Skip to content

“QUỐC HẬN” – LÀM SAO CHO BU HIỂU

02.05.2013

Xichloviet

Tự điển tiếng Việt chú giải  rằng hận là giận, là oán hờn đối với kẻ đã hại mình.

Hận thường dẫn đến những hành động tiêu cực để  vơi bớt nỗi hận, cam chịu  và thường không có động cơ trả thù mạnh mẽ. Kẻ hận tình thì lang thang buồn bã có khi quẫn trí tự tử, kẻ hận đời thì sống buông thả không cần đến ngày mai.

Vậy thì tại sao các anh cờ vàng lại dùng chữ “hận” để diễn tả nỗi niềm của mình mà không phải là “thù” ? . Tại sao các anh đặt ngày 30.4 là “quốc hận”  mà không phải là “quốc thù”?  Kẻ nung nấu ý định trả thù thường sẽ nung nấu quyết tâm cao hơn kẻ chỉ mong rửa hận chứ?  Phải chăng các anh không có ý định trả thù?

Không phải như vậy, các anh  rất cay cú CS,  luôn nung nấu ý định trả thù, các anh từng thề không đội trời chung với CS, nhưng hơn ai hết các anh  biết rằng  không thể làm được. Cờ vàng rất yếu ớt khi không có BU cho nên cờ vàng chỉ biết kích động trả thù mà không thể làm gì khác. Vì yếu đuối và bất tài cho nên bất cứ ai, bất cứ hành động nào, bất kể phe nhóm nào đối lập với CS là được cờ vàng ủng hộ, kích động và tiếp tay dù đó là kẻ thù của dân tộc.

Người CS nói họ “căm thù giặc” chứ không bao giờ nói “hận giặc” cả. Cũng chính vì lòng căm thù giặc mà họ dễ dàng truyền lửa cho người dân và  biến nó thành sức mạnh vô biên. Kẻ thù chính của họ được xác định từ đầu và xuyên suốt cuộc chiến tranh giành độc lập là  quân xâm lược. Quân xâm lược họ phải đối đầu là đế quốc Pháp rồi đến Mỹ. Các chế độ cờ vàng của các anh  phục vụ cho hai đế quốc này chỉ là một bộ phận của quân xâm lược,  các anh chỉ là mục tiêu thứ yếu, đánh đuổi được quân xâm lược thì những kẻ phục vụ chúng cũng phải chết theo và lịch sử đã chứng minh đúng như thế.

Cờ vàng rất muốn nhưng không thể sử dụng lòng căm thù CS của mình để kích động người dân cho mục tiêu lật đổ chế độ vì người dân không hề căm thù CS như các anh tưởng tượng. Những gì các anh  nói về sự căm phẫn của người dân đối với CS chỉ là sự tưởng tượng giúp các anh  vuốt ve nhau mà thôi. Thế nên mấy chục năm qua các anh vãn  chỉ biết “hận” với nhau năm này qua năm khác.

“Hận” trong cộng đồng cờ vàng  bao hàm nghĩa cam chịu  như số phận nghiệt ngã đã an bài nhưng phải khơi dậy hâm nóng nó thường xuyên để mong thế hệ sau rửa hận cho mình. Hàng năm nỗi hận của cờ vàng  được nâng lên hàng “đại lễ” để cùng hận với nhau và cùng nhau gợi lại những nỗi niềm cay cú.

Ba mươi tháng tư

Ngày này ba mươi tám năm về trước Các anh cờ vàng ai cũng chung tâm trạng là phải chọn con đường vi thượng sách là  tẩu thật nhanh đừng để lọt vào tay CS. Những anh không có cơ hội để tẩu thì đành phải mướt mồ hôi ngồi ôm canh cánh bên lòng nỗi lo sẽ bị Việt cộng trả thù.

Ngày ấy các anh vẫn chưa hận, các anh chỉ lo, vì nỗi lo nó to hơn nỗi hận. Các anh mất ăn mất ngủ chỉ cầu mong có phép mầu làm cho Việt Cộng nó gia ơn tha mạng.

Làm sao không mất ăn mất ngủ cho được khi còn quyền lực, VC lọt vào tay các anh, không một ai toàn vẹn hình hài. Các anh dùng đủ nhục hình để hành hạ họ. Các anh vặn răng người ta, đập gẫy chân người ta đập nát các ngón tay người ta. Các anh nung sắt đỏ dí vào người, cắt vú xẻo thịt người ta thì thử hỏi  khi họ tóm được các họ anh phải làm gì để lấy lại công bằng đây. Chỉ cần nghĩ đến đó thôi các anh đủ vãi ra quần.

Các anh lại còn được tâm lý chiến tuyên truyền rằng  rằng Việt Cộng vô cùng dã man tàn ác, uống máu dân lành.  Như thế thì phen này làm sao nó tha cho các anh được, số phận cá trên thớt của các anh mười phần hết chín phần  toi . Cái sợ nó làm cho các anh teo cả gan mật thì làm gì còn chỗ đâu cho cái hận. Ngoài những anh may mắn bỏ chạy được, anh nào còn kẹt lại thì không còn chỗ mà  ẩn náu vì đâu đâu cũng có Việt Cộng,  vả lại khi còn đương quyền các anh càng to càng phách lối khoe khoang, vợ con các anh coi bà con lối xóm bằng nửa con mắt thì ai chẳng biết về các anh,  giấu đi đàng nào, du kích địa phương thuộc lòng thành tích của các anh thì  trốn vào cái lỗ nào bây giờ. Các anh đành cắn răng bó gối  ngồi chờ số phận.

Các anh đeo lon quan càng to  thì càng run càng  sợ. Cái hào khí VNCH của các anh nó biến đâu mất cả, nó teo tóp lại một cách thảm hại, nó  mất tích chẳng  còn thấy dấu vết hình hài gì. Những anh Hắc Báo Trâu điên Mãnh Hổ bấy giờ như những con mèo ướt run lên lập cập chỉ biết than thân trách phận và trách BU. Cái “tổ quốc – danh dự – Tránh nhiệm “ của các anh cũng vứt hết vào bãi rác ven đường miễn là làm sao giữ được cái thân xác vẹn toàn.  Anh nào cũng cố gắng giấu được điều gì tốt điều nấy. Có anh lỡ xăm chữ “sát cộng” trên tay chẳng biết làm sao phải lấy bùn đất trét lên, lấy  băng quấn lại mắt láo liên, quần ướt sũng. Cứ như thế, ngày ba mươi tháng tư, các anh SỢ , LO  và ĐỢI . Các anh phải cởi quần vứt ba lô giày dép súng đạn cũng là để xóa đi cái dấu vết người lính cộng hòa hạng tư thế giới – Ôi chẳng nỗi khổ nhục nào bằng.

Ba mươi tháng tư.

Hai triệu tàn quân và công chức phải ra trình diện trong đó có 70 ngàn sĩ quan từ thiếu úy đến trung tướng cứ răm rắp không một ai dám tỏ thái độ  “hận” . Khi bị gọi trình diện anh nào cũng lấm la lấm lét xem thử anh trình diện trước bị cư xử ra sao, anh nào cũng né bàn cán bộ địa phương vì khó giấu thân phận. Gặp cán bộ các anh lễ phép hơn cả lễ phép với ông bà. Một trung tá lữ đoàn trưởng thủy quân lục chiến các anh tâm sự rằng đã nghe ngóng mấy ngày nếu thấy tiếng la hét do bị tra tấn sẽ bỏ trốn,  nếu không trốn được sẽ tự sát, chứng tỏ  sự căng thẳng tột cùng của các anh. Cũng may anh này nhận ra được sự nhân đạo của chính quyền quân quản nếu không thì lại trở thành “anh hùng tuẫn tiết của các anh rồi”

image001

Một điểm đăng ký trình diện  sau ngày 30-4-1975. Ảnh tư liệu của Cục Dân vận

Cái lo sợ của các anh chẳng ai giống ai nhưng tựu trung bất cứ ai từng gây tội ác trong các anh cũng  hình dung và ám ảnh cái ngày Việt Cộng nó cho đi mò tôm nó như thế nào. Bản án tử hình tự các anh phán xét và treo lên đầu mình, treo lên đầu nhau  khủng khiếp như thế thì có anh nào dám hận, còn tâm can lòng phèo đâu mà hận.  Nhiều anh trăn trối với gia đình rằng nếu Việt Cộng nó bắt đi thì hãy lấy ngày ấy làm đám giỗ hàng năm. Khổ nhất là những anh tướng tá gây ra  nợ máu lấy việc hành hạ tù binh VC làm thú vui thì luôn ám ảnh về cái ngày lên thiên đàng bằng mã tấu. Thế nên một số anh chọn cách tự xử tại nhà để khỏi phải rơi vào tay CS và  để có thời giờ xin chúa ban phước lành xin  lấy cái vé vớt mà  yên ổn về nước chúa. Những anh này về sau đã trở thành những “anh hùng tuẫn tiết”  của các anh đấy. Ở thế giới bên kia có lẽ các anh này đấm ngực thình thịch mà  trách mình rằng sao ta  dại quá vì chúng nó có thằng nào chết đâu,  lại được BU cưu mang mà chống cộng.

Vào trại cải tạo các anh mới  thở phào nhẹ nhõm như trút đi được gánh nặng ngàn cân. Chưa biết nó giam bao lâu nhưng chắc là  được sống rồi, và sẽ  không có trò “mò tôm” như các anh  từng tưởng tượng. Mừng lắm cho nên các anh bắt đầu có nụ cười, có giấc ngủ ngon và các anh bắt đầu mơ. Khi biết chắc rằng CS nó không trừng trị các anh như tưởng tượng thì lúc ấy các anh mới bắt đầu yên tâm và cũng bắt đầu  từ đó các anh mới cảm thấy  hận chúng nó.

Gác tay lên trán trong tù các anh không thể hiểu nổi tại sao quân đội “hạng tư thế giới” của các anh lại có thể  tan hàng thảm bại nhanh đến thế. Các anh không tưởng tượng được là tại sao BU lại bỏ rơi các anh đột ngột như thế khi các anh đang vô cùng trung thành  bảo vệ cái chính nghĩa VNCH mà Bu giao cho như là một nghĩa vụ cao cả được BU bảo trợ. Các anh đang  trừ gian diệt bạo bảo vệ thế giới tự do cho BU. Các anh đang bảo vệ chính nghĩa cờ vàng  mà BU giao trọng trách và đổ biết bao tiền của nuôi nấng cơ mà.

Tại sao BU bỏ chạy bỏ lại các anh như thế . Một siêu cường như BU lẽ nào lại bị bọn thổ phỉ ốm đói  như thế đánh bại thảm hại  tống cổ về nước cấp tốc thế  hay sao? Tai sao? Tại sao ? Đầu óc nô lệ của các anh không bao giờ hiểu được.

Có rất nhiều cuộc hội luận của các anh về lý do tại sao “mất nước”. Cho đến ngày nay tài liệu tham khảo về cuộc chiến VN dẫy đầy nhưng không không anh nào nhìn ra được thân phận nô lệ của mình. Các anh vẫn cho rằng các anh là tiền đồn của thế giới tự do chiến đấu để bảo vệ nó ngăn chận sự bành trướng của CS. BU chỉ là đồng minh giúp các anh thực hiện sứ mạng của mình. Các anh lờ đi cái thực tế rằng quyền lực của BU có thể sai khiến các anh và có quyền bắt các anh phải chết. Tiền bạc của BU phát cho các anh không phải vô điều kiện mà là để phục vụ cái lợi ích của BU, khi không đạt được mục đích các anh không còn giá trị. Các anh luôn mồm than vãn rằng “BU bỏ rơi” mà không ý thức được rằng BU các anh đã vứt đi một món đồ không còn sử dụng được

Cái lý tưởng các anh nó vô cùng đơn giản . Các anh được mô tả như những anh hùng trừ gian diệt bạo, các anh được nhồi sọ rằng CS theo chủ nghĩa ”tam vô” nghĩa là vô gia đình, vô tổ quốc vô tôn giáo. Thế nên nghĩa vụ tiêu  diệt chúng là cao cả  không có gì phải lăn tăn cả. Các anh được nhồi sọ rằng Việt cộng là bọn rừng rú răng đen mã tấu, sa vào tay Việt cộng thì chỉ có chết. Cảnh tâm lý chiến chiếu đi chiếu lại  cho các anh xem địa chủ mà còn bị chúng chôn sống thì các anh thoát làm sao được. Thế nên khi không thấy bị chúng cho đi “mò tôm” các anh mừng vô kể  như được sinh ra là lần thứ hai.  Không còn lo sợ mò tôm nên các anh mới có dịp gác tay lên trán mà  hận.

Thế nhưng nếu nói  rằng các anh hận vì nó bỏ tù mình, hận nó đánh mình chạy như vịt, hận nó tước đoạt hết quyền lợi BU ban  thì hèn quá cho nên các anh phải hô hào nâng nó lên thành “quốc hận” cho nó sang. Như thế mới chứng tỏ mình không hận vì ích kỷ nhỏ nhen mà hận vì nước mất nhà tan, vì chính nghĩa.

Nước mất nhà tan là cái thực thể đau lòng của các anh thật. Các anh chẳng cần biết cái nước VNCH của các anh nó được đẻ ra từ đâu, nó là con của  ai các anh cũng chẳng cần biết,. Các anh chỉ cần biết nhờ nó mà các anh được ngồi trên đầu thiên hạ, nó mất đi các anh mất tất cả thì  ai mà chả hận. Thế là các anh đã có ngày “quốc hận” đến hôm nay.

Trong ngôn ngữ Việt  chữ  “quốc” sẽ được dùng như  tính từ khi đi sau nó là một danh từ như quốc tang, quốc hồn, quốc lộ, quốc kỳ, quốc hoa, quốc ngữ, quốc ca v.v… Như thế một khi chữ “quốc” được sử dụng  làm tính từ thì không thể dùng động từ theo sau nó. Ở đây các anh dùng động  từ “hận” để muốn diễn tả nghĩa “ cả nước hận” là sai bét và về ngữ nghĩa. Chữ “hận” chưa bao giờ được dùng như một danh từ trong tiếng Việt. Nói như thế thì từ “quốc hận” của các anh sẽ được người Việt  hiểu là “hận quốc gia’ . Thế thì bao năm rồi các anh “hận quốc gia VNCH” à ?  Cũng chỉ vì muốn phát ngôn  “hận “ cho  thật kêu  mà các anh đã tự vả vào họng mình rồi đấy.

Thực ra nhìn vào  những hành động của các anh bao năm qua nếu nói chính xác phải nói rằng các anh “cay cú” nó mới đúng bản chất . Cay cú chỉ giới hạn hành động là thổ lộ cho nhau kích động nhau để rủa xả đối phương. Cho nên gần bốn chục năm hận của các anh vẫn chỉ làm được có thế .

Như thế có thể khẳng định rằng ba mươi tháng tư năm xưa dù tổng thống các anh đầu hàng, dù các anh phải lũ lượt  tụt quần rã đám, ngày ấy  các anh cũng chưa hề hận, ngày ấy các chỉ anh sợ và lo, các anh chưa đủ bình tĩnh để hận.  Khi các anh được an toàn không bị VC nó cho lên thiên đàng với chúa thì các anh mới bắt đầu nghĩ đến cái hận.

Sang đến sứ BU lái lá gan của các anh bắt đầu tươi trở lại. Bao giờ cũng thế, các anh chỉ cảm thấy bình an và  to mồm khi có BU bên cạnh. Nhờ thế mà các anh bắt đầu tụ nhau lại để nhân lên cái “hận”. Các anh mua quần áo si đa mặc vào cho nó đỡ nhớ cái ngày nhục nhã năm xưa. Ngày xưa cởi quần chạy các anh khấn vái đừng cho ai nhận ra mình. Quan thì chỉ nhận là lính, lính thì chỉ nhận là dân.  Ngày nay trên xứ BU anh nào cũng rủng rỉnh lon lá,  lính biến tất tần tật thành quan hết, chẳng thấy anh lính nào . Các anh biện hộ rằng các anh chưa từng có giấy giải ngũ cho nên ba mươi mấy năm một anh hạ sĩ lên đại tá là bình thường chẳng có gì lạ. Cứ như thế  “quân lực” có quan không có lính của các anh   lâu lâu lại kéo nhau ra phố hò hét mà “hận” với nhau.

Các anh có thói quen là cái gì có BU để ý thì các anh thích lắm cho nên các anh làm đủ cách để gây chú ý cho BU. Các anh xin công nhận cờ vàng chỗ này chỗ nọ, cắm nó khắp mọi nơi để nhắc cho BU sự hiện diện của các anh nhưng chẳng được BU đoái hoài. Thế nhưng cái “quốc hận “ của các thì không thể dịch ra cho BU hiểu được nỗi lòng. Trên thế giới này chỉ các anh là có món này,  ngôn ngữ nhân loại chẳng có nước nào có  được nên chẳng có ai hiểu cho nỗi lòng các anh.

Thù   thì phải trả thù, hận thì phải rửa hận Có thể nói ngay rằng không có điều gì đau bằng hận mà phải bó tay không làm sao rửa hận được. Muốn rửa hận các anh phải có cách để làm cho đối thủ phải đau như chính nó làm cho mình. Vậy mà ba mươi tám năm rồi các anh mỗi ngày mỗi đau thêm mà kẻ thù thì càng ngày càng trêu ngươi các anh xem các anh như cỏ rác.

Rửa hận bằng cách nào? Đó là bài toán vô cùng khó cho các anh. Hầu hết các bộ óc ưu tú nhất của cờ vàng đã hiến kế ba mươi tám năm qua mà chưa có kế sách nào để các anh làm một việc tưởng chừng như đơn giản là “rửa hận”. Và hệ quả là khi không “rửa” được hận thì sẽ bị nỗi hận nó ám suốt đời.

Con gì đau bằng thù không trả được mà hận không rửa được phải không các anh. Dân ta có lòng bao dung độ lượng, ai cũng thông cảm cho cái sự cay cú của các anh nhưng chỉ trách các anh sao ma u mê lâu đến thế. Đã 38 năm rồi chứ có ít đâu, chưa anh nào ra được phương sách rửa hận để các anh thanh thản mà cứ ôm nó vào lòng rên rỉ.

Thông thường trên thế gian này cái gì người ta không rửa được thì người ta còn có cách khác là “chùi” nhưng đối với cái “hận” của các anh  thì bó tay, chẳng thể nào chùi cho nó bớt hận được. Rõ khổ.

From → Bình Luận

494 phản hồi
  1. Trong bài viết của Xichloviet tôi đọc thấy trong đoạn sau đây

    “…Trong ngôn ngữ Việt chữ “quốc” sẽ được dùng như tính từ khi đi sau nó là một danh từ như quốc tang, quốc hồn, quốc lộ, quốc kỳ, quốc hoa, quốc ngữ, quốc ca v.v… Như thế một khi chữ “quốc” được sử dụng làm tính từ thì không thể dùng động từ theo sau nó. Ở đây các anh dùng động từ “hận” để muốn diễn tả nghĩa “ cả nước hận” là sai bét và về ngữ nghĩa. Chữ “hận” chưa bao giờ được dùng như một danh từ trong tiếng Việt. Nói như thế thì từ “quốc hận” của các anh sẽ được người Việt hiểu là “hận quốc gia’ . Thế thì bao năm rồi các anh “hận quốc gia VNCH” à ? Cũng chỉ vì muốn phát ngôn “hận “ cho thật kêu mà các anh đã tự vả vào họng mình rồi đấy…”

    người viết đã khẳng định “Chữ “hận” chưa bao giờ được dùng như một danh từ trong tiếng Việt”.

    Cũng cùng bài viết trong một phần sau lại có đoạn :
    “Thù thì phải trả thù, hận thì phải rửa hận Có thể nói ngay rằng không có điều gì đau bằng hận mà phải bó tay không làm sao rửa hận được. Muốn rửa hận các anh phải có cách để làm cho đối thủ phải đau như chính nó làm cho mình. Vậy mà ba mươi tám năm rồi các anh mỗi ngày mỗi đau thêm mà kẻ thù thì càng ngày càng trêu ngươi các anh xem các anh như cỏ rác.”

    Vậy chữ Thù ( trả thù), Hận ( rửa hận) của phần này là danh từ hay động từ ?
    Tôi không có ý bàn đến chính trị, tôn giáo ở đây chỉ mong người viết nếu có thể hãy bàn rộng thêm chút nữa về ngôn ngữ cho người đọc được mở rộng thêm phần hiểu biết.

    Cám ơn Xíchloviet

  2. Reblogged this on .

  3. Ông tran minh truong à, sao tôi thấy ông nói nhiều quá vậy , mà nói dai là ló ra cái dỡ.. Chúc ông sức khoẽ để viết nữa OK , bye,,

  4. permalink

    Phản quốc và bất tín với đồng bào của mình thì phải trả giá, chỉ ôm lấy cái hạnh phúc của mình mà chà đạp lên cuộc sống của người khác thì phải trả giá. Cộng Sản đã theo lòng nhân, lòng dân mà đứng dậy đấu tranh. Cộng Sản là những con người bần cùng của xã hội bị giặc chà đạp mà đứng dậy, chẳng có thế lực nào sai khiến họ cả mà chính là cuộc sống bị vùi dập đã mang họ đến bên nhau để đứng lên chống giặc. Các người ăn rồi rững mỡ tuyên truyền ,còn người Việt sống ở Việt, người Việt sống ở hải ngoại, những con người thực sự yêu nước, yêu dân tộc mới hiểu được. Đừng nói hận hay là thù gì, chỉ cần hiểu được dân tộc là như thế nào là tốt rồi, giở giọng học thức rỗng tuếch ra thật đáng thương quá!

