quả bom nổ chậm khi phát hiện những nguồn tài nguyên dầu khí dưới lòng biển. Vì thế, đối với một số quốc gia, khám phá được nguồn tài nguyên dưới đáy biển, đôi khi lại trở thành một lời nguyền rủa của thần chết và dấu  hiệu của thống khổ chiến tranh.
Hiện nay, nỗ lực giành dựt lãnh hải của Trung Hoa và qua ngả ngoại giao, được yểm trợ bằng những đe doạ quân sự để đạt tham vọng của mình, đã làm toàn thể các quốc gia trong vùng Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương cau mày khó chịu.
Mục đích của Bắc Kinh ngoài việc tranh giành nguồn lợi thiên nhiên, còn được sử dụng như một chất kích thích tố, một chiêu bài để đẩy mạnh việc thống nhất nước Tầu, không chỉ về ngôn ngữ mà cả về phương diện chủng tộc và lành thổ nữa. Nước Tầu cho đến nay gượng ép gọi là một quốc gia, nhưng ở nội dung là cả một đại lục tiềm ẩn nhiều xung khắc nội tại. Người ta không cần có bằng tiến sỹ sử học vẫn có thể nhận ra điều này trong lá cờ đỏ của Trung Cộng với năm ngôi sao tượng trưng cho 5 sắc dân Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng.
Bắc Kinh hiểu rõ yếu huyệt của mình nên một mặt đe doạ, hống hách, nhưng mặt khác vẫn phải tìm cách ve vuốt các quốc gia Đông Nam Á. Từ năm 2002 đến nay, đã liên tục ký kết một loạt các thỏa ước cộng tác và hứa hẹn hòa bình, nhưng cho đến nay, vấn đề chủ quyền lãnh thổ và hải phận trong khu vực biển Nam Hải vẫn chưa thể giải quyết ổn thỏa, nhất là những tranh chấp quyền lợi “vĩ đại” về nguyên liệu trong vùng vịnh Bắc Việt và khu Nam Thái Bình Dương, trong đó có hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Các nhà địa chất học cho rằng, nguyên khu vực vịnh Bắc Việt, có thể là một trong những mỏ dầu lớn nhất thế giới mà dung lựơng lên tới nhiều tỷ thùng dầu. Không những thế, khu vực này lại là nơi có sự giao thoa hải phận của hai đối thủ chính Trung Hoa và Việt Nam.
Trong quá khứ và cho đến hiện nay, nhà cầm quyền Việt Nam ngay từ trước 1975, đã phải và đã từng liên tục tranh thủ khó khăn với ông bạn láng giềng khổng lồ. Đó là điều phải được ghi nhận qua nhiều hội nghị quốc tế kể cả va chạm quân sự.
Trở lại bản văn ủng hộ “12 hải lý” của Trung Cộng, như đã nói hoàn toàn vô giá trị vì không phải là một hiệp ước. Hơn nữa, quy định 12 hải lý hải phận quốc gia không phải là một chuyện mới lạ, và chính Trung Hoa chỉ là người đi theo đuôi nhiều quyết định quốc tế về vấn đề này.
Hơn nữa, một trong những nguyên tắc căn bản quy định về hải phận quốc gia gọi là “khoảng cách tương đồng”, (equal distance) hiện được coi là một mẫu mực quốc tế, có nghĩa là người ta phải hoạch định một con đường ranh, trong đó mọi điểm trên con đường này phải cách đồng đều lãnh thổ đất liền của cả hai nước.
Nói khác đi, nếu một quốc gia đòi 12 hải lý hải phận, quốc gia liên hệ thứ nhì cũng đòi được quyền lợi tương tự.
Tuy nhiên, còn có những yếu tố khác liên hệ đến lãnh thổ biển cả, thí dụ như vấn đề chủ quyền lãnh thổ đã được thiết lập theo lịch sử, hải lộ thông hành v.v… vì thế cần phải phân biệt việc ấn định hải phận và chủ quyền lãnh thổ. Hai yếu tố này phải được cân nhắc đồng loạt.
Thu gọn trong văn bản ủng hộ 12 hải lý hải phận của Phạm Văn Đồng, người ta thấy không vì bất cứ lý do nào ảnh hưởng đến vụ tranh giành Truờng Sa và Hoàng Sa. Do đó, tranh chấp trong khu vực này hoàn toàn chỉ giới hạn trong vấn đề chủ quyền lãnh thổ, dựa vào những xác nhận lịch sử mà mỗi bên sẽ đưa ra.
Nội vụ có thể được giải quyết ổn thỏa qua những vận động chính trị quốc tế, nhưng cũng có thể đổ máu và còn đổ máu nhiều. Những người thực sự có lòng yêïu nước, sẽ còn nhiều cơ hội để thực sự hi sinh xương máu .
Những lời cáo buộc vu vơ của một bọn ngườixuẩn động như hiện nay, cứ cố gắng buộc tội vô lối là nhà nước Việt Nam đã dâng đất cho Trung Cộng, chính là một hành động nối giáo cho giặc vì nó chính là sự xác nhận chính danh của Trung Cộng trong các đòi hỏi lãnh hải Trường Sa và Hoàng Sa.
Cuộc đấu tranh để tồn tại lý lịch Việt Nam bên cạnh anh khổng lồ Trung Hoa, xin được lập lại lời tuyên bố của Phạm Văn Đồng tại Hội nghị Fonetain Bleau trên nửa thế kỷ qua, nhưng xin đổi một vài chữ cho hợp với trường hợp của Hoàng Sa:
“Chúng tôi quyết tâm phản đối đến tận cùng, bằng tất cả sức mạnh của một dân tộc 90 triệu người, (kể cả hai triệu người Việt khắp bốn bể năm châu) đứng lên bằng một hành động tự vệ cuối cùng, chống lại sự chia cắt đất nước chúng tôi, chống lại sự cướp giựt hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của đế quốc Trung Hoa.”

Phỏng vấn về biên giới Việt Trung

Toàn văn bài trả lời phỏng vấn cho báo chí Việt Nam ngày 14/9/2002 của ông Lê Công Phụng, Thứ tru’ởng Ngoại giao, Tru’ởng Ban biên giới, Tru’ởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam – Trung Quốc

Câu hỏi 1: Xin cho biết một số nét cơ bản về tình hình biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc?

Trả lời: Đu’ờng biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc dài khoảng 1.350 km, nối liền 6 tỉnh của Việt Nam (Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh) với hai tỉnh của Trung Quốc (Vân Nam và Quảng Tây). Địa hình dọc theo đ¬u’ờng biên giới chủ yếu là núi non và sông, suối (có khoảng 400 km biên giới sông, suối). ở một số khu vực mật độ dân cu’ dọc hai phía đu’ờng biên giới khá cao.

Đu’ờng biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc đu’ợc hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài. Từ cuối thế kỷ XIX đu’ờng biên giới lịch sử này trở thành đu’ờng biên giới pháp lý, vì đã đu’ợc hoạch định trong hai Công u’ớc Pháp – Thanh năm 1887, 1895 và trên thực địa đu’ợc hai bên phân giới và cắm hơn 300 mốc giới.

Câu hỏi 2: Xin ông cho biết lý do dẫn đến sự nhận thức khác nhau giữa hai bên về đ¬u’ờng biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc?

Trả lời: Việc hoạch định, phân giới và cắm mốc đu’ợc tiến hành từ hơn 100 năm tru’ớc với những phu’ơng tiện và điều kiện thô sơ lúc đó, nên lời văn và bản đồ về nhiều đoạn biên giới không đu’ợc thật đầy đủ, rõ ràng và chính xác. Đu’ờng biên giới đu’ợc vẽ trên bản đồ tỷ lệ lớn với nền địa hình đu’ợc thể hiện một cách tổng hợp, nhiều nơi rất khác so với địa hình tự nhiên trên thực địa. Việc phân giới, cắm mốc cũng có những hạn chế nhất định : toàn bộ mốc giới đều không đợc xác định bằng lu’ới tọa độ, vị trí mốc giới cũng không đu’ợc mô tả chính xác.

Hơn nữa, trải qua hơn một thế kỷ, nhiều mốc bị hu’ hỏng, thậm chí bị mất, một số mốc bị xê dịch so với vị trí vẽ trên bản đồ, địa hình, địa vật cũng có nhiều thay đổi. Bên cạnh những hạn chế trên, trong hơn 100 năm qua tình hình chính trị – xã hội ở mỗi nu’ớc có nhiều biến đổi, quan hệ giữa hai nu’ớc cũng đã trải qua các bu’ớc thăng trầm.

Toàn bộ các yếu tố đó dẫn đến việc hai bên có nhận thức khác nhau về hướng đi của đường biên giới ở một số khu vực, làm cho tình hình ngày càng trở nên phức tạp và thường xuyên xảy ra tranh chấp trên toàn tuyến biên giới giữa hai bên.

Ngay từ những năm 50 của thế kỷ tru’ớc, Việt Nam và Trung Quốc đã nhận thức rõ yêu cầu khách quan của việc chuẩn xác lại đu’ờng biên giới trên đất liền giữa hai nu’ớc. Từ giữa những năm 70 hai bên cũng đã tiến hành đàm phán về vấn đề biên giới, lãnh thổ, song chu’a đi tới thỏa thuận. Sau khi bình thu’ờng hoá quan hệ vào năm 1991, hai nu’ớc mới bắt tay vào đàm phán thực chất.

Câu hỏi 3: Xin ông cho biết Việt Nam và Trung Quốc đã thỏa thuận những nguyên tắc gì để xác định lại đu’ờng biên giới trên đất liền giữa hai
nu’ớc?

Trả lời: Từ năm 1992 Việt Nam và Trung Quốc tiến hành đàm phán ở cấp chuyên viên. Năm 1993 lãnh đạo cấp cao hai nước đi đến quyết định quan trọng là mở diễn đàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới, lãnh thổ, trong đó biên giới trên đất liền là một trong 3 nội dung đàm phán. Đoàn đàm phán của Việt Nam gồm có đại diện các ngành và các tỉnh biên giới hữu quan đã tiến hành đàm phán rất thận trọng và nghiêm túc với nhận thức đầy đủ về trách nhiệm tru’ớc đất nu’ớc. Ngày 19-10-1993 đại diện Chính phủ hai nu’ớc đã ký Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ.

Về vấn đề biên giới trên đất liền, Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản năm 1993 đã đề ra một loạt các nguyên tắc chỉ đạo tiến trình đàm phán giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền giữa hai nu’ớc, cụ thể :

Một là, hai bên lấy các Công u’ớc Pháp – Thanh năm 1887, 1895 cùng các văn kiện, bản đồ hoạch định và cắm mốc biên giới kèm theo, cũng như các mốc giới cắm theo quy định để xác định lại đu’ờng biên giới trên đất liền. Đây là nguyên tắc cơ bản và quan trọng;

Hai là, trong quá trình đối chiếu xác định hu’ớng đi của đường biên giới đối với những khu vực, sau khi đã đối chiếu nhiều lần mà vẫn không đi đến nhất trí, hai bên sẽ cùng nhau khảo sát thực địa, suy tính đến mọi tình hình tồn tại trong khu vực với tinh thần thông cảm và nhân nhu’ợng lẫn nhau, thu’ơng lu’ợng hữu nghị để tìm giải pháp công bằng, hợp lý;

Ba là, sau khi hai bên đã đối chiếu xác định lại đu’ờng biên giới, bất cứ khu vực nào do một bên quản lý vu’ợt quá đu’ờng biên giới, về nguyên tắc, phải đu’ợc trả lại cho bên kia không điều kiện. Đối với một số vùng cá biệt, để tiện cho việc quản lý biên giới, hai bên có thể thông qua thu’ơng
lu’ợng hữu nghị, điều chỉnh thích hợp theo tinh thần thông cảm và nhân nhu’ợng lẫn nhau, công bằng, hợp lý;

Bốn là, hai bên đồng ý tính đến mọi tình hình và tham khảo tập quán quốc tế để giải quyết biên giới trên sông, suối;

Năm là, đối với các khu vực dân cu’ hai bên đã sinh sống lâu đời (ở một số khu vực dân Trung Quốc cu’ trú quá đu’ờng biên giới, ở một số khu vực khác dân ta cu’ trú quá đu’ờng biên giới) thì hai bên nhất trí duy trì cuộc sống ổn định của dân cu’;

Sáu là, hai bên thỏa thuận lập Nhóm công tác liên hợp để bàn bạc cụ thể với nhau về các vấn đề liên quan. Từ năm 1994 đến 1999, Nhóm công tác liên hợp đã tiến hành 16 vòng đàm phán ở thủ đô Hà Nội và Bắc Kinh.

Câu hỏi 4: Xin ông cho biết cách thức và kết quả đàm phán về biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc?

Trả lời: Theo đúng Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản 1993, mỗi bên tự căn cứ vào các văn bản pháp lý nêu trên để vẽ đu’ờng biên giới theo sự đánh giá của mình lên cùng một loại bản đồ (gọi là bản đồ đu’ờng biên giới chủ tru’ơng), sau đó cùng trao cho nhau để đối chiếu, xác định những đoạn biên giới hai bên vẽ trùng nhau và khác nhau.

Qua đối chiếu, hai bên vẽ trùng khớp nhau khoảng 900 km trong tổng số 1.350 km toàn tuyến biên giới. Trong 450 km còn lại có 164 khu vực hai bên có nhận thức khác nhau, với tổng diện tích khoảng 227 km2 (các khu vực này đ¬u’ợc gọi là khu vực C). Ngoài ra, ở 125 khu vực khác với diện tích gần 5 km2 hai bên khác nhau do sai lệch về kỹ thuật và các khu vực này đã đu’¬ợc giải quyết khá nhanh chóng bằng các biện pháp kỹ thuật một cách hợp lý, công bằng cho cả hai bên.

Thực chất của suốt quá trình đàm phán chính là tập trung giải quyết 164 khu vực C nói trên và đến cuối năm 1999 hai Đoàn đàm phán đã giải quyết xong toàn bộ 164 khu vực đó. Kết quả giải quyết là: trong tổng số 227 km2 của 164 khu vực này thì khoảng 113 km2 đ¬ợc xác định thuộc Việt Nam và khoảng 114 km2 đ¬ợc xác định thuộc Trung Quốc. Giải pháp đối với 164 khu vực C đã đ¬ợc hai bên mô tả trong Bản ghi nhận chung và sau đó đu’¬a vào bản Hiệp ¬u’ớc biên giới trên đất liền giữa hai nu’ớc năm 1999 (kèm theo Hiệp ¬u’ớc là bộ bản đồ tỷ lệ 1/50.000 gồm 34 mảnh). Những đoạn biên giới sông, suối đã đu’ợc Công u’ớc Pháp – Thanh năm 1887 và 1895 quy định rõ ràng thì giải quyết theo đúng quy định của các Công ¬u’ớc đó. Còn những đoạn biên giới sông, suối chu’¬a đ¬u’ợc hai Công ¬u’ớc nói trên quy định rõ ràng thì giải quyết theo đúng thông lệ quốc tế, cụ thể là: ở các đoạn sông, suối tàu thuyền đi lại đu’ợc thì đu’ờng biên giới đi theo trung tuyến luồng chính tàu thuyền đi lại, còn ở những đoạn sông, suối tàu thuyền không đi lại đu’ợc thì đu’ờng biên giới ở các sông, suối này sẽ đi theo trung tuyến dòng chảy hoặc dòng chảy chính.

Kết quả đàm phán và việc ký Hiệp ¬u’ớc năm 1999 về biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc là phù hợp với các nguyên tắc cơ bản đã đu’ợc hai bên thỏa thuận, bảo đảm công bằng và thỏa đáng cho cả hai bên, đáp ứng các lợi ích cơ bản, lâu dài của nu’ớc ta.

Câu hỏi 5: Gần đây một số thế lực cơ hội chính trị và phản động đã tung tin gây hòai nghi về kết quả đàm phán, nào là ta đã vô cớ để mất một diện tích đất đai rất lớn, thậm chí mất đến 700 km2, nào là ta mất thác Bản Giốc, mất Hữu Nghị Quan. Vậy thực hu’ thế nào?

Trả lời: Tru’ớc hết, với tu’ cách là Tru’ởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới, lãnh thổ giữa Việt nam và Trung Quốc, tôi xin khẳng định tin về việc ta để mất đến 700 km2 đất là không đúng và không có cơ sở. Bởi vì, nhu’ trên đã nêu, sau khi đối chiếu đ¬u’ờng biên giới chủ tru’ơng của hai bên theo đ¬u’ờng biên giới Pháp – Thanh, thì toàn bộ diện tích hai bên tranh chấp ở 164 khu vực C chỉ khoảng 227 km2. Rõ ràng, diện tích mà đu’ờng biên giới chủ tru’ơng của hai bên khác nhau chỉ có 227 km2, trong số đó khoảng 113 km2 thuộc Việt Nam và khoảng 114 km2 thuộc Trung Quốc; tức là diện tích đu’ợc giải quyết cho mỗi bên xấp xỉ ngang nhau, thì không thể có việc ta bị mất hàng trăm cây số vuông đu’ợc.

Hơn nữa, do nhiều nhân tố, hai bên có nhận thức khác nhau về
hu’¬ớng đi của đu’ờng biên giới ở nhiều đoạn, do đó mới phải đàm phán. Đối với những khu vực mà bên này hoặc bên kia có đầy đủ cơ sở pháp lý (lời văn rõ ràng, hoặc đu’ờng biên giới trên bản đồ rõ ràng…) thì đất bên nào phải trả lại cho bên đó. Nhu’ng đối với những khu vực mà các cơ sở pháp lý không đu’ợc đầy đủ thì tất yếu trong đàm phán không thể chỉ đáp ứng yêu cầu của một bên mà phải có sự nhân nhu’ợng lẫn nhau trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản đu’ợc hai bên thỏa thuận, nhằm đạt đu’ợc kết quả giải quyết công bằng và thỏa đáng cho cả hai bên.

Về thác Bản Giốc ở tỉnh Cao Bằng và khu vực Hữu Nghị Quan ở tỉnh Lạng Sơn thì sự thực nhu’ sau:

Hai khu vực này thuộc các khu vực phức tạp, nhạy cảm nhất trong quan hệ biên giới giữa hai nước. Trên thực tế, tại hai khu vực này đã từng xẩy ra tranh chấp phức tạp và kéo dài trong nhiều năm. Các văn bản pháp lý về hoạch định và phân giới cắm mốc giữa chính quyền Pháp và Nhà Thanh cũng có những điểm quy định không rõ ràng. Đu’ờng biên giới đu’ợc vẽ trên bản đồ tỷ lệ lớn (1/100.000), địa hình ở khu vực Hữu Nghị Quan
đu’ợc vẽ tổng hợp, không phù hợp với địa hình tự nhiên trên thực địa, nên rất khó xác định h¬u’ớng đi của đu’ờng biên giới. Những hạn chế về cơ sở pháp lý và điều kiện tự nhiên đó đã dẫn đến hai bên có nhận thức khác nhau về hu’ớng đi của đu’ờng biên giới ở hai khu vực này.

Trên cơ sở vận dụng tổng hợp các cơ sở và yếu tố có liên quan, hai bên đã thống nhất giải quyết hai khu vực nêu trên nhu’ sau:

a- Khu vực thác Bản Giốc là một trong số các khu vực đu’ờng biên giới đi theo sông, suối. Do đó, cũng nhu’ ở các khu vực sông, suối khác đu’ờng biên giới ở khu vực này đu’ợc giải quyết theo tập quán quốc tế là theo trung tuyến dòng chảy chính; việc xác định trung tuyến dòng chảy chính ở thác Bản Giốc sẽ do hai bên cùng đo đạc xác định trong quá trình phân giới, cắm mốc và dòng chảy chính vẫn ở trên thác. Nhu’ vậy, hòan toàn không có việc ta mất thác Bản Giốc mà chỉ là việc xác định h¬u’ớng đi của đ¬u’ờng biên giới phù hợp với nguyên tắc xác định hu’ớng đi của
đu’ờng biên giới trên sông, suối đã đu’ợc hai bên thỏa thuận, phù hợp với tập quán quốc tế.

b- Khu vực Hữu Nghị Quan có liên quan đến đoạn biên giới đi qua đường bộ nối liền hai nu’ớc và đi qua tuyến đ¬ờng sắt. Đối với đoạn đường bộ thì Biên bản hoạch định Pháp – Thanh năm 1886 quy định rằng đu’ờng biên giới “nằm ở phía Nam ải Nam Quan, trên con đường từ Nam Quan đến làng Đồng Đăng”. Khi phân giới, hai bên đã cắm mốc số 18 để xác định đu’ờng biên giới và vị trí của mốc này cũng được mô tả là nằm trên đu’ờng từ Nam Quan đến Đồng Đăng (mốc này đã bị mất); còn trên bản đồ cắm mốc Pháp – Thanh năm 1894 thì địa danh Nam Quan nằm ở phía Bắc đu’ờng biên giới. Nhu’ vậy, đu’ờng biên giới luôn luôn ở phía Nam của Nam Quan, chứ không phải đi qua địa danh đó. Đối với đoạn đu’ờng sắt, phía Trung Quốc cho rằng đu’ờng biên giới đi qua điểm nối ray, nhu’ng qua đàm phán hai bên đã đi đến giải pháp là đường biên giới nằm ở phía Bắc điểm nối ray 148m, chứ không phải ở điểm nối ray nhu’  ý kiến của Trung Quốc.

Nhu’ vậy, có thể khẳng định rằng về tổng thể, các giải pháp đạt đu’ợc trong việc giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền nói chung và đối với hai khu vực cụ thể nói trên là thỏa đáng, đáp ứng lợi ích và nguyện vọng của cả hai bên; những thông tin do bọn phản động và cơ hội chính trị tung ra là hòan toàn bịa đặt, không có căn cứ và chỉ nhằm phục vụ cho những ý đồ chính trị đen tối.

Câu hỏi 6: Xin cho biết ý nghĩa của việc giải quyết biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc?
Đối với bất kỳ quốc gia nào, giải quyết vấn đề về biên giới, lãnh thổ là vấn đề rất thiêng liêng và nhạy cảm, đồng thời luôn là một công việc khó khăn, phức tạp. ý thức đ¬u’ợc trọng trách nặng nề đó, chúng ta đã đàm phán và ký với Trung Quốc Hiệp ước biên giới trên đát liền ngày 30/12/1999.

Với việc ký kết Hiệp u’ớc biên giới trên đất liền, ta đã giải quyết dứt điểm đu’ợc một trong ba vấn đề biên giới, lãnh thổ tồn tại lâu nay với Trung Quốc (biên giới trên đất liền, Vịnh Bắc Bộ và Biển Đông). Hiệp u’ớc là kết quả của quá trình đàm phán lâu dài, thể hiện nỗ lực của hai bên, có tính đầy đủ đến luật pháp quốc tế, thực tiễn quốc tế cũng nhu’ sự nhân nhu’ợng từ cả hai phía.

Một điểm cần nhấn mạnh là so với những quy định của các Công u’ớc Pháp – Thanh trước đây thì lời văn của Hiệp u’ớc biên giới trên đất liền ký ngày 30-12-1999 đã xác định cụ thể và rõ ràng hơn đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc. Việc xác định rõ ràng hơn đu’ờng biên giới trên đất liền bằng các phu’ơng tiện hiện đại tạo điều kiện thuận lợi cho quản lý và duy trì ổn định ở vùng biên giới.

Bu’ớc phát triển này giúp chúng ta thực hiện đu’ợc mục tiêu xây dựng biên giới Việt – Trung thành đu’ờng biên giới hòa bình, hữu nghị và ổn định, góp phần tăng c¬ờng sự tin cậy giữa hai bên, tạo động lực thúc đẩy và phát triển quan hệ hợp tác mọi mặt với Trung Quốc theo ph¬u’ơng châm “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hu’ớng tới tu’ơng lai”.

Việc giải quyết đu’ợc vấn đề biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc là sự kiện quan trọng, có ý nghĩa lịch sử đối với nu’ớc ta cũng nhu’ quan hệ Việt – Trung, đồng thời là một nhân tố góp phần vào sự ổn định trong khu vực, đu’ợc nhân dân cả nu’ớc hoan nghênh, thu hút sự chú ý của du’ luận quốc tế và khu vực.

Nu’ớc ta đã ký kết Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia với Lào và Căm-pu-chia, Hiệp định phân định vùng biển với Thái Lan; thỏa thuận về khai thác chung vùng biển chồng lấn với Ma-lai-xi-a; hiện nay đang tích cực thúc đẩy đàm phán giải quyết một số vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh thổ với Căm-pu-chia và đàm phán với In-đô-nê-xi-a về thềm lục địa. Trong bối cảnh đó, việc giải quyết đu’ợc vấn đề biên giới trên đất liền qua việc ký Hiệp ¬u’ớc biên giới trên đất liền giữa ta và Trung Quốc là bu’ớc tiến mới quan trọng trong việc tăng cu’ờng quan hệ hòa bình, hữu nghị với các
nu’ớc láng giềng, góp phần tích cực vào việc củng cố hòa bình và ổn định trong khu vực.

Câu hỏi 7: Xin ông cho biết tình hình triển khai công việc phân giới cắm mốc trên thực địa hiện nay thế nào?

Trả lời: Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc đã đu’ợc Quốc hội, cơ quan quyền lực Nhà nu’ớc cao nhất của nu’ớc ta phê chuẩn ngày 9-6-2000 và chính thức có hiệu lực từ ngày 06-7-2000. Để thực hiện Hiệp u’ớc này, căn cứ vào quy định của Hiệp u’ớc, ta và Trung Quốc đã lập ủy ban liên hợp phân giới, cắm mốc nhằm phân giới đu’ờng biên giới trên thực địa và đánh dấu đ¬u’ờng biên giới này bằng hệ thống mốc giới ổn định, bền vững và chính xác. Việc hai bên tổ chức cắm những mốc giới đầu tiên tại các cặp cửa khẩu lớn: Móng Cái – Đông Hu’ng, Lào Cai – Hà Khẩu, Thanh Thủy – Thiên Bảo, Ma Lu Thàng – Kim Thủy Hà và Tà Lùng – Thuỷ Khẩu là những bước đi quan trọng trong việc triển khai công tác phân giới, cắm mốc trên thực địa. Tại các vòng đàm phán cấp Chính phủ lần thứ 7, 8, 9, Đoàn đàm phán hai bên đã kiểm điểm quá trình chuẩn bị phân giới-cắm mốc. Cho đến nay, Uỷ ban liên hợp đã cơ bản hòan thành các công việc chuẩn bị cho việc phân giới, cắm mốc trên thực địa nhu’ lập 12 Nhóm phân giới, cắm mốc, thỏa thuận sẽ cắm 1.533 mốc giới (trớc đây Pháp – Thanh chỉ cắm hơn 300 mốc giới) và ký kết các văn kiện pháp lý – kỹ thuật cần thiết.

Hiện nay, 12 Nhóm phân giới cắm mốc liên hợp đang tiến hành họp để bàn cụ thể và triển khai công tác phân giới, cắm mốc trên toàn tuyến bắt đầu từ tháng 9/2002. Hai bên đang phấn đấu để hòan thành công việc phân giới, cắm mốc trong vòng 3 năm. Sau đó ký Nghị định thu’ phân giới, cắm mốc cũng nhu’¬ Hiệp định về quy chế biên giới nhu’ thông thu’ờng lâu nay vẫn làm.

Về sự kiện Unesco ra nghị quyết kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hồ Chí Minh

Mạch Quang Thắng

Sau khi Hồ Chí Minh qua đời tháng 9 năm 1969, các cá nhân, tổ chức chính trị-xã hội trên thế giới đã tập trung đánh giá cuộc đời, sự nghiệp Hồ Chí Minh. Những đánh giá đó từ những người cộng sản, từ những chính khách không cộng sản, từ những nhà hoạt động xã hội nổi tiếng, những văn nghệ sĩ có tên tuổi. Tất cả đều đánh giá sự cống hiến lớn lao của Hồ Chí Minh đối với sự phát triển của nhân loại, không những đối với thế kỷ XX mà còn đối với thế kỷ XXI và các thế kỷ tiếp theo.

Nay thì thấy một số mạng điện tử tiếng Việt và cả DVD nói xấu Hồ Chí Minh. Điều này xuất phát từ thái độ thâm thù đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam do ĐCS Việt Nam lãnh đạo và từ chủ trương “hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh” của các thế lực thù địch.

Trước khi nêu sự kiện Nghị quyết của UNESO năm 1987 về Kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi muốn nêu một vài sự kiện có liên quan.

Vào thời điểm sắp sửa kết thúc thế kỷ XX của thiên niên kỷ thứ hai và bước sang thế kỷ XXI của thiên niên kỷ thứ ba, tờ Time (Thời báo) của Mỹ đã phối hợp với Hãng Truyền hình CBS làm một cuộc lấy ý kiến bằng cách phát ra 7 triệu phiếu gửi đi nhiều nước để bầu chọn lấy 100 nhân vật nổi tiếng nhất, có ảnh hưởng nhất thuộc các lĩnh vực khác nhau của thế kỷ XX. Kết quả được công bố cuối tháng 12 năm 1999. Trong số 100 nhân vật được chọn, có Hồ Chí Minh. Trong số 100 nhân vật đó, người ta lại phân ra danh sách 20 nhà lãnh đạo có uy tín nhất trên thế giới trong thế kỷ XX. Hồ Chí Minh là một trong số 20 nhân vật đó, cùng với V.I. Lênin, M. Găngđi, W. Sớcxin, A. Khômêny, N. Manđêla, T. Rudơven, F.D. Rudơven, M. Xangơ, Luthơ Kinh, R. Rigân, v.v. Điều đó giải thích tại sao Trưởng Đại diện của tuần báo Time ở Hà Nội lúc ấy coi “Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất trong thế kỷ XX”.

Trước đó nữa, năm 1983, để chuẩn bị cho sự ra đời của tác phẩm loại từ điển tiểu sử mang tên Văn hoá thế kỷ XX (XXth Century culture) do Alan Bullock và R.B. Wodinger chủ biên (Do Harper and Row xuất bản năm 1983), 300 nhà khoa học trên thế giới đã được hỏi ý kiến để bình chọn danh nhân văn hoá thế kỷ XX. Các nhà khoa học này đã thảo luận những tiêu chí thế nào là danh nhân văn hoá thế giới trong thế kỷ XX. Các nhà khoa học đã đưa ra quan niệm như sau:

a. Thế kỷ XX là thế kỷ của những đảo lộn khoa học và công nghệ, chẳng hạn Thuyết Tương đối của A. Anhxtanh. Ai phát minh ra những kết quả khoa học và công nghệ làm đảo lộn thế giới thì người đó là danh nhân văn hoá thế giới.

b. Thế kỷ XX là thế kỷ của những cuộc chiến tranh tàn bạo. Ai tích cực đấu tranh cho quyền sống của con người, bênh vực con người, giải phóng con người, là người tiêu biểu cho chủ nghĩa nhân văn, người đó là danh nhân văn hoá thế giới.

c. Thế kỷ XX là thế kỷ phi thực dân hoá (décolonisation). Ai là người góp phần tích cực giải phóng các thuộc địa, giải phóng các dân tộc bị áp bức, làm đảo lộn thế giới thuộc địa, vẽ lại bản đồ chính trị thế giới, thì đó là danh nhân văn hoá thế giới.

Hồ Chí Minh đã được 300 nhà khoa học chọn là một nhân vật tra cứu trong công trình đó (các trang 322, 333). Các nhà khoa học đó thừa biết rằng, Hồ Chí Minh là người cộng sản, mà một số người trên thế giới không ưa chủ nghĩa cộng sản. Nhưng Hồ Chí Minh là người cộng sản đích thực, là nhà văn hoá, là chiến sĩ tiên phong của một dân tộc tiên phong tích cực nhất, hy sinh cho sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng con người, cho nên Hồ Chí Minh xứng đáng được chọn. Trong các cuộc thảo luận, 300 nhà khoa học nhất trí cho rằng: “Hồ Chí Minh là nhà mácxít hay nhà Nho, điều đó không quan trọng. Hồ Chí Minh là người cộng sản hay là người dân tộc chủ nghĩa, điều đó không quan trọng. Chỉ cần biết Hồ Chí Minh là Nguyễn ái Quốc – người yêu nước – thế là đủ để xếp ông vào hàng danh nhân văn hoá thế giới thế kỷ XX. Vì Hồ Chí Minh là người khởi xướng và giương cao ngọn cờ giải phóng các dân tộc thuộc địa và trở thành người dẫn đường chủ chốt được mặc nhiên thừa nhận và kính trọng của châu á và của thế giới thứ ba”[1].

Còn đối với UNESCO, có một sự kiện liên quan đến Hồ Chí Minh cần làm sáng rõ hơn.

Với sự cống hiến nổi bật của Hồ Chí Minh đối với sự phát triển của đất n­ước và đối với sự phát triển văn minh tiến bộ của nhân loại, Việt Nam — một quốc gia thành viên — đã gửi hồ sơ tới Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) để Tổ chức này xem xét kỷ niệm nhân dịp 100 năm Ngày sinh của Hồ Chí Minh.

Trong Khoá họp toàn thể lần thứ XXIV tại Pari (thủ đô nư­ớc Cộng hoà Pháp) từ ngày 20-10 đến ngày 20-11-1987, UNESCO có một ch­ương trình nghị sự thảo luận, xem xét và cuối cùng đã thông qua Nghị quyết về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh[2].

Cần nhắc lại rằng, năm 1974, tại Khoá họp lần thứ XVIII của mình, Đại Hội đồng UNESCO đã định với nhau rằng: định kỳ xét để tổ chức kỷ niệm các danh nhân văn hoá thế giới theo tiêu chí chung nhất là “những người đã để lại những dấu ấn quan trọng trong quá trình phát triển văn minh, tiến bộ của nhân loại”. Những danh nhân này sẽ được long trọng kỷ niệm nhân kỷ niệm các năm sinh chẵn 100, 200…Tại Khoá họp lần thứ XXIV, Đại Hội đồng UNESCO đã xem xét để ra nghị quyết kỷ niệm các danh nhân có các kỷ niệm năm sinh chẵn vào các năm 1988, 1989, 1990. Hồ Chí Minh là 1 trong 6 người có hồ sơ đề cử (có cả J. Nêru (ấn Độ), A. Macarencô (Liên Xô), 1 của Thái Lan, 1 của Cộng hoà Liên bang Đức, 1 của Thổ Nhĩ Kỳ). Tính đến Khoá họp Đại Hội đồng UNESCO lần thứ XXIV năm 1987 này, đã có 21 người được ra nghị quyết kỷ niệm.

Bối cảnh của việc xem xét các danh nhân trong Khoá họp Đại Hội đồng UNESCO cuối năm 1987 không mấy suôn sẻ, vì trước đó đã có một số quốc gia vì lý do chính trị đã rút ra khỏi danh sách thành viên của UNESCO. Có nước chỉ đề nghị nên xem xét những hồ sơ đề cử nào mà có năm chẵn 100 (đến năm 1988) thôi, vì họ còn “lấn cấn”, chưa thông lắm về các tiêu chí. Có nước đề nghị UNESCO nên hạn chế kỷ niệm các danh nhân…

Trong Khoá họp lần thứ XXIV này, UNESCO tôn vinh J. Nêru là “Nhà quán quân của phong trào giải phóng dân tộc”, với 45 phút thảo luận và thông qua nghị quyết.

Phía Việt Nam dự kiến khi xét Hồ Chí Minh có thể khó khăn hơn, bởi nhiều lý do. Lúc này, vấn đề Campuchia và vấn đề người Việt Nam vượt biên tỵ nạn đang nổi lên, nhiều nước đang hiểu lầm và không thiện cảm. Một bản kiến nghị gửi đến Đại Hội đồng có các chữ ký của 79 người Việt Nam vượt biên, di tản phản đối việc xét Hồ Chí Minh. Trong lúc đó, hệ thống xã hội chủ nghĩa đang “có vấn đề”, nghĩa là đang lún sâu vào cuộc khủng hoảng toàn diện. Trong tổng lượng phiếu 159 nước thành viên thì các nước xã hội chủ nghĩa chỉ có 8.

Thế nhưng, tình hình không rắc rối, phức tạp như chúng ta tưởng. Cuộc thảo luận của Đại Hội đồng Khoá họp XXIV diễn ra trong không khí hữu nghị, tình cảm chân thành đối với nhân vật được đề xuất trong hồ sơ là Hồ Chí Minh. Gần 30 nước đã ký tên đồng tác giả dự thảo Nghị quyết về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lên Đại Hội đồng. Cuộc họp Tiểu ban các vấn đề văn hoá đã thảo luận dự thảo này và được thông qua tại Đại Hội đồng bằng biểu quyết với đa số tuyệt đối. Tại Hội thảo quốc tế về Hồ Chí Minh tại Thủ đô Hà Nội, các ngày 29 và 30 tháng 3 năm 1990, ông Nguyễn Dy Niên, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao của Việt Nam, Chủ tịch Uỷ ban UNESCO của Việt Nam, đã có bài thuật lại những nét cơ bản nhất của sự kiện này.

Trong quá trình thảo luận, Chủ toạ Phiên họp là một quý bà người Thái Lan. Bà đã cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản chung của nhân loại, có giá trị vĩnh hằng, là niềm tự hào của các dân tộc. Một đại biểu của Cộng hoà Dân chủ Đức cho rằng, chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn của mọi thời đại. Một đại biểu của Xri Lanca cho rằng, Hồ Chí Minh là một nhà tiên tri, Hồ Chí Minh là ngọn hải đăng của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Còn ông Trưởng Đoàn đại biểu của ấn Độ thì cho rằng, Hồ Chí Minh là một danh xưng cao quý, không chỉ nằm ngay trong mỗi chúng ta, mà gắn với sự tiến bộ của thời đại, vì vậy, việc kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Hồ Chí Minh vừa là một sự kiện quan trọng, vừa là niềm tự hào, niềm vinh dự lớn lao đối với mọi người lao động.

Nghị quyết về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh có đoạn viết:

“Xét thấy việc tổ chức kỷ niệm trên quy mô quốc tế những nhà trí thức lỗi lạc và danh nhân văn hoá là góp phần vào việc thực hiện những mục tiêu của UNESCO và vào sự hiểu biết trên thế giới,

Nhắc lại Quyết định số 18 C-4351 về việc tổ chức kỷ niệm những vĩ nhân và những sự kiện đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại,

Ghi nhận rằng, năm 1990 sẽ đư­ợc đánh dấu bằng lễ kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng giải phóng dân tộc và là nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam”.

Các văn kiện của UNESCO được quy định công bố bằng 6 thứ tiếng: Pháp, Anh, Arập, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Nga. Nguyên văn tiếng Pháp đoạn cuối cùng của ba đoạn trích dẫn này trong Nghị quyết của UNESCO nh­ư sau: “Notant que, 1990 marquera le centième anniversaire de la naissance du Président Ho Chi Minh, héro de la libération nationale et éminent homme de culture du Vietnam”.Đáng chú ý là cụm từ éminent homme de culture được một số ngư­ời dịch là Nhà văn hoá lớn.

Theo tôi, bản Nghị quyết bằng tiếng Anh (trong đó có ghi là: Ho Chi Minh, Vietnamese hero of national liberation and great man of culture) thì có thể dịch Nhà văn hoá lớn, nhưng cũng có thể dịch là Nhà văn hoá ưu tú (hoặc cũng có thể dịch là Nhà văn hoá xuất sắc hoặc Nhà văn hoá kiệt xuất – great man of culture). Nhưng đối với bản tiếng Pháp thì phải dịch là Nhà văn hoá kiệt xuất mới đúng nghĩa. Mà đây cả hai cái danh: Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hoá kiệt xuất đều là của Việt Nam (du Vietnam), chứ không phải là Anh hùng giải phóng dân tộc là của Việt Nam, còn Nhà văn hoá kiệt xuất thì lại là của thế giới.

Một vấn đề cần lư­u ý nữa là: bản thân Nghị quyết này của UNESCO được thông qua theo lời mở đầu có tính mặc định mà tôi đã trích dẫn ở hai đoạn đầu bên trên. Đáng chú ý là những cụm từ, như “Những nhà trí thức lỗi lạc và danh nhân văn hoá” cũng như Quyết định khung số 18 C-4351 của UNESCO “Kỷ niệm những vĩ nhân và những sự kiện đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại” thì có thể hiểu đã mặc nhiên công nhận Hồ Chí Minh là Danh nhân văn hoá thế giới rồi, chứ không nên gọi là Tổ chức UNESCO “phong” cho Hồ Chí Minh danh hiệu này, danh hiệu nọ. Tôi nghĩ rằng, nói đúng như thế thì sẽ không phức tạp hoá vấn đề.

Nghị quyết trên đây của UNESCO còn khẳng định rằng: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu t­ượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội… Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục và nghệ thuật, là kết tinh của truyền thống văn hoá hàng nghìn năm của nhân dân Việt Nam, và những tư tưởng của Ng­ười là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”.

Do đó, Nghị quyết của UNESCO đã nêu rõ: “Khuyến nghị các quốc gia thành viên kết hợp kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng cách tổ chức những hoạt động đa dạng để tư­ởng niệm Người, để làm cho mọi ngư­ời hiểu đ­ược tầm vóc to lớn của những tư tưởng và sự nghiệp của Ng­ười vì công cuộc giải phóng dân tộc”.

Việc thực hiện Nghị quyết này của UNESCO ở Việt Nam, nhất là ở trên bình diện quốc tế, ở các nước thành viên Tổ chức UNESCO, có nhiều trắc trở.

Phải thấy được hoàn cảnh đặc biệt lúc đó.

Sau ngày 30-4-1975, Việt Nam bước vào một cuộc thử thách mới, đầy chông gai trên bình diện quốc tế. Hầu như Việt Nam bị cô lập, ít được bạn bè cảm thông. Đây là một bi kịch lớn. Nói bi kịch lớn là vì lẽ ra mọi người, hay chí ít là bạn bè số đông của Việt Nam, sẽ cùng Việt Nam sẻ chia mừng vui và bắt tay vào công cuộc giúp Việt Nam băng bó vết thương chiến tranh, xây dựng một cuộc sống mới. Nhưng không đơn giản như vậy. Nói để cho người khác hiểu là việc không đơn giản. Việc Việt Nam đem quân sang Campuchia chẳng hạn. Đây là việc làm hợp với đạo lý, nhưng nhiều nước coi là Việt Nam đã xâm lược Campuchia. Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, sau khi bại trận “lấm lưng trắng bụng” ở Việt Nam, lại bước vào một cuộc phiêu lưu mới, tiến hành cấm vận mọi mặt với Việt Nam. Việt Nam bước vào những đợt khó khăn mới. Nạn đói đã xảy ra trong thời bình. Lòng người không yên. ở ngoài bắc thiếu lương thực phải ăn bo bo đã đành, nhưng đợt công tác mà tôi có mặt một tháng tại thành phố Hồ Chí Minh mùa hè năm 1977 ở giữa vựa thóc lớn đất nước mà vẫn không đủ gạo ăn, phải ăn bo bo. Đó còn là cơ chế vốn chỉ thích ứng trong chiến tranh nay đến thời bình tỏ ra cứng nhắc nhưng vẫn được vận hành và đương nhiên nó không phù hợp mà Đảng Cộng sản chưa sớm nhận ra.