    • tran minh truong permalink

      Khi cần tập hợp nhau thì biện pháp kích động là bước khởi động không thể thiếu của lủ thú mặt người cộng sản việt nam , nhằm kích thích “phản xạ cờ búa liềm ” – tập hợp số đông cùng hội cùng thuyền – biểu dương lực lượng, để hù dọa trấn áp đối phương bảo vệ bầy đàn. Nó giống y như tiếng tru tiếng hú để thông tin với nhau của các loài động vật hoang dã nhằm cảnh báo mối nguy hiểm đang xuất hiện đe dọa chúng.
      Không kích động nhau cờ búa liềm chắc chắn sẽ tan rã.
      Việc báo động lâm nguy trong thế giới bầy đàn hoang dã từ xa xưa đã là điều rất tự nhiên và cần thiết, đó là quá trình tiến hóa hàng triệu năm của loài vật. Nó rất hữu ích trong việc bảo vệ sự tồn tại của giống nói, nó là bản năng di truyền, nó ăn vào máu biết bao thế hệ cộng sản cha ông quan thầy đảng chúa của chúng để tạo thành phản xạ nhằm đối phó với những hiểm nguy của thế giới xung quanh.
      Khi con người tiến hóa làm bá chủ thiên nhiên, thống trị thế giới muôn loài, không còn kẻ thù từ thế giới hoang dã, mối hiểm nguy từ các giống loài khác không còn, phản xạ bầy đàn của con người đã thoái hóa. Tàn tích của phản xạ chỉ còn là sự giật mình khi có tiếng động bất thường.
      Có một nghịch lý là bọn cờ búa liềm mấy chục năm qua lại ra sức tạo ra những phản xạ bầy đàn đã thoái hóa của con người cho chính bầy đàn của mình để xù lông với đồng loại.
      Giống như thế giới thiên nhiên hoang dã, bọn cờ búa liềm rất lo sợ cho sự tồn tại của bầy đàn mình cho nên mấy chục năm qua họ đã tạo được sự phản xạ rất đặc biệt, rất nhậy bén, không giống ai mà ta chỉ có thể đặt tên là “phản xạ của cờ búa liềm “ trước các phong trào đấu tranh dành dân chủ tự do công lý và nhân quyền cho nhân loại tiến bộ .
      Nếu so sánh với loài vật hoang dã thì chế độ bầy đàn cộng sản nó không khác tí nào cả. Cũng lo sợ hiểm nguy, cũng ra sức tạo hiệu ứng báo động dây chuyền trong bầy đàn, cũng phát đi những tín hiệu báo động về “nguy cơ” và cũng sử dụng đám đông nhe răng xù lông để uy hiếp đối thủ. Nó rất đặc trưng không thể lầm lẫn với bất cứ một đất nước tự do nào, nhưng nó khác loài động vật hoang dã một chút ở bọn cẩu nô đày tớ tay sai cờ búa liềm kích động nhau không đơn thuần chỉ là tru lên tiếng báo động hiểm nguy mà chúng luôn phóng đại cường điệu quá mức sự nguy hiểm.
      bọn cẩu nô tay sai cờ búa liềm nhận thức rằng cường điệu phóng đại bóp méo để kích động sẽ đánh động bầy đàn tốt hơn, quy tụ nhau được nhiều hơn, gia tăng được sức mạnh bầy đàn hơn và cảm thấy bình an, nhẹ nhõm khi quần tụ được đám đông cùng nhau xù lông khoe nanh vuốt. chúng thừa biết rằng xù lông để trấn áp đối phương thì hiệu quả càng ngày càng ít ỏi nhưng chúng vẫn cứ phải làm vì cái cần của chúng là thích được sống trong hơi thở đồng điệu, sự chở che của bầy đàn và hơn nữa, nó trấn áp nỗi tự kỷ ám thị sợ hải của chính mình. trước cac phong trào dân chủ ngày càng nở rộ ở khắp nơi trên toàn thế giới
      Động vật hoang dã dùng tiếng tru, tiếng kêu hay những tín hiệu hình thể trực quan để báo động nhau. bọn cẩu nô tay sai cờ búa liềm cùng là đồng loại với lủ súc san này chúng cũng tru lên từ những cơ quan truyền thông cờ búa liềm là nơi để bọn cẩu nô cờ búa liềm cùng nhau góp tiếng hú kích động và cảnh giác nhau về những “nguy cơ”. Mùa xuân ả rập cách mạng hoa nhài đến cái chết cũa những tên độc tài như gad a fi hay sa dam hu sen v v.. Những cơ quan này phải xác định rất cụ thể cái mà họ gọi là “ các thế lực thù địt ” để tác nghiệp. Truyền thông của bọn cẩu nô cờ búa liềm phải biết đâu là “nguy cơ” và phải biết đâu là làm lợi cho các phong trào đấu tranh cho tự do cho nhân quyền chống độc tài
      Nguy cơ tan rã hoàn toàn chế độ cộng sản trong các nước đày tớ cẩu nô tay sai xưa nay vẫn là những mắt thần vô hình len lỏi mọi ngóc ngách cuộc sống của chúng , và trở thành nỗi tự kỷ ám thị trầm trọng. Dường như chẳng có lúc nào chúng không cảnh báo nhau về “nguy cơ” đó và hình như ở đâu cũng có thể có nguy cơ các thế lực thù địt rình rập. Mỗi thành viên của bọn cẩu nô tay sai cờ búa liềm đều có những đánh giá về nguy cơ khác hẳn nhau cho nên mấy chục năm qua kể từ khi mẩu quốc quốc tế cộng sản đảng lien xô cùng vài chục tên đồng chó đồng rận của chúng bị các phong trào đấu tranh vì tự do và nhân quyền trong sự góp dức của bàn tay phù thuỷ hoa kỳ DÌM SÂU TOÀN BỘ QUỐC TẾ CỘNG SẢN ĐẢNG VÀ MẨU QUÓC CỘNG SẢN QT LX CHỈ CÓN SÓT LẠI VÀI TÊN TÀN DƯ KINH HỒN TÁNG ĐỞM HOẢNG HỒN BÁM ĐÍT TÊN TÀN DƯ BÚA LIỀM MAO CỘNG THAY MẠT NẠ VỘI VỘI VÀNG VÀNG Đ ỔI BẢNG HIỆU ( TỪ CHXHCNVN SANG CHXHCNVN định hướng kinh tế tư bản treo đầu chuột bán thịt mèo để tồn tại – Trong lịch sử nhân loại chưa có một sắc dân nào ngu như lũ tàn dư búa liềm cộng sản việt nam lại cầu xin ngoại bang lấy đầu đội đít quỳ lạy tôn thờ thằng nga lủ tàu THỜ MAO CHỦ TỊCH THỜ STALIN BẤT DIỆT quỳ gối hai tay dâng đất đai biên giới vùngbiển đảo hoàng và trường sacủa đất nước quê hương mình,cho mao cộng và xuyên tạc, phỉ báng, soi mói bới lông tìm vết, thậm chí bịa đặt vu khống trắng trợnbát bớ giam cầm tù đày những người dám đứng ra tố cáo tội buôn dân bán nước của chúng , có xấu 1 tâng lên thành 10000lần , việc hành chính dân sự biến thành chuyện chính trị, người chống trung quốc chiếm đất dai biển đảo tổ quốc thành tội phạm hình sự chế tác thành tội phạm tù nhânchính trị “”v.v.
      -Ba triệu, tức là toàn bộ đảng viên đảng cộng sản VN là bè lủ tham ô lộng quyền. chúng đè đầu cở cổ nhân dân biến con dân thành những con ma xó để phục vụ và bảo vệ cho chúng nó vậy thử hỏi cuộc cách mạng VN có thắng lợi huy hoàng hay là nhục nhả đến nghìn thu . THẾ VÀ LỰC Việt nam NGÀY CÀNG LỆ THUỘC VÀO TÀU MAO NHỮNG KHẨU HIỆU PHÁT TRIỂN NHANH NHẤT, ỔN ĐỊNH VỀ CHÍNH TRỊ.V.V. LÀ NHỮNG TRÒ HỀ CHÍNH TRỊ CHE DẤU BỘ MẶT MA FIA MÀ CẢ THẾ GIỚI ĐÃ THẦM BIẾT CHỈ CHỜ NGÀY THUẬN LỢI ĐỂ LỘT TRẦN BỘ MẶT ÁC QUỶ CỘNG SẢN VN RA TRƯỚC CÔNG LUẬN THẾ GIỚI Quê hương đất nước đâu phải là của ba triệu đảng viên cộng sản chúng chẳng xứng đáng là người kế thừa truyền thống cha ông, đại diện cho dân tộc có trách nhiệm vẻ vang trước tổ quốc, dân tộc Việt nam. Chúng chỉ chỉ là đày tớ kế thừa của tàn dư cờ búa liềm có trách nhiệm vẻ vang trước quốc tế cộng sản đảng công dân của thiên đàng thế giới đại đồng cộng sản thế giói
      – Ba triệu tay sai cho Tàu cộng, đã và đang cõng con rắn bành trướng đại hán TQ đanggậm nhấm ăn dần mòn biên giới phía bắc năm 1979.
      – đem dâng hàng ngàn ki l mét vuông đât đai vùng biên giới đemdâng biển đảo hoàng sa và trường sa cho trung cộng ngồi canh gát cho quan thầy tự nhiên xây dựng thành phố tam sa vững chắc muôn đời xác định rỏ rang vinh viển chủ quyền của mao cộng trên lảnh thổ máu thịt của tổ quốc việt nam . Vậy họ có là tay sai Tàu cộng không ? đùng phóc -Cuối cùng những người đã hy sinh chiến đấu quên mình ….ĐEM MÁU XƯƠNG XÁC THÂN CON DÂN VIỆT LÀM BIA ĐỞ ĐẠN LÀM VẬT THÍ THÂN LÓT ĐƯỜNG CHO QUAN THẦY tiến lên thế giới đại điên khùng phá bỏ quyền tự quyết CỦA dân tộc chà đạp tự do bóp cổ nhân quyền dẹp tan công lý , đánh đuổi giết sạch anh em con ch áu lạc hồng , cam tâm làm tên lính đánh thuê công cụ tay sai của quốc tế cộng sản đảng … mà tê n câẩu nô lê duâẩn đ ã xác tín dâ ng cô ng lê n quan thâầy ánh đ â y là đ ánh cho liê n xô đ ánh xho trung quôốc cho dù phải hy sinh hàng trệu thanh niên miền bẵc hay đốt cháy cả dảy trường sơn…thế cho nên ngày hôm nay vũng nhờ phươ ng tiện thông tin toàn cầu qua mạng internet chúng ta những con dâ n việt đã thây rỏ bộ mặt lủ ác thú cộng sản . Thật tởm lợm nhục nhã khi chính chúng dân da vàng tóc đen mũi ngắn,ôm lá cờ ĐẢNG CỘNG SẢN của dân tộc giống nòi khác, lại gào rống to mồm ta đây là “yêu nước Việt nam”. Chỉ có những cái đầu tăm tối của lũ nô lệ tay sai bán nước,những tên sai hạng bét cẩu nô đày tớ tay sai cho QTCS đảng mới nhục nhã như vậy và là loài súc vật vật vô lý trí,vô lương tâm,vô nhân tính,không biết tự trọng. Hay chúng vẫn còn hoang tưởng cái đất nước Việt nam này là thuộc địa CỦA MẨU QUỐC CỘNG SẢN QUỐC TẾ LIÊN XÔ bố MẸ đẻ của chúng.
      Những tên vịt gian âm binh cộng sản ngoan cố hãy tỉnh ngu đi,trước tiên muốn trở thành người Việt nam yêu nước, bọn bay phải học lấy cái tư cách làm người dân Việt bình thường đã, phải từ bỏ kiếp trâu chó bò bốn chân chỉ biết tru và hú ca tụng công đức của bác và đảng mà hãy cố gắng đứng thẳng trên đôi chân để làm người phải biết xám hối và từ bỏ mãi mãi ,cái tội ác tay sai bán nước,làm nô lệ chó săn cho giặc mũi lõ ngoại xâm, NHƯ THẰNG TỐ HỬU theo lệnh của con CỔ NÂU hồ chó minh TỪNG GÀO RỐNG YÊU BIÊTMẤY KHI CON VỪA HỌC NÓI TIẾNG ĐẦU ĐỜI CON GỌI STALINphải biết dụt bỏ cái lá cờ âm hồn búa liềm vào thúng phân của lịch sử nhân loại và nhất là sau khi tổng bí thư goc ba chóp đã đứng ra tố cáo vạch trần bộ mạt dối trá và láo khoét của lủ ác thú cộng sản ra trước công luận thế giới cũng như sự tố cáo của các lảnh đạo cộng sản đông âu về bộ mặt thật của ác quỷ cộng sản và tội ác của chúng cho mọi người dân trên thế giới cũng như nhân dân việt nam họ đã nhân diện được lủ thú mặt người CSQT cũng như bọn cẩu nô tay sai cộng sản việt nam nên ngày càng có nhiều phong trào đấu tranh cho t ự do nhân quyền và công lý vạch trần mọi t ội ác lừa mị bịp bợm dối trá và láo khoét của lủ súc vật cộng sản đã bưng bít gần tàm mươi năm nay …cứ như thế nguy cơ nó tràn ngập trong đám cẩu nô dày tớ tay sai cờ búa liềm và đã đến lúc chúng cảm thấy bất lực vì nguy cơ đầy dẫy mà những tiếng kêu tụ tập bầy đàn của chúng càng ngày càng yếu ớt, và cái vũ khí nhe răng xù lông hù dọa càng ngày càng mất dần tác dụng. trước các phong trào đấu tranh cho dân chủ tự do công lý nhân quyền ngày càng lớn mạnh và thong tin rộng rải chính xác hơn về những tội ác chúng đã bưng bít bấy lâu nay và những tội ác chúng đang âm thầm trong bong tối núp bong các tổ chức tội phạm ma fia nhằm khuynh loát chính trị lũng đoạn tài chính kinh tế cài cắm vào các cơ quan công quyền của các nước tự do gieo hạt giống ác quỷ cộng sản vào các cộng đồng người việt hải ngoại cũng như toàn thế giới với những âm mưu đê hèn gian manh xảo trá nhưng nhất định chúng sẻ thất bại ………
      Chính bọn cẩu nô tay sai cờ búa liềm đang lãnh lấy hậu quả từ những “nguy cơ” được họ tạo ra để hù dọa nhau. Từ chỗ nó không có thực, phản xạ bầy đàn làm nó thành mối đe dọa có thực và nó trở thành nỗi tự kỷ ám thị có sự truyền nhiễm như một thứ dịch bệnh nặng nề đeo bám họ. nhìn đâu cũng thấy kẻ địch
      người Việt ở trong nước còn nhớ rõ những trò kích động nhau để chống lại cái gọi là “nguy cơ các thế lực thù địt ”, “tuyên truyền làm lợi cho các thế lực chống cộng ”, hay “phỉ báng cờ búa liềm ” mà chỉ có họ mới nhìn thấy nó trong các đĩa dvd triệu con tim một tiếng nói hay mấy bài hát của nhạc sỉ việt khang nhìn thấy nó trong những bức tranh triển lãm nghệ thuật, và ngay cả trong biểu ngữ chống trung quốc xâm chiếm biển đảo lảnh thổ quê hương . Qua sự kích động thì bọn cẩu nô cờ búa liềm nào cũng thấy đó là “nguy cơ” cần phải dập tắt. chúng thực sự bị ám ảnh mạnh bởi lá cờ vàng ba sọc đỏ đến nỗi bằng mọi giá chúng không để cho nó xuất hiện bất cứ nơi đâu dù là trên in tẻ rnet hay một thoáng qua trong các đĩa đvd của nhạc sỉ trúc hồ . Sự kích động lẫn nhau cũng chỉ đi đến cái đích cuối là cho lủ bút nô và vài trăm cái loa đài hô hào láo khoét lừa mị để tỏ thái độ chống lại những “nguy cơ” chúng tự tạo cho mình.
      Sự kích động lẫn nhau cũng nhằm nuôi dưỡng hận thù và ra sức chống lại thế giới tự do các phong trào đấu tranh đòi dân chủ đòi tự do công lý nhân quyền ngay cả để bảo vệ cho sự vẹn toàn của lảnh thổ quê hương cũng là một cái tội đối với bọn cẩu nô tay sai đày tớ của quốc tế cộng sản đảng này với mục đích hạ thấp hình ảnh của những con người yêu quê hương đất nước mong muốn tự do khao khát công lý và nhân quyền mong muốn con dân việt thoát được kiếp đời súc vật ma xó tay sai cẩu nô truyền kiếp cho bọn quan thầy quốc tế cộng sản đảng bằng những trò nói láo để vuốt ve lừa mị nhau để che dấu về hình ảnh một đảng CS tàn bạo thối nát đang suy tàn vì mất lòng dân. Chúng cho rằng nhân dân trong nước cũng đang có tiếng nói chung với bầy đàn của chúng và mơ đến việc “ cộng sản hoá cộng đồng người việt hải ngoại nhằm tổ chức thành những đại gia đình ma fi a người việt bán linh hồn và thể các cho chúng lợi dụng phục vụ cho âm mưu cộng sản hoá hoa kỳ và toàn bộ thế giới tự do về sau này ”. Chính vì đua nhau nói láo để đế cao chủ nghĩa cộng sản cho nên chúng rất lo sợ làn sóng người VNngày càng hiểu biết nhiều hơn về bộ mặt ác quỷ của chúng và tất cả những thông tin về sự thật lan truyền rộng rãi trên mạng mà chúng cho rằng “có hại cho Cộng Sản”.
      Gần đây nhất là vụ đám cẩu n ô ra sức tuyên truyền cho cái gọi là d ự th ảo sửa đổi hiến pháp 92 tưởng rằng trò mị dân bịp bợm đè cao vai trò người dân được quyền đóng góp ý kiến chúng hí hửng tin chắc mọi người dân sẻ trong tầm kiểm soát không một ai có ý kiến đi ngược lại chủ trương của đảng ai ngờ khi mới công bố dự th ảo này chúng đã bị 80 nhân sỉ trí thức trong nước ddoongf loạt dội vào mặt chúng một gáo nước lạnh khi yêu cầu bỏ điều bốn hi ến pháp vi hiến và yêu cầu đa đảng tam quyền phân lập tên đầu đảng tổng bí trọng l ên ti ếng đe doạ b i xích cho h ọ l à th ành ph ần suy đồi chống đối thì lại bị ngay nhà báo nguyển đắc ki ên cho m ột cái t át như trời giáng vào mặt đảng cộng sản bằng bài viết trả lời đanh thép và ngoạn mục dạy dổ chỉ rỏ những gì đảng được làm hay không được làm trong phạm trù của đảng trước toàn dân việt được dịp sướng đê mê khi ngay nh ững ng ày đ ầu tập họp được vài ngàn chữ ký đủ đ ẻ b ọn độc tài đảng trị rụng rời khiếp đảm. Vẫn là sự kích động từ truyền thông của bọn cẩu nô cờ búa liềm vẩn những luận điệu sáo món củ rích r n rỉ đảng còn mình còn , vẫn là trò nói láo phóng đại nổ banh nhà lồng chợ và vẫn là việc tạo ra những bánh vẽ. Thế mà đến thế kỷ 21 rồi mà chúng vẫn đưa nhau được lên mây bằng tàu bay giấy. ngu d ốt v à hoang t ư ởng đ ến cùng cực v ào c ái qu ái đảng cộng sản và mơ tưởng m ột thiên đường không bao giờ có
      Cả tuần qua bọn cẩu n ô cờ búa liềm lại cùng nhau phát tiếng tru bầy đàn khi phát hiện “nguy cơ” ngay chính trong t ầng l ớp tr í th ức trong nước v à Lý do được nói đến để kích động là vụ việc nhà báo kiên đã dám đăng ý kiến chỉ trích thẳng mặt bí trọng bằng những lời lẻ đanh thép. Cũng như ở hãi ngoại Tờ Người Việt đã từng nếm mùi của những anh cờ vàng yêu nước thực thi tự do dân chủ kiên trì phản đối cả năm trời trước hành động nâng bô cộng sản của tờ báo này, làm cho nồi cơm của mình bị ảnh hưởng nặng nề. Lần này rút kinh nghiệm, tránh voi không xấu mặt nào, tờ báo đã chủ động tự xử trước bằng cách sa thải những tên âm binh bồi bút tay sai cộng sản trá hình ngấm ngầm chống phá cd nguoi v iet hai ngoại đồng thời nhanh chóng hạ mình “xin lỗi” rất thành khẩn để hạ nhiệt đám đông , để lấy lòng cờ vàng và cứu lấy nồi cơm tờ báo.có thể thấy trong cuộc họp của báo Người Việt để trần tình thú nhận tội lỗi vừa qua, cái khí thế cờ vàng ngày càng phát huy mạnh mẻ . Điều này khiến thái độ của bộ sậu tờ báo này đã chủ động cúi rạp mình sát đất để “thành khẩn nhận lỗi”, nhưng phần lớn sự xì hơi của cái khí thế văn hoá vận của cs là bởi sự kích động phản xạ lủ âm binh cờ búa liềm đã quá nhàm không thể tạo ra hiệu ứng domino nên phản tác dụng , không thể nhân lên cái sự “phẫn nộ”, và cái “nguy cơ” từ tờ báo cũng nhẹ hều chẳng khác những nguy cơ dân vận của đám âm binh cs đang mong muốn tràn ngập cộng đồng, đám âm binh súc vật ma fia cs chúng không thể xù lông mà giải quyết được nữa rồi.
      Cái sự “phỉ báng” nó đang xảy ra như cơm bữa đối với đám cẩu nô đày tớ tay sai cờ búa liềm , cho nên cái sự “phẫn nộ” nó xẹp dần bởi số lượng càng ngày càng tăng của cái sự “phỉ báng” trong long của người dân việt khi mà chúng đang tâm còn đảng còn mình …… cho nên chúng đang đành phải bó tay. Giờ đây lủ vịt gian âm binh cộng sản chỉ phản ứng như một phản xạ bầy đàn nhưng rất yếu ớt, chúng phải phản ứng vì tự ái cờ búa liềm , vì cảm thấy bị sỉ nhục, nhưng nó chỉ còn tác dụng hù dọa với những kẻ yếm thế hèn nhát mà thôi.
      Những kích động bầy đàn của đám cẩu nô cờ búa liềm luôn khởi đi từ các anh được học hành, xưng là trí thức, có chữ nghĩa, có tài nói láo dẻo như bún. Bán linh hồn cho quỷ đỏ Cam tâm làm súc vật âm binh tay sai Các anh này có rất nhiều kinh nghiệm và thủ thuật để kích động tập hợp bầy đàn của mình thông qua các hệ thống truyền thông gần tám trăm tờ báo và cũng vài trăm cái loa đài . Có thể nói ngay rằng các anh này có công rất lớn trong việc tạo ra những “phản xạ cờ búa liềm ”
      Nếu những anh cẩu nô ma xó đày tớ tay sai cờ búa liềm nào cho rằng những so sánh trong bài viết này là phỉ báng, là mạ lị xin mời các anh lên tiếng phản biện về sự khác biệt giữa phản xạ bầy đàn cộng sản của các anh và loài động vật hoang dã ra sao.
      Xin mời các nhà trí thức, các anh tiến sĩ giấy hay mấy anh chăn trâu nhỏ không học lốnhcj đại cũng lấy được bằng đại học hãy phản biện cho việc các anh đã dầy công tạo dựng thành công một xã hội cộng sản cho riêng bầy đàn của mình cái bản năng phản xạ bầy đàn mà con người đã thoái hóa từ rất lâu lâu rồi: bản năng thú vật.

      túm lại nhân quyền của một nhà nước độc tài đảng trị bất nhân tàn ác là đây…. nhân danh tự do gấp vạn lần tư bản mà tất cả giới tri thức bị đảng trói buộc như bầy heo lủ gà đến nổi chính tổng bí thư nguỹen văn linh còn cảm thấy bất nhẩn phải lên tiếng khẩn nài xin đảng hãy cỡi trói cho gioi trí thức văn nghệ sỉ {trí thức mà còn bị đảng trói như heo gà thì dân đen còn bị đảng gô đầu trói cổ bịt mắt bít miệng bưng tai đến như thế nào nửa nhỉ ….}

      • Nguyễn Vũ Tiến permalink

        Về Việt Nam nói chuyện Ngụy Nô. Ngày xưa tụt quần mà chạy thì chưa đủ tư cách để nói tiếng người đâu

  5. concun permalink

    Không có ý niệm về công lý (common sense)

    Tín đồ Ca-tô ngoan đạo nói riêng và người Việt Quốc Gia nói chung, không những không biết gì về ý niêm cộng bằng, mà còn không biết gì về công lý (common sense). Câu chuyện vô cùng thương tâm xẩy ra trong Xóm Đạo Tân Hạ (ở gần Hóc Môn) được nhà văn Ca-tô Nguyễn Ngọc Ngạn ghi lại trong cuốn Xóm Đạo nói lên sự thật thê thảm này. Chuyện ông Thầy Bốn Phán (đang là chủng sinh và sắp trở thành linh mục) dụ dỗ và phá hoại cuộc đời trong trắng của bé Mai mới 16 tuổi. Nếu ở trong xã hội dân chủ tự do, nhân quyền được tôn trọng, công lý phân minh, hoặc trong nền đạo lý Đông Phương, thì người bị xã hội lên án và bị đưa ra công lý xét xử và bị trừng phạt đúng theo luật pháp là ông thày Bốn Phán, và em bé Mai được coi là nạn nhân đáng thương và cần phải được bảo vệ. Thế nhưng, trong xã hội Ca-tô sống theo nền đạo lý Ca-tô, dưới quyền lãnh đao hay chăn dắt của các đại diện chúa Ki-tô, công lý bị đảo lộn, mọi trách nhiệm về tôi ác trong chuyện này đều đổ lên đầu em bé Mai và bé Mai phải bị trừng trị bằng biện pháp đấu tố một cách cực kỳ man rợ. [Đúng ra phải gọi bề hội đồng (lynching) hay xử theo luật rừng (lynch law]). Họat cảnh đấu tố này được tác giả Ca-tô Nguyễn Ngọc Ngạn kể lại như sau:

    “Một buổi sáng chủ nhật, lễ vừa xong, Thông nhập chung đoàn tín hữu ùn ùn kéo ra cửa chính. Anh đứng lại trên thềm xi măng, nói chuyện với vài phụ huynh học sinh. Bỗng nghe tiếng ồn ào bên hông nhà thờ, phía dành cho phụ nữ. Anh vội vàng chạy sang xem thì thấy một nhóm khá đông các bà đang hung hăng xúm lại xỉa xói: “Con quỷ lăng loàn! Đánh chết nó đi!”