Đã xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội nghiêm trọng. Làn sóng người Việt Nam ồ ạt ra đi khỏi đất nước, mà đây chủ yếu là lực lượng của chế độ Sài Gòn lòng đầy hận thù, trắc ẩn, mặc cảm với chế độ chính trị mới ở Việt Nam. Trung Quốc, sau những chuỗi không êm ả với Việt Nam, đầu năm 1979 đã đưa quân sang mấy tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam gây chiến, nói là để “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Trong hoàn cảnh đó, có sự chống phá quyết liệt từ những phần tử cực đoan, nhất là từ một số người gốc Việt ở nước ngoài. Họ ngăn trở việc Tổ chức UNESCO đứng ra tổ chức lễ Kỷ niệm hoặc đứng ra cổ suý cho các quốc gia thành viên tổ chức các hoạt động tưởng niệm hoặc lễ kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Hồ Chí Minh theo đúng như Nghị quyết của UNESSCO, viết rằng: “Đề nghị ông Tổng Giám đốc UNESCO tiến hành những bước đi phù hợp để kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và giúp đỡ các hoạt động tưởng niệm chung được tổ chức nhân dịp này, đặc biệt là những hoạt động diễn ra ở Việt Nam”.

Ngay tại Pari, trụ sở của Đại Hội đồng UNESCO, cũng không tài nào tổ chức nổi một lễ kỷ niệm, tưởng niệm Hồ Chí Minh. Chỉ có hai nước là đứng ra tổ chức được lễ kỷ niệm theo đúng tinh thần của Nghị quyết UNESCO, đó là Việt Nam (đương nhiên, vì là đất nước của Hồ Chí Minh) và ấn Độ. Lễ Kỷ niệm và cuộc Hội thảo nhân dịp Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Hồ Chí Minh được long trọng tổ chức tại Hà Nội với nhiều bạn bè quốc tế, những người có cảm tình với Việt Nam và những người nhận rõ những cống hiến về nhiều mặt của Hồ Chí Minh đối với những bước tiến của dân tộc Việt Nam cũng như đối với hành trình của nhân loại vươn tới tất yếu của tự do.

Trở lại vấn đề Nghị quyết 18.65 của phiên họp lần thứ 24 Đại hội đồng UNESCO năm 1987. Tại sao thế giới đánh giá Hồ Chí Minh như vậy? Tôi thấy chẳng phải ngẫu nhiên mà UNESCO đánh giá như thế. Tôi thấy như sau:

Một: Hồ Chí Minh là chiến sĩ tiên phong trong thế kỷ phi thực dân hoá.

Hồ Chí Minh là người lĩnh ấn tiên phong của dân tộc Việt Nam và của nhân loại cần lao tiến công vào chủ nghĩa thực dân để đưa lại độc lập, tự do cho mỗi dân tộc, mỗi con người. Thế giới thấy Hồ Chí Minh là một con người đặc biệt trong thế kỷ XX, một thế kỷ phi thực dân hoá. Chủ nghĩa thực dân là một vết nhơ lớn nhất trong lịch sử của loài người. Đúng là một vết nhơ thật. Một dân tộc đang yên đang lành thì bỗng nhiên có một thế lực thực dân đến bắt làm nô lệ, không cho người ta có quyền sống, hoặc nếu để sống thì cái quyền con người sống bị chà đạp. Thực dân xâm chiếm thuộc địa nhưng lại được che dấu bằng những lời lẽ mỹ miều là đi “khai hoá văn minh”.

Hồ Chí Minh chọn chủ nghĩa thực dân là mục tiêu lớn nhất để công phá. Hồ Chí Minh tố cáo mạnh mẽ chủ nghĩa thực dân ở tất cả mọi diễn đàn và sử dụng tất cả mọi vũ khí mà ông có. Người viết “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Người tổ chức và lãnh đạo các cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Hồ Chí Minh là một con người tiên phong của một dân tộc tiên phong đấu tranh phi thực dân hoá trên đất nước ông và trên thế giới.

Với chiến thắng Điện Biên Phủ chiều ngày 7-5-1954, Việt Nam đã mở đầu cho một quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giới. Với chiến thắng trưa ngày 30-4-1975 tại Sài Gòn, dân tộc Việt Nam đã báo hiệu cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân mới trên toàn thế giới. Một dân tộc tiên phong và một con người tiên phong của nhân loại tiến bộ. Thế giới không đặt lầm. Thế giới đã đúng. Việt Nam không làm hổ danh, không phụ lòng tin của lương tri loài người tiến bộ. Nếu tạc tượng những vĩ nhân thế giới thuộc thế kỷ XX, một thế kỷ phi thực dân hoá, thì Hồ Chí Minh xứng đáng được tạc bức tượng đẹp nhất.

Hai: Hồ Chí Minh là một con người đầy lòng vị tha, khoan dung.

Trong một thế giới đầy bất trắc của quan hệ con người, Hồ Chí Minh hiển hiện như một tấm lòng bao dung. Hồ Chí Minh đã nói rằng, sự bao dung là như biển cả, nó có thể nhận bao nhiêu nước từ các sông suối. Hồ Chí Minh tiếp thu truyền thống văn hoá khoan dung của dân tộc Việt Nam, như ông đã viết rằng, dân tộc Việt Nam là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái. Hồ Chí Minh không bao giờ kỳ thị, bài bác các học thuyết, trong quan hệ ứng xử của con người và của cộng đồng này với cộng đồng khác. Sự khoan dung trong thái độ ứng xử của Hồ Chí Minh đến mức đến như một số người hiểu lầm là trong cuộc sống, giải quyết trong các mối quan hệ, Hồ Chí Minh hay nặng về tình. Thực ra, Hồ Chí Minh không duy tình, không duy lý, mà luôn luôn “vừa có lý, vừa có tình”, lấy chữ “nhân” làm nền tảng.

Trong khoan dung văn hoá Hồ Chí Minh, thì các giá trị văn hoá nhân loại như là một giòng chảy tự nhiên qua tâm hồn Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh chính là bộ lọc văn hoá chắt lọc cái chân, cái thiện, cái mỹ. Nếu tập hợp, lần dở những trang sách, trang báo của các nhà “Hồ Chí Minh học”, “Việt Nam học” nổi tiếng trên thế giới thì biết cơ man nào là những đánh giá rất đặc sắc về khía cạnh văn hoá khoan dung của Hồ Chí Minh. Trong thực tế cuộc sống, mặc nhiên có sự so sánh. Trong sự so sánh đó, nổi bật lên Hồ Chí Minh, một nhân vật sáng ngời của nhân văn, văn hoá, khoan dung trong cái thế giới có lúc cũng có vẻ hỗn mang về các mối quan hệ giữa con người với con người này.

Ba: Hồ Chí Minh là một chiến sĩ văn hoá, là một hiệp sĩ của UNESCO tích cực giải quyết những vấn đề toàn cầu.

Vấn đề lớn nhất mà Hồ Chí Minh nêu lên và hướng cả cuộc đời của mình cũng như hướng cả dân tộc Việt Nam cùng những dân tộc khác trên thế giới vào giải quyết là đấu tranh giải phóng con người. Đối với Hồ Chí Minh, mọi hoạt động, mọi cuộc đấu tranh đều hướng đích đó. Hồ Chí Minh tập hợp cả một véctơ lực vào cái đó.

Từ cái chung nhất đó, Hồ Chí Minh nêu lên và hướng vào giải quyết vấn đề hòa bình, hòa bình cho dân tộc Việt Nam và hòa bình cho thế giới, một nền hòa bình thật sự, hòa bình bền vững mà trên đó bảo đảm các quyền dân tộc cơ bản độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Cái nguyên tắc đó trở thành cái khung cho mọi hiệp định chính trị, mà nó đã thể hiện ở Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương ngày 20-7-1954 và Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam ngày 27-1-1973.

Hồ Chí Minh là con người của hòa bình. Hồ Chí Minh coi đó là nguyên tắc hành xử giữa con người với con người, giữa dân tộc này với dân tộc khác. Nhưng, cái chốt của Hồ Chí Minh là ở chỗ: đó phải là một nền hòa bình chân chính. Trước kẻ xâm lược, nhiều lúc Hồ Chí Minh nhân nhượng, nhưng kẻ cướp càng lấn tới thì ông kêu gọi cả dân tộc vùng lên đấu tranh gìn giữ hòa bình chứ không phải có hòa bình bằng mọi giá, hòa bình trong cái thế hèn kém của một kẻ nô lệ.

Sau khi giành được chính quyền, thiết lập được Nhà nước mới – Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà — Hồ Chí Minh tuyên bố trước toàn thể dân tộc Việt Nam cũng như toàn thể nhân dân thế giới rằng, nước Việt Nam đã thật sự trở thành một nước tự do và độc lập, toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền tự do và độc lập ấy. Nhưng thực dân Pháp quyết tâm chiếm nước Việt Nam một lần nữa. Cuộc kháng chiến đã nổ ra sớm ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ từ ngày 23-9-1945, tức là đúng 3 tuần lễ sau Ngày Độc lập 2-9-1945. Nhân dân miền Nam đã đi liền một mạch gian khổ, kiên cường, Thành đồng Tổ quốc, “đi trước về sau” từ ngày đó đến tận ngày 30-4-1975.

ý đồ của thực dân Pháp là gây chiến tranh trở lại, “gặm nhấm” dần lãnh thổ Việt Nam, chia cắt Nam Bộ ra khỏi đất nước Việt Nam. Quan điểm có tính nguyên tắc của Hồ Chí Minh là Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam, là tìm cách bảo vệ chính quyền còn non trẻ, tránh đụng độ với các thế lực có ý định xâm lược, bảo vệ nền hoà bình lâu dài cho đất nước. Chính vì thế mà Hồ Chí Minh gồng mình lên để bước qua những chông gai. Hồ Chí Minh hoà với quân Tưởng Giới Thạch để kìm quân Pháp, ông hoà với Pháp để đuổi quân Tưởng Giới Thạch, và ông ký Hiệp ước 6-3-1946, phái người đi dự Hội nghị trù bị Đà Lạt, cử đoàn đi dự Hội nghị ở Phôngtenblô (Pháp) và khi các hội nghị đó không đạt kết quả, thì Hồ Chí Minh ký Tạm ước 14-9-1946.

Hồ Chí Minh tìm cách hoà hoãn với cả kẻ cướp để mong cứu vãn hoà bình, có lúc chịu nhận Việt Nam là nước tự do trong Liên hiệp Pháp, bảo đảm quyền lợi kinh doanh và các quyền lợi kinh tế khác cho người Pháp ở Việt Nam, v.v. Hồ Chí Minh viết thư cho các tổ chức và cá nhân quốc tế, kể cả cho một số nước có vai trò lớn trong Liên hợp quốc bày tỏ quan điểm, nguyên tắc đối ngoại của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hồ Chí Minh nêu rõ quan điểm Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với một ai; sẵn sàng dành và tiếp nhận sự đầu tư về kinh tế với tất cả các nước, các nhà tư bản vào Việt Nam với mục đích cùng có lợi. Và Hồ Chí Minh cũng “rắn” khi tuyên bố rằng: nhân dân Việt Nam sẽ đứng lên cầm tất cả mọi thứ có trong tay để làm vũ khí chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ hoà bình, bảo vệ nền độc lập, tự do cho Tổ quốc. Đúng như Hồ Chí Minh đã viết: “Cây muốn lặng nhưng gió chẳng đừng”. Nhân nhượng của Hồ Chí Minh và của nhân dân Việt Nam chỉ có giới hạn, có nguyên tắc. Hoà bình không bằng mọi giá. Không có thứ hoà bình trong thân phận của những người nô lệ.

Thế là cuộc chiến tranh lần nữa lại nổ ra. Lần này kéo dài 9 năm binh đao khói lửa, bằng trận đại thắng của Việt Nam và cũng là trận đại bại của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ kết thúc vào hồi 17 giờ 30 phút ngày 7-5-1954 và bằng Hiệp định Giơnevơ 20-7-1954.

Sau này, chiến tranh đã qua đi nhiều năm, nhiều chính khách và các sử gia, các nhà quân sự, các nhà báo, các nhà hoạt động xã hội Pháp đã tốn bao giấy mực viết về cuộc chiến tranh đó. Có lúc, trong số đó, có người đổ lỗi cho Hồ Chí Minh gây ra cuộc chiến tranh. Nhưng, sự thật là sự thật, nó phơi bày ra đó, không ai có thể chỗi cãi được. ý kiến đổ lỗi cho Hồ Chí Minh là số rất ít và bị chìm nghỉm đi. Hồ Chí Minh vẫn luôn hiện lên với tư cách là chiến sĩ hoà bình quốc tế.

Còn đối với cuộc chiến tranh Mỹ – Việt? Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam không muốn cuộc chiến tranh này, nhất lại là “đấu” với lực lượng hùng mạnh, khổng lồ hơn Pháp nhiều. Hồ Chí Minh đã nhiều lần nêu quan điểm muốn “trải thảm đỏ” cho quân Mỹ ra khỏi Việt Nam. Nhưng, quân Mỹ cố bám lấy. Cuộc chiến đấu buộc phải diễn ra mà thiệt hại cho cả hai bên về vật chất và tinh thần không biết đến bao giờ mới hàn gắn lại được. Hồ Chí Minh quý từng giây phút hoà bình, khát khao hoà bình. Nhưng, cũng như trong cuộc kháng Pháp, ông biết đâu là giới hạn của sự chịu đựng, biết nguyên tắc “chơi” với kẻ xâm lược. Hoà bình của Hồ Chí Minh là một loại hoà bình chân chính. ở trong con người Hồ Chí Minh, thông điệp hoà bình cho mỗi một dân tộc, cho cả toàn thế giới là như thế.

Thông điệp đó, cái nguyên tắc về hoà bình của Hồ Chí Minh đó cần được phát huy trong thời buổi hiện nay. Có những chuyện tréo ngoe. Để dập tắt đổ máu, nhân danh hoà bình, nhân danh dân chủ, tự do, người ta lại đi đổ xô bán vũ khí cho các nước hiện đang đổ máu, hoặc những nước đang gầm ghè nhau, đang ở bên miệng hố chiến tranh. Người ta đang lấy luật này luật nọ để hành xử không công bằng trong nhiều quan hệ quốc tế. Nước này có vũ khí hạt nhân, thử vũ khí hạt nhân thì có vẻ lo lắng đấy, nhưng rồi không sao, nhưng nước kia mà có thì không, nhất thiết không thể được, v.v. Khái niệm hoà bình, hoà bình chân chính đang bị thử thách một cách nghiệt ngã.

Hồ Chí Minh nói: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Độc lập, tự do đó là độc lập, tự do trong một nền hoà bình chân chính, trong sự hợp tác, hữu nghị của tất cả các dân tộc trên thế giới — dù dân tộc lớn hay dân tộc nhỏ.

Hồ Chí Minh phấn đấu cho các dân tộc xích lại gần nhau, giao lưu, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển. Cuộc đời của Hồ Chí Minh chính là một biểu tượng, hiện thân về cái đó. Mà điều đó lại bắt nguồn từ sinh khí của dân tộc, từ truyền thống của dân tộc Việt Nam, một dân tộc hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, tự do, công lý.

Có thể ai đó trong người Việt Nam cảm thấy bình thường, nhưng đối với thế giới, xét trong các vấn đề toàn cầu thì thấy rất thú vị, thú vị ở chỗ Hồ Chí Minh chính là người nêu ra và thực hành tích cực nhất cho việc bảo vệ môi trường, sinh thái.

Khỏi phải nói, vấn đề này hiện đang trở nên bức xúc, nhức nhối đến mức nào. Trong thời kỳ phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, con người đã tạo ra khối lượng vật chất khổng lồ cho chính mình đồng thời lại tạo ra những tố chất hại mình. Đó là sự xâm hại môi trường sinh thái. Hình như Ph. Ăngghen thì phải, đã viết đại ý rằng, chúng ta không nên quá ảo tưởng vào những chiến thắng của mình đối với thiên nhiên; thiên nhiên sẽ trả thù chúng ta cho mỗi “chiến thắng” ấy.

Thế giới đang trở nên bất an hơn bao giờ hết. Sự xâm hại tự nhiên chính là hành vi phản văn hoá. Cái gọi là “sự thắng lợi” chinh phục tự nhiên của con người chính là sự tác động gây hiệu ứng phản lại của tự nhiên. Chinh phục tự nhiên không như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác. Bản thân con người là một thực thể của tự nhiên. Nếu gọi là sự chinh phục một cách đúng đắn của con người đối với tự nhiên thì đòi hỏi con người phải nhận thức đúng đắn quy luật của tự nhiên để hành xử cho đúng. Con người sẽ đánh mất khả năng chủ thể văn hoá khi thoát ra khỏi hệ thống điều chỉnh của tự nhiên — đó là sự cân bằng sinh thái. Chính con người hiện đại, mặc dù nắm được khoa học và công nghệ, lại là yếu tố phá vỡ một cách tệ hại nhất sự cân bằng sinh thái. Chính sự thống nhất của con người với tự nhiên tạo ra bản sắc văn hoá của mỗi vùng, miền.

Hiện thời, trên thế giới, người ta đã “quy” phát triển bền vững vào 6 nội dung:

1. Tăng trưởng kinh tế;

2. Công bằng xã hội;

3. Bảo vệ môi trường;

4. Phát triển văn hoá, giáo dục, công nghệ;

5. Bảo đảm tự do, dân chủ;

6. Phát triển con người.

Trong 6 nội dung đó, người ta lại hay tập trung vào ba nội dung có tính “trụ cột”, đó là Tăng trưởng kinh tế; Công bằng xã hội; Bảo vệ môi trường tự nhiên.

Quan niệm trên đây chính là phản ánh khái niệm phát triển, cho rằng, Phát triển là quá trình qua đó một xã hội người cùng nhau phấn đấu đạt tới chỗ thoả mãn được các nhu cầu mà xã hội ấy cho là cơ bản và hiện đại. Hoặc như quan niệm của Hội nghị của Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển họp ở Riô đơ Janerô (Braxin) năm 1992: Phát triển bền vững là một sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại tới khả năng đáp ứng những nhu cầu của các thế hệ tương lai.

Hồ Chí Minh đã phát động Tết trồng cây từ cuối năm 1959. Hồ Chí Minh cho đăng trên báo Nhân Dân, số 2082, ngày 28-11-1959 bài “Tết trồng cây”, trong đó cho rằng: “Việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”; rằng, miền Bắc hiện có độ 14 triệu người, trong đó có 3 triệu trẻ em thơ ấu, còn 11 triệu người từ 8 tuổi trở lên đều có thể trồng cây; như vậy là mỗi tết trồng được độ 15 triệu cây; từ năm 1960 đến năm 1965 là năm cuối cùng của Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, chúng ta sẽ có 90 triệu cây, vừa có cây ăn quả, cây có hoa, vừa có cây làm cột nhà; và trong vòng 10 năm, nước ta sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hoà hơn, cây gỗ đầy đủ hơn, đời sống nhân dân được cải thiện hơn.

Dịp cuối năm 1959, Hồ Chí Minh lại kêu gọi toàn dân hưởng ứng phong trào một tháng trồng cây (từ ngày 6-1-1960 đến ngày 6-2-1960) và mong nhân dân duy trì bền bỉ “Tết trồng cây” hằng năm.

Đi thăm các địa phương, các cơ quan, Hồ Chí Minh thường trồng cây. Hồ Chí Minh tham khảo ý kiến của các chuyên gia lâm nghiệp để có thể trồng cây gì phù hợp nhất. Theo tư vấn của các chuyên gia, Hồ Chí Minh hay trồng nhất là cây đa. Đây là loại cây nếu trồng ở nơi công cộng thì rất thích hợp, nó tỏa bóng mát nhiều, ít sâu bệnh, dễ sống, tuổi thọ lâu (khoảng 500-700 năm). Hồ Chí Minh quan niệm trồng cây nào phải sống cây ấy, cho nên ông trồng “thật”, ông tưới nước thật chứ không phải trên ngực áo có bông hoa giả, xẻng xúc đất thì quấn giấy xanh giấy đỏ để quay phim, chụp ảnh, và khi về Hà Nội Hồ Chí Minh thường hỏi thăm cây do mình trồng còn sống không, nó đang như thế nào.

Tới thăm xã Nam Cường, một xã mới thành lập do lấn biển của huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, đang đi trên đường làng, Hồ Chí Minh thấy hai hàng cây mới trồng. Hồ Chí Minh cho rằng, hình như cán bộ và nhân dân ở đây mới trồng vội hôm qua để đón mình (Ông Ngô Duy Đông, Bí thư Tỉnh uỷ Thái Bình lúc đó thừa nhận đúng là như vậy). Hồ Chí Minh dặn rằng, phải rào lại khỏi bị trâu bò phá, và trồng cây nào phải cố gắng chăm sóc để tất cả đều sống.

Lạ thay và thật thú vị biết bao, đọc trong tài liệu Tuyệt đối bí mật, tôi thấy quan điểm của Hồ Chí Minh về môi trường sinh thái – vấn đề toàn cầu – rất rõ. Hồ Chí Minh đề cập trực tiếp vào vấn đề xử lý thi hài của mình khi qua đời. Đến bản viết năm 1966, Hồ Chí Minh viết lại như bản viết năm 1965 một đoạn: “Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là “hoả táng”. Tôi mong rằng cách “hoả táng” sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn”.

Đến cái chết của mình mà còn nghĩ đến giữ vệ sinh và để khỏi tốn đất nông nghiệp, nghĩ đến trồng cây, nghĩ đến môi trường sinh thái thì đến nay tôi chỉ thấy Hồ Chí Minh chứ không thấy người thứ hai.

Câu chuyện trên đây thật nhiều tầng ý nghĩa. Nhưng, xét riêng về mặt môi trường sinh thái mà nói, thì quả là đáng khâm phục về tư chất của con người, một con người luôn luôn hướng tới việc nêu lên và giải quyết những vấn đề toàn cầu.

Dẫn ra một số điểm trên đây để thấy rõ thêm rằng, Hồ Chí Minh chính là con người của văn hoá, một nhà văn hoá hoạt động chính trị, một con người có tư duy luôn ở tầm quốc tế.

Phiên họp lần thứ XXIV Đại Hội đồng UNESCO năm 1987 tại Pari đã thực hiện được một sứ mệnh lớn lao, có ý nghĩa quan trọng đối với việc làm cho các dân tộc hiểu biết nhau hơn, làm cho con người xích lại gần nhau hơn, làm cho thế giới đẹp hơn lên khi khuyến nghị các quốc gia thành viên có những hoạt động kỷ niệm, tưởng niệm những danh nhân, những sự kiện văn hoá theo tiêu chí của mình. Chỉ điều này mới có ý nghĩa văn hoá lớn lao, chứ không phải là sự chống đối, sự quậy phá của những người có đầu óc thâm thù đối với sự nghiệp của Hồ Chí Minh, của nhân dân Việt Nam rồi đi đến ghét bỏ Hồ Chí Minh.

[1] Tham khảo báo Quân đội nhân dân, số Xuân Canh Ngọ, 27-1-1990.

[2] Những đoạn trích dẫn Nghị quyết này là từ tài liệu lư­u tại Uỷ ban UNESCO của Việt Nam.

“Chân trần, chí thép” – Kỳ 3: Bước qua ngưỡng cửa hận thù

Tên tác giả cuốn sách gắn với một bi kịch của gia đình ông và một “hành trình hòa giải với kẻ thù cũ”, như ông tự giới thiệu: “Tất cả cánh đàn ông trong gia đình tôi đều đã tham gia cuộc chiến tranh Việt Nam.

Tác giả từng phục vụ 26 năm trong hải quân và thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, về hưu với cấp hàm trung tá và là cố vấn an ninh cho Chính phủ Mỹ. Ông từng chiến đấu ở Việt Nam, Panama và vùng Vịnh (Trung Đông).Ông xuất hiện như một trong số 56 nhân vật quân sự hàng đầu Mỹ trong cuốn sách Dẫn đường khá nổi tiếng của nhà văn cựu binh Al Santoli, ghi lại các kinh nghiệm chiến đấu đáng kể nhất từ chiến trường Việt Nam đến Somalia

Vào năm 1988, người anh của tôi đã chết do tác động của chất độc da cam, bị nhiễm khi còn chiến đấu tại chiến trường Việt Nam. Thật sự là một nỗi trớ trêu của cuộc chiến đối với gia đình tôi, vì chính cha tôi là đô đốc Elmo R. Zumwalt, người chỉ huy tất cả lực lượng hải quân Mỹ ở Việt Nam, đã ra lệnh rải chất độc da cam dọc bờ sông rạch vùng đồng bằng sông Cửu Long, đã đưa đến cái chết của người anh tôi.

Nhiều năm sau cái chết của anh mình, tôi vẫn còn chua chát hơn về cuộc chiến và kẻ địch tôi từng đánh nhau ở Việt Nam. Trong khi cha tôi đấu tranh để giành bồi thường cho cựu binh (Mỹ) bị ung thư do nhiễm chất độc da cam – một điều mà chính quyền Mỹ đến thời điểm đó vẫn chưa nhìn nhận – tôi vẫn còn đứng bên lề… Sau nhiều ngày gặp gỡ ở Hà Nội, tôi thú nhận mình càng căm ghét những kẻ thù cũ từng gây ra cái chết của không ít người Mỹ…”.

Đau khổ không chừa một ai …

* Tuổi Trẻ: Sau cuộc chiến tranh Việt Nam, hầu như toàn thể thành viên gia đình ông đã thay đổi thái độ và hòa giải với Việt Nam, chỉ trừ ông. Đâu là những điều khó khăn ông gặp phải trong tiến trình hòa giải đó?

James G. Zumwalt: Gia đình của chúng tôi không bị nhiều nỗi ám ảnh về cuộc chiến Việt Nam cho đến ngày người anh tôi lâm bệnh và qua đời (do nhiễm chất độc da cam). Chỉ sau cái chết đó gia đình tôi mới chuyển đổi thái độ.

Bi kịch trong cuộc sống xảy đến mỗi người một khác. Trong trường hợp của cha tôi (đô đốc Mỹ Elmo Zumwalt), ông đã biến bi kịch đó thành sức mạnh hướng thiện. Ông đã hoạt động cật lực để mọi người quan tâm đến vấn đề chất độc da cam, đến tình trạng bi đát của người bị nhiễm độc và đã thành công đòi chính quyền Mỹ bồi thường cho các nạn nhân (Mỹ).

Trớ trêu thay, về phần mình tôi lại biến cái chết của anh tôi thành một sức mạnh tiêu cực, chua chát và thù hận cuộc chiến và kẻ thù cũ của mình. Sẽ rất khó khăn đối với một người mang nặng lòng căm thù và uất hận để có thể nhìn ra sự thật. Cho đến ngày tôi sang Việt Nam sau chiến tranh và gặp gỡ một y sĩ bộ đội miền Bắc đã mất người em ruột của mình trong chiến tranh, để ngộ ra rằng đau khổ và bi kịch xuất hiện ở cả hai phía của cuộc chiến. Đó chính là thời điểm hòa giải xảy ra đối với bản thân tôi.

* Hơn 30 năm đã trôi qua sau cuộc chiến, ông có nghĩ rằng những người từng phạm sai lầm trong cuộc chiến tranh Việt Nam, ví như trung úy Calley (chỉ huy vụ thảm sát Mỹ Lai), nên công khai xin lỗi nạn nhân Việt Nam và tìm cách giúp đỡ họ?

– Tôi không thể trả lời thay trung úy Calley. Riêng tôi nghĩ rằng tự bản chất những ai từng phạm tội ác trên chiến trường đều rất khó nói lời xin lỗi, do họ không cho những điều họ làm là sai trái. Oái oăm thay, những người đó rất khó nhìn thấy mình có lỗi.

Tuy vậy, việc chìa bàn tay hòa giải với kẻ thù cũ và xem như những người anh em sẽ cho họ hiểu rằng cuộc đời con người là quá ngắn để cho lòng hận thù và niềm cay đắng mãi ngự trị. Khi Calley phạm tội ác chống nhân dân Việt Nam, hành động đó cũng để lại một vết nhơ cho quân đội Mỹ. Không thể xem hành động của Calley là tiêu biểu cho cách thức tiến hành chiến tranh của quân đội Mỹ.

Chiến tranh dễ làm lộ rõ hơn những cái xấu xa nhất của con người, như trường hợp Calley, nhưng nó cũng làm cho phần tốt đẹp trong con người xuất hiện, như trường hợp của Hugh Thompson (người lái chiếc trực thăng khi xảy ra vụ thảm sát, đã hạ máy bay xuống giữa toán lính Mỹ và dân làng và dọa sẽ bắn bỏ lính Mỹ nếu họ tiếp tục bắn giết người dân tay không). Như một người lính Mỹ, tôi thật sự xấu hổ cho hành động hèn hạ của Calley vào cái ngày hôm đó và xin lỗi nhân dân Việt Nam về những gì đã xảy ra.

Để “chân trần” xây nên quốc gia phồn thịnh

* Chất độc da cam hiện vẫn tiếp tục gây tác hại trong xã hội Việt Nam, ông có nghĩ rằng chính quyền và nhân dân Mỹ nên giúp đỡ thiết thực nạn nhân chất độc da cam ở Việt Nam cũng như nạn nhân ở Mỹ?

– Cha tôi và bản thân tôi trong các năm qua đã mong được hỗ trợ Chính phủ Việt Nam đưa ra vấn đề chất độc da cam, nhưng phải nói là chưa mấy thành công. Muốn giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam tại Việt Nam trước hết phải nhận dạng được họ.

Năm 1994, khi chúng tôi đưa ra vấn đề này đã xuất hiện hai thái cực giữa chính quyền Mỹ và Việt Nam – phía Mỹ cho rằng không có mối tương quan nào giữa chất độc da cam và các bệnh ung thư; còn phía Việt Nam lại cho rằng tất cả quái thai và bệnh tật liên quan đều do chất độc da cam gây ra. Thường thì sự thật nằm đâu đó giữa hai thái cực này.

Nhưng bước đầu tiên để giúp được nạn nhân chất độc da cam là làm sao hai bên phải cùng xác định được đâu thật sự là những nạn nhân. Muốn làm được điều đó, hai chính phủ phải lập được một ủy ban xét duyệt y học hỗn hợp để cùng xem xét các chứng cứ xác định được trường hợp ung thư hoặc bệnh hoạn nào liên quan đến chất độc da cam. Có được bước khởi động như vậy mới hi vọng chính quyền Mỹ cùng các công ty hóa chất liên quan nhận ra trách nhiệm của mình và lập một quỹ trợ giúp nạn nhân Việt Nam.

* Là một người từng lãnh đạo doanh nghiệp, ông có lời khuyên nào giúp một đất nước “chân trần” có thể sử dụng hữu hiệu “ý chí thép” của mình để phát triển kinh tế thời bình và hội nhập thành công vào nền kinh tế thế giới?

– Có nhiều người tài giỏi hơn tôi để có thể cố vấn cho Việt Nam trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ một đất nước từng tạo ra một thế hệ những con người thông minh và sáng tạo trong chiến tranh, chắc thừa khả năng biến một đất nước “chân đất” trở thành một quốc gia có nền kinh tế phồn thịnh. Điều này đòi hỏi sự dấn thân bằng “ý chí thép” của mọi người dân và chính quyền phải thúc đẩy được nhân dân mình thể hiện được tư duy sáng tạo đó.

NGUYỄN HỮU THÁI thực hiện

“Chân trần, chí thép” – Kỳ 2: “Cận cảnh bóng đêm”

TT – Nhiều ngày trước cuộc tấn công, một cuộc xâm nhập thăm dò đã được tiến hành. Đây là thủ tục thông thường cho các mục tiêu quan trọng. Chỉ cần bố trí một toán thám sát hai người để khỏi phải ảnh hưởng đến toàn đội cảm tử. Họ có nhiều nhiệm vụ: thử hệ thống phòng thủ và an ninh, sắp đặt lối vào lẫn lối ra các kho vũ khí và xác định được khoảng thời gian di chuyển đến mục tiêu đã định để đặt chất nổ.

Mọi hoạt động của toán cảm tử trong ngày tấn công sẽ được toán thám sát này thực hiện. Đến ngày G. họ sẽ là lực lượng dẫn đội cảm tử xâm nhập căn cứ.

Khi màn đêm buông xuống, toán thám sát hai người bắt đầu xâm nhập căn cứ Long Bình. Lần từng bước một, họ di chuyển hướng về vòng đai ngoài. Những bụi cỏ cao đã che giấu được họ. Hàng rào được căng ra, vừa vặn cho hai người lọt vào, rồi trả lại nguyên hình dáng cũ chứ không cắt. Nếu cắt rào sẽ là dấu hiệu có người xâm nhập và đánh mất yếu tố bất ngờ của cuộc tấn công sắp tới.

Vượt qua được vòng rào ngoài, toán thám sát vừa tìm cách bò chầm chậm qua bãi mìn, vừa không để lính trên tháp canh phát hiện. Họ phải định vị được mìn và rào kẽm gai cũng như vô hiệu hóa bằng cách gắn một cây kẽm vào từng trái mìn. Sau đó họ trườn vào mục tiêu tiếp theo – vòng rào thứ hai. Toán xâm nhập lặp lại công việc xác định là vô hiệu hóa mìn và hỏa châu đặt trên bãi đất giữa hai vòng rào. Cứ thế cho đến khi họ dần tạo được một lối vào căn cứ.

Cuộc xâm nhập thăm dò của thám sát bắt đầu lúc 8 giờ tối với mục tiêu là mở được một nửa đoạn đường, đến giữa vòng rào thứ năm và thứ sáu lúc 11 giờ khuya. Thời biểu đó đã đạt được. Trời vẫn còn tối nhưng toán không muốn đến quá gần bên trong vào lúc trời sáng. Hai người đào hầm, chui vào ẩn trú và chờ đợi…

Trời hửng sáng, căn cứ Long Bình lại bắt đầu nhộn nhịp như thường lệ. Những kẻ phòng thủ không hề hay những kẻ xâm nhập đang nằm cạnh mình. Toán trinh sát yên lặng nghỉ cả ngày trong nơi ẩn nấp, sát nách đối phương.

Khi màn đêm buông xuống, họ tiếp tục chuyển qua các vòng rào còn lại. Sau nửa đêm họ đã chui được qua vòng rào cuối cùng và tiến gần các kho. Khi đã vào được bên trong, họ không để phí thì giờ mà bắt tay ngay vào việc ghi nhận khoảng cách các mục tiêu đã định và tính toán thời gian cần thiết để đến được các nơi đó. Nhiệm vụ hoàn tất, toán thám sát rút lui cũng yên lặng như khi họ tiến vào, lần lượt chui ra chín vòng rào.

Rạng đông

Trong khi toán thám sát rút khỏi căn cứ Long Bình, một người quan sát được chốt ở một nơi xa căn cứ để kiểm tra con đường mới xâm nhập. Công việc này nhằm bảo đảm những kẻ phòng thủ bên trong không cản trở con đường đó trước giờ tấn công.

Nhằm bảo đảm được thời biểu, đội đặc công khởi sự hai ngày trước cuộc tấn công. Lúc 8 giờ tối, toán thám sát hôm trước nay lại bắt đầu xâm nhập căn cứ Long Bình. Lần này họ dẫn theo thêm năm quân cảm tử – mỗi người đều mang theo chất nổ và dụng cụ định giờ. 20 người tham gia cuộc hành quân. Mỗi toán gồm 3-4 người, tùy theo mục tiêu được chỉ định trong căn cứ. Mục tiêu càng lớn cần nhiều chất nổ hơn, như vậy cũng phải phái thêm một người mang chất nổ.

Toán thám sát dẫn đầu chui qua vòng rào ngoài. Lần này họ cắt một lỗ lớn để một người có thể chui qua lọt. Người cuối cùng phải nối lại rào kẽm gai để che dấu lối vào. Toán dẫn đầu tiếp tục tiến vào con đường họ đã vào mấy hôm trước. Họ vẫn kiểm tra cẩn thận mặt đất để chắc chắn không ai đặt thêm mìn hoặc đã phát hiện lần vào trước của họ.

Một khi các toán đặc công tiến vào Long Bình, đại tá Đường không còn liên lạc được với họ. Các thành viên trong toán yên lặng báo hiệu cho nhau bằng tay. Khi toán dẫn đầu đến đoạn nửa đường nằm giữa vòng rào thứ năm và sáu, họ dừng lại và đào hầm ẩn nấp qua đêm. Khi bình minh ló dạng, họ đã an toàn nằm nơi ẩn nấp. Một ngày bình yên. Ngay sau chạng vạng tối, họ lại tiếp tục tiến vào.

Vào nửa đêm, đội đã lọt qua được vòng rào cuối cùng. Mỗi toán vội đến các mục tiêu được chỉ định, thận trọng tránh né các toán tuần tra trong căn cứ. Chất nổ được gắn, sử dụng dụng cụ định giờ MI-8. Dụng cụ này không lớn hơn ngón tay người, sẽ kích hoạt chất nổ nhiều giờ sau khi họ đã rút lui khỏi căn cứ an toàn. Họ vặn kim đồng hồ cho nổ vào ba giờ sau và các toán bắt đầu thoái lui.

Các toán phải tập hợp lại tại một điểm nằm ngoài vòng rào cuối cùng trước khi cả đội cùng rút lui. Chỉ cho phép thời hạn 5 phút – không thể dài hơn. Toán nào không đến đúng hẹn, các toán khác vẫn rút lui mà không có họ.

Cuộc hành quân diễn ra suôn sẻ. Mỗi toán hoàn thành nhiệm vụ được giao và đến nơi tập kết đúng hẹn. Cuộc rút lui bắt đầu: người sau bước theo dấu chân hoặc lần theo dấu tay người đi trước trên con đường đã tiến vào khu căn cứ. Và lần này đường rút lui nhanh hơn lúc tiến vào. Ra khỏi vòng rào cuối cùng, họ rút về bộ chỉ huy trung đoàn. Tại đó, người chỉ huy đội đặc công báo cáo cho đại tá Đường là đã hoàn thành nhiệm vụ.

***

Vào bình minh hôm đó, đại tá Đường cùng vị chỉ huy sư đoàn đứng tại một vị trí cao nhìn xuống căn cứ Long Bình. Họ luôn xem đồng hồ trên tay. Một chuỗi những tiếng nổ long trời lở đất: 30.000 tấn vũ khí làm sáng rực cả bầu trời. Cơn chấn động lớn đến nỗi ở xa 30km còn cảm nhận được.

Ngày ló dạng, đại tá Đường nhìn thấy một đám khói khổng lồ cuồn cuộn bốc lên từ căn cứ Long Bình. Hài lòng với kết quả đạt được, ông cùng vị chỉ huy biến mất vào khu rừng già.

“Chân trần, chí thép” – Kỳ 1: “Chào búp bê!”

Quyển sách Bare feet, iron will (tạm dịch “Chân trần, chí thép”) của tác giả James G. Zumwalt phát hành tại Mỹ. Ông là một cựu binh Mỹ, tự thừa nhận mình “chứa nhiều định kiến hận thù” sau cuộc chiến.

( Cái mới nhất của quyển Bare feet, Iron will là câu chuyện “phía bên kia” đượckể lại để người Mỹ hiểu thêm về cách mà “đối thủ” chiến thắng. Sách gồm chín phần, trong đó tác giả lần lượt kể về những khó khăn y tế, những cố gắng để tìm cơ may sống sót trong thế yếu hơn, những nỗi đau mất mát của thường dân, những kiểu “giải trí” từ lực lượng văn công giải phóng… Nhưng nhấn mạnh nhiều nhất là biểu tượng của “ý chí thép”: đường mòn Hồ Chí Minh và địa đạo Củ Chi. Đặc biệt, ông đánh giá có một sự đọ sức về ý chí ở cường độ cao qua các công trình đường mòn Hồ Chí Minh dài 18.000km đã đưa người, vũ khí từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam và mạng lưới 340km đường hầm ngay sát nách Sài Gòn của địa đạo Củ Chi.Và câu chuyện bất ngờ nhất dành cho ông: ông phỏng vấn một người từng lên kế hoạch ám sát cha mình năm 1969.)

Cuối năm 1965, lực lượng của đại tá Sáng giao tranh với các đơn vị chiến đấu vào hàng xuất sắc nhất của quân đội Mỹ là sư đoàn dù 101 tại Plây Me. Sau cuộc giao tranh, quân của ông vội lùng sục chiến trường tìm tang vật có giá trị tình báo. Kết quả là họ thu được một con búp bê cao su kích cỡ bằng người thật, trông y hệt một phụ nữ!

“Tâm hồn” cuộc chiến

Nhìn thoáng qua, vật như vậy tưởng như không có giá trị về mặt tình báo, nhưng một sĩ quan tình báo Việt Nam lại nghĩ khác. Theo đánh giá của ông, sự xuất hiện của con búp bê cho thấy rõ tinh thần đội quân thiện chiến nhất của Mỹ này.

Theo đánh giá của người sĩ quan tình báo Việt Nam, sự có mặt của con búp bê cao su tại chiến trường chỉ ra rằng người lính Mỹ không có khả năng chịu đựng hi sinh giống như bộ đội Việt Nam. Đối với ông, con búp bê thể hiện điểm yếu – rằng người lính Mỹ không thể phục vụ một năm tại Việt Nam mà không có vợ hoặc bạn gái “giả” đem theo bên mình. Tinh thần người lính Mỹ hướng về ngôi nhà và gia đình họ hơn là cuộc chiến Việt Nam. Khi chiến tranh kéo dài, người Mỹ sẽ đánh mất ý chí chiến đấu.

Con búp bê cao su, chiếc bật lửa Zippo vẽ hình phụ nữ khỏa thân… cho thấy người Mỹ quan tâm đến những gì họ bỏ lại đằng sau chứ không phải cái ở trước mặt. Trong khi binh lính Mỹ chỉ nghĩ đến ngày rời khỏi Việt Nam, bộ đội Việt Nam lại nghĩ đến cách làm sao tống khứ họ khỏi đất nước mình.

Lần đầu tiên đại tá Sáng tin rằng người Mỹ có thể sẽ bị đánh bại!

Gặt lúa và tình báo

Đội quân Việt cộng mà quân Mỹ lẫn Việt Nam cộng hòa (Sài Gòn cũ) ngán ngại nhất là lực lượng đặc công. Năm 1972, đại tá Tống Viết Đường chỉ huy trung đoàn đặc công 113 – gồm hơn 1.000 chiến sĩ – được huấn luyện đặc biệt về nghệ thuật chiến tranh không quy ước. Ông đã phái một toán quân cảm tử tấn công kho chứa vũ khí lớn nhất của Mỹ là căn cứ Long Bình gần Biên Hòa.

Căn cứ Long Bình chiếm một khu vực rộng đến 50km2. Nhiều loại vũ khí và bom đạn được tàng trữ tại đây, từ đạn dược cho súng ống nhỏ đến đại pháo và bom mìn đủ loại. Tuyến phòng thủ gồm đến chín hàng rào kẽm gai, cao 2m. Khoảng cách vòng rào ngoài cùng đến vòng rào thứ hai dài mấy trăm mét, rộng hơn các khoảng cách còn lại. Khu vực gồm nhiều đồi thấp và suối nhỏ. Các tháp canh được sắp đặt đều đặn từ 200-500m, được bố trí khéo léo để có thể bắn chéo kẻ xâm nhập.

Nhằm bảo đảm an ninh và quan sát, người Mỹ đã đặt cả một hệ thống đèn pha soi từng góc cạnh cả mặt trước lẫn mặt sau vành đai phòng thủ. Các hộp thiếc gắn trên dây kẽm gai sẽ báo động nếu có ai đụng vào. Mìn bẫy dày đặc trên khu đất nằm giữa hai vòng rào phòng thủ. Chúng thường được thay đổi vị trí để đánh lạc hướng kẻ xâm nhập.