    Một bà khác rít lên: “Xé xác nó ra! Đuổi cổ nó khỏi nhà thờ! Nó dám quyến rũ thầy!”

    Bà khác lại thêm: “Con đĩ nhuốc nhơ! Làm ô danh Chúa!”

    Cùng với những lời chửi mắng ấy, hàng chục bàn tay xúm vào xé toang hết áo quần của Mai. Mai vừa khóc vừa cố thoát thân. Nhưng họ vây chặt tứ bề, không một ai lên tiếng ngăn cản. Tất cả đều đồng ý với nhau là phải ra tay trừng trị đứa con gái khốn nạn đã quyến rũ Thầy Phán khả kính của họ, làm thày lung lay con đường tu hành! Từng miếng vải tung lên. Chiếc áo dài trắng, cái quần đen, cái áo lót, trong nháy mắt biến thành những mảnh vụn quăng đầy chung quanh! Thông đứng lặng trên thềm, không biết phản ứng thế nào. Mai thì ngồi thụp xuống, hai tay che ngực, toàn thân chì còn cái quần lót nhỏ xíu. Một bà dơ chân đạp mạnh vào lưng, khiến cô ngã lăn ra. Các bà khác xúm lại, người thì chửi, người thì nắm tóc, rit lên đay nghiến. Thông nhìn quanh tìm một cái gì cho Mai che thân, nhưng không có. Chờ cho các bà nguôi ngoai phần nào, anh mới tiến lại từ tốn lên tiếng: “Thôi, các bà xử phạt như thế đủ rồi! Xin các bà tha cho cô ấy!

    Các bà nhất loạt quay lại. Ai cũng nể Thông, nhưng vẫn còn ấm ức. Một bà bảo: “Tha thế nào được hở thày! Nó là con quỷ cái! Nó quyến rũ thầy Phán!”

    Thông nắm vững tình thế. Anh biết lúc này không phải là lúc anh nên tranh cãi với các bà, dù rằng lý luận các bà là thứ lý luận ngang phè phè. Giữa thầy Phán và con bé 16 (mười sáu) tuổi, ai quyến rũ ai! Tôn giáo nào cũng vậy, ông cha hay ông sư (sịc) mê gái, người ta cứ lôi đứa con gái ra mà đánh chửi, đổ hết mọi tội lỗi lên đầu nó, bởi nó là hiện thân của quỉ cám dỗ bậc tu hành! Cái người đáng để các bà xé hết quần áo chính là thầy Phán! Nhưng các bà lại không làm như thế, mà chỉ dồn trọn căm hờn vào một phía tòng phạm! Thông điềm tĩnh bảo: “Cô ấy biết lỗi rồi! Từ nay không dám thế nữa! Các bà cho tôi xin!”

    Vừa nói, Thông vừa rẽ đám đông tiến lại, cởi cái áo sơ mi anh đang mặc, khoác cho Mai và bảo cô chạy về nhà! Nhiều bà nhìn theo, tiếc rẻ than: “Thầy không để cho nó thêm một trận! Đồ mất nết!”

    Thông từ tốn giãi bày: Lần đầu như thế là được rồi! Tôi dám chắc là từ nay cô ấy phải chừa! Lần sau mà còn tái phạm, thì xin các bà cứ thẳng tay, tôi không can! Vả lại, mình đang đứng bên cạnh nhà thờ, tức là trong khuôn viên nhà Chúa, để cô ấy lõa lồ như thế không phải! Tội chết!

    Vốn nể tài ăn nói gọn gàng của Thông, các bà gật gù đồng ý, bảo nhau giải tán dần.” [28]

    Tác giả Ca-tô Nguyễn Ngọc Ngạn đã suy diễn sai lầm khi viết rằng “Tôn giáo nào cũng vậy, ông cha hay ông sư…” Văn tức là người. Câu văn này cho thấy ông Ca-tô Nguyễn Ngọc Ngạn không nhận thức được cái hữu hạn kiến thức của ông ta. Phải chăng đây là lối suy diễn “dĩ tiểu nhân tâm đạc quân tử phúc” của người Ca-tô mà chúng ta thường thấy trong cung cách hành xử hàng ngày và trong các tác phẩm của họ?

    Câu chuyên tình giữa thày Bốn Phán và em bé Mai mới 16 tuổi trên đây giúp cho chúng ta thấy rằng vấn đề các ông tu sĩ Ca-tô sờ mó các trẻ em rước lễ, dụ dỗ gái vị thành niên và làm tình bậy bạ với nữ tín đồ ở trong các họ đạo tại Việt Nam trong thời “trăm năm nô lệ giặc Tây” cũng như ở miền Nam trong những năm 1954-1975 quả thật là hết sức trầm trọng! Trầm trọng đến mức độ các Ngài phải luôn luôn nhắc nhở tín đồ rằng “Phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật, xẩy ra ở trong các giáo xứ, không nên để cho người ngoại đạo được biết.” Nguyễn Ngọc Ngạn, Sđd., tr. 320. Lời dạy lưu manh này phải được tín đồ Ca-tô, nhất là các em rước lễ, các thiếu nữ hay các nữ tín đồ được Chúa ban phước lành cho các Ngài sở mó, hôn hít và làm tình phải ghi tâm khắc cốt rằng “phải giấu kín…”, “chỉ có hai đứa mình thôi nhé, tuyệt đối không được hé môi cho người thứ ba được biết”. Nếu để lộ cho bất cứ một người nào biết được, thì sẽ bị trừng phạt giống như bé Mai trong tác phẩm Xóm Đạo, và có khi còn khốn nạn hơn nữa. Cứ xem như ở Hoa Kỳ, nơi mà quyền tự do ngôn luận và nhân quyền được tôn trọng, lời dạy lưu manh “Phải giấu kín những chuyện tội ác của các Ngài trong họ đạo…”, tuy không bị tín đồ khui ra, nhưng lại bị người trong chăn trong giới người khoác áo chùng thâm là Linh-mục Nguyễn Thanh Sơn nói rõ trong hai tờ báo Tận Thế Số Ra Mắt (15/6/2002) và Số 2 (15/7/2002) [sẽ được ghi lại đầy đủ ở dưới] mà suy ra, chúng ta thấy mức độ trầm trọng của vấn đề này.

  6. concun permalink

    Khái niệm kỳ quặc về ý niệm công bằng.

    Đối với tín đồ Ca-tô và Giáo Hội La Mã, cái gì thuộc về Giáo Hội La Mã cũng đều tốt đẹp, đều hoàn hảo, đều thánh thiện, đều tuyệt vời. Cái gì không phải là của hay không thuộc về Giáo Hội đều là xấu xa và đều là tội ác.

    Thời Đệ Nhất Cộng Hòa ở miền Nam, bản thân người viết nghe lời người bạn khuyên nên đến nhờ linh mục Mai Ngọc Khuê để “cứu xét” và can thiệp cho trường hợp bị gọi tái ngũ một cách bất công. Sau khi dọ dẫm và thấy tôi từ chối điều kiện rửa tội theo đạo, ông linh mục này liền nói: “Chúng tôi không thể giúp được anh”. Tôi thỉnh cầu ông thi hành chữ công bằng mà Giáo Hội thường cao rao, thì vị linh mục này liền trả lời: “Nếu anh không vào đạo thì anh không phải là con của Chúa. Chúng tôi chỉ công bằng với những người con của Chúa mà thôi.”

    Một tín đồ ngoan đạo nói với người viêt một câu hết sức sống sượng rằng “sở dĩ chúng tôi đòi hỏi người phối ngẫu phải theo đạo Công Giáo vì rằng đời sống của các gia đình Công Giáo có đạo đức, và có giáo dục hơn những tôn giáo khác.”

    Ai đã từng tiếp xúc thường xuyên hay có kinh nghiệm sống trong cộng đồng Ca-tô đều nhìn thấy rõ các đặc tính ngu xuẩn này của họ. Người viết không biết tại sao các ông “Người Việt Quốc Gia” cũng mang căn bệnh này. Không biết có phải vì các ông người Việt Quốc Gia cũng chính la tín đồ Ca-tô hay không? Còn những ông người Việt Quốc Gia dù thực sự không phải là tín đồ Ca-tô, nhưng vì theo họ lâu ngày khiến cho các ông này cũng thành những người có những đặc tính như họ.

  7. concun permalink

    Giống như tín đồ Ca-tô người Pháp đã chống lại tổ quốc và dân tộc Pháp để bảo vệ quyền lợi của Vatican, tín đồ Ca-tô người Việt cũng vì theo lệnh của Vatican mà họ đã tích cựic và rất hăng say chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam bằng những hành động làm nội ứng cho liên quân xâm lăng Pháp Vatican trong những chiến dịch đánh chiếm Việt Nam và làm tay sai đắc lực cho Pháp trong bộ máy đàn áp nhân dân ta trong suốt chiều lịch sử từ năm 1858 cho đến tháng 7 năm 1954 và cho Liên Minh Mỹ Vatican trong thời kỳ 1954-1975.

    Sự kiện này cho chúng ta thấy rằng, một khi đã trở thành tín đồ hay tu sĩ Da-tô, dù là người Pháp hay người Việt Nam hay thuộc quốc gia nào đi nữa, họ sẽ không còn biết tổ quốc và dân tộc là gì nữa, mà chỉ biết có Giáo Hội La Mã, sế cương quyết chiến đấu cho Giáo Hội La Mã và cho bất kỳ cường quốc nào liên kết với Giáo Hội La Mã dù là phải chống lại tổ quốc và dân tộc gốc rễ của họ. Khẩu hiệu “Nhất Chúa, nhì Cha, thứ ba Ngô Tổng Thống” (Nguyễn Ngọc Ngạn, Xóm Đạo (Đông Kinh, Nhật Bản, Tân Văn, 2003), tr. 37, và khẩu hiệu “Thà mất nước, không thà mất Chúa” do Linh-mục Hoàng Quỳnh đưa ra hô hào giáo dân trong cuộc biểu tình biểu dương lực lượng của Giáo dân tại Sàigòn vào ngày 27/8/1964 để ủng hộ Tướng Nguyễn Khánh và đòi phục quyền cho dư đảng Cần Lao là bằng chứng rõ rệt nhất cho sự kiện này:

  8. concun permalink

    Những hành động phi nhân, phi luân và phản đạo lý của Giáo Hội La Mã tại Việt Nam. Sự kiện này được sách “Vatican Thú Tội và Xin Lỗi?” ghi lại như sau:

    “Giáo Hội chống phá đạo hiếu, phế bỏ bàn thờ tổ tiên, chà đạp văn hóa dân tộc Đại Việt, gọi tôn giáo bản địa là thờ Bụt Thần Ma Quỷ… Giáo Hội chia hai dân tộc Việt Nam thành thành dân có đạo là dân riêng của Giáo Hội, và dân vô đạo là dân ngoại theo tà thần, tạo dựng thành kiến rất sâu đậm và thô bạo. Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng xác minh trọng tội này của Giáo Hội trong bài tham luận đọc tại Roma năm 1988, có Đức Giáo Hoàng đương kim ngồi dự thính.” [21]

  9. concun permalink

    Không biết Vatican là kẻ thù nguy hiểm nhất của dân tộc và tổ quốc

    Những người tự nhận là “Người Việt Quốc Gia” không có đủ khả năng nhìn ra tính cách bất chính của chính quyền Quốc Gia trong những năm 1948-1954 và các chính quyền Miền Nạm Việt Nam trong những năm 1954-1975 cũng như của lá cờ vàng ba sọc đỏ. Họ không có khả năng để nhìn ra những thứ trên đây đều là sản phẩm của Vatican trong chính sách chia để trị, chia dân tộc Việt ra thành nhóm thiểu số tín đồ Ca-tô được gọi là “dân Chúa” (nhóm dân trung thành nhất của Vatican và được Vatican ưu đãi) và đại khối dân Việt thuộc tam giáo cổ truyền bị gọi là “dân ngoại”, “dân man rợ”, “dân tà đạo”, rồi dùng người Việt đánh người Việt và dùng tín đồ Ca-tô cai trị đại khối dân ta thuộc tam giáo cổ truyền. Sự không biết này là hậu quả trực tiếp của tình trạng dốt nát về quốc sử và lịch sử thế giới của họ mà ra.

  10. concun permalink

    Nghi lễ tại các nhà thờ Công giáo là nghi lễ của những bộ lạc ăn thịt người.

    Tôi đã trình bày vấn đề này dưới tiêu đề “Nguồn gốc huyền thoại Ki tô” (Chương Một, phần II trong Công giáo – huyền thoại và tội ác, GĐ xuất bản Hè 2001). Do đó, tôi chỉ xin trình bày lại rất vắn tắt ở đây mà thôi.

    Một trong những cuốn sách nghiên cứu dầy công về đạo Công giáo là cuốn Babylon Mystery Religion của Hội nghiên cứu Thánh kinh Raph Woodrow ỏ California. Hội này đã cho xuất bản và phát hành tới 600.000 bản in sách nói trên. Trọn chương 7, từ trang 115 đến 126, tác giả chứng minh nghi lễ của đạo Công giáo hầu như đã bắt chước trọn vẹn những nghi lễ của các đạo thờ bò của xứ Babylon thuở xưa. Một trong những nghi lễ dã man nhất là tế thần bằng các trinh nữ hoặc các bé trai đầu lòng. Các nạn nhân đều bị giết và bị nướng chín (burnt offerings) để dâng lễ tế thần rồi sau đó các tu sĩ và tín đồ chia nhau ăn thịt nạn nhân.

    Trong nghi lễ ở nhà thờ Công giáo, các linh mục và giáo dân chia nhau ăn bánh thánh và uống rượu nho mà họ tin rằng đó là thịt thật và máu thật của Jesus. Dù chỉ là ăn thịt uống máu người tưởng tượng một cách ngây ngô ngớ ngẩn như vậy nhưng những hành vi ấy cũng đủ cho ta thấy tâm hồn của những gnười Công giáo là tâm hồn của những kẻ bán khai, vì chỉ những kẻ bán khai mọi rợ mới ham thích ăn thịt uống máu người như vậy mà thôi.

    Cái gọi là “Phép Bí-tích Mình Thánh Chúa” là một dấu ấn đậm nét chứng tỏ Công giáo là một thứ đạo thờ thần bò Molech trong thời hiện đại.

    Tấp thể giáo dân Công giáo chẳng khác gì một bộ lạc của giống mọi ăn thịt người sống lạc lõng trong xã hội văn minh của loài người chúng ta. Để giúp cho 7% đồng bào của chúng ta thoát khỏi vùng bóng tối tâm linh (spriritual darkness) chúng ta cần phải gia tăng công tác giáo dục. Một trong những điều quan trọng của sự giáo dục là cần phải vạch rõ cho họ thấy rằng: Công giáo không phải là một ôn giáo cao quí đáng hãnh diện, cũng chẳng phải là “Đạo Thánh của Đức Chúa Trời” như họ lầm tưởng, Công giáo chỉ là hậu thân của đạo thờ bò cải biến còn tồn tại trong thời đại hiện nay.

    Bất cứ ai không đồng ý với những điều trên đây thì xin cứ việc thẳng thắn lên tiếng phản bác. Từ mấy năm qua đến nay tôi vẫn mong đợi sự lên tiếng của quí vị tu sĩ cao cấp trong Hội đồng Giám mục, các vị tiến sĩ thần học uyên bác và nhất là những vị trí thức Công giáo đã từng nổi tiếng sừng sỏ trong nhiều năm qua, nhưng tôi chỉ được đáp lại bằng sự im lặng khó hiểu. Tôi mong rằng qúi vị hãy cố gắng vận dụng trí não để sớm nhận ra sự thật và dù sự thật làm cho quí vị đau lòng chăng nữa thì quí vị hãy can đảm nhìn nhận nó, bởi vì không có tôn giáo nào có thể cao hơn sự thật.

    Charlie Nguyễn

  11. concun permalink

    Cách bài trừ nạn Cato vatican.
    Lấy lại đất chùa mà thực dân pháp đã lấy và xây nhà thờ.
    Thực hiện câu: Cái gì của Ceasar phải trả lai cho Ceasar.
    Nếu không làm vậy thì cắm bảng ghi tiểu sử của nhà thờ đức bà là thực dân Pháp đã xây nhà thờ trên nền chùa.

  12. concun permalink

    Vatican vốn là một thành phần trong cả Liên Minh Bồ Đào Nha – Vatican và Liên Minh Tây Ban Nha – Vatican. Cả hai liên minh chính trị này đều có nhiều kinh nghiệm dùng rất nhiều độc kế để đối phó với các phong trào nổi dậy của các dân tộc bị trị ở Châu Mỹ La-tinh và nhiều nơi khác trên thế giới. Từ năm 1858 Vatican lại là thành viên trong Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican đánh chiếm và đô hộ Đông Dương cho đến năm 1945. Cho nên, khi gặp phải phong trào ái quốc với những lực lượng vũ trang của Mặt Trận Việt Minh ở trong các tỉnh vùng Việt Bắc và Trung Du, cái liên minh thánh ác ôn Pháp – Vatican này đã thẳng tay thi hành độc kế triệt hạ các nguồn thực phẩm tiếp tế cho miền Bắc khiến cho nhân dân ta ở đây rơi vào tình trạng đói khổ, không thể nào có đủ gạo để ăn. Chúng cho rằng khi người dân không thể có đủ gạo ăn, thì sẽ không có gạo tiếp tế cho các lực lượng nghĩa quân Việt Minh đang hoạt động trong các vùng rừng núi ở Việt Bắc. Độc kế dã man này được ông Hoàng Trọng Miên nói rõ trong sách Đệ Nhất Phu Nhân Tập I với nguyên văn như sau:

    “Giữa thời kỳ ấy, để phòng ngừa dân miền Bắc nổi dậy, Pháp tung đám tay sai đi khắp nơi vơ vét hết thóc gạo tải về tập trung ở các kho dự trữ riêng, lấy cớ là để tiếp tế cho quân đội Nhật. Hết ép buộc mua rẻ của dân quê, Pháp lại vãi tiền ra mua thóc, ngô (bắp) bằng một giá cao để thu cho kỳ sạch ngũ cốc hiếm hoi của miền Bắc. Gạo Nam Kỳ thì không được đưa ra, lấy cớ là phi cơ Đồng Minh ngày đêm không ngừng bắn phá tàu bè, ghe thuyền, còn đường xe lửa xuyên Đông Dương thì Pháp dành cho Nhật chuyên chở quân sự. Lúa thừa ở miền Nam chất chứa đầy kho, Pháp đem đốt thay than củi ở các nhà máy điện.

    Dân quê ở Bắc khởi sự chết đói từ cuối năm 1944. Mùa lúa tháng Mười lại thất bát. Người có tiền ở thôn quê cũng đành nhịn ăn, vì thóc gạo đã bị lấy sạch. Tại thành phố, mỗi khẩu phần người Việt đều phải ăn gạo “bông” (phiếu mua gạo) ở trong tay chính quyền Pháp phân phát.” [64]

    Sách Việt Sử Khảo Luận – Cuốn 4 viết:

    “Bọn Pháp Decoux – Morlant, từ mùa gặt cuối năm 1943 đến hai mùa gặt năm 1944, cũng trưng thâu gạo bỏ vào các kho quân đội Pháp để phòng hờ một cuộc đổ bộ Đồng Minh vào Đông Dương.”[65]

    Qua các đoạn văn sử trên đây, chúng ta thấy rằng, thủ phạm chính làm cho nhân dân ta đói khổ triền miền từ đầu thập niên 1890 và nạn đói khủng khiếp trong mấy tháng mùa xuân năm Ất Dậu là do Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Pháp – Vatican và bọn Việt gian gây nên. Nói rằng nạn đói Ất Dậu là do quân xâm lăng Nhật Bản gây ra chỉ là một cách nói lượn lẹo của bọn Việt gian văn nô Da-tô trong ý đồ chạy tội cho Giáo Hội La Mã và thực dân Pháp. Cách nói lươn lẹo này cũng giống như bọn người “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” thường lươn lẹo nói rằng, “vì triều đình nhà Nguyễn thi hành chính sách cấm đạo Da-tô cho nên người Pháp mới có cớ đánh chiếm nước ta.”

  13. concun permalink

    Như thế, qua sử liệu, ngôi chùa Báo Thiên đã có mặt từ 1057 đến 1884 đã tồn tại gần 9 thế kỷ nói lên tầm vóc quan trọng của một ngôi chùa lịch sử tại Hà nội bị Kito giáo VN phá hủy,.

    Ngoài chùa và tháp Báo Thiên, còn những ngôi chùa khác rãi rác từ Bắc vào Nam cũng chịu chung số phận bị cướp đoạt để làm nhà Thờ như thế, ví dụ:

    Đây là một trong nhiều sử liệu ta được biết, riêng chùa Quang Minh ở Trà Kiệu,Huế, xây vào thời chúa Nguyễn Hoàng, bị Pháp triệt hạ khi đẩy lui nghĩa quân Nguyễn Duy Hiệu ( chúng tung tin Đức Mẹ hiện ra, giáo dân được cố đạo hợp tác với trung úy Marat đem lính Lê Dương và lính tập từ Quảng Ngãi đánh tan nghĩa quân. lập nhà Thờ Trà Kiệu; vào thời đệ nhất và đệ nhị Cọng Hoà của ông Diệm- Thiệu, nơi đây nâng lên Trung tâm Thánh mẫu Trà Kiệu, hàng năm lễ hội tưng bừng.