Hỏa châu báo sáng cũng được đặt ở đây. Ai lỡ chạm phải là hỏa châu sẽ tung lên cao hàng trăm mét, tự động tháo dù và rơi xuống soi sáng cả một khu vực rộng lớn. Các hầm cất giữ vũ khí trong căn cứ Long Bình được sắp đặt phân tán nhằm tránh bị cháy nổ dây chuyền. Cách 5 phút xe tuần tra kiểm tra khu vực. Ngoài ra còn có bộ binh mang theo chó bảo vệ.

Nếu các bãi mìn làm an tâm phía bảo vệ bên trong thì ngược lại chúng vô tình làm lợi cho kẻ xâm nhập từ bên ngoài. Do mìn được chôn dày đặc khoảng giữa các vòng rào, người ta không cắt cỏ được. Cỏ cao làm thành nơi ẩn nấp lý tưởng cho người xâm nhập. Vụ tấn công căn cứ Long Bình chỉ được chọn sau hai năm hoàn tất thu thập thông tin.

Ông Đường so sánh việc sử dụng tình báo để thu lượm tin tức về một mục tiêu với việc thu hoạch lúa gạo: “Khi gặt lúa ta không thể ăn ngay một lần. Nếu làm vậy ta sẽ chết đói trong tương lai. Tình báo giống như lúa gạo, phải được thu hoạch và cất giữ, chỉ nên đem ra dùng khi cần thiết.

Chúng tôi thường xuyên đưa người xâm nhập lúc ban ngày vào căn cứ để lấy tin tức. Đôi khi chúng tôi có thể lén đưa cả nhân viên của mình vào. Có nhiều cách làm. Một người giả vờ vào gặp một người bạn hoặc bà con, thật sự là để quan sát và ghi nhận tin tức liên quan, ví như ước lượng các khoảng cách và vị trí các khu vực kho. Cũng có khi một sĩ quan Việt Nam cộng hòa làm việc cho chúng tôi đem theo một sĩ quan bộ đội tình báo.

Thường thì người của chúng tôi có thể đi theo các toán công nhân địa phương, như phu khuân vác hoặc tài xế trung thành với cách mạng. Những công nhân này thường tình nguyện cung cấp tin tức về những điểm yếu trong hệ thống phòng thủ. Có khi vô tình mà cả những người trung thành với chính quyền Sài Gòn cũng cung cấp tin tức cho chúng tôi nữa”.

(James G. Zumwalt cho biết mọi người đàn ông trong gia đình ông đều tham gia cuộc chiến VN: cha ông, đô đốc hải quân Elmo R. Zumwalt, người đã hạ lệnh rải chất độc da cam trên các dòng sông ĐBSCL; anh trai ông, một cựu sĩ quan hải quân bị ảnh hưởng chất độc da cam mất năm 1988; còn ông tham gia lực lượng hải quân và xuất ngũ với quân hàm trung tá.

Trong lời tự giới thiệu, James G. Zumwalt đã viết: “Vào cuối năm 1994, tôi bắt đầu đi về như con thoi giữa Mỹ và Việt Nam, đã phỏng vấn gần 200 người, gồm cả bộ đội lẫn các thành viên gia đình họ, nhằm tìm hiểu về những gian khổ và nỗi đau họ đã gánh chịu.

Các cuộc phỏng vấn được tiến hành với những người nổi tiếng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tướng Đồng Sĩ Nguyên (chỉ huy đường mòn Hồ Chí Minh), tướng Trần Văn Trà (chỉ huy lực lượng Việt cộng), cũng như những người dân thường từng kinh qua gian khổ”. )

CHỐNG CỘNG HẢI NGOẠI, HỌ LÀ AI?

xichloviet

Gần bốn chục năm sau chiến tranh, nhiều người ngạc nhiên là tại sao vẫn còn những người chống cộng một cách hung hăng dù rằng chẳng đi dến đâu cả. Họ đuợc gì khi biểu tình chống cộng thì ít mà chống nhau thì nhiều? Tại sao họ cứ ra sức tố nhau việt gian , tay sai, bưng bô, chửi nhau không còn từ ngữ thô lỗ nào không dùng đến?  Tại sao họ cứ bám lấy cái lá cờ vàng để lấy cớ mà chống nhau, nhục mạ nhau? Dĩ nhiên họ phải nói là họ vì đất nước đồng bào. Nhưng việc làm của họ đã cho thấy đất nước đồng bào đối với họ chẳng là cái gì cả. Đất nước càng mạnh càng giàu họ càng tức. Đồng bào càng no cơm ấm áo họ càng hận. Đấy là một nghịch lý mà chỉ có thể lý giải được khi nhìn vào cái nơi được xem là thủ đô tị nạn ở Mỹ.

Những sự kiện xảy ra hàng ngày ở đây là cuốn phim sống động nhất mà khi xem không cần giải thích ai cũng sẽ thốt lên rằng : ” À thì ra nó như thế” . Nếu đất nước VN ngày nay là ngôi nhà có vườn hoa có phòng khách phòng ăn phòng ngủ tiện nghi thì họ chỉ vào cái toa lét để mô tả nó, lấy đó để tố CS. Họ không ý thức được rằng thời đại công nghệ thông tin với 30% dân số VN sử dụng internet thì họ là thằng hề không hơn không kém. Và chúng ta được xem miễn phí những phim hài nhiều tập.

Cái nơi mệnh danh là thủ đô tị nạn này phản ánh trung thực nhất cái bản chất của những người chống cộng hải ngoại  Hầu hết những người này chạy sang Mỹ vì trốn đói ở VN không hề có sự đe dọa hay nguy cơ nào từ CSVN. Ngay cả những sĩ quan  cải tạo sang Mỹ theo diện HO, một  thỏa thuận giữa chính phủ VN và Mỹ cũng muốn tìm đến Mỹ vì cuộc sống Mỹ sung túc hơn mà thôi. Nó  là một cuộc di dân trốn đói như những cuộc trốn chay  khác suốt hơn một thập niên sau chiến tranh. Tuy nhiên nếu mang danh di dân trốn đói thì hèn quá cho nên họ phải khoác lên từ ngữ thật kêu là “tị nạn CS”  Vô số tướng tá và quan chức cao cấp chế độ cũ đã về và sống ở VN hoàn toàn không có nguy cơ và đe dọa nào từ chính quyền CSVN. Cho nên càng ngày những luận điệu tị nạn, tố cộng của họ càng trở nên trơ trẽn.

Nạn ở đây đối với họ chính là nạn đói mà cả nước cùng gánh chịu không phải riêng họ . Sau chiến tranh,  gia sản của đất nước là một miền Bắc kiệt quệ một miền Nam phi sản xuất không còn viện trợ, sự đe dọa từ phương Bắc, sự quấy rối của bọn Polpot phía Tây Nam và  cả những hoạt động “phục quốc” của đám tàn quân càng làm cho tình hình vô cùng bi đát.  Miền Bắc phải ăn bo bo một loại thức ăn chỉ dành cho gia súc đã đành, miền Nam đựợc xem là vựa lúa cũng phải ăn độn. Đối với những người sống ở thành thị quen với tiện nghi thì quả thật đó là cái “nạn” phải tìm cách “tị nan” ở nột nước nào đó sướng hơn và họ tìm cách vượt biên.  Cái suy nghĩ rất đơn giản của họ là chế độ cũ họ  có bếp gas có xe hơi xe máy ăn ngon mặc đẹp thì bây giờ phải xài bếp dầu đi xe đạp,  vải vóc thiếu thốn, thực trạng đó họ đổ cả lên đầu chính quyền CS cho đó  là hậu quả của sự “giải phóng” lấy đó làm cái cớ để chống cộng cho đến nay. Họ thưa biết rằng vực dậy một đất nước như thế cần có sự đồng cảm và chia sẻ của toàn dân. Nhưng  họ  tìm mọi cách bỏ chạy.

Lý do chính họ chống CS và chống luôn cả đất nước vẫn chính là sự hận thù CS đã tước mất của họ những quyền lợi  họ được được huởng khi còn chiến tranh, họ muốn con cháu họ cũng phải thù như thế.  Họ nhồi nhét tinh thần cực đoan cho con cháu họ để hình thành những lớp  người thế hệ thứ hai thứ ba chỉ biết chống cộng và ủng hộ lá cờ vàng như một con robot mà hoàn toàn dốt nát lịch sử.  Họ sợ sự thật lich sử nên luôn tìm cách xuyên tạc lich sử. Nhưng cái mà họ không thể làm nổi là bưng bít thông tin. Để ngăn chận những gì “có lợi cho CS”  buộc họ phải sử dụng luật giang hồ cả vú lấp miệng em, lấy thịt đè người để khống chế những người bắt đầu chán ngán với cái chính nghĩa cờ vàng.

Một VNCH thu nhỏ thượng vàng hạ cám đang hiện diện ở Bolsa .   Cứ nhìn vào đây để biết họ là ai.

Đài RFA: Người Việt Nam hài lòng với cuộc sống hiện tại

Kết quả cuộc tìm hiểu đánh giá đời sống người dân Việt Nam về cuộc sống  hiện nay do Đài RFA thực hiện cho thấy, đa số người dân Việt Nam cảm thấy thoải mái và vui vẻ.

Người dân trong nước nhận xét như thế nào về cuộc sống ở Việt Nam hiện nay? Họ hài lòng điểm nào? Chưa thoả mãn điều gì, và mong đợi những gì trong cuộc sống? Đó là những câu hỏi được đặt ra bởi đài phát thanh Á châu Tự do RFA (Radio Free Asia), trong cuộc tìm hiểu đánh giá của người dân Việt Nam về cuộc sống trong nước hiện nay.

Để thực hiện cuộc điều tra này, phóng viên RFA đã trao đổi với một số người dân tại các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và cả người dân vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh.

Anh Luân, ở Hà Nội, người thường xuyên đi công tác và sống dài ngày tại nhiều nước trên thế giới, nói: “Đi nhiều nơi trên thế giới nhưng mình vẫn thích quay về Việt Nam sống…cuộc sống ở Việt Nam làm  mình thấy tương đối thoải mái, ngoài công việc đi làm hàng ngày, mình có thời gian cho cá nhân, gia đình, có thể vui chơi giải trí. Đời sống ở nước ngoài nhiều áp lực, quá căng thẳng, miệt mài chạy theo đồng tiền. Rất nhiều người ngoại quốc công tác tại Việt Nam rất thích cuộc sống ở đây. Cả những Việt kiều đi ra nước ngoài rồi khi về nước vẫn cảm thấy thích sống ở Việt Nam hơn…”

Đài RFA cũng dẫn lời chị Thư, một công nhân may tại thành phố Hồ Chí Minh, chị Thu cho biết: “Mình thích ở Việt Nam vì đời sống thoải mái, không bị gò bó, căng thẳng vì áp lực công việc và tiền bạc vật chất. Ở đây, nếu chịu khó làm ra tiền thì sống thoải mái, đời sống tinh thần dễ chịu…”

Ông Bảy Mừng, một nông dân quanh năm chân lấm tay bùn ở huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, khi được hỏi  cũng cho rằng, hiện ở Việt Nam, đời sống tại nông thôn vẫn còn vất vả, khó khăn, mức sống thấp, thu nhập thấp nhưng cuộc sống ở nông thôn ổn định, thoải mái về mặt tinh thần.

“Tôi rất hài lòng với cuộc sống hiện giờ. Tôi chỉ hy vọng làm sao đất nước đừng có chiến tranh, kinh tế phát triển cho đời sống người dân đi lên”, ông Mừng nói.

Mới đây, trong nghiên cứu chỉ số hành tinh hạnh phúc do Quỹ kinh tế mới (NEF) thực hiện, Việt Nam là nước đứng đầu Châu Á, xếp thứ 12 trong 178 nước và lãnh thổ. Bảng chỉ số này gồm có sự hài lòng với cuộc sống, tuổi thọ, ảnh hưởng môi trường – tức diện tích đất cần có để người dân sống trong điều kiện tốt và chỉ số tiêu thụ năng lượng.

Ông Andrew Simms, giám đốc chính sách của NEF, nói rằng chỉ số này phản ánh thành công hoặc thất bại tương đối của các nước trong việc tạo cuộc sống tốt cho người dân, trong khi vẫn tôn trọng giới hạn nguồn tài nguyên môi trường mà mọi người dựa vào để sống.

Thu Hiền (Theo RAF, Mofa VN)

Việt Nam xếp thứ 39 về chỉ số hòa bình toàn cầu

Việt Nam xếp thứ 39 về chỉ số hòa bình toàn cầu

Bảng xếp hạng Chỉ số Hòa bình toàn cầu (GPI) vừa được công bố tại Washington (Mỹ) đã xếp Việt Nam đứng thứ 39/144 quốc gia.

Nếu xét riêng các nước khu vực Nam Á và Đông Nam Á, Việt Nam xếp thứ hai về GPI sau Singapore.

New Zealand dẫn đầu bảng xếp hạng, tiếp theo là Đan Mạch và Na Uy. Đứng cuối bảng là Iraq.

Bảng xếp hạng này do Cơ quan Tình báo kinh tế có trụ sở tại London điều tra và thống kê.

Theo AT

Ám sát người sắp làm thủ tướng Sài Gòn

Trưa 10.11.1971. Một tiếng nổ long trời tại ngã tư Cao Thắng – Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ) khiến ông Nguyễn Văn Bông – Giám đốc Học viện Quốc gia Hành chính, người chuẩn bị lên nắm chức thủ tướng chính quyền Sài Gòn chết tại chỗ.
Chúng tôi trân trọng giới thiệu bài viết của ông Vũ Quang Hùng – người đã theo dõi, lên phương án tấn công và trực tiếp dự trận đánh này.

Vào cuộc

Trung tuần tháng 10 năm 1971, ngay sau khi nhận lệnh của cấp trên về mục tiêu cần diệt là Giáo sư Nguyễn Văn Bông, việc đầu tiên là tôi điểm lại tất cả anh chị em trong đội do tôi (Vũ Quang Hùng, bí danh Ba Điệp) làm đội trưởng. Đội trinh sát võ trang mang bí số S1 hoạt động nội thành Sài Gòn-Chợ Lớn thành lập chưa đầy một năm, gồm 11 người (kể cả tôi).

Tôi nhớ dặn dò của đồng chí Tám Nam – Phó ban An ninh T4 (tức khu vực Sài Gòn-Gia Định): “Để bảo đảm bí mật, chúng ta sẽ đặt cho mục tiêu bí số G.33. Cần giữ bí mật đến phút chót và theo tin tức tình báo, G.33 đang chuẩn bị lên nắm ghế thủ tướng. Nếu G.33 đã nắm chức, sẽ rất khó hành động vì khi ấy việc bảo vệ ông ta sẽ khác hẳn. Và nếu tình huống này xảy ra, cách mạng có thể gặp khó khăn hơn bởi Nguyễn Văn Bông là một trí thức có uy tín và chính quyền Sài Gòn chuyển từ quân sự sang dân sự mọi diễn tiến sẽ có lợi cho địch”.

Đúng lúc Châu chuẩn bị nhảy lên ngồi trên yên Honda thì một tiếng nổ long trời lở đất vang lên, cùng với cột lửa khói vụt bốc lên cao từ chiếc Ford Falcon

Ông Nguyễn Văn Bông là thạc sĩ công pháp quốc tế đầu tiên của Việt Nam, tốt nghiệp tại Pháp, đang nắm chức Giám đốc Học viện Quốc gia Hành chính, đồng thời là Chủ tịch Phong trào Cấp tiến, một tổ chức chính trị chống cộng.

Tôi quyết định tự mình trinh sát mục tiêu, đề ra phương án hành động. Mặt khác, tôi chuẩn bị vũ khí để thực hiện trận đánh.

Sau khoảng nửa tháng bám sát mục tiêu, tôi hầu như nắm chắc quy luật đi lại của G.33: Buổi sáng ra khỏi nhà hơi thất thường, có khi không tới chỗ làm. Nhưng hễ đã vô Học viện Quốc gia Hành chính là thế nào ông ta cũng rời Học viện lúc 11 giờ 45 để trở về nhà. Lộ trình từ Học viện về nhà cũng không bao giờ thay đổi: Theo đường Trần Quốc Toản (nay là 3.2), quẹo phải qua Cao Thắng, đến ngã tư Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ) thì rẽ trái.

Tôi cũng nói thêm về việc bảo vệ ông Bông vào thời gian này. Ông di chuyển trên xe hơi Ford Falcon màu đen. Ngồi trên xe hơi luôn có một cận vệ. Chạy theo bảo vệ xe hơi của ông thoạt đầu có hai xe gắn máy, nhưng từ sau khi báo chí đăng tin ông có thể lên nắm chức thủ tướng, số xe gắn máy tăng lên từ ba tới bốn chiếc, mỗi xe đều chở đôi.

Đầu tháng 11.1971. Tôi trình bày vắn tắt ba phương án hành động rồi gửi về căn cứ đặt tại An Phước, Bến Tre. Đã đến lúc tìm người cụ thể bắt tay hành động. Tôi gặp Năm Tiến – đội phó S1, trao đổi tình hình và yêu cầu, hỏi anh ta có dám “vào trận” hay không, tuy vẫn chưa cho biết đối tượng cũng như phương án tấn công nhằm bảo đảm bí mật. Năm Tiến hăng hái nhận lời, nói Tư Xá, một trinh sát trong đội, cũng đang nóng lòng chờ xuất quân.

Cũng cần nói thêm, lúc này tôi đã có 6 trái lựu đạn “da láng”, thêm khẩu Colt 45. Cho nên, trong thư gửi về căn cứ tôi viết nếu chấp nhận phương án ba (ném lựu đạn, mìn DH vào xe của G.33 tại ngã tư Cao Thắng – Phan Thanh Giản) và chỉ cần gửi cho tôi trái DH khoảng 5kg.

Trên nhất trí duyệt phương án 3 đồng ý cả đề xuất nhân sự, hẹn tôi ngày, giờ cụ thể đón giao liên để nhận mìn định hướng.

Tình huống ngoài dự kiến

Tôi cũng tính toán thật chính xác thời gian khoảng từ khi tháo chốt đến khi lựu đạn nổ, thừa đủ thời gian cho trinh sát thoát thân. Vậy là trong óc tôi hình thành cách cấu tạo khối chất nổ: Vì trinh sát hóa trang làm sinh viên nên sẽ hết sức tiện lợi khi mang theo cặp da, trong đó chứa vừa lựu đạn, vừa trái DH. Tôi quyết định luôn “ngày D” để báo cáo về căn cứ: Đó là ngày 9.11.

Vừa nhận trái DH từ căn cứ gửi lên, tôi mua ngay một cặp da và cuộn dây kẽm, mang về gác trọ bắt tay vào việc. Ba lựu đạn da láng cùng trái DH gọn gàng nằm trong cặp. Tuy đã dùng nhiều sợi dây thun cột càng lựu đạn, tôi vẫn chỉ tháo bỏ chốt chính, và dự định khi trao cho Năm Tiến, tôi sẽ dặn kỹ anh ta chỉ kéo bỏ chốt phụ ngay trước giờ hành động. Riêng trái lựu đạn dùng làm “ngòi”, tôi chỉ thay chốt phụ bằng cọng dây kẽm, chốt chính vẫn giữ lại, và việc này cũng phải chờ đến phút chót.

Đến ngày 8 tôi mới nói với Năm Tiến đối tượng cần tấn công cũng như toàn bộ kế hoạch. Cặp da chứa chất nổ và khẩu Colt 45, tôi sẽ trao cho Năm Tiến vào 9 giờ sáng ngày hôm sau, vừa đủ thời gian để anh và Tư Xá kiểm tra kết cấu chất nổ và cách sử dụng. Tôi hẹn gặp Năm Tiến tại một quán cà phê, rồi mới đưa anh ta tới địa điểm cất giấu vũ khí. Tiếp theo Năm Tiến sẽ gặp Tư Xá trao đổi lại toàn bộ sự việc và liền đó hai người bắt tay làm nhiệm vụ… Nhưng thật bất ngờ, vào phút chót Năm Tiến báo tin Tư Xá xin rút, và cả anh ta cũng rút luôn vì không mấy tin tưởng thành công của trận đánh.

Lúc này lòng tôi rối bời. Các đồng chí trong căn cứ sẽ nghĩ sao? Kế hoạch đã lên nay không thực hiện, không lẽ chỉ là một ý nghĩ viển vông, lý thuyết suông? Nếu không nhanh chóng thực hiện phương án, qua ít ngày nữa, ông Bông lên nắm chức thủ tướng, khi ấy nếu muốn diệt mục tiêu chắc chắn phải trở lại từ đầu, kể cả khâu trinh sát.

Lúc này tôi không có ai để bàn bạc, tham khảo ý kiến, mà phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Cuối cùng tôi quyết định tiếp tục hành động. Vấn đề là tìm người thực hiện cụ thể.

Trong đội trinh sát S1 thực tế tôi chỉ còn lại Châu. Nguyên là sĩ quan quân đội, đương nhiên Châu quen với lựu đạn, súng. Và đây là điều hết sức thuận lợi nếu anh ta làm trinh sát số hai – người quăng chất nổ.

Còn trinh sát số một – người chạy xe gắn máy chở trinh sát ném lựu đạn? Phải thành thực nhận định, không ai thuận lợi bằng tôi: Biết rành cũng như nắm vững quy luật đi lại của đối tượng; và hơn hết, đã quen với con hẻm dẫn ra khỏi hiện trường. Vả lại, tôi cũng không thể tìm đâu ra người trong thời gian cấp bách.

Tôi lập tức tìm gặp Châu. Rút kinh nghiệm Năm Tiến, tôi chưa vội trao đổi cụ thể với Châu, mà chỉ hỏi anh dám tham gia một trận đánh tại nội thành có thể nguy hiểm đến tính mạng hay không? Tôi nhớ Châu chỉ hỏi lại ngoài anh ta ra còn ai cùng dự trận, và khi tôi trả lời còn một người nữa là tôi, anh đồng ý ngay. Tôi hẹn sáng ngày mai, lúc 10 giờ trưa, sẽ gặp lại anh giao nhiệm vụ và vũ khí cùng lúc, để thực hiện luôn vào buổi trưa cùng ngày…

Đúng 10 giờ sáng hôm sau, ngày 10.11.1971, tôi chở Châu đến nơi cất giấu vũ khí. Tại đây, tôi kể lại toàn bộ tình hình cho Châu nghe, từ chỉ thị của cấp trên, việc trinh sát đối tượng, phương án đánh, đến vũ khí sử dụng. Chỉ đến khi Châu hỏi “vậy vũ khí đâu?”, tôi mới lôi cặp da ra.

Tôi mở cặp da, để Châu tận mắt thấy trái mìn DH và 3 lựu đạn da láng, trong đó 2 đã được rút chốt chính và cột bằng dây thun, trái thứ 3 còn nguyên chốt chính trong khi chốt phụ đã được thay bằng cọng dây kẽm và đầu kia của dây kẽm xuyên qua cặp da, cột vào quai xách.

Còn khẩu Colt 45, tôi giắt vào bụng mình để Châu không bị trở ngại khi hành động và khi chạy, dặn vạn bất đắc dĩ Châu mới thọc tay vào bụng tôi, rút ra sử dụng.

11 giờ 15, tôi chở Châu lên đường. 11 giờ 25, tôi tấp xe vào quán nước đối diện Học viện. Còn Châu xách cặp làm bộ đứng chờ xe buýt tại trạm gần quán.

11 giờ 40, tôi trả tiền. Đúng 11 giờ 45, phía trong Học viện có bóng người chuyển động về hướng xe hơi. Dù cố trấn tĩnh, tim tôi vẫn đập rộn ràng. Tôi lập tức rời quán, lên Honda, nổ máy, chạy chầm chậm. Châu đã thấy tôi, bước đến sát mé đường. Ba-ri-e ngoài cổng Học viện hạ xuống, chiếc Ford Falcon lao ra rất nhanh, đến nỗi tôi vừa dừng xe đón Châu thì xe hơi đã quẹo ra đường Trần Quốc Toản; và khi Châu lên ngồi trên yên sau Honda thì xe hơi đã vượt qua xe tôi, 3 xe gắn máy chở đôi bám theo.

Không hiểu sao lúc này tôi lại tự nhiên hết hồi hộp mà thanh thản một cách kỳ lạ. Tôi tự nhủ không nên chạy sau xe Ford Falcon, vì có thể sẽ bị đám cận vệ phát hiện, nên tăng ga. Chiếc Honda 67 lướt rất êm, vừa tới ngã ba Cao Thắng đã qua mặt xe hơi.

Honda vẫn chạy trước xe hơi khoảng 5-6m, và cách ngã tư Cao Thắng – Phan Thanh Giản chừng 15m thì đèn tín hiệu giao thông chuyển sang màu đỏ. Tôi dừng Honda để Châu bước xuống, còn tôi vòng Honda qua bên kia đường, đầu xe nhắm ngay con hẻm, gài số một. Phía trước mặt tôi, hơi chếch về bên mặt, là tấm kiếng lớn của một xe hủ tíu-mì. Tôi quan sát phía sau qua tấm kiếng lớn này.

Châu vừa xuống xe thì chiếc Ford Falcon cũng vừa ngừng. Châu tấp vô lề, vòng ra phía sau xe hơi, quăng cặp da xuống ngay gầm xe bên phải, rồi nhanh như chớp, chạy băng qua đường. Đúng lúc Châu chuẩn bị nhảy lên ngồi trên yên Honda thì một tiếng nổ long trời lở đất vang lên, cùng với cột lửa khói vụt bốc lên cao từ chiếc Ford Falcon. Một làn hơi mạnh thổi tạt đến tận chỗ tôi vừa lúc Châu tót lên yên và tôi lập tức siết tay ga, nhả tay côn hết sức nhịp nhàng. Chiếc Honda như muốn cất cao đầu, lao nhanh vào con hẻm…

Khoảng nửa giờ sau ngồi trong gác trọ, nghe Đài Phát thanh Sài Gòn thông báo ông Bông đã bị ám sát, chết tại chỗ, tôi mới trấn tĩnh trở lại…

(Theo Dân Việt)

Việt Nam tăng 16 bậc về chất lượng cuộc sống

– Viện Nghiên cứu chính sách Legatum có trụ sở tại London (Anh) đã nâng bậc của Việt Nam từ vị trí 77 năm 2009 lên thứ hạng 61 trong năm 2010

Viện Nghiên cứu chính sách Legatum có trụ sở tại London (Anh) vừa công bố Chỉ số thịnh vượng (Prosperity Index) của 110 quốc gia (chiếm 90% dân số thế giới), trong đó, tổ chức này đã nâng bậc của Việt Nam từ vị trí 77 năm 2009 lên thứ hạng 61 trong năm 2010.

Chỉ số này được xây dựng trên 89 tiêu chí khác nhau và được phân thành 8 lĩnh vực: kinh tế, kinh doanh, quản lý, giáo dục, sức khỏe, an toàn, tự do cá nhân và vốn xã hội. Chỉ số này không đơn thuần đánh giá về tiền bạc mà còn là chất lượng cuộc sống, những nước đứng đầu không nhất thiết là những nước có GDP cao mà có công dân hạnh phúc, khỏe mạnh và tự do.

Theo bảng xếp hạng của Legatum, hầu hết các quốc gia thịnh vượng nhất thế giới đều nằm ở vùng Bắc Âu. Na Uy chiếm vị trí số 1 trong bảng xếp hạng, tiếp đến là Đan Mạch và Phần Lan. Tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Singapore là quốc gia đứng cao nhất trong bảng xếp hạng thịnh vượng (vị trí 17)./.

Dương Văn Minh qua con mắt những thuộc cấp

Tác giả: Huỳnh Phan

“Cái giá của 30 năm chiến tranh (1945-1975) nó nặng nề lắm. Mọi người phải hiểu, để bình tĩnh mà phát triển” – nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu nói trong cuộc họp báo với phóng viên quốc tế nhân 35 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam.

>> Một tháng sau 30.4: Sự mở đầu và kết thúc

Trong hồi ức của mình, Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái, người có mặt khi ông Dương Văn Minh, Tổng thống cuối cùng của chế độ Sài Gòn đọc tuyên bố đầu hàng tại Đài Phát thanh Sài Gòn vào trưa 30.4.1975, đã viết:

“… Dẫu sao ông cũng đã hy sinh danh dự của một tướng lãnh (dù là một tướng bại trận) để cứu thành phố này khỏi cảnh tàn phá và đổ nát. Sau này tôi mới biết là ông và bộ tham mưu từ mấy ngày qua đã quyết định đầu hàng dẫu có bị đối xử không tương xứng của phía đối nghịch.

Đó cũng là một hành động can đảm và đáng ca ngợi của một Phật tử vào cuối đời. … Ít ra ông còn giữ được nguyên vẹn Sài Gòn và phần còn lại của miền Nam tránh khỏi đổ nát và đổ máu thêm một cách vô ích…

Nhận xét của người cựu Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn đã được một nhân chứng lịch sử – cựu Đại uý Phạm Xuân Thệ (nay là Trung tướng) – khẳng định một phần trong các bài viết về ông.

Phần còn lại cũng đã được nói tới bởi những nhân chứng lịch sử khác, ở một lát cắt lịch sử khác, và từ một góc nhìn khác. Họ là ông Nguyễn Hữu Hạnh, chuẩn tướng Quân đội Việt Nam Cộng hoà, Luật sư Triệu Quốc Mạnh, hay nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu – những thành viên của cái nội các cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Thường là trong các cuộc họp báo quốc tế, được tổ chức 5 năm một lần.

Ngày 28.4 năm ngoái, họ lại tiếp tục thực hiện cái nhiệm vụ định kỳ này. Nhưng với họ, cuộc họp báo hôm đó không hề mang tính nghĩa vụ nữa, mà đã có thêm ý nghĩa của một sự sẻ chia một hồi ức chung. Và những câu hỏi từ dưới cử toạ lại mang ý nghĩa của một sự gợi mở.

Bởi trong số cử toạ ở dưới có một nhóm nhỏ phóng viên quốc tế – những người đã từng có mặt trên mảnh đất Sài Gòn này trên dưới bốn thập kỷ trước, và cũng chứng kiến được nhiều điều tương tự như họ. Mặc dù, không nhất thiết phải là những ngày cuối của tháng Tư năm 1975.

Đó là những cái tên như Simon Dring và Jim Pringle (Reuters), Don Kirk (Washington Star), Mike Morrow (Dispatch News Service), hay James Caccavo (Red Cross).

Các phóng viên nước ngoài tại cuộc họp báo quốc tế tổ chức ngày 28.4.2010 tại TP.HCM

Tất cả những điều đó gộp lại đã khiến cho người viết, từng tham dự ba cuộc họp báo tương tự trước đó, kể từ năm 1995, tại Sở Ngoại vụ TP HCM, cảm nhận được một sự cởi mở chưa từng có, đúng hơn là sự “mở lòng”. Nhất là khi các nhân chứng nói về ông Dương Văn Minh, đại tướng, Tổng thống VNCH – một nhân vật gây tranh cãi trong những ngày cuối cùng của tháng Tư lịch sử ấy, trước khi Đại uý Thệ và các đồng đội của ông tiến vào Dinh Độc Lập.

Và qua đó, người viết cũng hiểu thêm rằng, tại sao cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhận xét về ông Dương Văn Minh trong bài trả lời phỏng vấn tuần báo Quốc tế nhân 30  năm thống nhất đất nước (30.4.2005)

“Bản thân tôi cùng với anh em được giao tiếp quản Sài Gòn năm 1975, một Sài Gòn nguyên vẹn sau một cuộc chiến tranh như vậy, tôi nghĩ không thể không nói đến vai trò của nội các Dương Văn Minh và các lực lượng chính trị đối lập với Mỹ – Thiệu, có quan hệ với chính phủ Dương Văn Minh lúc bấy giờ”.

Tuần Việt Nam giới thiệu lại cuộc họp báo quốc tế tại TP.HCM ngày 28/4/2010 như một tư liệu để tham khảo.

Simon Dring: Vào thời điểm cuối 1964, khi lực lượng Việt Cộng hoạt động rất mạnh và rất gần khu vực Sài Gòn, một số người nghĩ rằng Sài Gòn sẽ nhanh chóng bị thất thủ. Lúc đó, Mỹ chưa đưa quân vào Việt Nam.

Xin cho biết cảm nghĩ của ông lúc đó. Ông muốn chiến tranh kết thúc với sự thất thủ của Sài Gòn, hay người Mỹ đưa quân vào?

Ông Nguyễn Hữu Hạnh

Nguyễn Hữu Hạnh: Tôi là trung tá, trưởng phòng 2 cho ông Dương Văn Minh, từ năm 1959. Lúc đó, ông Minh là Tư lệnh Bộ Tư lệnh Hành quân.

Tất cả những nhân vật quan trọng (của Mỹ) đến Việt Nam đều đến thăm ông Minh hết, và (những lần đó)  đều có mặt tôi hết. Họ đều hỏi ý kiến ông Minh về việc đưa quân Mỹ vào Việt Nam. Nhưng ông Minh đều từ chối.

Khi đảo chính Ngô Đình Diệm, ông Minh đã phá tất cả những ấp chiến lược mà Mỹ đã làm. Điều đó đã khiến Mỹ không bằng lòng.

Mỹ lại yêu cầu đổ quân vào miền Nam, và ông Minh lại từ chối. Mỹ yêu cầu ném bom miền Bắc và phá đê sông Hồng, ông Minh cũng lại từ chối. Lúc đó, người Mỹ nói rằng ông Minh là người khó hợp tác. Thế là năm 1964, Nguyễn Khánh đảo chánh Dương Văn Minh.

Dương Văn Minh là người muốn chấm dứt chiến tranh cho đất nước Việt Nam, mặc dù ổng cầm súng của Mỹ. Có nhiều người có nhiều cách nói về ông ấy lắm. Khi ông ấy lên Tổng thống, ông ấy ký một cái giấy yêu cầu cố vấn của Mỹ phải rút đi trong vòng 24 tiếng đồng hồ, để giải quyết vấn đề chiến tranh Việt Nam.

Mike Morrow: Tôi được biết Dương Văn Minh có người em trai ở phía bên kia. Vậy ông Minh, và có thể là cả ông nữa, lần đầu tiên liên hệ với Mặt trân Dân tộc Giải phóng là khi nào? Những năm 50, 60, hay chỉ đến khi Sài Gòn chuẩn bị sụp đổ?

Nguyễn Hữu Hạnh: Câu hỏi tốt. Tôi có thể nói rằng người Việt Nam chúng tôi có tới 95% là có người thân ở cả hai phía. Tôi cũng có những người bà con là đảng viên cộng sản. Hay ông Võ Văn Kiệt, một người lãnh tụ ở miền Nam này, cũng có người thân bên phía chúng tôi.

Có điều, lúc đó người Mỹ chưa có hiểu người Việt Nam đâu. Nếu có ai đó mà có tội do liên quan đến cộng sản, ngay ở chính quyền Sài Gòn cũng vẫn có người cảm thông, giúp đỡ. Tôi không hiểu người Mỹ, hay CIA, có hiểu được điều này không, nhưng đây là một đặc điểm quan trọng của người Việt chúng tôi.

Vào ngày 2.5.1975, khi mà ông Dương Văn Minh gặp ông Trần Văn Trà – một tướng cộng sản, người nhận lãnh thành phố này -, ông Trà đã nói rằng giữa chúng ta không có kẻ thua người thắng, mà dân tộc Việt Nam chúng ta thắng đế quốc Mỹ.

Don Kirk: Tôi có nghe về những trại cải tạo sau 4.1975. Chẳng hạn, đến năm 1985, tôi được nghe rằng có những người đi cải tạo mà vẫn chưa được về. Điều này có ngược lại tinh thần của Tướng Trà nói với Tướng Minh hay không?

Câu hỏi này cũng rất hay. Chắc ông cũng biết là trong lúc mới giải phóng, ý tưởng của Đảng (Cộng sản Việt Nam) là như vậy.

Nhưng nói thực sự với quý ông, tôi được mời tham vào Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của thành phố (HCM), nhưng mà tôi vẫn ái ngại về điều đó. 30 năm đánh nhau ắt hẳn phải có điều nọ điều kia giữa những người nọ và những người kia.

Vào năm 1988, tôi có viết một cái bài về hoà hợp dân tộc. Tôi vẫn nghĩ rằng (mặc dù) Đảng Cộng sản Việt Nam muốn điều này, nhưng vẫn còn để một số vấn đề xảy ra.

Sau bài viết của tôi, ông bí thư (thành uỷ), rồi ông chủ tịch Mặt trận, đã có những hành động tốt. Các quý vị cũng biết là sau khi hai bên đánh nhau, thì cũng có nhiều khó khăn để giải quyết lắm, và cũng cần thời gian.

Nhà sử học Nguyễn Đình Đầu, nguyên Trưởng đoàn đàm phán của chính quyền Dương Văn Minh tại trại David, kể:

Chiều 28.4, ông Dương Văn Minh nhậm chức. Sáng 29.4, ông Dương Văn Minh cử tôi đưa một phái đoàn đi trại David, nơi có đại diện của chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, để điều đình việc ngưng chiến.

Tôi được đại diện của phía bên kia cho biết là chiến dịch Hồ Chí Minh đã bắt đầu, và vì thế không thể ngưng chiến ngay được, mà cần một thời gian.

Simon Dring: Vào lúc 11:30 ngày 30.4, ông đang ở đâu? Có phải đang trong trại David không?

Nguyễn Đình Đầu: Trưa 29.4 tôi đã về rồi.

Simon Dring: Khi đến trại David, không biết ông có thảo luận với phía Mỹ ở đó không?

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu

Nguyễn Đình Đầu: Không. Tôi chỉ đến gặp đại diện của Chính phủ Cách mạng Lâm thời thôi.

Chiều 29.4 vẫn còn đánh nhau. Chúng tôi cùng với ông Dương Văn Minh nghĩ rằng ngoài vấn đề thương thuyết, có lẽ chính quân đội của ông phải có thái độ “đàm phán” mạnh hơn nữa thì mới có thể ngưng chiến được.

Sáng 30.4, chiến sự vẫn diễn ra gần Sài Gòn. Đến 9 giờ ông Dương Văn Minh đã ra nhật lệnh cho quân đội là đơn phương ngừng bắn, và chờ bên đối phương đến để trao quyền hành.

Cho nên, việc giải phóng thành phố này không có chiến tranh, không có chuyện hai bên đánh nhau. Và đến 11:30 quân giải phóng chiếm được Dinh Độc lập.

Nhiệm vụ của tôi tuy không thành công, nhưng vẫn coi như đã thành công.

Nữ phóng viên từ Romania: Xin cho biết cuộc sống của ông 35 năm vừa rồi ra sao.

Nguyễn Đình Đầu: Trước 30.4.1975, người ta coi tôi thuộc thành phần thứ ba. Tôi có một số người bạn ở chế độ cũ, và có một số người bạn bên cách mạng. Do lẽ đó mà ông Dương Văn Minh nhờ tôi đi điều đình việc ngừng bắn vào 29.4.

Lúc đó tôi 55 tuổi, còn bây giờ tôi 90 tuổi. Sau ngày giải phóng, tôi không có công, nhưng cũng không có tội. Thành thử tôi được làm nghề nghiên cứu tự do. Nhờ trời thương nên cũng có một số kết quả trong các công trình nghiên cứu sử, địa.

Tôi muốn nhắc lại là cái giá của 30 năm chiến tranh (1945-1975) nó nặng nề lắm. Mọi người phải hiểu, để bình tĩnh mà phát triển.

Ông Dương Văn Minh trả lời phỏng vấn của phóng viên nước ngoài. Ảnh tư liệu

Luật sư Triệu Quốc Mạnh, nguyên Đô trưởng cảnh sát Sài Gòn – Gia Định, kể:

Trước giải phóng tôi là thẩm phán, từ năm 1963 đến tháng 4. 1975. Khoảng 14 ngày trước giải phóng, ông Dương Văn Minh ngỏ ý mời tôi nắm chức đô trưởng cảnh sát Sài Gòn – Gia định. Và khi nhậm chức, người đầu tiên ông Minh tuyên bố bổ nhiệm là tôi.

Mặc dù trong chính phủ Dương Văn Minh cũng có những người muốn nắm giữ cảnh sát để tiếp tục chống lại Cách mạng, nhưng ông Dương Văn Minh, theo chúng tôi biết, đã không muốn như vậy.

Cho nên, khi tôi nắm được cái đài chỉ huy tác chiến và lệnh của tôi là không được nổ súng trước. Lý do mà tôi giải thích là lúc đó là thời gian đang thương thuyết.

Tôi nói láo với họ rằng việc đàm phán là có kết quả 60% rồi cho nên toàn thể phải nghe tôi. Tôi chỉ huy bằng cách ra lệnh không được nổ súng trước, nên rất thuận lợi cho việc tiến quân vào Sài Gòn của bộ đội.

Điều thứ hai là tôi lập danh sách tất cả những tù chính trị và ký tên để phóng thích họ.

Điều thứ ba là giải tán lực lượng cảnh sát đặc biệt. Bởi cảnh sát có hai loại, một là loại mặc sắc phục chuyên giữ trật tự trị an, và hai là là loại đặc biệt, chuyên bắt bớ những người làm chính trị, sinh viên, công nhân….

Tôi ngồi trên chiếc xe, mang quân hàm chuẩn tướng, đi thị sát một số nơi, chứ không ở cùng nội các ông Minh trong Dinh Độc lập.

Tôi có thể nói với quý vị, chỉ huy kiểu đó, chắc có người cười tôi lắm. Nhưng sự hiệu quả là bộ máy cảnh sát gồm 16 ngàn người trở nên rệu rã trong ngay ngày 29.4.

Jim Pringle: Ông nghĩ như thế nào về việc Tướng Loan (Nguyễn Ngọc Loan), cũng là chỉ huy trưởng lực lượng cảnh sát, đã bắn chết một tù binh Việt Cộng trong ngày thứ nhất, hoặc ngày thứ hai của cuộc Tổng tấn công Mậu Thân 1968?

Luật sư Triệu Quốc Mạnh

Triệu Quốc Mạnh: Lúc đó, tôi biết Tướng Loan. Tôi xin diễn tả hình ảnh Tướng Loan một chút thì các vị sẽ biết Tướng Loan là ai. Một kẻ điên hay khùng, hay gì đó tương tự.

Ngày nào cũng vậy, (ông ta) cặp nách một chai rượu và tay bên kia cầm một khúc chả lụa,. Vừa nốc rượu, ông ta vừa làm việc với sĩ quan của mình.

Khi đó, Bộ trưởng Tư pháp của chế độ Sài Gòn là Huỳnh Đức Bửu dự hội nghị ở Teheran, và họ đã đưa cái ảnh đó (Tướng Loan bắn tù binh Việt Cộng) ra. Tay bộ trưởng này về nói với chính phủ là muốn độn thổ luôn.

Hồng Nga (BBC):

Tôi biết ông là đảng viện cộng sản. Vậy ông vào Đảng thế nào, và ông Dương Văn Minh có biết điều đó không, khi ông ta bổ nhiệm ông làm đô trưởng cảnh sát?

Gần 10 năm sau, khi có một bài báo của một người rất quan trọng viết, ông ta mới tiết lộ rằng tôi là người của Cách mạng.

Gia đình tôi, bạn bè tôi, tuyệt đối không ai biết tôi là người cộng sản. Chính vì vậy, ông Dương Văn Minh và nội các của ông ta cũng hoàn toàn không biết điều đó.

Cái ý của ông Minh, theo tôi nắm được, là một ngày nào đó có sự bàn giao giữa chính quyền mới và cũ sẽ có sự xáo trộn trong dân rất lớn. Thù oán, xung đột, giết chóc nhau. Vậy ai giữ gìn cái này, và ai có kinh nghiệm của xã hội Sài Gòn lúc này?