    Nhà Thờ Đức Bà tại Sài gòn, vốn là chùa Khải Tường được vua Minh Mạng lập nên để thờ Phật, thờ Tổ kỷ niệm nơi sinh của mình, phường Bến Nghé. Q I TP HCM hiện nay. Khu vực đó bị thực dân Pháp triệt hạ dựng lên nhà Thờ Đức Bà, nay là Vương Cung Thánh Đường, các tượng Phật bị ném vào Thảo Cầm Viên.

  14. concun permalink

    CƯỚP CHÙA, CHIẾM ĐẤT XÂY NHÀ THỜ VÀ

    CƯỚP ĐOẠT RUỘNG ĐẤT CỦA NHÂN DÂN

    Nguyễn Mạnh Quang

    (http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_I06/106_nmq-vatican-in-vn.htm)

    Nói về thành tích cướp chùa và chiếm đất của Giáo Hội La Mã để xây nhà thờ trong thời gian từ khi Giám-mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) cặp kè với Chúa Nguyễn Ánh vào giữa thập niên 1780 cho đến ngày 30/4/1975, tác giả Tường Minh – Chu Văn Trình ghi lại trong cuốn Rơi Mặt Nạ một số những vụ lừng danh với nguyên văn như sau:

    1.- Cướp đất Chùa Bà Đá (Chùa Linh Quang).- “Chùa Bà Đá (Chùa Linh Quang) ở thôn Tự Tháp, huyện Thọ Xương, nay là phố Nhà Thờ, Hà Nội, chùa xây từ thời nhà Lý. Năm Tự Đức (Thứ Ba) Canh Tuất 1850, sư trụ trì chùa là Giác Vượng quyên góp thập phương để tu sửa” [Ngô Đức Thọ: Tự Điển Văn Hóa Việt Nam, 1993, tr. 418.]

    Ngày 8/5/1883 (dịp Phật Đản), thời Toàn Quyền Paul Bert, “nghĩa quân Sơn Tây dẫn quân Cờ Đen đánh mấy đồn dân Giáo (Da-tô) ở ấp Giáp Bát. Tối hôm sau (9/5/1883), dân Nghĩa Hội phối hợp với quân Sơn Dũng vây đánh lính tay sai của giặc ở nhà thờ Hàm Long là nơi giặc đã giao cho nhiều vũ khí để bảo vệ vòng ngoài cho chúng….

    Sau đó đánh khu Nhà Chung, vào đến bên trong Nhà Thờ. Tức thì có tiếng súng từ các góc bắn ra. Cuộc chiến đấu trở nên ác liệt, bọn giặc chạy đến tượng đức mẹ chui vào cửa sau tượng rồi chạy sang chùa Bà Đá. Gồm 9 tên: ba linh mục Pháp là Cố Lan, Cố Mỹ, Cố Phước (Landais, (Rival, Bertrand), một quan một (thiếu úy) và mấy thủy thủ tầu Phăng Pha (Fanfare) cùng với con mụ Be (Beirie)..” [ Chu Thiên, Bóng Nước Hồ Gươm Quyền 2 (Hà Nội: Văn Học, 1985), tr. 121-123.]

    Sau khi được vị sư trụ trì của chùa Bà Đá cứu mạng, bọn Gia-tô đã trả ơn nhà chùa bằng cách chiếm ruộng đất nhà chùa và của dân làng Phú Tô, chia hai cho Nhà Chung (Da-tô) và tên Jean Dupuis xây Nhà Thờ và nhà Gạch như hiện nay.”

    2.- Chùa Báo Thiên (Chùa Sùng Khánh Báo Thiên) ở Hà Nội bị Da-tô phá, cướp đất xây Nhà Thờ Lớn .- “Chùa Báo Thiên (Chùa Sùng Khánh Báo Thiên) ở phường Báo Thiên, Hà Nội xây dựng vào năm 1056 và Tháp Bảo Thiên 12 tầng xây vào năm 1057 trong đời Lý Thánh Tông. Cuối thời Lê (cuối thế kỷ 18) chùa bị hoang phế vì nạn Kiêu Binh. Đầu đời Tự Đức, Tổng Đốc Tôn Thất Bật theo nền chùa cũ xây sửa lại.

    Năm 1883, cố đạo thực dân Puginier cấu kết với Tổng Đốc Hà Nội là Da-tô Việt gian Nguyễn Hữu Độ phá chùa, “thực dân Pháp lấy lô đất thuộc thôn Tự Tháp, huyện Thọ Xương để xây Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Vị trí chùa cũ ở vào khoảng bên phải Chùa Lý Quốc Sư đến đầu phố Nhà Chung, quận Hòan Kiếm Hà Nội.” [Ngô Đức Thọ Tự Điển Di Tích Văn Hóa Việt Nam (Hà Nôi: NXB Khoa Học Xã Hội, 1993), tr 76, và Bùi Thiết, Từ Điển Hà Nội Địa Danh (Hà Nội: NXB Văn Hóa Thông Tin, 1993), tr 26-27.]

    3.- Chùa Lá Vàng ở Quảng Trị bị Da-tô cướp đổi thành Nhà Thờ La Vang.- La Vang là tên gốc của làng Cổ Vưu có từ thời Nhà Lê, đến đời Gia Long đổi là phường Lá Vàng, nằm ở phía Tây đồn Dinh Cát, thủ phủ địa đầu của Việt Nam từ năm 1307, khi vua Chiêm Thành Chế Mân hiến dâng Nhà Trần hai châu Ô và Lý làm lễ cưới Huyền Trân Công Chúa. Hiện nay La Vang (Lá Vàng) thuộc xã Hải Phú, quận Mai Lĩnh, tỉnh Quảng Trị, ở về phía nam Quảng Trị khoảng 6 km và ở về Bắc Phú Xuân (Huế) khoảng 58 km.

    Năm 1797, “Vua Cảnh Thịnh Nhà Tây Sơn đã có lần bắt được mật thư của Nguyễn Ánh gửi Giám-mục Labarlette, xin giám mục tổ chức một đạo quân nội ứng gồm tín đồ Ki-tô Giáo tại chỗ, tiếp trợ cho lực lượng quân đội Pháp chỉ huy đánh từ ngoài vào.” (Le roi Canh Thinh des Tay Son intercepta un jour une lettre secrête que Nguyen Anh avait envoyé à Mgr Labarlette, lui demandant d’organiser à l’interieur une armée de chretiens) pour seconder les forces commandés par les francais.) – (Trần Tam Tinh, Dieu et César, Les Catholiques Dans Lihistore du Vietnam, 1978, p. 29).

    Chính vì thế Nhà Tây Sơn buộc phải triệt hạ Da-tô, nên:

    Ngảy 17/8/1798, Vua Cảnh Thịnh ra sắc dụ cấm đạo Da-tô kể từ Phú Xuân đến Bắc Hà, vì đây chỉ là “đạo dạy mê tín, dối gạt dan chúng và đảo lộn trật tự xã hội.” [Tạ Chí Đại Trường, Lịch Sử Nội Chiến Ở Việt Nam [ California : An Tiêm, 1991), tr. 309.]

    Năm 1823, dưới triều Minh Mạng, chùa Lá Vàng thờ Phật Bà Quan Âm bị những người Da-tô cướp phá và đổi thành nhà thờ La Vang Phật Bà Quan Âm đổi thanh Ma ria đồng trinh.” [ii]

    Ngoài những vụ ăn cướp chùa trên đây, sách này còn ghi nhận những hành động cướp đất và tiền bạc dưới đây cũng do Giáo Hội La Mã chủ trương, xin tóm lược như sau:

    4.- “Chùa Thiên Mụ xây năm 1601 bị Da Tô đánh cướp 32 pho tượng vàng y..”

    5.- Chùa Diệu Đế bị Da-tô cướp đất:

    Năm 1885, Chính quyền Da-tô Thực Dân lấy Cát Tường Tư Thất làm sở đúc tiền và lấy Trí Tuệ Tịnh Xá làm phủ đường Thừa Thiên – lấy một tăng phòng làm Nhà Lao của tỉnh và một tăng phòng làm trụ sở cho trụ sở cho Khám Thiên Giám.

    Năm 1887, chính quyền Da-tô triệt một số căn nhà khác trong chùa..

    Năm 1910, chính quyền Da-tô lại triệt hạ Đào Nguyên và thay vào bằng hai nhà nhỏ thờ Kim Cang. [Nguyễn Quang Tuân, Những Ngôi Chùa Danh Tiếng, 1991, tr.115] .

    6.- Chùa Giác Hoàng bị cướp phá.- Chùa Giác Hoàng là “Một trong hai mươi thắng cảnh Thần Kinh đã được Vua Thiệu Trị làm thơ ca tụng có ghi trong Ngự Chế Thi Tập.”, đã bị Da-tô đánh cướp vào năm 1885.

    7.- Da-tô cướp chuông chùa – cướp đất nghĩa trang anh hùng Văn Thân – Cần Vương xây nhà thờ Da-tô . Chuông nhà thờ Phát Diệm. “Đây là một quả chuông đồng pha vàng do Trần Lục ngày xưa đem quân đi đoạt ở một ngôi chùa nào xa lắm – đem về dâng nhà thờ Phát Diệm.” [Chu Thiên: Bão Biển,1978, tập1, tr 149..]

    Nhà thờ Da-tô đối diện với Tòa Hành Chánh tỉnh Quảng Ngãi xây trên nền Nghĩa Trang các anh hùng liệt sĩ Cần Vương và Văn Thân.

    8.- Nhà thờ Lớn ở Sàigòn: Nhà Thờ Lớn ở Sàigòn (hiện nay là nhà thờ Đữc Bà, Vương Cung Thánh Đường) được xây trên nền một ngồi chùa bị phá. Sách “Sàigòn Năm Xưa” xuất bản năm 1960, trang 218, tác giả Vương Hồng Sển viết:

    “Từ ngày Pháp chiếm Sàigòn, Đức Cha hành lễ tại một ngôi chùa hoang phế và sử tạm dùng làm thánh đường.”

    Ngày 7/10/1877, Cố ĐạoThực Dân Colombert đặt viên đá đầu tiên xây ngôi thánh đường tạm thành “nhà thờ Đức Bà” đến ngày 11/4/1880 lễ hoàn thành.

    Ngày 7-8 tháng 12/1960, dưới thời Da-tô phản quốc Ngô Đình Diệm, Vatican phong cho nhà thờ lớn Sàigòn là “vương cung thánh đường”.

    9.- GM Nguyễn Văn Thuận ăn cướp đất ở bờ biển Hòn Chồng để xây Giáo Hoàng Chủng Viện.

    10.- Linh-mục Ngân ở Quảng Ngãi cướp đất của thị xã Quảng Ngãi để xây nhà thờ. Y cũng nuôi ý đồ cướp đất chùa Bút Tháp, âm mưu đang tiến hành thì chế độ Diệm đổ…

    11.- Linh-mục Vàng thuộc “Trung Tâm Nhân Vị” ở Vĩnh Long đã cắm thập ác trên núi Ngũ Hành trong phjam vi Chùa Non Nước với ý đồ cướp đất Chùa Non Nước.

    12.- Linh-mục Đinh Xuân Hải lấn đất của một ngôi chùa ở Hóc Môn (Nam Việt).

    13.- Giám-mục Ngô Đình Thục và Trần Lệ Xuân ăn cắp 18 tỷ đô la gửi vào ngân hành Vatican.” [iii]

    Tất cả trong số 13 vụ cướp chùa, cướp đất xây nhà thờ và cướp của được nêu ra trên đây, có 8 vụ xẩy ra trước năm 1945 và 5 vụ xẩy ra trong những năm 1954-1975 ở miền Nam Việt Nam.

    (Nguyễn Mạnh Quang)

  15. concun permalink

    HÀ NỘI: TỪ CHÙA BÁO THIÊN TỚI NHÀ THỜ LỚN

    (Phần in đậm để nhấn mạnh là của GĐ)

    – Nhà thờ lớn Hà Nội có từ bao giờ?

    – Nhà thờ lớn Hà Nội hay nhà thờ Saint Joseph bắt đầu xây từ năm 1884, khánh thành ngày 24.12.1986.

    – Đất xây nhà thờ St Joseph là đất công hay đất tư?

    – Tại địa điểm này, năm 1057, thế kỷ XI, vua Lý Thánh Tông cho khởi công xây tháp Đại Thắng Tư Thiên, gọi tắt là Tháp Báo Thiên, thuộc nền Chùa Sùng Khánh, hay Chùa Báo Thiên, kinh đô Thăng Long. Theo nhiều tài liệu khác nhau thì trong khi Tháp Báo Thiên bị phá để xây Nhà thờ lớn thì Chùa Báo Ân cũng bị phá để xây Nhà Bưu Điện Hà Nội. Cả hai ngôi chùa này đều là hai chùa lớn bên hồ Hoàn Kiếm.

    – Có tài liệu nào viết về vụ phá chùa để xây cất nhà thờ này không?

    – Có. Gần nhất là một bản tin trong Thời Sự Khởi Hành số 66, tháng 4.2002 (số báo đặc biệt in màu nguyên hai trang KH Bản Đồ Việt Nam 1838 là năm lúc Pháp chưa đánh chiếm Việt Nam.)

    Xin trích dẫn lại như sau:

    “Thực dân Pháp cũng như bọn bành trướng phương Bắc luôn luôn muốn hủy diệt văn minh sông Hồng (cái nôi của Việt Nam), bằng cách này hay cách khác, kể cả việc o bế, bắt tay với các bộ lạc sau lưng miền Bắc, sau lưng các triều đại giòng dõi Hai Bà, Phùng Hưng, Ngô Quyền, Lý Trần Lê, … [là các triều đại đã nổi lên dựng nền độc lập cho V.N.] để chọc vào cạnh sườn Phong Châu, Tản Viên, lấp sông Tô Lịch, đổi dòng sông Hồng, sông Bạch Đằng … và phá Hòn Vọng Phu ở Đồng Đăng, xiết nợ Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc …[Không phải vô tình mà cả Giang Trạch Dân lẫn Hồ Cẩm Đào (tháng 11.06) khi đến Việt Nam đã đáp xuống Đà Nẵng, xuống bơi ở China Beach Đà Nẵng] …

    “Đọc lại sách vỡ cũ, người Việt yêu nước Việt thở dài: biết bao đền đài kiến trúc cổ bị phá sập, … như ngôi chùa Báo Thiên nguy nga và tôn nghiêm ở thủ đô Thăng Long đã bị giám mục Puginier chọn, và trên đó mọc lên một nhà thờ công giáo.

    “Trong bài nói về vai trò của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp với các di tích lịch sử Thăng Long, viết bởi France Mangin, có đọan sau đây của André Masson (Hà Nội dưới thời kỳ chinh phục 1873-1888):

    “Phải hủy ngối chùa và chiếm đất vào cái thời gọi là chinh phục mà chúng ta đã trải qua đó, nhìn bề ngoài thì không có gì dễ dàng bằng, nhưng tôi cảm thấy một sự ghê tởm nào đó khi phải lạm dụng quyền lực một cách như vậy.”

    “Bài báo viết: “Sự đắn đo của ông Bonal đã được xoa dịu nhờ sự giúp đỡ của tổng đốc Nguyễn Hữu Độ và những trở ngại trong việc phá dỡ ngôi chùa đã được giải quyết nhanh chóng … Tiếp đó miếng đất đã được cho không Đoàn Truyền Giáo, và ông Bonal đã “hài lòng giao lại cho vị giám mục giấy tờ chính thức xác nhận quyền sỡ hữu (miếng đất).”

    “Giám mục Puginier mở cuộc Xổ Số lấy tiền xây ngôi nhà thờ trên nền Chùa Báo Thiên, và hoàn thành ngôi nhà thờ năm 1886: đó là Nhà Thờ Lớn hiện nay tại Hà Nội.”

    Thấy việc này thành công, trong những năm tiép theo, nhiều ngôi chùa khác tại Hà Nội bị phá hủy: chùa Táo (xây vào thế kỷ X, chùa Liên Trì (hay chùa Báo Ân, xem hình) đền Huyền Trân (xây thế kỷ XVI) …” [Phần dịch bài của France Mangin là của Đào Hùng.]

    – Được gọi là một trong “tứ đại khí” của Việt Nam, tháp Báo Thiên như thế nào, và vì sao nay không còn nữa?

    – Tháp Báo Thiên cao 20 trượng, gồm 12 tầng, ngọn bằng đồng hình tựa ngọn núi, cao chót vót trên nền trời Thăng Long. Tháp được xếp vào một trong bốn Đại Nam Tứ Khí, bốn vật báu của đất nước; mà ba (kiến trúc điêu khắc) qúi giá khác là chùa Quỳnh Lâm, vạc Phổ Minh, và chuông Quy Điền. Sự tích tháp Báo Thiên đã được hai danh sĩ Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án viết như sau trong sách Tang Thương Ngẫu Lục:

    “Cây Tháp Đại Thắng Tư Thiên tại chùa Báo Thiên dựng từ đời vua Lý Thái Tông (1054-1072). Tháp này xây 12 tầng, cao mấy chục trượng … Khoảng năm Tuyên Đức nhà Minh, Đức Thái Tổ Hoàng đế tiên triều [Lê Lợi] tiến binh vây Đông Đô. Viên quan giữ thành là Thành-sơn-hầu Vương Thông phá hủy cây tháp [lấy vật liệu] chế ra sung đồng để giữ thành [1414]. Tiên triều nhân nền cũ, đắp các núi đất phủ lên trên … Năm Giáp dần [1791] lại cho đào lấy những gạch đá ở nền tháp cũ để tu bổ thành lũy Thăng Long. Khi phá nền tháp thấy có tám pho tượng Kim Cương chia ra đứng bốn cửa, ngoài ra còn có tượng người tiên, chim muông, cả đến những giường ghế, chén bát, các thứ lặt vặt khác không kể xiết, toàn bằng đá

    Những hòn gạch hoa, hòn nào cũng thấy khắc những chữ “Lý gia đệ tam đế, Long thụy Thái Bình [1054-1058], tứ niên tạo,” tức là “Đúc trong năm thứ tư niên hiệu Long thụy Thái Bình đời vua thứ ba triều nhà Lý.”

    – Có sử sách gì khác viết về Tháp Báo Thiên không?

    – Có. Nhà thơ Phạm Sư Mạnh (thế kỷ XIV), người Hải Dương, tiến sĩ đời vua Trần Minh Tông [1314-1329], người cực kỳ hay chữ, đã làm bài thơ như sau về Tháp Báo Thiên:

    Trấn áp đông tây củng đế kỳ

    Khuy nhiên nhất tháp độc nguy nguy

    Sơn hà bất động kình thiên bút

    Kim cổ nam ma lập địa chùy

    Phong bãi chung linh thời ứng đáp

    Tinh di đăng chúc dạ quang huy

    Ngã lai dục tủy đề thi bút

    Quản lãnh xuân giang tác nghiễn trì.

    Nhà thơ Vô Ngã Phạm Khắc Hàm thoát dịch như sau trong tập Thơ Văn Lý Trần mà ông đang biên soạn:

    ĐỀ THÁP BÁO THIÊN

    Trấn áp đông tây giữ đế kỳ

    Một mình cao ngất tháp uy nghi

    Chống trời cột trụ non sông vững

    Sừng sững ngàn năm một đỉnh chùy

    Chuông khánh gió đưa vang đối đáp

    Đèn sao đêm đến rực quang huy

    Đến đây những muốn lưu danh tính

    Mài mực sông xuân viết ngẫu thi.

    Các tài liệu sau này cũng có, song chỉ có tính cách địa dư chí. Ví dụ, trong Từ điển đường phố Hà Nội của Đại Học Hà Nội xuất bản có cho biết rằng Chùa Báo Thiên thuộc thôn Báo Thiên, tổng Tiên Túc, (sau đổi là tổng Thuận Mỹ), huyện Thọ Xương. Sách này viết:

    “Nền nhà thờ hiện nay nguyên là nền đất chùa Báo Thiên rất nổi tiếng, ở đây có ngôi tháp gọi là Tháp Báo Thiên. Ngoài ra tại phố này (Phố Nhà Thờ, Avenue de la Cathédrale), còn có một ngôi chùa cổ, là Chùa Bà Đá. Tương truyền vào đời Lê Thánh Tông ở thôn Báo Thiên Tự có một người đào được một pho tượng Phật Bà bằng đá. Người đó liền lập một miếu nhỏ để thờ. Sau dân làng thấy thiêng mới xây thành ngôi chùa và gọi là chùa Bà Đá, tên chữ là Linh Quang Tự. Pho tượng đã bị mất trong một vụ cháy thời Pháp thuộc.”

    NGUYỄN AN TIÊM

    (báo Khởi Hành

  16. concun permalink

    Đến đây quý vị đã nhận ra hậu quả của đạo chúa vào VN do Vatican chỉ đạo chưa?.
    Giáo gian hô hào Tự do tôn giáo nhưng chúng ta thấy trước mắt tên Nhân dân tự vệ đòi giải tán Giáo hội Phật giáo hải ngoại dù hắn đang lưu vong trên nước mỹ, không có quyền lực trong tay.
    Chúng hô hào tự do ngôn luận, tôn trọng sự thật nhưng chúng có làm đâu.
    Sự thật ràng ràng mà chúng còn không chịu, vu khống chụp mũ người phi Kito.

  17. concun permalink

    Để biết thêm dã tâm của các con cừu cuồng tín thù ghét phật giáo, độc giả nên vào web site Vietland để thấy những lời phát biểu vu khống bịa đặt loạn xạ của tên Nhân dân tự vệ.

  18. concun permalink

    Qủa thật đúng là bọn Việt Gian Giao Điểm – tay sai của Trung Cộng – khiếp vía hình bóng của Vatican.
    Chỉ vì Vatican đã gián tiếp knock out Cộng Sản quốc tế.
    Mà Giáo Hội Công Giáo VN vẫn trung thành với Vatican.
    Cho nên đảng Cộng Sản Việt Nam – Tay sai cuả Trung Cộng – phải nặn ra bọn Giao Điểm.
    Để điên cuồng gầm thét, chửi bới Giáo Hội Công Giáo vẫn đang trung thành với Vatican liên tục.
    Với hoài vọng một ngày nào đó nhân dân yêu nước VN làm áp lực với Giáo Hội Công Giáo VN để đoạn tuyệt với Vatican.
    Và Giáo Hội Công Giáo VN khi đó trở thành một Giáo Hội quốc Doanh ; chỉ biết tuân lệnh một đảng Cộng Sản VN.
    ( Hình ảnh Thiên Thần cuả Giáo Hội Công Giáo quốc doanh khi đó có cả sừng và đuôi cùng răng nanh và móng vuốt.. đồng dạng với qủy vương – kẻ đang phò trợ bọn cộng Sản vô thần – .)
    Y như theo mẫu mực của Trung Cộng.
    Chắc phải đến lúc đó, thì đảng Cộng Sản VN mới hết hồi hộp vì ám ảnh hình ảnh cuả Vatican
    Last edited by Nhân Dân Tự Vệ; 08-06-2013 at 01:46 PM.