Chắc là anh em xung quanh ông Dương Văn Minh đánh giá tôi là người có sự chuyên nghiệp. Bởi tôi sinh tại đây, sống tại đây, trưởng thành tại đây, học và làm quan toà tại đây. Tôi cũng rất gần gũi với cảnh sát tại đây.

Simon Dring: Kể từ khi vào Đảng, ông đã có những đóng góp tích cực gì cho Cách mạng với tư cách thẩm phán?

Triệu Quốc Mạnh: Tôi vào Đảng Cộng sản tháng 6.1966. Tôi vừa đóng vai nói trên, vừa hoàn thành nhiệm vụ thẩm phán một cách hoàn hảo.

Về đóng góp cho Cách mạng, tôi có hai việc làm được.

Với tư cách thẩm phán, tức là làm cho Bộ Tư pháp, tôi nắm được mấy hồ sơ mật về an ninh mà toàn quốc gửi về cho Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp. Tôi thấy cái nào có lợi cho việc sớm chấm dứt chiến tranh, có lợi cho Cách mạng, tôi cũng có bàn với những người lâu lâu có liên hệ với tôi.

Nhiệm vụ thứ hai là tôi làm thẩm phán, có gần gũi với những người hoạt động chính trị, có xu hướng đòi độc lập, đòi hoà bình, thì bàn với họ làm sao để có cách hoạt động, nhất là gầy dựng phong trào có lợi.

Việt nam đứng đầu Châu Á về “Chỉ số Hạnh Phúc”

by Face book Việt Nam on Wednesday, October 28, 2009 at 2:11am

Costa Rica xếp số 1 thế giới, và Việt Nam xếp thứ 5 thế giới và đứng đầu Châu Á về chỉ số hành tinh hạnh phúc (HPI) năm 2009, theo công bố đầu tháng 7 của Tổ chức Quỹ kinh tế mới (NEF), có trụ sở tại Anh.

Để đo tính hiệu quả trong việc các nước biến các nguồn tài nguyên hạn chế của Trái đất thành niềm hạnh phúc và vui sống cho công dân, NEF tham khảo chỉ số tuổi thọ và mức độ hạnh phúc của người dân so với tác động mà họ gây ra cho môi trường.
Theo công thức đó, Costa Rica là nước hạnh phúc và xanh nhất thế giới. Phương pháp tính của NEF cho thấy tuổi thọ trung bình của người dân Costa Rica là 78,5 và chỉ số hài lòng về cuộc sống là 8,5. Costa Rica cũng sử dụng 99% năng lượng tái tạo.

Với chỉ số hài lòng 6,5 và tuổi thọ trung bình 73,7, Việt Nam là nước châu Á duy nhất nằm trong 10 nước đầu bảng được khảo sát.

Các nước vùng Đông Nam Á cũng được xếp hạng cao như Philippines (thứ 14), Indonesia (16), Lào (19), Malaysia (33), Myanmar (39), Thái Lan (41), Singapore (49), Campuchia (80). Trong khi đó các nước giàu lại có thứ hạng khiêm tốn trong HPI như Ý (69), Pháp (71), Anh (74), Nhật (75), Canada (89), Úc (102), Nga (108), Mỹ (114).

AFP dẫn lời nhà xã hội học Andrea Fonseca cho rằng Costa Rica đã cho dân chúng các “công cụ” để sống hạnh phúc, nhưng cảnh báo rằng mức độ hạnh phúc không thể chỉ được tính toán bằng cách xem xét yếu tố tuổi thọ và hiệu quả môi trường. Bà nhấn mạnh việc nước này leo lên vị trí đầu bảng là nhờ đóng góp không nhỏ của việc “tạo dựng hình ảnh xã hội”. Costa Rica nổi tiếng thanh bình vì không có quân đội và được biết đến với nhiều khu bảo tồn sinh học cùng khẩu hiệu quốc gia “cuộc sống tinh khiết”.

Chuyện Hoang Đường Vụ Thảm Sát Ở Huế 68

The Myth Of The Hue Massacre 68

By Noam Chomsky and Edward S. Herman

Lê Hồng Phong dịch

Lời khẳng định thiết yếu về cuộc thảm sát ở Huế, khi chúng tôi nói về “cuộc tắm máu huyền thoại”, chúng tôi không hàm ý là không có sự giết chóc nào đã xẩy ra. Sự thật nó đã xẩy ra trên một quy mô đáng kể. Nhưng đối với chúng tôi những bằng chứng có tính cách thuyết phục thì thấy rằng hình như cốt lõi của sự thật đã bị méo mó, bị mô tả một cách sai lệch, bị thổi phồng, bị tô vẽ với những điều bịa đặt nhằm mục đích tuyên truyền. Nói về những sự kiện, chúng tôi không có ý đưa ra một bản báo cáo miêu tả cuối cùng nào nhưng chỉ so sánh những bằng chứng có được với những lời giải thích của chính phủ và phương tiện thông tin rằng trong suốt một tháng chiếm đóng Huế trong cuộc tổng tấn công mùa Xuân năm 1968, “NLF” Mặt Trận Giải Phóng miền Nam (MTGPMN) và quân bắc Việt đã có chủ trương tập trung và giết hại hàng ngàn người dân theo một kế hoạch đã định trước và một “sổ đen” “blacklist” những người làm việc cho chính phủ hoặc đại diện cho “kẻ thù giai cấp” “class enemies”. Những tài liệu căn bản bổ xung cho câu chuyện này gồm một bản báo cáo do chính phủ Saigon đưa ra và tháng 4/1968, một tài liệu lấy được và đã phổ biến trong công chúng của phái đoàn Hoa Kỳ vào tháng 11/1969, và một bài phân tách dài xuất bản năm 1970 của một nhân viên Phòng Thông tin “USIS” Douglas Pike. Cả hai bản báo cáo của Saigon và của Pike đã gây nên một sự nghi ngờ về cơ bản của nguồn tin, về giọng điệu và vai trò của chúng trong một chiến dịch tuyên truyền mở rộng nhằm làm giảm đi ảnh hưởng của vụ thảm sát Mỹ Lai. Nhưng quan trọng hơn nữa là những tài liệu này đã không có sự điều tra hay sự nghiên cứu tỉ mỉ.

Như trong trường hợp về cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu đã đề cập ở trên thì trong trường hợp này sự ước lượng về những nạn nhân của thảm sát của MTGPMN và VNDCCH tại Huế đã tăng vọt lên một cách đáng kể để đáp ứng lại với những nhu cầu chính trị bất ngờ đột xuất trong nước. Vào mùa thu năm 1969, đã xẩy ra ngẫu nhiên cùng thời gian với những nỗ lực của chính quyền Nic-xon nhằm làm cân bằng những ảnh hưởng của làn sóng những nỗ lực hoạt động hòa bình vào tháng 10 và tháng 11, và làm giảm đi sự tai tiếng của vụ thảm sát Mỹ Lai vào tháng 11/1969.

Ngay sau Tết Mậu Thân, Trưởng ty Cảnh sát Huế Đoàn Công Lập đã ước lượng con số nạn nhân bị thảm sát do “NLF” MTGPMN và VNDCCH gây ra là khoảng 200 người và những mồ chôn tập thể những quan chức địa phương và những thường dân khác là khoảng 300 người. Trong một bản báo cáo đưa ra cuối tháng 4/1968 do lực lượng tuyên truyền của chính phủ Saigon khẳng định rằng khoảng 1000 người đã bị Việt Cộng giết tại Huế và khoảng gần một nửa trong số nạn nhân đã bị chôn sống.Vì câu chuyện không được để ý đến, cho nên tuần (lễ) sau đó, đại sứ quán Hoa Kỳ đã đưa ra cùng một bản báo cáo và lúc ấy nó đã trở thành tin tức hàng đầu trên những tờ báo Mỹ. Câu chuyện đã không được chất vấn mặc dầu không có nhà báo phương Tây nào đã được dẫn đến những mồ chôn tập thể khi các hố chôn đó được khai quật cả. Ngược lại một nhà nhiếp ảnh người Pháp Marc Riboud đã nhiều lần bị từ chối yêu cầu muốn đi xem một trong số địa điểm nơi mà ông tỉnh trưởng tuyên bố có 300 cán bộ chính phủ đã bị Việt cộng giết. Và rồi cuối cùng nhiếp ảnh gia này đã được máy bay đưa đến địa điểm ấy, nhưng viên phi công đã từ chối không chịu hạ cánh với lý do nơi đó không an toàn để hạ cánh.

Người tổ chức AFSC tại Huế cũng không thể khẳng định bản báo cáo về những hố chôn tập thể mặc dầu họ đã báo cáo có nhiều thường dân đã bị bắn và bị giết suốt cuộc tái chiếm thành phố.

Len Acklan, một nhân viên IV S tại Huế năm 1967 đã trở lại Huế vào tháng 4/1968 để điều tra, đã được nhân viên Việt Nam và Mỹ thông báo rằng khoảng 700 người đã bị VC giết. những cuộc đều tra rất chi tiết của ông đã bổ sung cho sự ước lượng này và cũng chỉ ra rằng những cuộc giết người chủ yếu gây ra do lực lượng của MTGPMN ở địa phương khi họ rút lui trong suốt chặng đường cuối cùng của cuộc chiến đẫm máu kéo dài một tháng. Richard West, một người có mặt ở Huế ngay sau cuộc chiến đã ước tính “khoảng vài trăm người và một số ít người ngoại quốc” đã bị VC giết và đã suy đoán rằng những nạn nhân như kiểu nạn nhân vụ Mỹ Lai do lực lượng Mỹ và VN Cộng Hòa gây ra có thể đã bị chôn sống trong những hố tập thể.

Vào mùa thu 1969, một “tài liệu lấy được” đã được khám phá (tài liệu này đã nằm trong số hồ sơ chính thức trong vòng 19 tháng mà không được chú ý đến), trong đó kể địch “tự nhận” đã giết 2.748 người trong suốt chiến dịch ở Huế. Tài liệu này là nên tảng chính mà dựa trên đó câu chuyện về thảm sát ở Huế được xây dựng. vào lúc nó được tiết lộ cho báo giới thì tháng 11/1969, Douglas Pike đã đưa ra câu chuyện về vụ thảm sát theo yêu cầu của Đại sứ Ellsworth Bunker. Pike, một người vận động chuyên nghiệp của giới thông tin đại chúng, nhận ra rằng những phóng viên Mỹ rất thích “tài liệu” này, cho nên ông đã phát hành tài liệu này. Ông cũng biết không nhà báo nào hiểu được tiếng Việt nên những tài liệu này đã được dịch và xây dựng lại để phù hợp với những yêu cầu của một cuộc thảm sát. Ông cũng biết rằng không có nhà báo nào thắc mắc về tính xác thực của ông và tự lượng giá để tìm ra những bằng chứng. Vì rằng trong lúc này những tài liệu bị cố tình làm sai lạc về VN rất cần. Vụ Mỹ Lai đã bị đổ bể và những hoạt động vì hòa bình có tổ chức vào mùa thu năm 1969 đã gia tăng. Pike đã đứng (?) về vấn đề này.

Để những “hồ sơ lấy được” sang một bên, chi tiết có tính cách thuyết phục về cuộc thảm sát là việc tìm ra những hố chôn tập thể. Nhưng những bằng chứng này đã không đủ thuyết phục như những tài liệu đã được sắp xếp trên. Một sự khó khăn cơ bản đã xẩy ra từ sự việc rằng số đông thường dân bị giết chết trong cuộc chiếm lại thành phố Huế bởi đạn pháo kích của Mỹ và Nam VN được bắn một cách bừa bãi. David Douglas Duncan, một nhà nhiếp ảnh chiến trường nói về cuộc tái chiếm rằng đó là “một sự nỗ lực dốc hết sức để loại bỏ bất cứ một kẻ địch nào. Tâm trí tôi bấn loạn trước cuộc tàn sát.Một nhà nhiếp ảnh khác, viết rằng hầu hết các nạn nhân “đã bị giết bởi bom đạn được bắn một cách kinh hoàng chưa từng thấy của Mỹ”. Robert Shaplen viết về lúc đó “Không có gì trong cuộc chiến ở Triều Tiên và Việt Nam khi nói về sự tàn phá, mà tôi thấy kinh hoàng bằng những điều tôi thấy được ở Huế năm ấy. Trong số 17.134 nhà thì 9.776 ngôi nhà đã hoàn toàn bị phá hủy và 3.169 ngôi nhà bị thiệt hại khá trầm trọng.

Sự ước tính đầu tiên của Nam Việt Nam về số thường dân bị giết trong cuộc chiến lúc giao chiến trong suốt cuộc tái chiếm thành phố là 3.776 người. Townsend Hoopes, Phó tham mưu trưởng không quân (Under-secretary of the Air Forces) vào lúc bấy giờ nói rằng trong nỗ lực tái chiếm thành phố, 80% dinh thự đã bị đổ nát và trong đống gạch vụn đó có khoảng 2000 thường dân bị chết. Con số thương vong do Hoopes và Saigon đưa ra đã vượt quá con số ước tính cao nhất về những nạn nhân của quân Bắc Việt và MTGPMN, bao gồm những viên chức chính quyền, điều này không phải là những sự bịa đặt tuyên truyền có thể chứng minh được. Theo Oberdofer, thủy quân lục chiến Mỹ đưa ra những tổn thất của CS khoảng 5000 người trong khi đó Hoopes nói rằng thành phố bị 1000 quân CS chiếm đóng, nhiều người trong số họ đã trốn thoát, điều này đưa ra giả thuyết là phần lớn những người chết là thường dân bom đạn Mỹ.

Một số thường dân bị chết vì cuộc tấn công của Mỹ đã được quân của Mặt Trận chôn tập thể cùng với những du kích bị thiệt mạng về phía của họ. (theo nguồn tin của quân Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) và một số lớn thường dân bị “quân đồng minh chôn sống” (mass graves by the “allies”) MTGPMN đã khẳng định đã chôn cất 2000 nạn nhân của cuộc chiếm đóng thành phố” đã được khám phá trong những mồ chôn tập thể.Oberdorfer nói rằng 2000 nạn nhân của những cuộc chiếm đóng thành phố” đã được khám phá trong những mồ chôn tập thể nhưng ông đã không đưa ra lý do để tin rằng đây là những nạn nhân của cuộc thảm sát của Bắc Việt và MTGPMN hơn là những người chết do bom Mỹ. Ông dường như đã tin hoàn toàn vào những lời khẳng định của bộ tuyên truyền – Fox Butterfiedd, trên tờ New York Times số ra tháng 4/1975 lại đặt 3000 thi thể trong hố chôn duy nhất! Samuel Adams đã từng là nhà phân tích của CIA, viết trên tạp chí Wall Street số ra 26/3/1975 rằng con số ước lượng về số người chết của Nam Việt Nam và Cộng sản như trùng hợp nhau”. Saigon nói đã đào lên được 2800 thi thể, một bản báo cáo của Công an Việt Cộng cũng đưa ra những con số khoảng 3000” Không có bản báo cáo của công an nào nói như thế được biết đến. Và đối với ông Adams, ông rõ ràng không nghĩ rằng có thể con số 2800 người đã được thay đổi theo yêu cầu của bản tài liệu dịch sai.

Một đặc điểm đáng lưu ý về những hố chôn tập thể là những nhà báo độc lập không hề được phép có mặt tại hiện trường và họ rất khó xác định chỗ chính xác nơi những hố chôn tập thể mặc dầu đã nhiều lần yêu cầu được đến xem. Một trong những tác giả đã nói chuyện với một binh sĩ thủy quân lục chiến có mặt tại buổi khai quật công khai đầu tiên cho rằng những phóng viên có mặt lúc đó là những người đáng tin cậy đuợc lựa chọn một cách cẩn thận và rằng những thi thể không được kiểm tra. Ông còn nhận xét rằng những dấu vết ở hiện trường chứng tỏ đã xử dụng xe ủi đất (cái này Việt Cộng không có). Có lẽ chỉ có những bác sĩ phương tây xem xét những mồ chôn – Alje Vennema, một bác sĩ người Canada, nhận thấy rằng con số nạn nhân trong hố chôn tập thể mà ông đã xem xét đã bị Mỹ và Saigon thổi phồng lên gấp 7 lần.

Con số 68 người đã được báo cáo là 477 người, hầu hết trong số họ đã bị thương và dường như là nạn nhân trong lúc giao chiến. Hầu hết các nạn nhân mặc đồ quân phục.

Rất ít người để ý đến giả thuyết rằng những nạn nhân ở Huế không phải do Bắc Việt hay bom đạn Mỹ mà do quân đội Saigon khi tái chiếm thành phố. Nhiều người thân Công đã lộ dạng trong suốt cuộc tổng tấn công, và đã hợp tác với chính quyền địa phương do những người cách mạng ở Huế hình thành, hoặc bầy tỏ sự ủng hộ của họ đối với MTGPMN. Khi quân giải phóng rút đi, nhiều cán bộ và những người ủng hộ quân giải phóng kẹt lại ở thế rất nguy hiểm và họ trở thành nạn nhân của những sự trả thù của Saigon. Bằng chứng đã đuợc đưa ra ánh sáng rằng sự giết để trả thù trên quy mô lớn đã xẩy ra ở Huế do lực lượng Saigon sau khi tái chiếm thành phố.

Trong một bài mô tả đầy sinh động, một nhà báo người Ý Oriana Fallaci, trích dẫn lời một linh mục Pháp ở Huế đã kết luận rằng: “Tất cả có khoảng 1100 người bị giết (sau ngày quân Saigon “giải phóng” thành phố)”. Hầu hết sinh viên, giáo viên đại học, tu sĩ, những nhà trí thức và tín đồ (religions people) ở Huế đã không bao giờ che đậy cảm tình của họ đối với quân giải phóng.

Trong bất cứ trường hợp nào, tình trạng rất lộn xộn về những sự kiện và bằng chứng cộng với những “chứng cứ” không thể tin được của Mỹ và Saigon, ít ra cũng có thể nói rằng “cuộc tắm máu” do quân giải phóng và quân Bắc Việt gây ra tại Huế đã được xây dựng trên những bằng chứng hời hợt. Và dường như rất có thể những bom đạn Mỹ “cứu” dân Việt Nam đã giết nhiều thường dân hơn là quân giải phóng và Bắc Việt đã làm. Cũng có thể sự thanh toán mang tính chính trị của chính quyền Saigon đã vượt quá bất cứ cuộc thảm sát nào của quân giải phóng và Bắc Việt ở Huế. Bằng chứng cho thấy rằng đa số cảnh sát, công chức và quân nhân ban đầu nằm trong danh sách “cải tạo” hơn là trừ khử, nhưng số người bị giết tăng lên vì áp lực quân sự về phía MTGPMN và Bắc Việt tăng lên. Có một điều đáng lưu ý, như trường hợp cải cách ruộng đất, lực lượng quân giải phóng của Mặt Trận khi rút lui đã bị cấp trên kiểm điểm một cách gay gắt vì đã đi quá giới hạn và làm tổn thương cách mạng. Cho đến nay chúng tôi không hề nghe bất cứ một lời tự phê bình nào của Mỹ và cán bộ cao cấp của Saigon về sự giết hại của họ ở Huế.

…. Chúng tôi đã đề cập một vài trong số những hoạt động trắng trợn hơn nữa của bộ máy tuyên truyền Mỹ và Saigon. Phải cần nhấn mạnh rằng ngay những bản báo cáo hằng ngày đã xây dựng nhiều tin tức về vấn đề Đông Dương lẽ ra nên được xem xét với nhiều hoài nghi hơn.

Một nhà báo Nhật bản Katsuichi Honda một lần điều tra một bản báo cáo hàng tuần của Bộ Tổng thông tin của quân đội Mỹ ở Saigon nhan đề: ”Những Hoạt Động Khủng Bố của Việt Cộng”. Nghiên cứu một vụ mà ông đã quan tâm nhất, ông khám phá ra rằng sự khủng bố không chỉ kinh hoàng và dai dẳng xẩy ra thường xuyên, nó thật sự đã bị che đậy bằng hành động “kiểm soát tin tức” . Và xem ra những người bị giết không phải là nạn nhân của MTGPMN.

Dường như có vô số “sự việc kinh hoàng” đã được che đậy một cách bí mật sau sân khấu của cuộc chiến Việt Nam đang gia tăng. Ông khám phá ra rằng vụ ám sát 5 sinh viên Phật tử tình nguyện trước đây được công bố chính thức là nạn nhân của vụ khủng bố của Việt Cộng rõ ràng là do quân chính phủ gây ra. Trong một số trường hợp khác “những lính say rượu” cãi lộn nhau rồi ném lựu đạn vào một số thường dân qua đường bị chết. Trường hợp này cũng bị cáo giác là do Việt Cộng khủng bố.

Trong những vụ khác, sự thật đã phơi bày một cách tình cờ. Đề cập đến một ví dụ đặc biệt phi lý, kịch cỡm, tại nơi mà hài cốt của những nạn nhân vụ Mỹ Lai đã được chuyển về đã bị không lực Việt Nam Cộng Hòa và trận không kích phá hủy. Nhưng như thường lệ, vụ này cũng đổ cho Việt Cộng khủng bố. Sự thật đã được những người theo đạo Quaker ở trong vùng phanh phui ra.

Những ví dụ trên đây gợi lên một điều những bản báo cáo chính thức là những sự dối trá và lừa bịp và trong một vài trường hợp đã được thay đổi thành những câu chuyện hoang đường chính thức. Một kết luận quan trọng hơn nữa là rằng nguồn tin chính thức nói chung đã hạn chế phẩm chất một cách tối đa. Chúng nêu lên những vấn đề nhưng không đưa ra câu trả lời đáng tin cậy nào.