  19. concun permalink

    1. Người Công giáo không thể cùng một lúc vừa trung thành với Vatican vừa trung thành với Tổ quốc. Bất cứ một tín đồ nào trung thành với Vatican đều đương nhiên trở thành kẻ phản quốc. Đây là một sự thật hiển nhiên có thể được kiểm chứng dễ dàng bằng lịch sử thế giới và bằng lịch sử Việt Nam.

    2. Bất cứ ai có lòng yêu nước thật sự và có tinh thần tự trọng dân tộc đều không thể chấp nhận sự cai trị của Vatican đối với một thành phần dân tộc Việt Nam. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh từ xưa đến nay cộng đồng Công giáo VN luôn luôn hành động nhằm phục vụ “nước Chúa” Vatican và hoàn toàn đi ngược lại quyền lợi của dân tộc. Có thể nói, giáo hội Công giáo VN là một tập thể Việt gian lớn nhất trong lịch sử dân tộc và có truyền thống phản quốc lâu đời nhất từ trước đến nay.

    Mục tiêu thứ ba của công cuộc giáo dục là phải nhằm cải tạo tư tưởng để biến bảy triệu tên Việt gian nằm vùng hiện nay trở thành bảy triệu công dân lương thiện trong lòng dân tộc.

    Trong hiện tại, giáo hội Công giáo VN vẫn thống thuộc sự lãnh đạo của Vatican thông qua Hội đồng Giám mục do chính bọn chúng tuyển chọn và phong chức. Giáo hội Công giáo VN hiện nay vẫn giữ nguyên vẹn các đặc tính cố hữu là một giáo hội súc vật, một bộ lạc của lũ mọi ăn thịt người và vẫn là bảy triệu tên Việt gian chính hiệu nằm vùng trong đạo quân thứ năm của chủ nghĩa đế quốc.

    Tôi rất ngạc nhiên trước sự liện mới đây nhà nước VN cho phép Công giáo tổ chức “Đại hội những người Công giáo VN xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Trong khi đó Tổng Giám mục Mẫn vẫn ca ngợi nền thần học dối trá bịp bợm của Công giáo và vẫn xác nhận thái độ của Công giáo VN là “quên mình trong vâng phục Vatican”! Bảy triệu người Công giáo hiện nay chưa được giáo dục và chưa được chuẩn bị tâm tư đầy đủ để tham gia công cuộc “xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Tôi đề nghị chính quyền VN hãy tạm thời hủy bỏ “Đại hội những người Công giáo VN xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Hoàn cảnh thích hợp nhất để tổ chức những đại hội này chỉ có thể có sau khi Hội đồng Giám mục VN hiện nay bị giải tán để hình thành Giáo hội Công giáo VN Tự trị.

    Biện pháp bốn: Nhằm mục tiêu hạn chế tối đa sức bành trướng của giáo hội Công giáo hiện nay và để thúc đẩy nhanh việc thành lập Giáo hội Công giáo VN tự trị, chính quyền cần sớm ban hành quyết định tịch thu toàn bộ tài sản của giáo hội Công giáo.

    Sau khi Hội đồng Giám mục hiện hữu đã bị giải tán, chính quyền sẽ dần dần trả lại tài sản cho “Giáo hội Công giáo VN tự trị” chiếu theo các nhu cầu chính đáng của từng giáo xứ hoặc tùy theo các sinh hoạt cần thiết của giáo hội.

    Tuy nhiên, đối với các tài sản của giáo hội có nguồn gốc thủ đắc bất chính hoặc đã là cơ sở gây tội ác đối với dân tộc thì cần phải được tịch thu vĩnh viễn, không hoàn trả. Trong số các nhà thờ nổi tiếng như nhà thờ Lớn Hà nội, nhà thờ Đức Bà Sài gòn và nhà thờ La vang đều là những tài sản ăn cướp của nhà chùa Phật giáo từ cuối thế kỷ 19. Tên Huyện Sĩ dựa vào thế lực của Pháp cướp đất của đồng bào miền Nam trở thành đại điền chủ hết sức giàu có. Tên Việt gian Công giáo này đã dùng một phần tài sản ăn cướp đi xây nhà thờ Huyện Sĩ. Do đó, nhà thờ Huyện Sĩ cần được tịch thu để biến thành một cơ sở phục vụ công ích, chẳng hạn như biến nhà thờ Huyện Sĩ thành một viện bảo tàng triển lãm tội ác của Công giáo từ xưa đến nay.

    Nhà thờ Phát Diệm là sào huyệt của bọn Việt gian trải qua nhiều thế hệ: khởi đầu từ Trần Lục, qua Nguyễn bá Tòng, Lê hữu Từ đến Hoàng Quỳnh. Chính quyền nên tịch thu nhà thờ Phát Diệm như một hình thức trừng phạt bọn Việt gian này.

    Tất cả những điều trình bày ở trên đây chỉ là những ý kiến cá nhân, chắc chắn không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót do chủ quan và do sự hiểu biết hạn hẹp của người viết. Rất mong nhận được sự chỉ giáo của các bậc thức giả cùng có nỗi ưu tư về quốc nạn Công giáo – Tin lành. Tôi xin chân thành cảm tạ.

    Charlie Nguyễn

    Tháng 4.2003

  20. concun permalink

    Giải tán Hội đồng Giám mục là bước đầu tiên phải có trước khi tiến tới việc thành lập Giáo hội Công giáo VN tự trị. Nói cách khác, Giáo hội Công giáo Việt Nam tự trị sẽ trở nên vô nghĩa khi Hội đồng Giám mục do Vatican lập nên vẫn còn tồn tại và vẫn tiếp tục lãnh đạo giáo hội. Giải tán Hội đồng Giám mục chính là một hành động thực tiễn phá bỏ cái mắt xích trọng yếu trong guồng máy xâm lược của Vatican để bảo tồn sinh mạng dân tộc Việt Nam.

    Giáo hội Công giáo VN từ xưa đến nay chưa bao giờ từ bỏ truyền thống phản quốc cố hữu của họ. Đúng như hai tác giả Nhật Nam và Hồng Hà LTV nhận xét trong các bài tham luận nói trên : “Bảy triệu tín đồ Công giáo là một loại ung thư cực kỳ nguy hiểm trên cơ thể quốc gia, do đó cần phải tìm cách cô lập chặt chẽ để giời hạn tối đa sức bành trướng của nó”. Đúng vậy, nếu không có phương cách ngăn chận sự bành trướng của căn bệnh ung thư Công giáo và Tin lành thì căn bệnh nguy hiểm này có thể gây tử vong cho Tổ quốc Việt Nam.

    Phương cách tốt nhất để cô lập hóa giáo hội Công giáo VN với Vatican gồm có hai bước:

    – Bước thứ nhất là giải tán Hội đồng Giám mục hiện nay.

    – Bước thứ hai là mỗi giáo phận Công giáo sẽ triệu tập một hội nghị các linh mục trong giáo phận để tuyển chọn một tân giám mục thay thế giám mục trước đây do Vatican bổ nhiệm. Khi các địa phận đã bầu xong các tân giám mục, chúng ta sẽ có một Hội đồng Giám mục mới của một Giáo hội Công giáo VN tự trị. Việc điều hành giáo hội của Hội đồng Giám mục này ra sao và các sinh hoạt của giáo hội tự trị như thế nào v.v…. thiết tưởng về những vấn đề này chúng ta có thể học hỏi nhiều điều cụ thể và hữu ích từ những bài học kinh nghiệm quí giá của Trung quốc.

    Đối với Tin lành, biện pháp cần thiết để ngăn chận sức bành trướng của nó là phải ngăn chận sự xâm nhập của bọn truyền giáo. Về điểm này, chúng ta có thể áp dụng những biện pháp của Do thái và Nam dương :

    – Năm 1978, quốc hội và chính phủ Do thái đã ban hành đạo luật “Chống Truyền giáo” (Anti-Missionary Law). Luật này qui định mọi cuộc truyền đạo Kitô tại Do thái là bất hợp pháp. Người truyền giáo sẽ bị phạt 5 năm tù và bị phạt tiền tương đương 3.200 Mỹ kim.

    – Tại Nam dương, luật pháp buộc mọi người truyền giáo nhập cảnh Nam dương phải khai báo nghề nghiệp của mình. Nếu khai nghề nghiệp truyền giáo thì Sở Ngoại vụ Nam dương cho phép họ được lưu trú tối đa 6 tháng. Trong trường hợp không khai báo mà hành nghề truyền giáo tại Nam dương bất hợp pháp, người vi phạm sẽ bị án tù hoặc trục xuất.

    Biện Pháp ba: Cần đặt nặng vấn đề giáo dục để cải hóa 7 triệu tín đồ Công giáo VN nhằm giúp họ phản tỉnh trở về với dân tộc.

    Đây là một công tác có ý nghĩa hết sức cao cả và đầy tính nhân đạo vì công tác này được xử dụng để thay thế cho biện pháp tiêu diệt đẫm máu. Tuy nhiên, giáo dục để cải hóa 7 triệu tín đồ Công giáo không phải là việc đơn giản. Công tác này đòi hỏi chính quyền phải sáng suốt và có quyết tâm cao, đồng thời cần có sự cộng tác của mọi tầng lớp nhân dân, nhất là giới trí thức yêu nước, bằng cách đóng góp công sức và những sản phẩm tim óc của mình vào công cuộc giáo dục này.

    Muốn cho công cuộc giáo dục đạt hiệu quả cao, chính quyền cần ban hành một số văn bản luật pháp để loại bỏ những hiện tượng tiêu cực còn tồn đọng:

    1. Loại bỏ những bài kinh nguyện (prayers) có nội dung phản quốc như “Kính dân đất nước Việt Nam cho Trái tim Chúa”, “Kinh cầu cho kẻ ngoại” hoặc có nội dung nhục mạ Phật giáo như “Kinh cầu ông Thánh Phanxicô” hoặc nhục mạ 92% dân tộc Việt Nam không-Công-giáo-La-mã: “Kẻ dữ là kẻ chẳng có đạo” (Kinh Bổn).

    2. Chấm dứt tình trạng thả lỏng hiện nay để cho các tu sĩ Công giáo tự do thuyết giảng ở nhà thờ. Hiện tượng này có thể sẽ vô hiệu hóa mọi kết quả của công tác giáo dục. Cần có điều luật buộc mọi tu sĩ phải nạp bản thuyết giảng cho cơ quan hữu trách trước vài ngày thuyết giảng và chỉ được phép nói với giáo dân những điều đã được cho phép mà thôi.

    3. Chấm dứt các lễ hội lớn được tổ chức trên qui mô toàn quốc như “Lễ hội La vang” năm 1998. Các lễ hội này thực chất chỉ là những cuộc xuống đường trá hình để biểu dương lực lượng và uy hiếp chính quyền. Tác dụng tiệu cực của các lễ hội này là lòng mê tín của quần chúng tín đồ được kích thích cao độ.

    4. Các tu sĩ Công giáo và các người truyền giáo Tin lành phải bị cấm dạy học hoặc mở trường học.

    5. Đóng cửa các dòng tu nam nữ vì sự tồn tại của các dòng tu này là những cản trở lớn cho sự giáo dục. Hầu hết các dòng tu đều có nhiệm vụ chính yếu là truyền giáo nhưng mỗi dòng tu đều có một tôn chỉ riêng và phương cách truyền đạo riêng. Các dòng tu nam quan trọng là dòng Tên (Dominician / Nhà thờ Ba Chuông), dòng Chúa Cứu Thế, dòng Đồng Công, dòng Phanxicô, Antôn, Don Bosco, Phước Sơn… Các dong nữ tu quan trọng là dòng Mến Thánh Giá, dòng Saint Paul, dòng Tu Kín….

    Toàn bộ công cuộc giáo dục cần phải qui hoặch để đạt được 3 mục tiêu sau đây:

    – Mục tiêu thứ nhất: Xét theo bề ngoài thì 7 triệu đồng bào Công giáo không khác gì với những người Việt Nam bình thường khác. Nhưng thật sự 7 triệu người Công giáo hiện đang sống trong tình trạng hết sức mọi rợ về tâm linh. Trước hết, họ luôn luôn mang tâm cảm là một bày súc vật thuộc quyền chăn dắt tuyệt đối của các vị chủ chăn ở Vatican. Người Công giáo thường hay kết án chính quyền Việt Nam vi phạm nhân quyền, nhưng trong thực tế chính họ đã tự rứt bỏ quyền làm người của họ để xin được làm một bày súc vật của ngoại bang. Trong kinh ‘Dâng cõi Đông Dương cho Đức Nữ Đồng Trinh Maria’ có câu: “Vì công nghiệp Đức Mẹ chuyển cần, xin cho dân cõi Đông Dương nhờ có máu châu báu của con Đức Mẹ đã đổ ra mà cứu chuộc, thảy đều nên một ràn cùng một kẻ chăn” (kinh Nhựt khóa trang 172). Danh từ “một ràn” trong bài kinh có nghĩa là một bày súc vật (cừu non / con chiên) và danh từ “một kẻ chăn” chính là giáo hoàng ở Rome! Trong các sách kinh Công giáo không thiếu gì những lời kinh tương tự, hậu quả tai hại là Giáo hội Công giáo VN đã tự biến mình thành một giáo hội súc vật hèn hạ. Cho nên, mục tiêu thứ nhất của công cuộc giáo dục phải đạt tới là giải cứu bảy triệu đồng bào Công giáo thóat khỏi cái “mặc cảm súc vật” để từ đó họ tự khôi phục nhân phẩm và quyền làm người của chính họ. Sự giáo dục tạo cơ hội cho người Công giáo trải qua một quá trình khó khăn nhất là quá trình tiến từ súc vật trở thành người (human being)!

    – Mục tiêu thứ hai: Người Công giáo có một thói tật rất xấu xa và ngu xuẩn, đó chính là thói tật thích “ăn thịt uống máu Chúa!” Dù chỉ là ăn thịt uống máu tưởng tượng một cách ngớ ngẩn qua cái nghi lễ quái đản được gọi là “Phép bí tích Mình Thánh Chúa”, nhưng trong đáy sâu tâm hồn họ đích thực là một lũ mọi ăn thịt người (Cannibals). Dù bề ngoài, người Công giáo có thể có dáng vẻ học thức văn minh sang trọng, nhưng xét về bản chất tâm linh họ vẫn là những tên mọi ăn thịt người man rợ thuộc thời kỳ bán khai của dòng tiến hóa nhân loại. Công cuộc giáo dục phải đạt tới mục tiêu cải biến bảy triệu tên “mọi ăn thịt người” trở thành bảy triệu người bình thường.

    – Mục tiêu thứ ba: Trong sách “Thực chất đạo Công giáo và các đạo Chúa” do GĐ xuất bản Xuân 2003, trong chương 5 phần I, dưới tựa đề “Vai trò Chính quyền trong tương quan Công giáo – Dân tộc” (50 trang) tôi đã trình bày cặn kẽ hai vấn đề:

  21. concun permalink

    Đề nghị một số biện pháp cụ thể để cứu nguy dân tộc khỏi nạn Công giáo – Tin lành.

    Biện pháp một: Trước hết, chúng ta cần có một Tu chính Hiến Pháp xác định chủ quyền quốc gia là chủ quyền tối thượng. Mọi sự thống trị của bên ngoài đối với giáo hội trong nước đều là những hình thức xâm phạm chủ quyền tối thượng của quốc gia. Giáo hội Công giáo VN và các tổ chức “Hội thánh Tin lành” không thể bị đặt dưới quyền cai trị hoặc khống chế bời một tổ chức hay cá nhân nào ngoài Việt Nam.

    Tu chính án hiến pháp sẽ là một điều khoản luật pháp tối cao như ngọn lửa hải đăng hướng dẫn và điều chỉnh mọi văn kiện luật pháp cũng như mọi định chế của tôn giáo hay của chính phủ nầu không phù hợp sẽ đều phải được điều chỉnh lại. Tinh thần của Tu chính án Hiến pháp nói trên sẽ được đưa đến hệ quả trực tiếp là phải đưa Giáo hội Công giáo VN ra khỏi sự thống trị của Vatican như hiện nay để tiến tới sự hình thành một “Giáo hội Công giáo VN Tự trị”. Vatican là một tên đế quốc đầu sỏ lâu đời nhất và nguy hiểm nhất. Nó đã được giới học giả Tây phương gọi là “Con Bạch tuộc của Đức Chúa Trời” (Octopus Dei). Về thần quyền nó là thủ đô tinh thần của gần một tỉ thần dân là các tín đồ Công giáo trên khắp thế giới. Về thế quyền, nó là một quốc gia riêng biệt, có lãnh thổ riêng, quốc kỳ, quốc ca riêng. Giáo hoàng là quốc trưởng đứng đầu một nội các gồm có nhiều bộ. Quốc gia Vatican có quan hện ngoại giao với hầu hết các quốc gia trên thế giới trên cấp bậc đại sứ. Chúng ta nên theo gương Trung quốc cắt đứt mọi liên hệ ngoại giao với tên đế quốc đầu sỏ này. Cái đầu của con Bạch tuộc đế quốc ở tại Rome, nhưng mỗi cái vòi của nó chính là giáo hội công giáo tại mỗi quốc gia. Giáo hội Công giáo VN hiện nay rất trung thành và tuyệt đối vâng lời Vatican. Tập thể bảy triệu tín đồ Công giáo VN là một cái vòi lớn của con Bạch tuộc Công giáo La mã . Nói cách khác, đó chính là đạo quân thứ năm của chủ nghĩa đế quốc nằm vùng thường trực trong lòng dân tộc VN. Muốn bảo vệ sinh mạng dân tộc, chúng ta không có cách nào khác hơn là phải cô lập hoàn toàn tâp thể tín đồ Công giáo VN với Vatican. Cần có một đạo luật xác định: không một tu sĩ hay giáo dân nào được phép liên hệ trực tiếp với Vatican (tương tự như Văn bản số 3 của Hội đồng Nhà nước Trung quốc tháng 2-1989). Về điểm này có một điều đáng chú ý là tỉ số giáo dân Trung quốc chỉ có 0.58% so với dân số cả nước. Tại VN, tỉ số giáo dân Công giáo rất cao khoảng 7%, tức tỉ số giáo dân Vn cao gấp trên 10 lần tỉ số giáo dân Trung quốc nhưng luật pháp Việt Nam hiện nay gần như thả nổi đối với Công giáo và Tin lành. Điều đó chứng tỏ Việt Nam chưa đánh giá đúng mức sự nguy hiểm của con Bạch tuộc Công giáo La mã. Hiến pháp và luật pháp của Trung quốc đối với Công giáo trong hơn nửa thế kỷ qua thật sự là một tấm gương sáng đáng cho chúng ta học hỏi.

    Biện pháp hai: Việc cấp thiết cần được thực hiện một cách kiên quyết là giải tán Hội đồng Giám mục VN. Hội đồng này được thành lập do Sắc chỉ ngày 24-11-1960 của Giáo hoàng Gioan XXIII. Ngày 18-12-1960, HĐGMVN và toàn bộ các thành viên chính phủ Việt Nam Cộng hòa do Ngô đình Diệm lãnh đạo đã tổ chức lễ tạ ơn Tòa thánh tại Vương cung Thánh đường Sài gòn. Tại buồi lễ này, Hội đồng Giám mục và chính phủ Diệm đã long trọng làm lễ “Dâng Tổ quốc Việt Nam cho Đức Mẹ Maria”. Trong thực tế bè lũ Việt gian vong bản đã dâng tổ quốc Việt Nam cho đế quốc Vatican!

    Hội đồng Giám mục hiện nay gồm các hồng y, tổng giám mục và giám mục do Vatican tuyển chọn kỹ càng. Hội đồng này là cơ quan lãnh đạo đầu não của giáo hội Công giáo VN, đồng thời cũng là ban tham mưu tối cao của đạo quân thứ năm nằm vùng trong nước, luôn luôn sẵn sàng tuân hành mọi chỉ thị phát ra từ Vatican.

    Muốn vô hiệu hóa cái vòi xâm lược của con Bạch tuộc vatican, việc cần thiết phải thực hiện là giải tán Hội đồng Giám mục VN. Tất cả các hồng y, tổng giám mục và giám mục đều phải bị cưỡng bách cởi bỏ áo dòng để trở về cuộc sống thế tục. Toàn bộ tài sản và cơ sở của các giám mục phải được tịch thu. Tất cả các hồng y, tổng giám mục và giám mục hoàn tục có thể làm lễ trong phòng riêng một mình nhưng không được phép làm lễ cho giáo dân coi.

  22. concun permalink

    Nếu chính quyền Việt Nam đàn áp tôn giáo, tại sao Công giáo có thể tổ chức “Lễ hội La vang” qui tụ trên một trăm ngàn tín đồ trong năm 1999? và tại sao các giám mục và linh mục được phép xuất ngoại nườm nượp như đi chợ?

    Phải chăng chính quyền Việt Nam đã quá tin tưởng vào sự phản tỉnh dân tộc của 7 triệu tín đồ Công giáo nên đã quá lơ là cảnh giác và quá buông lỏng dễ dãi với họ?

    Trên trang nhà Giao Điểm (giaodiem.com và giaodiem.net) tháng 3-2003 có đăng bài viết tựa đề: “Việt Nam phải cẩn thận về một tập đoàn cực kỳ hiếu chiến”, hai tác giả của bài viết này là Đào duy Toàn và Hồng Hà Lý trọng Võ đã khẩn thiết lên tiếng kêu gọi chính quyền Việt Nam cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề cấp bách là phải diệt trừ tham nhũng để không cho đạo quân thứ năm của địch xâm nhập các cơ cấu chính quyền để lũng đoạn. Hai tác giả bày tỏ nỗi niềm tha thiết của mình đối với mối lo chung của cả dân tộc: “Đây là lời cảnh báo chí tình của những người Việt xa quê!”.

    Trong tháng 2/2003, trang nhà Giao Điểm có đăng bài tham luận rất giá trị mang tựa đề: “Đối trị với sách lược của Vatican” của Nhật Nam và Phạm phú Bổn. Hai tác giả nhấn mạnh đến tính chất đế quốc bất biến của Vatican là luôn luôn xâm lăng văn hóa chính trị trên toàn cầu và Việt Nam là kẻ thù lịch sử của Vatican.

    Theo hai tác giả thì Giáo hội Công giáo có bốn thuộc tính:

    1. Luôn luôn khống chế thế quyền để phát triển giáo quyền.

    2. Tu sĩ cũng như giáo dân Công giáo luôn luôn tìm cách “mở mang nước Chúa” dù phạm tội ác.

    3. Trong hiện tại, Công giáo VN có thể lợi dụng các cánh tay nối dài của Tây phương (như Kinh tế thị trường, thông tin đại chúng) để khuynh loát chính quyền nhằm tạo lợi thế.

    4. Giáo hội Công giáo VN là đạo quân thứ năm (của Vatican) có tính chất chuyên nghiệp, bản địa. Đây là một lực lượng chính trị quần chúng có tổ chức chặt chẽ và có lãnh đạo quy mô. Trong trường hợp có biến động, lực lượng tiềm ẩn này sẽ nối kết chặt chẽ với Công giáo VN hải ngoại thành một thế “nội công ngoại kích” nguy hiểm.

    Để kết thúc bài tham luận trên, hai tác giả đưa ra một số biện pháp để đối trị với sách lược của Vatican, tôi đặc biệt quan tâm và nhiệt liệt tán thành hai biện pháp sau đây:

    Thứ nhất: Trong đoản kỳ, chúng ta chấp nhận sự hiện diện của Giáo hội Công giáo VN như một thành phần dân tộc. Nhưng chúng ta cần phải ý thức dứt khoát rằng: Bảy triệu tín đồ Công giáo VN là một loại ung thư cực kỳ nguy hiểm trên cơ thể quốc gia, do đó cần phải tìm cách cô lập chặt chẽ để giới hạn tối đa sức bành trướng của nó và hạn chế tối đa sức công phá để kéo dài cuộc sống của nó.

    Thứ hai: Cần có một chính sách thích đáng đối với Công giáo VN đặt trên cơ sở giáo dục nhằm giúp họ phản tỉnh để sớm trở về với dân tộc. Đồng thời cần phải giới hạn tối đa mọi liên hệ giữa họ với Vatican để dần dần đi tới sự hình thành giáo hội Công giáo VN tự trị.

    Hai điều nói trên rất xác đáng nhưng đã được nêu lên như những nguyên tắc tổng quát có tính cách chỉ đạo. Tôi viết bài viết này với mục đích đề xuất một số đề nghị cụ thể và chi tiết để góp ý với các giới chức có trách nhiệm về tôn giáo ở Việt Nam trong vấn đề khó khăn hiện nay là vừa phải đối phó với sách luợc của Vatican, vừa phải đối phó với những cụ biến loạn do những người Tin lành gây ra.

    Những biện pháp tôi đề xuất chủ yếu nhằm thực hiện sự cô lập chặt chẽ để giới hạn tối đa sức bành trướng của Công giáo và Tin lành, chú trọng công tác giáo dục qua sách báo để giúp họ phản tỉnh và sau hết là tạo mọi điều kiện để sớm hoàn thành một giáo hội Công giáo tự trị của người Việt Nam. Đó là một giáo hội Công giáo độc lập, tự quản và hoàn toàn tách rời khỏi sự thống trị độc đoán của bọn lưu manh quốc tế đội lốt thày tu ở Vatican.

  23. concun permalink

    Công giáo và Tin lành hoạt động riêng biệt và có những mục tiêu riêng nhưng cả hai đều là những hiểm họa cho sinh mệnh của dân tộc. Tất cả đều đưa đến một hậu quả là làm phân tán đại khối dân tộc, phá nát truyền thống văn hóa nhân bản lâu đời của tộc Việt và nhất là làm suy yếu tiềm lực quốc gia trong mọi nỗ lực dựng nước và giữ nước.

    Mọi người Việt Nam yêu nước, dù đang sống tại quốc nội hay tại hải ngoại và dù cho xu hướng chính trị khác biệt nhau ra sao, cũng cần phải cảnh giác trước thứ vũ khí văn hóa hiểm độc của chủ nghĩa đế quốc đội lốt tôn giáo (Công giáo, Tin lành).

    Dân tộc Việt Nam đã từng đánh thắng nhiều tên xâm lược lớn mạnh hơn mình gấp nhiều lần về mặt quân sự, nhưng dân tộc ta đã “thất trận” khi địch xâm lược nước ta bằng thứ vũ khí văn hóa đội lốt tôn giáo! Chúng ta đã thất bại chủ yếu do những đoàn quân thứ năm hùng hậu làm nội ứng cho địch. Cũng chính đạo quân thứ năm này đã là con bài chủ lực trong chính sách “chia để trị” để kéo dài sự thống trị của chúng.

    Từ đầu năm 2001 đến nay, những biến động xảy ra do người Thượng Tin lành ở Pleiku và ở miền thượng du Việt Bắc đã thực sự là những hồi chuông báo động về mối hiểm họa Tin lành. Kinh nghiệm Trung quốc cho thấy Công giáo phát triển rất chậm so với Tin lành: Sau nhiều thế kỷ truyền đạo tới năm 1982 số tín đồ Công giáo Trung quốc chỉ có 3 triệu người trên 900 triệu dân. Trong khi đó, Tin lành mới xâm nhập vào Trung quốc từ đầu thế kỷ 20, nhưng đến năm 1982 số tín đồ Tin lành là 7 triệu người, tức gấp hơn hai lần tín đồ Công giáo!

    Hướng về tổ quốc Việt Nam, giới trí thức hải ngoại nặng tình dân tộc không khỏi lo ngại trước tình hình hiện nay: Dường như người Việt trong nước chưa đánh giá đúng mức mối hiểm họa Công giáo – Tin lành. Có thể còn nhiều người vẫn lầm tưởng Công giáo – Tin lành đồng nghĩa với “văn minh Tây phương”. Thực sự Công giáo là thủ phạm đã tiêu diệt nền văn minh khoa học của Hy lạp trong thế kỷ 5, đàn áp các phong trào tư tưởng tiến bộ tại Âu châu trong nhiều thế kỷ khiến cho nền văn minh chung của nhân loại đã bị thụt lùi tới hơn một ngàn năm! Công giáo không phải chỉ là kẻ thù của dân tộc Việt Nam mà còn là kẻ thù chung của cả loài người chúng ta.

    Tổng số người Việt ở hải ngoại hiện nay khoảng trên hai triệu người. Số người Việt Công giáo chỉ có khoảng 200.000 người nhưng là sở hữu chủ của phần lớn các cơ sở báo chí và truyền thanh truyền hình. Người Việt Công giáo hải ngoại luôn luôn lớn tiếng kết tội những người “Cộng sản vô thần” vi phạm đủ thứ nhân quyền và đặc biệt là đàn áp tôn giáo. Nhưng trong thực tế chính họ là những người về thăm Việt Nam nhiều nhất và mang tiền về xây nhà thờ, nhà xứ nhiều nhất. Hiện nay có nhiều người về thăm quê hương đã phải sửng sốt ngạc nhiên thấy những thánh đường và nhà xứ nguy nga lộng lẫy được xây cất sau 1975!

  24. concun permalink

    Trong thập niên 1980, giáo phái Baptist đã có 3000 nhân viên hoạt động truyền giáo trong 94 quốc gia. Tổ chức Tin lành “Thanh niên Truyền giáo Quốc tế” (International Youth for a Mission) có 12.500 nhân viên truyền giáo hoạt động tại 130 quốc gia. Tham vọng xâm lược văn hóa chính trị của các giáo phái Tin lành qua con đường truyền giáo rất hung hãn không kém gì tham vọng của Vatican. Từ thập niên 1980, tổ chức Tin lành của mục sư Pat Robertson đã đưa ra một khẩu hiệu hết sức kiêu ngạo là “Chương trình Thay đổi Thế giới” (Program to change the World). Họ chủ trương dùng các phương tiện truyền thanh và truyền hình để giảng đạo bằng nhiều thứ tiếng, ưu tiên hàng đầu nhắm vào Trung quốc và Nhật bản.

    Năm 1991, sau khi nước Nga mở cửa tự do và công bố chính sách tự do tôn giáo, một tổ chức Tin lành tại tiểu bang Texas đã dùng một chiếc tàu lớn để chở 232 tấn Kinh thánh Tin lành bằng Nga ngữ để xâm nhập nước Nga. (Tất cả số liệu này đều được rút ra từ tác phẩm “Salvation for Sale” của Gerard Thomas Straub, Prometheus Book xuất bản năm 1996).

  25. concun permalink

    Với bản chất đế quốc bất biến, Vatican không bao giờ từ bỏ tham vọng xâm lược văn hóa và chính trị nước ta.Vatican luôn luôn tỏ thái độ xấc xược ngạo mạn và bọn Việt gian làm nhiệm vụ gián điệp cho Vatican vẫn đã và đang ra sức phá hoại nền văn hóa Việt Nam. Bảy triệu tín đồ Công giáo hầu hết vẫn giữ nguyên bản chất phản quốc cố hữu và họ chỉ chờ có cơ hội sẽ vùng dậy để thực hiện khẩu hiệu “Phục hồi tinh thần Ngô Đình Diệm”!

    Bảy triệu tín đồ Công giáo tại quốc nội là đạo quân thứ năm bản địa dưới sự lãnh đạo của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Hội đồng này do Vatican tuyển chọn và phong chức nên. Hội đồng Giám mục Việt Nam hiện nay gồm toàn những cán bộ tuyệt đối trung thành với Vatican. Họ sẵn sàng phản bội tổ quốc Việt Nam vì tổ quốc thật của họ là “nước Chúa Vatican”!.

    Tại miền Nam Việt Nam dưới thời Nguyễn văn Thiệu, Công giáo chỉ chiếm khoảng 7% dân số nhưng tại quốc hội của miền Nam thời đó Công giáo đã chiếm tới 2/3 tổng số các dân biểu nghị sĩ! Điều đó cho thấy khối lượng 7 triệu giáo dân là một lực lượng chính trị quan trọng không thể xem thường. Khi có biến động, lực lượng chính trị này rất dễ dàng biến thành lực lượng quân sự như đã từng xảy ra tại Bùi Chu, Phát Diệm dưới sự lãnh đạo của Giám mục Phạm ngọc Chi và Giám mục Lê hữu Từ, hoặc tại Kiến Hòa, Vĩnh Long dưới sự lãnh đạo của đại tá Le Roy trong những năm 1949-1954.

    Một khi có biến động xảy ra, lực lượng Công giáo tiềm ẩn trong nước sẽ được sự hỗ trợ mạnh mẽ của trên 200.000 người Việt Công giáo tại hải ngoại để tạo nên thế “nội công ngoại kích” ngoạn mục, ấy là chưa kể đến sự trợ lực của các “đồng minh quốc tế” !

    Bên cạnh hiểm họa Công giáo còn có một hiểm họa khác không kém phần nghiêm trọng, đó là hiểm họa Tin lành. Mặc dầu Tin lành không phải là một giáo hội thuần nhất như Công giáo (hiện nay trên thế giới có khoảng 300 giáo phái Tin lành khác nhau) nhưng có một số giáo phái Tin lành hiện nay đã phát triển thành những tổ chức tôn giáo rất lớn với số tín đồ đông đảo lên tới hàng chục triệu người. Các giáo phái này có tổ chức qui mô và có tài sản khổng lồ do sự đóng góp của các tín đồ từ 2 đến 10% tổng số lợi tức hàng năm. Đáng kể nhất là giáo phái Tin lành Baptist, giáo phái Cơ đốc Phục lâm và nhân chứng Jehovah.

  26. concun permalink

    Cách giải quyết nạn thiếu thịt, rau ở VN. Tôi đọc thấy phản hồi của độc giả: nếu không nhập rau, thịt của TQ, VN sẽ không có đủ đồ ăn.
    Nước Mỹ dân số hơn 300 triệu, nhờ cách nuôi trồng công nghiệp nên rau cải, thịt dư thừa.
    Vấn đề này VN nên học hỏi, Việt kiều mỹ có mở trại gà, ấp trứng bằng điện…. nông dân VN có thể học hỏi. Trang trại phân bón Việt kiều Mỹ đều có làm.
    Vấn đề giao thông như đã nói, cũng phải học hỏi.
    Cấm nhập và chạy xe gắn máy====> giảm khói xe và tai nạn, kẹt xe.
    Buôn bán có nơi có chỗ, chứ không bán trên vỉa hè=====> người đi bộ sẽ không tràn xuống lòng đường.
    Tốc độ xe chạy trên đường, tài xế biết được qua bảng báo trên đường, trong thành phố đông dân 40 mile/ giờ. Nếu vi phạm cảnh sát giao thông sẽ phạt.
    Hệ thống giao thông bằng xe bu s, xe đò , xe lam nên có thông tin giờ giấc, khi xe bu s de xe ra ngoài, xe sau cũng phải nhường cho xe ra. Nên học hỏi xứ người.

  27. concun permalink

    Bộ mặt thật của dư đảng Cần lao cong giáo đã lộ diện.
    Tên Nhân dân tự vệ, Diệt VC, Viet xưa, Ải Nam quan, Tigon, vanthanhtrinh có những biểu hiện như sau:
    1. Hủy bỏ hoặc giảm tầm quan trọng lễ tưởng-niệm HT Quảng-Đức tự-thiêu.

    2/ Giải tán nhóm thân hữu Già-Lam và nhóm Về Nguồn;

    3/ Giải tán Giáo hội Phật giáo Việt-Nam Thống Nhất Hải Ngoại – Liên Âu;

    Làm lễ tưởng-niệm, vinh danh hai vị Ngô-đình-Diệm, Ngô-đình-Nhu, Hồ-tấn-Quyền, Lê-quang-Tung, đã tuẫn-quốc trong chính biến 01-11-1963. Cũng như cho ông Ngô-đình-Cẩn.

  28. concun permalink

    Vậy đó mà trong cuộc đấu tranh Bi Hùng Lực năm 63, ngày 10/5, Phật giáo Việt Nam lại chỉ nêu ra Năm Nguyện Vọng hết sức bình thường, không chỉ cho riêng mình, mà lẽ ra mình phài được hưởng gấp trăm lần như thế :

    1. Yêu cầu chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thu hồi vĩnh viễn công điện cấm treo cờ tôn giáo nơi công cộng.

    2. Yêu cầu Phật giáo phài được hưởng một chế độ đặc biệt như các hội truyền giáo Thiên Chúa Giáo đã được ghi trong Đạo Dụ số 10.

    3. Yêu cấu chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ và khủng bố tín đồ Phật giáo.

    4. Yêu cầu cho tăng ni Phật tử được tự do truyền đạo và hành đạo

    5. Yêu cầu chính phủ bồi thường thích đáng cho những người chết oan vô tội và kẻ chủ lưu giết hại phải bị xét xử.

    Vì vậy, khi Phật giáo Việt Nam được định hình và chính đáng được xướng danh GIÁO HỘI PHẬT GIÁO, có tổ chức, quy mô tầm vóc và chặt chẽ, thì chính mùa Phật Đản huy hoàng 2508-1964, Giáo hội nhận được Sắc Lệnh 158/SL/CT ngày 14/5/1964 của Chủ Tịch Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng Kiêm Thủ Tướng Chánh Phủ – Nguyễn Khánh. Trong đó, điều 5 nêu rõ: “Dụ số 10 ngày 6 tháng 8 năm 1950 cùng các luật lệ trái với sắc luật này, không áp dụng đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất.”

    Niềm tự hào chung của người con Phật, nhắc lại chuyện xưa là để chúng ta thấy rằng để có được một vị trí xứng đáng, dù là nhỏ nhất, chư tôn đức và tăng ni Phật tử ngày ấy đã phải hy sinh rất nhiều để ngày nay chúng ta được thừa hưởng.

    Chuyện Dụ số 10 dù có còn hay đã mất kể từ lúc thể chế Ngô Đình sụp đổ không còn quan trọng mà quan trọng hơn Phật giáo Việt Nam đã có được vị thế của hai ngàn năm lịch sử cùng dân tộc kể từ khi đó.

  29. concun permalink

    Vì sao vậy? Đó là câu trả lời rất dài bằng chính sinh mạng của cả một dòng tộc họ Ngô mà ai cũng đã biết và nhìn thấy.

    Từ Dụ số 10 ấy, họ Ngô không ngần ngại củng cố thêm quyền lực và vây cánh, thay nhau làm diễn viên của những vở tuồng Cần Lao Nhân Vị, Từ Thiện quyên góp giả mạo, những vở diễn mà cho đến tận hôm nay vẫn có người còn hoài vọng về một chân dung Cụ Ngô hoàn hảo mà Dụ số 10 với những mánh khóe lộ liễu, tàn độc vv… vẫn chưa làm sáng mắt sáng lòng, vẫn cón ra sức dè bỉu những ai chống đối việc làm kệch kỡm (Dụ số 10) này .

    Buồn cười nhất có “phản biện” lạc lõng, ngây ngô cho rằng Dụ số 10 là do “Phật Tử” ký ban hành (ý nói Bảo Đại) trước cơn lốc lịch sử ngày càng rõ thêm nhiều tình tiết của chế độ Diệm – Nhu.

    Không nói ra đây hẳn chúng ta cũng thừa biết những ai cho đến tận bây giờ vẫn còn cay cú tuôn ra những luận điệu ấy, ngay như công hạnh cao cả của Bồ Tát Quảng Đức cũng bị xuyên tạc (Có một comment nói rằng việc tự thiêu như vậy là vi phạm luật pháp …nước Mỹ!!).

    Phật giáo Việt nam là người đầu tiên phài gánh lấy hệ quả khắc nghiệt của Dụ số 10, hơn ai hết chính Phật giáo mới có quyền nói với lịch sử về điểu đó. Ít ai thấy ra rằng từ trong vòng kềm hãm của Dụ số 10 tủi nhục, Phật giáo Việt Nam ngay từ lúc hợp nhất, năm 1951 vẫn không dùng được chữ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO đuờng hoàng mà phài ngậm ngùi gọi TỔNG HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM !

  30. concun permalink

    Giáo sư Cao huy Thuần trong cuộc phỏng vấn của báoThời Đại Mới ngày 30/4/2011, có nhận định về dụ số 10 như sau: Buồn cười không thể tưởng tượng về cái Dụ số 10: Dụ này không xem Phật giáo như một tôn giáo mà chỉ như một hiệp hội, ngang hàng với các hiệp hội từ thiện, mỹ nghệ, tiêu khiển, thể thao! Tôn giáo chỉ có một mà thôi, là Thiên Chúa giáo vì Thiên Chúa giáo không nằm trong Dụ số 10…”.

    Tưởng cũng cần nhắc lại sự việc Bảo Đại và Tổng Thống Vincent Auriol của nuớc Cộng Hòa Pháp đã cùng nhau ký Thỏa Ước Việt-Pháp tại Điện Élysée ngày 8/3/1949, ngay trong khoản 1 có ghi :”Sự cai trị các sắc dân không phài là người Việt nam… sẽ được cứu xét bằng quy chế riêng… Các quy chế này phải được thỏa thuận của Đại diện Chính Phủ Cộng Hòa Pháp Quốc, vẫn còn có trách nhiệm đối với họ.”

    Theo nhà nghiên cứu Bảo Quốc Kiếm vạch trần điều này rằng: “Từ trong ý thức sâu thẳm của đoạn văn trên đây đã xác nhận rằng THIÊN CHÚA GIÁO KHÔNG PHÀI LÀ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM. Cũng từ bản văn này cho thấy Bảo Đại chỉ là một tay sai giặc Pháp để đàn áp các tổ chức người Việt…” (Có ý kiến cho rằng lúc này Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đang đặt dưới quyền của Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris (Société des Missions Étrangères de Paris) của Pháp cho nên có riêng quy chế do Pháp ấn định?).

    Ngô Đình Diệm được Bảo Đại cử giữ chức Thủ Tướng năm 1954 thay nội các Bửu Lộc, chỉ sau một năm (ngày 23/10/1955) đã lật đổ Bảo Đại bằng một cuộc trưng cầu ý dân có sắp đặt, ba ngày sau tuyên bố thành lập cái gọi là nền đệ nhất cộng hòa do chính ông làm Tổng Thống lâm thời, xóa bỏ tất cà các văn kiện pháp quy nhưng tuyệt nhiên vẫn giữ lại Dụ số 10 !

  31. concun permalink

    Loạt bài kỷ niệm 50 năm Pháp nạn 1963:
    Bài 3
    Đạo dụ số 10

    Dương Kinh Thành

    Để có được một vị trí xứng đáng, dù là nhỏ nhất, chư tôn đức và tăng ni Phật tử ngày ấy đã phải hy sinh rất nhiều để ngày nay chúng ta được thừa hưởng.

    Đạo Dụ số 10 được ban hành ngày 6/8/1950 dưới thời Bảo Đại làm Quốc trưởng. Dụ này có tất cả 5 chương 45 điều, quy dịnh tổ chức và thành lập các hiệp hội. Trong đó điều khỏa 44 có quy định “Chế độ đặc biệt dành cho các hội truyền giáo Thiên Chúa Giáo và Gia Tô, các Hoa kiều Lý Sự Hội, sẽ được ấn định sau”, đặt các Hôi Truyền giáo Thiên Chúa Giáo, Gia Tô, các Hoa kiều Lý Sự Hội ra khỏi sự điều chỉnh của đạo dụ này.

    Tiếp theo sau đó, ngày 19/11/1952 lại ban tiếp dụ số 24 sửa đổi dụ số 10 liên hệ đến các hội thanh niên, thể thao. Chưa dừng lại ở đó, ngày 3/4/1954 lại ban hành tiếp dụ số 6, cũng nằm trong mục đích bổ túc, hoàn chỉnh các mưu đồ nơi dụ số 10.

    Ngay trong điều thứ nhất của dụ số 6 này, phơi bày lộ liễu thâm ý hơn khi điều khoản 44 của dụ số 10 vừa nói trên chính quyền thời đó tưởng đã bắt chẹt thành công Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, như sau “Điều thứ 13 của dụ số 10 ngày mồng 6 tháng tám dương lịch năm 1950 ấn định quy chế hiệp hội được bổ túc như sau đây: Các giới thẩm quyền đã ban phép thành lập cho các hiệp hội có thể ra lệnh khai trừ một hay nhiều nhân viên trong ban quản trị hiệp hội ấy mà không cần phải cho biết vì lẽ gì. Hiệp hội nào bất tuân lịnh ấy phải bị giải tán của giới thẩm quyền vừa kể ở khoản trên.”

    Không khó khăn để chúng ta nhận ra dụng ý trơ trẽn này; có nghĩa là đối với bất kỳ tu sĩ của Hội Phật giáo, Phật giáo Hòa Hảo hay Cao Đài nằm trong đó, có thể bị chính quyền khai trừ bất kỳ lúc nào mà không cần biết lý do.

  32. concun permalink

    Điều ni đã chứng tỏ rằng cái đám CLCG đang lồng lộn như cái đám anh em nhà Ngô trước thời khắc lịch sử sang trang. Cái đám CLCG đang hốt hoảng như cái đám anh em nhà Ngô khi hồi chuông báo tử đang được gióng lên. Và như we từng biết, trong tâm trạng lồng lộn, hốt hoảng thì con người luôn bị mất sáng suốt, dẫn đến những hành động mù quáng, tự hại lấy mình. Anh em ông Diệm trong cái tâm trạng đó đã dương dương tự đắc, kênh kiệu với cái kế hoạch của “thiên tài quân sự giỏi nhất Đông Nam Á, tốt nghiệp thủ khoa đại học quân sự Westpoint của HK” (@ForexNews) Ngô Đình Nhu gọi là “Nước Lũ” với ngụ ý là sẽ cuốn sạch PG khỏi VN. Bởi vậy sau khi “Nước Lũ” tràn ngập các chùa chiền PG trên toàn miền Nam, hàng ngàn tu sĩ PG bị hốt vô tù, thì “phát ngôn viên” của anh em ông Diệm là bà Nhu hí hửng tuyên bố thẳng thừng đó là “một ngày sung sướng nhất trong đời kể từ sau lần nghiền nát bọn Bình Xuyên năm 1955” (http://en.wikipedia.org/wiki/Xa_Loi_Pagoda_raids). Nhưng nó lại trở thành cơn “nước lũ” cuốn sạch quyền lực, danh vọng, sự nghiệp của dòng họ Ngô Đình. Cái công trình mà dòng họ Ngô Đình đã phải “mòn lưng mõi gối” suốt 3 đời chạy theo ngoại bang để có được. Đúng là “ác giả ác báo”, “dã tràng se cát”. Trong giang hồ người ta hay nói là “chưa thấy quan tài chưa biết đổ lệ” hay “rượu mời không uống, đi uống rượu phạt”. Đối với sai lầm của ông Diệm, người ta đã cho ông nhiều cơ hội lựa chọn giữa đáp ứng 5 nguyện vọng của PG hay là bị lôi đầu ra từ khu ba Tàu để trị tội. Lịch sử đã an bài.