Tài liệu “Kinh tế chính trị về nhân quyền. (Tập I)

của Noam Chomsky và Edwards S. Herman

Lê Hồng Phong, dịch

NDVN, ngày 4/12/2007

“The Political Economy of Human Rights – Volume I”
By Noam Chomsky and Edward S. Herman
Black Rose Book, Montréal, 1979 – 5.2.3 The Hue Massacre of 1968 (Excerpts)

The essential claim of the myth of the Hue massacre (see note 157 : When we speak of “mythical Bloodbath” we do not mean to imply that no killings took place. In fact they did, on a considerable scale. But the evidence seems to us decisive that the core of truth was distorted, misrepresented, inflated and embellished with sheer fabrication for propaganda purposes. As for the events themselves, we are not attempting to offer any definitive account, but rather to compare the evidence available with its interpretation by government and the media.) Is that during their month – long occupation of Hue at the time of the Têt offensive o f 1968, NLF and North Vietnamese forces deliberately, according to an advance plan and ‘blacklist’, rounded up and murdered thousands of civilians, either because they worked for the government of represented “class enemies.’ The basic documentation supporting the myth consists of a report issued by the Saigon government in April 1968, a captured document made public by the US Mission in November 1969, and a long analysis published in 1970 by USIS employee Douglas Pike. Both the Saigon and Pike reports should have aroused suspicions on the basis of their source, their tone, and their role in an extended propaganda campaign, timed in the latter case to reduce the impact of the My Lai massacre. But, even more important, the substance of these documents does not withstand scrutiny. *

As in the case of the land reform bloodbath myth just discussed, official estimates of alleged NLF-DRV killings of civilians at Hue escalated sharply in response to domestic political contingencies, in this case, in the fall of 1969, coincident with the Nixon administration’s attempt to offset the effects of the October and November surge of organized peace activity and to counteract the exposure of the My Lai massacre in November 1969. Shortly after the Tet offensive it self, Police Chief Doan Cong Lap of Hue estimated the number of NLF-DVR killings at about 200, * and the mass grave of local officials and prominent citizens allegedly found by the Mayor of Hue contained 300 bodies.

(The authenticity of these numbers and responsibilities for these bodies is debatable, as is discussed below.) In a report issued in late April 1968 by the propaganda arm of the Saigon government, it was claimed that one thousand executions had been carried out by the Communists in and around Hue, and that nearly half of the victims had been buried alive. Since the story was ignored, the US embassy put out the same report the following weeks, and this time it was headlined in the US papers. The story was not questioned, despite the fact that NO WESTERN JOURNALIST HAD EVER BEEN TAKEN TO SEE THE GRAVE SITES WHEN THE BODIES WERE UNCOVERED. On the contrary, French photographer Marc Riboud WAS REPEATEDLY DENIEDPERMISSION TO SEE ONE OF THE SITES where the province chief claimed 300 civilian government workers had been executed by the Communists. When he was taken by helicopter to the alleged site, the pilot refused to land, claiming the area was ‘insecure.’ *

AFSC staff people in Hue were also unable to confirm the report of mass graves, though they reported many civilians shot and killed during the reconquest of the city.*

Len Ackland, an IVS worker in Hue in 1967 who returned in April 1968 to investigate, was informed by US and Vietnamese officials that about 700 Vietnamese we re killed by the Viet Cong, an estimate generally supported by his detailed investigations, which also indicate that the killings were primarily by local NLF forces during the last stages of the bloody month-long battle as they were retreating.* Richard West, who was in Hue shortly after the battle, estimated ‘several hundred Vietnamese and a handful of foreigners ‘ killed by Communists and speculated that victims of My Lai style massacre by the US-ARVN forces might have been among those buried in the mass grave. *

In the fall of 1969 a ‘captured document’ was discovered that HAD BEEN MYSTERIOUSLY SITTING IN THE OFICIAL FILES FOR 19 MONTHS, in which the enemy allegedly ‘admitted’ having killed 2,748 persons during the Hue campaign. This document is the main foundation on which the myth of the Hue massacre was constructed. At the time it was released to the press, in November 1969, Douglas Pike was in Saigon to push the Hue massacre story, at the request of Ambassador Ellsworth Bunker. Pike, an expert media manipulator, recognized that the American reporters love “documents,” do he produced documents. He also knew that virtually none of these journalists understood Vietnam e se, so that documents could be translated and reconstructed to con form with the requirements of the massacre. He also knew that few journalists would challenge his veracity and independently assess and develop evidence, despite the long record of official duplicity on Vietnam and the coincidence of this new document with official public relations needs of the moment.* – the My-Lai story had broken, and organized peace activity in the fall of 1969 was intense. Pike was correct on this point also, and the few indications of skepticism by foreign reporters were not allowed to interfere with the institutionalization of the official version.

… Apart from the “captured documents,” the most persuasive support for the alleged massacre from the findings of mass grave – but this evidence is as unconvincing as the managed documents. A fundamental difficulty arises from the fact that large numbers of civilians were killed in the US-Saigon recapture of Hue by the massive and indiscriminate use of firepower. David Douglas Duncan, the famous combat photographer, said of the recapture that it was a “total effort to root out and kill every enemy soldier. The mind reels at the carnage, cost and ruthlessness of it all’.* Another distinguished photographer, Philip Jones Griffiths, wrote that most of the victims “were killed by the most hysterical use of American firepower eve r seen” and were THEN DE SIGNATED “AS THE VICTIM S OF A COMMUNIST MASSACRE.” * Robert Shaplen wrote at the time : “Nothing I saw during the Korean war, or in the Vietnam war so far has been as terrible, in terms of destruction and despair, as what I saw in Hue.”* Of Hue’s 17,134 houses, 9,776 were completely destroyed.” And 3,169 more were officially classified as ”seriously damaged.” The initial official South Vietnamese estimate of the number of civilians killed in the fighting during the bloody reconquest was 3,776.* Townsend Hoopes, Undersecretary of the Air Force at the time, stated that in the recapture effort 80% of the buildings were reduced to rubble, and that “in the smashed ruins lay 2,000 dead civilians…”* The Hoopes and Saigon numbers exceed the highest estimates of NLF-DRV killings, including official ones, that are not demonstrable propaganda fabrications. According to Oberdorfer, the US Marines put Communist losses at more than 5000, while Hoopes states that the city was captured by a Communist force of 1000, many whom escaped – SUGGESTING AGAIN THAT MOST OF THE KILLED WERE CIVILIAN VICTIMS OF US FIREPOWER.

Some of the civilians casualties of this US assault were buried in mass graves by the NLF along side their own casualties (according to NLF-DRV sources), and a large number of civilians were bulldozed into mass graves by the ‘allies.” * The NLF claim to have buried 2000 victim s of the bombardment in mass graves.* Oberdorfer says that 2800 “victims of the occupation” we re discovered in mass graves, but he gives no reason for believing that the se we re victims of the NLF-DRV “political slaughter” rather than people killed in the US bombardment He seems to have relied entirely on the assertions of the Ministry of Propaganda. Fox Butterfield, in the NEW YORK TIMES of 11 April 1975, even places all 3,000 bodies in a single grave! Samuel Adams, a former analyst with the CIA, wrote in the WALL-STREET-JOURNAL of March 26, 1975 that “South Vietnamese and Communist estimates of the dead coincide almost exactly. Saigon says it dug up some 2,800 bodies; a Viet Cong police report puts the number at about 3,000.” There are no known “police report” that say any such thing; and it is apparently never occurred to Adams that the 2,800 figure might have been adjusted to the needs of the mistranslated document.

An interesting feature of the mass grave, as noted earlier, is that INDEPENDENT JOURNALISTS WERE NEVER ALLOWED TO BE PRESENT AT THEIR OPENING, AND THAT THEY HAD DIFFICULTY LOCATING THEIR PRECISE WHEREABOUTS DESPITE REPEATED REQUESTS.” One of the author spoke with a US Marine present at the first publicized grand opening, who claims that the reporters present were carefully hand-picked reliable, THAT THE BODIES WERE NOT AVAILABLE FOR INSPECTION, and that he observed TRACKS AND SCOUR MARKS INDICATIVE OF THE USE OF BULLDOZERS (ưhich the DRV and NLF did not possess).* Perhaps the only Western physician to have examined the graves, the Canadian Dr. Alje Vennema, found that the number of victims in the graves he examined were INFLATED IN THE US-SAIGON COUNT BY OVER SEVENFOLD, totaling only 68 in stead of the officially claimed 477, that most of the bodies had wounds and appeared to be victims of the fighting, and that most of the bodies he saw were clothed in MILITARY UNIFORMS.*

Little attention has been paid to the possibility that massacre victims at Hue may have been killed neither by the NLF-DVR, but rather by the returning Saigon military and political police’ Many NLF sympathisers “surfaced” during the Tet Offensive, cooperated in the provisional government formed by the revolutionaries in Hue, or otherwise revealed their support for the NLF. With the retreat of the NLFV forces from Hue in 1968 many cadres and supporters were left in a vulnerable position a potential victims of Saigon retribution. Evidence has come to light that the large scale retaliatory killing may have taken place in Hue by the Saigon forces AFTER its recapture. In a graphic description, Italian journalist Oriana Fallaci, citing a French priest from Hue, concluded that :” Altogether, there have been 1,000 killed (after “liberation” by Saigon forces). Mostly students, university teachers, priests. Intellectuals and religious people at Hue have never hidden their sympathy for the NLF.”*

…. In any case, given the very confused state of events and evidence plus the total unreliability of US-Saigon ”proof”, at a minimum it can be said that the NLF-DRV “bloodbath” at Hue was constructed on flimsy evidence indeed. It seems quite likely that U S firepower “saving” the Vietnamese killed many more civilians than did the NLF and DRV. It I s al so not unlikely that political killing s by the Saigon autho ritie s e xce ed any ma ssac re s by the NLF and DRV at Hue. The evidence indicates that “the vast majority of policemen, civil servants, and soldiers were initially on “reeducation” rather on the liquidation lists, but the number of killings mounted as military pressure of the NLF and North Vietnamese mounted.”* It is also of interest here, as in the land reform case, that the retreating Front forces “were severely criticized by their superiors for excesses which hurt the revolution’.* We have not yet heard of any such self-criticisms coming from US and Saigon superiors for their more extensive killing at Hue.

…. We have discussed several of the more blatant exercices of the US-Saigon propaganda machines, but it must be emphasized that even their day-to-day reports, which constituted the great mass of information about Indochina, should have been treated with comparable skepticism. On the rare occasion when competent reporters made serious investigations, the information presented by U S and Saigon sources turned out to be no less tainted. The Japanese reporter Katsuichi Honda once undertook to investigate the weekly report of the General Information Bureau of the US Army in Saigon entitled “Terrorist Activities by Viet Cong.” Pursuing “one isolated case” that interested him, he discovered that not only was amazingly brutal and persistent terrorism occurring regularly, it was actually being shielded from public scrutiny by Saigon’ s information control.” It soon appeared that the murders were not done by the NLF at all. There were, it seemed, innumerable “terrible facts” which had been secretly hushed up behind the scenes of the intensifying Vietnam war.*

In the case in question, he discovered that the assassination of five Buddhist student volunteers, officially victims of Viet Cong terror, had apparently been carried out by government forces. In another case, “drunken soldiers of the government quarreling among themselves threw grenades, and some civilian bystanders were killed,” the case again being reported “as another instance of “Viet Cong terrorism.”

In others cases, the facts have emerged only by accident. To mention one particularly grotesque example, the camp where the remnants of the My Lai massacre had been relocated was largely destroyed by ARVN air and artillery bombardment in the spring of 1972. The destruction was attributed routinely to Viet Cong terror. The truth was revealed by Quaker service worker s in the area.*

These examples point up the fact that in the instances in questions the official reports were lies and deceptions, and in some cases were converted into official myths; the more important conclusion is that official sources in general have extremely limited credibility. They raise questions, but provide no reliable answer.

Note: All the * in the text refer to supportive documents.


Đọc thêm: The Myth of the Massacre

http://www.chss.montclair.edu/english/furr/Vietnam/huemyth/mythofhuemassacre.pdf

Nguyễn Văn Lý và sự hoang tưởng về chính trị

http://www.cand.com.vn/vi-VN/binhluan/2011/5/121634.cand

Trong cuộc trao đổi với Đại sứ Michael Michalak, ông Lý đề nghị cải tổ LHQ. Ông Lý cho rằng LHQ không thể một mình lo cho hòa bình nhân loại được. LHQ còn phải cải tổ nhiều. “Tôi có một chương trình cải tổ Liên hợp quốc 300 năm – ông Lý nhấn mạnh – chứ không thể sớm hơn được. Tạm thời lúc này phải nhờ các tôn giáo giúp thêm cho hòa bình nhân loại”.
>> Phải xử lý nghiêm những hành vi nguy hiểm, phá hoại an ninh quốc gia

Vừa qua, trên mạng Internet và một số phương tiện truyền thông của cộng đồng người Việt ở nước ngoài rộ lên tin tức về sức khỏe của ông Nguyễn Văn Lý, người hiện đang thi hành án bản án 8 năm tù giam về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”, tại Trại giam Nam Hà.

Một số bản tin miêu tả cứ như được “tận mục sở thị”, trực tiếp trò chuyện với ông Lý trong trại giam và rêu rao ông Lý bị đày đọa đến mức thân thể tàn tạ… Với dụng ý xấu, lời lẽ trong những bản tin này đã xuyên tạc một cách trơ trẽn sự thực đang diễn ra tại Trại giam Nam Hà nói chung và việc ông Lý thi hành án phạt tù nói riêng.

Trong bài viết này, ngoài việc làm rõ tình trạng của ông Nguyễn Văn Lý hiện nay, chúng tôi sẽ đề cập tới một vài ý kiến của ông Lý, mà theo nhiều người thì những ý kiến đó là mang tính hoang tưởng, ngộ nhận về chính trị.

Sự thực về sức khỏe của ông Nguyễn Văn Lý hiện nay

Trên thực tế, đúng là sức khỏe của ông Nguyễn Văn Lý từng có vấn đề. Mới đầu, cán bộ y tế của Trại giam Nam Hà xác định ông Lý có tiền sử cao huyết áp nên đã đưa ra khuyến nghị, đồng thời cấp phát thuốc đầy đủ theo chế độ quy định đối với một phạm nhân trong trại. Tuy nhiên, ông Lý tỏ ra chủ quan với căn bệnh nguy hiểm này, không thực hiện triệt để việc uống thuốc ổn định huyết áp… Vì vậy, trung tuần tháng 5/2009, ông Lý bị tai biến, một buổi sáng trở dậy bị ngã và sau đó bị liệt bên phải người…

Theo Thượng tá Dương Đức Thắng, Giám thị Trại Nam Hà, các cán bộ quản giáo và y tế của trại luôn quan tâm tới việc chăm sóc sức khỏe và bảo đảm điều kiện sinh hoạt của ông Lý. Cũng như những phạm nhân khác, nếu sức khỏe của ông Lý có vấn đề gì, thì sẽ được điều trị tại bệnh xá của trại hoặc các cơ sở y tế khác, kể cả ở các bệnh viện lớn tuyến trên. Chính nhờ sự chăm sóc y tế kịp thời và hiệu quả, ông Lý đã bình phục hoàn toàn. Với những ai có ít nhiều hiểu biết về căn bệnh huyết áp này thì đều ý thức được, nó rất nguy hiểm; đặc biệt, khi đã bị tai biến thì khả năng  phục hồi hoàn toàn, là điều cực kì khó khăn…

Ngày 14/10 vừa qua, được sự đồng ý của các cơ quan chức năng Việt Nam, Đại sứ Mỹ Michael Michalak, đã tới thăm phạm nhân Nguyễn Văn Lý tại Trại giam Nam Hà. Có mặt trong buổi gặp gỡ này, dù đã được Ban giám thị Trại Nam Hà thông báo về sự bình phục của ông Lý, song chúng tôi vẫn không khỏi ngạc nhiên khi tận mắt thấy ông Lý có thể đi lại, nói năng rõ ràng.

Bản thân ông Lý, trong lúc cao hứng còn đứng dậy, đi lại mạnh mẽ mấy vòng trước mặt ngài Đại sứ Michael Michalak, để khẳng định một điều “tôi đã hoàn toàn bình phục”. Tất nhiên, khi trao đổi với ngài Michael Michalak, ông Lý không thể không nói lời cảm ơn chân thành sự chăm sóc y tế kịp thời và hiệu quả của Trại giam Nam Hà…

Trước cuộc gặp của Đại sứ Michael Michalak, hai linh mục Lê Quang Quý và Lê Quang Viên cũng đã tới thăm ông Lý vào trung tuần tháng 9 vừa rồi. Nói chuyện với hai vị linh mục này, ông Lý cho rằng, mình không cần đi bệnh viện, vì “bác sĩ của trại điều trị rất tốt, tư vấn tích cực”. Tinh thần của ông Lý cũng khá ổn định, vui vẻ. Vì thế, sau buổi gặp gỡ, hai vị linh mục đã ghi cảm tưởng vào sổ của Trại: “Nhân chuyến thăm linh mục Lý tại trại Nam Hà, thấy Ban giám đốc trại vui vẻ và cha Lý khỏe mạnh, chúng tôi rất vui và an tâm”. Rõ ràng là, sức khỏe của ông Nguyễn Văn Lý hiện đang rất ổn định và ông được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi của một phạm nhân đang thi hành án phạt tù.

Sự thực nêu trên đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu vu cáo, xuyên tạc tình hình công tác thi hành ánh phạt tù của Nhà nước Việt Nam. Ông Nguyễn Văn Lý, cũng như mọi phạm nhân khác đều được hưởng những quyền lợi và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Sự hoang tưởng về chính trị của ông Lý

Trước đây, ông Nguyễn Văn Lý đã có nhiều thư gửi các tổ chức, chính khách trong và ngoài nước góp ý kiến về việc này, việc kia, kể cả những việc “ngoài phạm vi nước Việt”. Thiết tưởng, đây cũng là việc tốt, bởi mọi công dân đều phải có nghĩa vụ với cộng đồng và xã hội. Nhưng vấn đề đặt ra là, ý kiến đó đúng hay không đúng? Có thực tế không? Và quan trọng hơn là những việc làm cụ thể để góp sức mình giúp cộng đồng, xã hội và Tổ quốc.

Trong nội dung bài viết này, chúng tôi không đề cập tới những ý kiến của ông Nguyễn Văn Lý trước đây, mà chỉ nêu 2 vấn đề của ông Lý trao đổi với Đại sứ Mỹ Michael Michalak tại cuộc gặp diễn ra ở Trại Nam Hà ngày 14/10/2009.

Sau khi trao đổi với Đại sứ Michael Michalak về tình hình sức khỏe, sinh hoạt trong trại giam, ông Lý tỏ ra rất quan tâm tới vấn đề thành lập một nhà nước thống nhất Israel – Palestin.

Ông Lý nói: “Ngài Đại sứ có thể trực tiếp làm hoặc có thể qua trung gian của  các chính khách quốc tế, phải tiếp tục để nhà nước Israel và nhà nước Palestin trở thành một nhà nước mà thôi. Đó mới là hòa bình lâu dài. Vì sự tranh chấp này kéo dài gần 4.000 năm rồi. Nếu như tôi có dịp đi Palestin, đi Israel tôi cũng sẽ làm việc ấy. Ngài phải nhờ một chính khách nào đó đang có điều kiện, thúc đẩy để họ trở thành một nhà nước duy nhất thôi, không có giải pháp thứ hai. Họ đều là con cháu của Abaraham. Tôi rất tiếc rằng không có chính khách quốc tế nào thúc đẩy chuyện ấy cả”…

Trên thực tế, việc thành lập nhà nước Israel – Palestin luôn luôn là vấn đề cực kì phức tạp, khiến cộng đồng thế giới lo ngại sâu sắc và tốn nhiều công sức để giải quyết nhằm tìm kiếm một giải pháp bền vững. Không hiểu ông Lý căn cứ vào đâu mà cho rằng “không có chính khách quốc tế nào thúc đẩy chuyện ấy cả” – tức vấn đề Israel – Palestin.

Chính nhiều đời Tổng thống Mỹ cũng tốn thì giờ, sức lực để thúc đẩy giải quyết vấn đề này. Ngoài ra, nhiều chính khách quốc tế, những người có tài “kinh bang tế thế” cũng đang lao tâm khổ tứ để kiến tạo hòa bình cho vùng Trung đông và giải quyết triệt để vấn đề Israel – Palestin.

Tiếp đó, ông Lý đề nghị cải tổ Liên hợp quốc. Ông Lý cho rằng Liên hợp quốc không thể một mình lo cho hòa bình nhân loại được. Liên Hợp quốc còn phải cải tổ nhiều.

“Tôi có một chương trình cải tổ Liên hợp quốc 300 năm – ông Lý nhấn mạnh, chứ không thể sớm hơn được. Tạm thời lúc này phải nhờ các tôn giáo giúp thêm cho hòa bình nhân loại. Ngài có quen nhiều, ngài gợi ý cho các vị Tổng giám mục, Hồng y Mỹ lập một tổ chức Từ thiện Liên tôn giáo, gồm Hồi giáo, Phật giáo, Kitô giáo và đừng đặt trụ sở tại Mỹ, đừng đặt tại Roma; nên đặt trụ sở tại Braxin, Australia, Ấn Độ. Và, đừng để Kitô giáo làm chủ tịch, mặc dầu các Hồng y, Tổng giám mục xướng xuất. Phải mời một Hòa thượng Phật giáo, hoặc một chức sắc cao trong Hồi giáo làm chủ tịch”…

Chúng tôi không bình luận gì thêm về “sáng kiến” này của ông Lý, mà chỉ xin nêu ý kiến của ngài Đại sứ Michael Michalak, khi chúng tôi hỏi quan điểm của Đại sứ về việc cải tổ Liên hợp quốc trong 300 năm theo phát biểu của ông Lý. Cuộc trao đổi của Đại sứ Michael Michalak với chúng tôi diễn ra ngay sau cuộc gặp của Đại sứ với ông Nguyễn Văn Lý.

Đại sứ Michael Michalak cho rằng: “À, đó là một ý kiến thú vị đấy. Tôi hi vọng sẽ được tiếp tục thảo luận với ông Lý về vấn đề này. Nhưng việc cải tổ Liên hợp quốc trong 300 năm, thì theo tôi đấy là một quãng thời gian quá dài!”