  33. concun permalink

    Vẫn là cái trò của bọn Ngụy “Quốc gia” khi xưa. Chống PG đã bộp chộp mà chống Cộng cũng bộp chộp không kém. Hồi đó anh em ông Diệm cũng ma giáo lập ra cái hội gọi là “Cổ Sơn Môn”, “Phật Giáo Thuần Túy”….gì gì đó, đẩy mấy ông thầy chùa “quốc doanh” nào đó ra làm ba cái trò lên án PG này nọ. Rồi ông Nhu huy động đám Thanh niên Cộng hòa kết hợp với đám ba Tàu Chợ lớn, cũng biểu tình rầm rộ diễn trò đòi ông Diệm hủy bỏ Thông Cáo Chung đã ký hứa thay đổi chính sách đối với PG, đáp ứng 5 Nguyện vọng PG đưa ra tranh đấu. Thế là ông Diệm khoái chí chỉ chỏ….đó, đó, tui muốn thi hành Bản Thông Cáo Chung mà bọn ni nó có chịu mô….he he….Nhưng mà Ngô diễn rồi Ngô ngắm chứ quần chúng người ta biết tỏng bộ mặt Ngô rồi. Có quần chúng nào ủng hộ mô. Vì vậy mà sau này khi bị Hội đồng Quân nhân Cách mạng truy sát, 2 anh em Diệm-Nhu Cái chỉ còn duy nhất cái khu Ba Tàu Chợ Lớn để chun vào trốn mà thôi. Rứa mà có thoát mô nà!.
    Cái trò lố bịch đó tưởng đã dạy cho cái đám Cần Lao Công Giáo…chừa cái thói đời ba que xỏ lá. Vậy mà 50 năm sau lại có 1 hậu duệ Ngô Đình Diệm lập lại y chang cái trò ba que xỏ lá này. Phải chăng đây là cái “tinh thần Ngô Đình Diệm” mà cái đám CLCG đang đòi phục hồi?

    Sự thật là có 1 hậu duệ Ngô Đình Diệm nào đó là Trúc-Lâm Nguyễn-Việt Phúc-Lộc, xưng là tổng thư ký của cái hội tên là Hội Sử-Học Việt-Nam tại Âu-Châu, làm 1 cái trang nhà mạo danh Trúc Lâm Yên Tử cho có vẻ PG. Lại còn chua thêm 1 bức hình Đức Phật và 1 ông thầy chùa…rồi cứ thế mà thi hành cái di chúc quái đản của ông Diệm “Tôi chết hãy trả thù cho tôi” để ra sức chống PG và suy tôn “Ngô Tổng Thống anh hùng dân tộc”….he he tếu ơi là tếu. Rứa rồi 1 hậu duệ Ngô Đình Diệm khác là ôb Nhân Dân Tự Vệ hí ha hí hửng bê về đây chỉ chỏ….đó, đó, cái “trang web của Phật Giáo Hải Ngoại, lên tiếng bênh vực cho TT Ngô đình Diệm…”…đó!…. Bởi vậy tui mới nói mới đầu tui cũng thấy lạ. Nhưng cái lá cờ vàng ba sọc nằm chình ình ra đó đã giải tỏa mọi “thất vọng”, cái lá cờ chình ình ra đó đã nói lên phần lớn cái bản chất ba que xỏ lá của mấy cha ni rồi. Tốt hơn hết là bắt chước Tổng thống ngụy “quốc gia” Nguyễn Văn Thiệu: “Đừng nghe những gì bọn “ba que xỏ lá” nói. Hãy nhìn kỹ bọn ba que xỏ lá ngụy….tặc” he he…..

  34. concun permalink

    08-06-2013 12:03 AM #1046 Nhân Dân Tự Vệ
    View Profile View Forum Posts

    Member Join Date:25-01-2011
    Posts:3,882 Đề nghị của Trang Trúc Lâm Yến Tử- Hội Sử-Học Việt-Nam tại Âu-Châu-Thư-Viện Bồ Đề Online_Thư Viện Hoa Sen

    Đối với Giáo Hội Phật Giáo Việt-Nam Thống Nhất, hải ngoại:

    1/ Hủy bỏ hoặc giảm tầm quan trọng lễ tưởng-niệm HT Quảng-Đức tự-thiêu.

    2/ Giải tán nhóm thân hữu Già-Lam và nhóm Về Nguồn;

    3/ Giải tán Giáo hội Phật giáo Việt-Nam Thống Nhất Hải Ngoại – Liên Âu;

    4/ Lên tiếng sám hối đối với dân tộc và đạo pháp Việt-Nam vì đã tiếp tay cho đảng Cộng-sản Việt-Nam gây bao tang thương thống khổ cho dân tộc Việt-nam từ 50 năm qua;

    5/ Hoàn trả tiền thu được của Phật tử để làm lễ tưởng-niệm (đối với GHPHVNTN tại Úc-đại-Lợi và Tân-tây-Lan);

    6/ Làm lễ tưởng-niệm, vinh danh hai vị Ngô-đình-Diệm, Ngô-đình-Nhu, Hồ-tấn-Quyền, Lê-quang-Tung, đã tuẫn-quốc trong chính biến 01-11-1963. Cũng như cho ông Ngô-đình-Cẩn.

  35. concun permalink

    Chính quyền Cách mạng Pháp 1789 và chính quyền Cách mạng Mexico 1857 đều đã từng ra lệnh tịch thu toàn bộ tài sản của giáo hội Công giáo tại đất nước của họ.

    Đối với Giáo hội Công giáo Việt Nam hiện nay, nếu chính quyền nhận thấy họ chỉ là một đạo quân thứ Năm của địch nằm vùng thường trực trong lòng dân tộc và truyền thống phản quốc của họ là không thể thay đổi được… thì việc tịch thu toàn bộ tài sản của giáo hội Công giáo là một việc làm chính đáng và cần thiết.

    3. Lập trường của Giao Điểm là lập trường Dân tộc. Các tác giả Giao Điểm cực lực tố cáo bọn Việt gian núp bóng tôn giáo với âm mưu “Phục hồi tinh thần Ngô đình Diệm” tại Việt Nam, cực lực tố cáo âm mưu chia cắt Tây Nguyên và Cao nguyên Bắc Việt của bọn Tin Lành. Các tác giả Giao Điểm không đánh phá tôn giáo để gây chia rẽ nhưng quyết tâm vạch mặt bọn phản quốc đội lốt tôn giáo và cố gắng gióng lên một lời báo động về mối nguy cơ có thật của đạo quân thứ Năm đối với vận mệnh đất nước.

    Theo thiển ý của tôi, chúng ta không lo ngại về âm mưu của bọn Việt gian tại hải ngoại lợi dụng tôn giáo để phá rối trị an tại quốc nội. Về bọn chúng rất dễ bị nhận diện và âm mưu của chúng cũng dễ bị phát hiện. Điều mà mọi người Việt yêu nước tại hải ngoại quan tâm là tệ nạn tham nhũng ở trong nước. Đó chính là môi trường tốt nhất cho bọn Việt gian đội lốt tôn giáo mua chuộc lợi dụng để củng cố các cơ sở phá hoại của chúng.

    4. Nhiệm vụ của chính quyền là bảo vệ an ninh xã hội và quyền lợi chính đáng của toàn dân, bảo vệ nền trật tự công bình và thực hiện công lý cho mọi người. Chúng tôi yêu cầu chính quyền Việt Nam đưa vụ người Công giáo đánh phá chùa Lá Vàng đã cướp đất xây nhà thờ La Vang ra xét xử, để cho thế giới thấy được nền công lý của Việt Nam hiện nay như thế nào. Đồng thời, việc đưa vụ này ra xét xử cũng là một hình thức dằn mặt bọn Việt gian vong bản và “chủ chăn” của chúng là Vatican để buộc chúng phải tôn trọng chủ quyền và danh dự của dân tộc Việt Nam.

  36. concun permalink

    Trả lời bốn câu hỏi của Giao Điểm
    về việc Giáo hội Phật giáo Quảng Trị đòi lại đất
    bị nhà thờ La Vang chiếm đoạt (*)

    1. Chúng ta có thể trưng ra nhiều bằng cớ lịch sử về việc người Công giáo cậy quyền thế của bọn Pháp xâm lược đánh phá nhiều chùa trên khắp các miền đất nước để cướp đất xây nhà thờ và nhà xứ của họ. Riêng về vụ Giám mục Sohier (cai quản giáo phận Huế) xúi giục tín đồ đánh phá chùa Lá Vàng của đồng bào Phật giáo Quảng Trị năm 1886 để cướp đất xây nhà thờ La Vang sau này, ngoài những bằng cớ lịch sử chúng ta còn có một bằng cớ khác đó là bài vè của giáo dân La Vang sáng tác từ cuối thế kỷ 19 còn lưu truyền đến ngày nay. Bài vè khá dài đã tường thuật vụ phá chùa Lá Vàng với nhiều chi tiết như:

    “bao nhiêu Thần Phật đều tung ra ngoài…”

    “Lư hương bát đất đền đài đều hư…”

    Linh mục Xitanio Nguyễn Văn Ngọc đã sưu tầm bài vè này qua lời thuật lại của giáo dân La Vang và ghi lại đầy đủ trong cuốn sách của ông mang tựa đề “Linh địa La Vang”, xuất bản lần đầu tiên tại Việt Nam với sự phê chuẩn của Tòa Giám mục Huế ngày 13.4.1970 và được tái bản nhiều lần tại Hoa Kỳ sau 1975 do Nguyệt san ‘Trái Tim Đức Mẹ’, cơ quan ngôn luận chính yếu của Dòng Đồng Công ở bang Missouri phát hành. Căn cứ vào sử liệu của Công giáo và bài vè truyền khẩu, Linh mục Xitanio Nguyễn Văn Ngọc viết: “Ngôi chùa đã được biến thành nhà thờ Công giáo từ đó – 1886” (trang 44 sách ‘Linh địa La Vang’).

    Theo thường luật (common law) mọi người bị thiệt hại đều có quyền đòi hỏi can thiệp để buộc kẻ gây thiệt hại phải bồi thường. Nay, Giáo hội Phật giáo Quảng Trị nhân danh đồng bào Phật tử Quảng Trị là những người bị thiệt hại đòi hỏi pháp luật can thiệp để buộc giáo hội Công giáo phải bồi thường thiệt hại hoặc phải trả lại đất đã ăn cướp trước đây. Việc này hoàn toàn hợp lẽ công bằng theo thường luật. Ngoài những bằng cớ lịch sử, vụ cướp phá chùa Lá Vàng còn được xác nhận bởi bài vè của giáo dân La Vang sáng tác từ cuối thế kỷ 19 và những lời vô tình thú tội khác của những giới chức Công giáo trong sách ‘Linh Địa La Vang’ của Linh mục Xitanio Nguyễn Văn Ngọc. Việc GHPG Quảng Trị đòi lại đất chùa Lá Vàng đặt trên căn bản pháp lý vững chắc với những bằng cớ xác thực, thiết tưởng đây là một việc làm chính đáng không ai có thể phủ nhận được.

  37. concun permalink

    Chế độ phi Kito cần giải tán các quán ăn thịt chó tại Ngã ba ông Tạ, đổi tên là ngã ba Hiếu sinh nhằm giảm nghiệp chướng cho nước VN.
    Trước các thánh đường như nhà thờ đức bà cần cắm bảng ghi tiểu sử của di tích đó: đã được thực dân Pháp xây trên nền chùa.
    Các nhà xuất bản phổ biến sách của giao điểm và sachhiem cho mọi người đọc.

  38. concun permalink

    Hầu hết các giáo hội Công Giáo Âu Mỹ hưởng ứng lời kêu gọi của Giáo hoàng Jean Paul II đã lên tiếng thú nhận tội lỗi của giáo hội và khẩn xin sự tha thứ của loài người. Chỉ riêng giáo hội Công Giáo Việt nam, dưới sự lãnh đạo của HĐGM do Hồng y Phạm Đình Tụng cầm đầu, cho đến nay vẫn cứ im hơi lặng tiếng và vẫn cố tình giả điếc như chẳng có chuyện gì xảy ra! Thái độ ngoan cố của Công Giáo Việt Nam nói chung và của HĐGM Việt Nam nói riêng là không thể chấp nhận được. Theo công tâm mà xét, chỉ những kẻ phạm tội biết tỏ ra có thành tâm hối hận mới đáng được tha thứ. Trái lại, Giáo hội Công Giáo Việt Nam là một tập thể tội phạm đối với dân tộc, nếu không sớm tỉnh thức ăn năn hối hận và xin sự tha thứ mà vẫn cứ tiếp tục thản nhiên như hiện nay thì nhất định sẽ bị toàn dân Việt Nam trừng trị đích đáng vì chính thái độ trân tráo của họ đã làm cho họ không đáng được tha thứ!

    Không phải đến bây giờ mọi người mới nhận ra cái bản chất xấu xa gớm ghiếc của đạo Công Giáo mà khắp thế giới đã có biết bao phong trào và danh nhân của nhân lọai đã phải lên tiếng gay gắt kết án nó từ lâu. Chỉ riêng tại Việt Nam, các cụ ngày xưa đã gọi Công Giáo là Hoa Lang Tả đạo. Cuối thể kỷ 19, cụ đồ ái quốc Nguyễn Đình Chiểu gọi Công Giáo là Tà đạo, đầu thế kỷ 20, nhà cách mạng Phan Bội Châu gọi nó là Đạo Chích. Tại hải ngoại, nhân sĩ Công Giáo tỉnh ngộ là BS Nguyễn Văn Thọ nói là Đạo Dối, nhà nghiên cứu văn hóa chính trị Lê Trọng Văn gọi nó là Đạo Bịp. Mới đây nhất, ứng cử viên tổng thống Mỹ George W. Bush trong cuộc vận động bầu cử tại trường Đại học South Carolina ngày 2.2.2000 đã gọi giáo hội Công Giáo là Giáo hội của Satan. Có một điều đáng ngạc nhiên là nếu chúng ta đọc kỹ Thánh Kinh Tân Ước sẽ nhận thấy chính Jesus cũng gọi Phê-rô, kẻ đứng đầu giáo hội Công Giáo là Satan. Phúc âm của Matthew [Thánh Kinh Tân Ước cuốn Mathiơ, chương 16, đoạn 23.]

    (16:23) có chép lời của Jesus như sau: “Nhưng Ngài quay mặt lại mà phán cùng Phê-rô rằng: Hỡi Satan, hãy lui ra đằng sau ngươi, người xúc phạm ta” (But He turned and said unto Peter: Get thee behind me, Satan, thou art an offence unto me). Theo nguyên ngữ Hebrew thì Satan có nghĩa là Vật Chất. Phê-rô là Đá. Đá và Vật Chất là một. Giáo hội Công Giáo của Phêrô quả thật là giáo hội của Satan vì nó chỉ lo vơ vét tiền của vật chất và chiếm đọat quyền lực khuynh đảo thế gian. Cho nên trong gần hai ngàn năm qua, nó đã lao mình vào con đường tội lỗi chống loài người và chống cả Thiên Chúa!

    Từ ngày tên bạo chúa La Mã Constantine biến nó thành tôn giáo chính thức của đế quốc vào năm 325 đến nay, nó đã giết hại trên 200 triệu người, trong số đó có 3 triệu người trong hàng ngũ Thập tự quân đã chết uổng mạng để giải cứu ngôi mộ của Jesus khỏi tay quân Hồi Giáo, trên 10 triệu người chống đạo bị đưa lên giàn hỏa và 14 triệu nạn nhân trong các cuộc thánh chiến do Vatican phát động nhằm tiêu diệt các giáo phái Kit-tô khác (Deception and Myths of the Bible by Lloyd M. Graham, p.463). Nhưng có lẽ tội ác lớn hơn mọi tội lỗi kể trên là Công Giáo La Mã đã phá hủy gần như hoàn toàn nền văn minh nhân bản của Hy Lạp khiến cho đà tiến hóa của nhân loại đã bị khựng lại trên một ngàn năm! Các bộ óc vĩ đại của Hy Lạp như Pythagoras vào thế kỷ 16 TCN đã dạy học trò là trái đất tròn và xoay chung quanh mặt trời. Vào thế kỷ 3 TCN. Aristarchus đã đưa ra lý thuyết về thái dương hệ tương tự như lý thuyết của Copernicus (thế kỷ 6). Cũng trong thời gian đó, Eratosthene đã đo được chu vi trái đất. Đến thế kỷ thứ 2 TCN, Hippachus đã phát minh ra cách vẽ địa cầu theo kinh tuyến và vĩ tuyến! (sách dẫn chiếu trang 448).

  39. concun permalink

    Thực tế ở nước Mỹ, tôi thấy trong xã hội Mỹ kỳ thị chủng tộc là chủ yếu, là trước hết. Trong đơn xin việc làm họ chỉ hỏi gốc người nước nào chứ không hỏi đạo gì.
    Cho dù trẻ em VN đẻ ra ở xứ Mỹ , nói về tâm lý, cũng phải tìm người VN hay Á đông để chơi.
    Do đó yếu tố ngoại hình, chủng tộc rất là quan trọng. Nó thấy mình khác nó là nó kỳ thị rồi, chứ nó có hỏi mày đạo gì đâu.
    Vì thiếu niên Kito hay ganh tỵ, hung ác nên thiếu niên VN cũng sợ, nếu không biết sợ thì mình trước sau gì cũng trở thành nạn nhân của chúng.
    Mỗi năm trong các trường hợp học sinh tự tử vì bị ganh tỵ. Thí dụ cô gái này xinh đẹp cặp được hot boy là đám nữ kia ganh tức, khủng bố cô này, cô này chịu không nổi tự tử.

  40. concun permalink

    Một chuyện ngược đời nữa là tên đường Alexandre de Rhodes ở Saigon đã bị chính quyền Việt Nam Đệ Nhị Cộng Hòa dẹp bỏ sau Cách Mạng 11.11.1963 để thay bằng tên của ông tổ chữ Nôm là Hàn Thuyên, thì nay chính quyền Việt Nam lại phục hồi tên Alexandre de Rhodes trở lại để vinh danh tên cố đạo gián điệp cướp nước này. Đây chẳng những là một quyết định sai lầm nghiêm trọng về văn hóa và lịch sử mà còn là một hành vi làm nhục quốc thể của chính quyền. Chúng tôi phản đối về việc làm hoàn toàn sai trái và nhục quốc thể này!. Trong bài viết ngắn ngủi của tôi mang tựa đề “Thánh Phanxicô Xaviê, cố đạo Đắc Lộ và chữ quốc ngữ” (đăng trong cuốn Alexandre de Rhodes và Chữ Quốc Ngữ, Giao Điểm xuất bản 1998, trang 160-166) tôi đã trình bày quan điểm như sau:

    “Vấn đề chữ quốc ngữ, tôi thiết tưởng chúng ta không cần phải biểu lộ lòng biết ơn đối với bọn cố đạo vì bọn chúng không hề tri tình làm ơn cho dân tộc ta. Bọn chúng phát minh ra chữ quốc ngữ chỉ nhằm một mục tiêu duy nhất là tạo ra một phương tiện truyền đạo để gieo rắc biết bao tai ương cho đất nước ta mà thôi. Bọn cố đạo thừa sai là những kẻ địch của tổ quốc Việt Nam. Xin hãy coi chữ quốc ngữ là CHIẾN LỢI PHẨM do chúng ta tịch thu được từ tay địch. Chúng ta không cần phải quay đầu lại phía đồn địch để cám ơn đã cho chúng ta những chiến lợi phẩm đó! Chúng ta cần phải dùng vũ khí tịch thu được của địch để trừng trị bọn địch và bè lũ tay sai của chúng là thành phần Việt gian đã tự biến mình thành những kẻ lạ trên quê hương mình… Chúng ta phải bắt chúng quì xuống tạ tội hỗn láo với tổ tiên, với Đức Phật và với hồn thiêng Tổ quốc. Chúng ta sẵn sàng tha thứ nếu chúng tỏ ra biết ăn năn hối cải. Nếu chúng vẫn tiếp tục ngoan cố láo xược, nhất định chúng ta không tha. Tội ác của bọn bán nước và cướp nước hãy còn nguyên đó!” Tôi xin chú thích thêm ở đây là khi viết những dòng chữ này tôi không có ý ám chỉ việc sử dụng vũ khí đạn dược để bắn giết đồng bào mình. Tôi chỉ tha thiết kêu gọi việc sử dụng chữ quốc ngữ như một chiến-lợi-phẩm văn hóa làm vũ khí tiêu diệt tệ nạn mê tín mà thôi – Charlie Nguyễn).

  41. concun permalink

    Biến cố 30 tháng Tư 1975 là một cơ hội bằng vàng cho một số rất đông những người Công Giáo ồ ạt chạy ra nước ngoài làm giàu. Hơn hai chục năm qua họ đã gửi về Việt Nam những khoản tiền khổng lồ giúp các cha cố trong nước xây dựng nhà thờ và bành trướng thế lực. Nhiều Việt kiều về thăm quê hương sau 25 năm xa cách đã phải sửng sốt ngạc nhiên trước những khu nhà thờ và nhà xứ nguy nga đồ sộ mới được xây cất sau năm 1975. Giáo dân tấp nập lụa là tha thướt ra vô các thánh đường với các ca đoàn, hội đoàn và đủ hình thức sinh hoạt giáo xứ tưng bừng hoa lá. Các cha cố mặc com-lê đúng mốt tay xách Samsonite nườm nượp rủ nhau đi Âu Châu và Bắc Mỹ chủ yếu nhằm hoạt động kiếm tiền chứ chẳng có ai lo việc đạo đức hay nhân đạo thực sự. Cố đạo giàu thì cán bộ tham nhũng cũng giàu theo, đúng là “tốt đạo đẹp trời” chứ có mất mát gì đâu. Chỉ có đám giáo dân cùng đinh thì trước sau vẫn giữ vững cái khố như tượng Chúa trên thập giá mà thôi. Tượng Chúa là vật vô tri vô giác thì có cái khố hay không chẳng sao, nhưng đám giáo dân nghèo không còn cái khố để mặc, không còn hạt cơm để ăn trong khi cha cố buôn thần bán thánh trở nên giàu có huênh hoang phè phỡn thì thật là một vấn đề xã hội nghiêm trọng! Trong khi đó thì chính quyền vẫn bị buộc tội là đàn áp tôn giáo nhưng sao từ 1975 đến nay chưa thấy xuất hiện một thánh tử đạo nào? Ngược lại, Công Giáo vẫn phát triển trăm hoa đua nở hơn cả thời Diệm ở Nam Việt Nam. Sự việc này đã được chính nhà văn Linh Mục Công Giáo xác nhận.

    Trong bài “Nghĩ Về Lễ Hội La-Vang” đăng trên tuầ讠báo Ngày Nay ở Miền Đông Hoa Kỳ ngày 12 tháng 8 năm 1999, Linh Mục Trần Quý Thiện đã viết: “Với nhận định vô tư thẳng thắn, người ta có thể nói mà không sợ sai lầm rằng: từ ngày chủ thuyết Cộng Sản xuất hiện trên đất nước Việt Nam năm 1930, một tôn giáo được đảng này đặc biệt chiếu cố và tìm mọi cách tinh vi khoa học để triệt hạ là đạo Công Giáo. Nhưng tại sao lãnh tụ của họ đã chết mà Công Giáo vẫn tồn tại và phát triển hơn trước?! Năm 1969, khi Hồ Chí Minh chết, số giáo dân chỉ trên hai triệu thì nay đã trên bảy triệu. Trãi qua một quá trình bị bách hại dã man trong 69 năm (1930-1999) tại sao các thông tín viên ngoại quốc lại viết: “Lễ hội La-vang là một cuộc biểu dương niềm tin lớn lao nhất tại Việt Nam kể từ sau ngày Cộng Sản xâm chiếm miền Nam”.

    Thực tế hiển nhiên là số giáo dân đã tăng gấp ba lần sau 30 năm sống dưới chế độ Cộng Sản. Điều đó không có nghĩa là Cộng Sản vì thương yêu nên lo vỗ béo cho Công Giáo. Vậy lý do nào đã khiến cho Công Giáo chẳng những không bị diệt mà còn mau lớn hơn cả Phù Đổng như vậy? Chúng ta có thể giải thích hiện tuợng này với nhận định sau đây: Trước hết Cộng sản không thể tiêu diệt Công Giáo bằng bạo lực trong hoàn cảnh thế giới hiện nay. Bản chất Công Giáo là bóng tối nên nó chỉ có thể bị tiêu diệt bằng ánh sáng giáo dục và ánh sáng tự do dân chủ thực sự với các quyền tự do ngôn luận và tự do tư tưởng như ở Hoa Kỳ chẳng hạn. Trong khi đó sau nhiều chục năm cầm súng, ít cầm bút, nên trình độ của các cán bộ Cộng Sản “đặc trách tôn giáo vụ” còn thấp nên họ không có đủ khả năng tiêu diệt Công Giáo bằng giáo dục. Cộng Sản có cùng bản chất độc tài giống như Công Giáo và cả hai đều là những đặc sản của nền văn hóa du mục Tây phương, do đó Công sản đã không dám dùng cái thứ vũ khí hữu hiệu nhưng nguy hiểm là tự do dân chủ thật sự vì điều đó có nghĩa là “cả hai ta cùng chết”! Đó là lý do chính yếu khiến Công Giáo vẫn tồn tại dưới chế độ Cộng Sản. Trong thực tế cả hai đã dựa vào nhau để cùng tồn tại và phát triển!

    Nữ học giả Joanne Meehl thật hữu lý khi bà viết: “Công Giáo chỉ thịnh hành và phát triển trong đám người nghèo và ngu dốt. Nó chỉ bị khắc phục bởi sự giáo dục và đời sống kinh tế khá giả”. (Catholicism thrives and grows among the poor and ignorant. It is overcome by education and economic well-being – Sách đã dẫn, trang 288). Sự phát triển vượt bực của Công Giáo La Mã dưới chính quyền Việt Nam trong 30 năm qua đã phản chiếu cho ta thấy cái thực trạng của nền kinh tế và giáo dục ở Việt Nam. Đạo Công Giáo luôn luôn cất bước song hành với sự nghèo đói ngu dốt và tội ác cùng những tệ đoan xã hội khác nhau. Vậy con số giáo dân Công Giáo gia tăng trong chế độ Cộng Sản không phải là một dấu hiệu của sự hãnh diện mà là một hồi còi báo động về mức suy đồi nghiêm trọng của nền giáo dục, kinh tế và tham nhũng.

  42. concun permalink

    Đến khi lớn lên có gia đình riêng, vợ con tôi đối xử với tôi cũng y hệt như vậy. Ở nước Mỹ này ai cũng có quyền tự do tư tưởng là một quyền hiến định đàng hoàng, vậy mà tôi không hề có cái quyền này ở ngay trong gia đình mình! Thật là một điều trái khuấy kỳ quặc! Vào tháng tư năm 1996, nhân dịp đọc bài “Rethinking of the Resurrection of Christ” đăng trên tờ Newsweek, tôi lén vợ con lược dịch thành bài “Suy nghĩ lại về sự phục sinh của Chúa Ki-tô” và gửi đăng trên tuần san ĐẸP (số 239 ngày 13.4.1996). Vì không muốn ký tên thật, tôi chẳng cần suy nghĩ và chỉ trong một giây đồng hồ tôi đã chọn xong cho mình một “bút hiệu” là Charlie Nguyễn. Sau vụ này, mọi chuyện êm ru!. Đến tháng 8.1996, tôi đến thư viện mượn mấy cuốn sách về nhà đọc chơi, trong số đó có cuốn “The Jesus Conspiracy” (âm mưu của Jesus) của hai tác giả Đức nhưng đều tốt nghiệp Đại học Mỹ là Holger Kersten và Elma R. Gruber. Không ngờ các tác giả viết sách quá hay khiến tôi cầm lòng không được nên đã táy máy tóm dịch thành bài “Tấm Vải Liệm Xác Chúa” và gửi đăng trên tuần san ĐẸP số 251 ngày 6.7.1996. Ông bà chủ báo vốn chẳng quen biết gì với tôi nhưng thấy bài viết trước đây của tôi đã được đăng báo không gây chuyện rắc rối gì nên hai vị này đã thản nhiên cho đăng tiếp.

    Không ngờ bài viết lần này đã gây một sự phẫn nộ lớn trong giới người Việt Công Giáo ở Houston. “Bản Tin Mục Vụ” phát tại các nhà thờ và mấy tờ báo thân Công Giáo ở Houston viết bài chửi tôi thậm tệ với nội dung hàm chứa một sự hăm dọa. Giáo dân cuồng tín ở mấy xứ đạo tại Houston hăm đánh ông bà chủ nhiệm chủ bút báo Đẹp, hô hào các thương gia Công Giáo rút lui không đăng quảng cáo trên báo và chúng còn hăm đốt tòa báo Đẹp nữa, làm cho ông bà chủ báo mất ăn mất ngủ mấy tuần lễ liền khiến cho hai vị này hốc hác trông rất thảm não. Tôi không thể tưởng tượng nỗi là một bài viết cỏn con của tôi đã làm cho những kẻ cuồng tín này phẩn nộ tức tối đến như vậy!. Bài viết chỉ có mấy trang báo tóm dịch từ một cuốn sách dầy 337 trang, đã được chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Đức ra 9 thứ tiếng khác từ năm 1994. Riêng bản Anh ngữ được tái bản và phát hành đồng loạt tại Mỹ, Anh và Úc tổng cộng lên tới cả triệu bản. Tòa thánh La Mã và toàn thế giới Công Giáo, trong đó có 53 triệu tín đồ Công Giáo Mỹ là nước chủ nhà, đã đọc nó nguyên con từ lâu mà chẳng có một phản ứng nào. Vậy mà cái dúm người Việt Công Giáo ở Houston này làm rùm beng để chống lại cái bài tóm dịch quèn của tôi và đòi đốt tờ báo Đẹp để làm gì? Phải chăng họ đã quá mù quáng nên đã có những hành động thật đáng xấu hổ. Sự phẩn nộ điên khùng của họ chỉ làm cho người Mỹ và các dân tộc khác thấy rõ được cái trình độ thấp kém cùng cực của họ vì họ chẳng hề hay biết gì về những biến chuyển lớn lao trong tư duy của nhân loại ngày nay về tôn giáo nói chung và về Công Giáo nói riêng!. Những kẻ tự xưng là “các chiến sĩ bảo vệ đức tin” mặc dầu đã may mắn sống trên đất Mỹ hơn hai chục năm qua mà đến nay họ vẫn cứ tưởng như đang sống ở Hố Nai, Xóm Mới hay Ngã Ba Ông Tạ thời Ngô tổng thống trước 1963 hoặc thời Hoàng Quỳnh làm loạn ở Saigon trong các năm 65-66!

    Trước đây tôi thực sự chưa hiểu được hết giá trị của cuộc Cách Mạng 1.11.1963 lật đổ chế độ của bạo quyền Công Giáo Ngô Đình Diệm. Nhưng nay nhờ chuyện này mà tôi mới nhận thức ra cái tà đạo ác ôn Công Giáo La Mã là một đại họa ghê gớm của dân tộc Việt Nam. Xin cám ơn vô cùng cuộc Cách Mạng 1.11.1963!. Đó là cuộc Cách Mạng đã giải cứu đất nước thoát khỏi nạn nguy hiểm tôn giáo, trong đó nạn độc tài Công Giáo phải được kể là nguy hiểm trên hết mọi thứ độc tài! Tôi oán giận tiền nhân của chúng ta ngày xưa đã đánh mất những cơ hội lịch sử để loại trừ cái tà đạo này ngay trong thời kỳ trứng nước của nó. Tổ tiên chúng ta đã mắc sai lầm lớn là để cho nó tồn tại và không ngừng phát triển tới ngày nay trên đất nước chúng ta. Nó đã nín thở qua sông trong những giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh, qua triều Tây Sơn Cảnh Thịnh, qua các triều đại nhà Nguyễn và thời kỳ Bình Tây Sát Tả của Văn Thân để rồi ngóc đầu dậy như diều gặp gió dưới thời Pháp thuộc và suýt trở thành quốc giáo tại Miền Nam Việt Nam dưới thời của mấy anh em Việt gian họ Ngô gốc gác Công Giáo cuồng tín Quảng Bình!.

  43. concun permalink

    Theo kinh nghiệm bản thân, tôi nhận thấy “cái thòng lọng Công Giáo” này đã được hình thành chủ yếu do sự đọc kinh hằng ngày từ nhỏ tới lớn khiến cho những tín điều dù vô lý đến mấy rồi cũng trở trành chân lý do sự lập đi lập lại nhiều lần và do sự tự kỷ ám thị. Qua những lời kinh cầu nguyện hằng ngày, những tín điều nhảm nhí ngớ ngẩn dần dần thấm sâu vào cõi vô thức khiến con người chấp nhận chúng như hiện tượng “phản xạ có điều kiện” trong khoa học tâm lý và hậu quả là người ta không còn muốn đem lý trí ra để kiểm chứng nữa!. Ngoài cái tâm lý đó ra còn có một yếu tố khác rất nặng nề, nó chính là sợi dây vô hình ràng buộc con người với tôn giáo chặt chẽ không thể tưởng được! Đó là tình cảm gia đình và gia tộc gắn bó trong niềm tin Công Giáo. Phải là những người đạo gốc lâu đời mới có thể cảm thông được điều này. Cụ thể là trường hợp cha mẹ tôi. Tôi biết cha mẹ tôi hết lòng yêu thương tôi và sẵn sàng hy sinh mọi thứ cho tôi, nhưng nếu bị đặt vào trường hợp bắt buộc phải chọn lựa một là tôi phải chết hai là tôi phải bỏ đạo thì dứt khoát cha mẹ tôi muốn tôi chết chứ không muốn tôi “bỏ đạo”. Xin hãy khoan nói tới chuyện “dám chống đạo”, người Công Giáo thường gọi là “dám phản nghịch cùng Chúa”, là điều kinh thiên động địa vượt ngoài sức tưởng tượng của cha mẹ tôi.

  44. concun permalink

    CÁI THÒNG LỌNG CÔNG GIÁO

    Gia tộc tổ tiên bên nội tôi ở làng Ninh Cường, tỉnh Nam Định , theo đạo Công Giáo từ đầu thế kỷ 16 nên cha tôi theo truyền thống lâu đời của gia tộc là mỗi khi có con cháu sinh ra được 3 ngày thì đem đến nhà thờ để cha xứ làm phép bí tích rửa tội. Giáo dân có thói quen thường hay đưa con đến nhà thờ vào ngày Chủ nhật sau khi sinh đứa bé nên thời hạn 3 ngày nói trên có thể du di sớm hơn hoặc trễ hơn nhưng ít khi nào để lâu quá một tuần. Nay tôi nhận thấy đây là một hành vi độc đoán của người lớn đối với trẻ thơ vì việc quyết định theo đạo hay không là điều hệ trọng cần phải đợi đến lúc con người trưởng thành mới đủ trí óc phán đoán để có thể tự quyết định vận mệnh của mình. Không một ai dù là cha mẹ có thể tự ý quyết định thay mà không đếm xỉa tới sự ưng thuận của đương sự được. Các tôn giáo luôn lớn tiếng kêu gọi tự do tín ngưỡng trong khi hành vi cưỡng bách trẻ thơ chịu phép rửa tội, thực chất là nghi lễ nhập đạo, là một hành vi tước đoạt tự do tín ngưỡng thô bạo nhất. Việc cưỡng bức trẻ thơ chịu các phép bí tích, nhất là bí tích rửa tội nhập đạo, phải được coi là một hành vi áp đặt cái thòng lọng tôn giáo vào cổ những người ngây thơ vô tội. Chúng tôi kêu gọi sự can thiệp của Luật Pháp Quốc Gia để ngăn chận sự vi phạm quyền tự do căn bản (tự do tín ngưỡng) của những con người chưa có khả năng phán đoán và khả năng tự vệ. Luật pháp phải đặc biệt chú ý đến Công Giáo La Mã vì đạo này là một chế độ độc tài ngụy trang tôn giáo (a dictatorship masquering a religion – Joanne Meehl).

    Lúc tôi lên 7 tuổi, cha tôi bắt học thuộc lòng phần lớn cuốn Toàn Niên Kinh Nguyện của địa phận Bùi Chu cùng mấy tập thơ lục bát như “Thập Điều Tứ Chung” của Giám mục Hồ Ngọc Cẩn và “Hiếu tự ca” của Cụ Sáu Trần Lục. Tất cả để chuẩn bị tâm tư cho tôi chịu các phép bí tích xưng tội và rước lễ lần đầu. Ngày nay bí tích Giải tội được gọi là “Bí tích Hòa giải”. Nhưng vào lúc tôi mới 7 tuổi đầu, tôi với Chúa chưa hề có một xích mích nào với nhau tại sao lại bắt tôi phải hòa giải với Chúa? Mấy năm sau tôi được chịu phép bí tích Thêm Sức do Giám mục địa phận ban cho vì cha tôi muốn tôi được tăng cường thêm đức tin vững vàng để sau này về già tới chết đức tin của tôi vẫn vững như đồng không gì lay chuyển nổi! Vào năm 27 tuổi (1964), tôi chẳng may bị bệnh thương hàn trầm trọng gần chết. Khi thấy bác sĩ Bệnh viện Đô Thành chuẩn bị cho đem tôi xuống nhà xác, có lẽ cha tôi lo cho tôi sắp bị quỉ Satan đến bắt nên đã khẩn thiết mời một linh mục đến nhà thương làm phép Xức Dầu Thánh cho tôi. Cả gia đình khóc thương tôi và chuẩn bị sẵn sàng tiễn tôi về Thiên đàng để tôi được xem thấy mặt Đức Chúa Trời Jehovah sáng láng vui vẻ vô cùng, đồng thời linh hồn tôi sẽ được hợp làm một cùng thánh tổ phụ Abraham và vua thành David. Đối với tôi, tất cả những nhân vật này đều là những kẻ bất lương và tôi không hề muốn gặp họ.

    Nhưng sau đó tôi may mắn thoát chết và sức khỏe của tôi dần dần hồi phục nhờ bác sĩ tận tình. Chỉ mấy tháng sau tôi được gọi động viên vào trường Thủ Đức và trở thành Sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Năm 1969, cha mẹ tôi thu xếp cho tôi được đẹp duyên cùng cô Tê-rê-xa thuộc ca đoàn nhà thờ Huyện Sĩ. Thế là tôi đã có vợ đạo dòng đúng theo ý muốn của cha mẹ tôi. Vợ tôi nguyên là học sinh Trưng-Vương đã từng đóng vai Trưng Nhị cầm kiếm cưỡi ngựa tại Nhà Hát Lớn Sài Gòn trong lễ tưởng niệm Hai Bà năm 1967. Đạo Công Giáo có cả thảy 7 phép bí tích thì tới nay tính ra tôi đã chịu tới 6 phép, chỉ thiếu một phép bí tích duy nhất còn lại là phép Truyền Chức Thánh mà thôi! Mọi người Công Giáo chỉ có thể chịu 6 phép bí tích là mức tối đa tuyệt đối. Mấy ông tu sĩ từ cấp chóp bu là giáo hoàng, qua các cấp đại thần như ông hồng y, giám mục, cấp lưng chừng nửa ông nửa thằng là “đức ông”, cho nên cấp manager (quản lý) là linh mục cũng chỉ có thể chịu tới 6 phép là cùng. Các vị này một khi đã lỡ chịu phép Truyền Chức Thánh rồi thì phép bí tích Hôn Phối dù đã được “thánh hóa” cũng trở thành một phép bí tích tội lỗi đối với họ!

  45. concun permalink

    Trong “Vatican Thú Tội và Xin Lỗi” giáo sư sử học Nguyễn Mạnh Quang đã viết: “Giáo hội La Mã đã liên kết chặt chẽ với các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, Phát xít Ý, Đức Quốc Xã trong việc đánh chiếm các đất đai tại lục địa Phi, Mỹ và Á Châu để củng cố quyền lực và thực thi chính sách bất khoan dung “diệt tận gốc rễ” tất cả các tôn giáo và văn hóa khác mà Giáo Hội đã quyết tâm theo đuổi từ ngàn xưa. Tất cả những sự kiện trên đều cho chúng ta thấy rằng Vatican là một đế quốc thực dân xâm lược thâm độc nhất, gian ác nhất, bạo ngược nhất và dã man nhất trong lịch sử nhân loại từ thời thượng cổ cho đến ngày nay” (Sdc. tr. 270-271).

    “Riêng về tội ác mưu toan hủy diệt các tôn giáo khác và nền văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt Nam, sách sử ghi rõ: Kế hoạch Puginier nhằm xé nhỏ nước Việt Nam ra thành nhiều mảnh biến thành những tiểu quốc theo biên giới sắc tộc và địa lý, rồi hủy diệt tất cả ảnh hưởng của nền văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt Nam. Kế hoạch này được Tiến sĩ Cao Huy Thuần trình bày rõ ràng trong cuốn “Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp tại Việt Nam” (Sdc, tr. 270-271). Tội ác của những Việt gian đội lốt tôn giáo là không thể tha thứ.

    Càng nghiên cứu về lịch sử bành trướng của đạo Công Giáo, chúng ta càng ngạc nhiên và không khỏi rùng mình ghê sợ trước những núi tội ác của nó vì mức độ khủng khiếp đã vượt quá sức tưởng tượng của mọi người bình thường chúng ta. Có nhận thức được điều này chúng ta mới cảm thấy hú hồn hú vía vì dân tộc Việt Nam ta quả đã được cứu thoát khỏi đại họa diệt vong trong đường tơ kẻ tóc vào ngày 1 tháng 11 năm 1963! Đây là một vấn đề thuộc lịch sử mà phần đông chúng ta chưa nhận thức đúng giá trị của nó. Tuy nhiên, chúng tôi cũng không dám lạm bàn rộng thêm tại đây và xin để Lịch sử Việt nam sau này sẽ làm sáng tỏ.

    Bài viết này chỉ giới hạn trong việc đề cập đến các sách Kinh nguyện Công Giáo bằng Việt ngữ mà thôi. Chúng tôi thiết nghĩ HĐGMVN là cơ quan lãnh đạo cao cấp nhất của giáo hội Công Giáo Việt Nam phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của các kinh sách nguyện Công Giáo trên phương diện luật pháp quốc gia. Ngoài ra, chúng tôi đòi hỏi HĐGMVN phải trả lời trước tòa án lương tâm và lương tri của dân tộc Việt Nam, về những tác hại tinh thần và văn hóa mà các sách kinh nguyện Công Giáo đã gây ra cho dân tộc từ trước đến nay.

    Hội Đồng Giám Mục Việt Nam hiện do Hồng Y Phạm Đình Tụng làm chủ tịch, trụ sở đặt tại số 40, Phố Nhà Chung, Hà nội. Hồng Y Phạm Đình Tụng sinh quán tại Phát Diệm, quê hương lừng danh của Cha Việt gian Phê-rô Maria Phạm Ngọc Chi và LM Mafia Hoàng Quỳnh. Nếu Hồng Y Phạm Đình Tụng không phải là hậu duệ xuất sắc bén gót của các tiền bối khét tiếng bán nước hại dân như Trần Lục, Lê Hữu Từ thì ông đã long trọng lên tiếng xưng thú các núi tội lỗi của giáo hội Công Giáo Việt Nam trước quốc dân và đã làm lễ sám hối trước bàn thờ Tổ Quốc Việt Nam từ lâu rồi.

    Trong tác phẩm “The Next Pope – An A to Z of Holy See”, một cuốn sách chính trị bán chạy nhất trong năm 1995 tại Mỹ (One of the Year’s Political Blockbuster, Harper Collins Publisher – 1995), ký giả Peter Hebblethwaite viết: “Không có một cuộc bầu cử nào thu hút sự tập trung chú ý của Giáo hội Công Giáo và toàn thế giới cho bằng cuộc bầu cử Giáo Hoàng. Bởi vì đằng sau những bức tường của Vatican, lịch sử thế giới đang được hình thành” (Behind those walls, history is being made); “Có sáu nước Cộng Sản hoặc cựu Cộng Sản sẽ lái Hội đồng Hồng y của Vatican về phía bảo thủ cực hữu. Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, Tổng Giám Mục Hà Nội, 75 tuổi, và Jaime Luca Ortega Alamino, Tổng Giám Mục Havana, Cuba, sinh ngày 18.10.1936, có triển vọng là những kẻ chủ chốt trong quá trình tan rã chế độ CS của họ” (There are six from Communist or ex-Communist countries who will swing the college of cardinals to the right. Paul Joseph Pham Đinh Tung, arbishop of Hanoi, seventy five, and Jaime Luca Ortege Alamino, arbishop of Havana – Cuba, born October 1936, will expect to preside over the disintegration of their regimes – page 170).

    Trong bối cảnh thế giới hiện nay đang diễn ra một cuộc cách mạng tâm linh, tên tội phạm lớn nhất của lịch sử nhân loại là Vatican cũng đã phải long trọng làm lễ xưng thú hàng núi tội ác chống loài người của nó trong 17 thế kỷ qua. Hầu hết các giáo hội Công Giáo Tây phương cũng đã có những hành vi thú tội tương tự từ lâu. Dân tộc Việt nam đã kiên nhẫn chờ đời sự thú tội muộn màng của HĐGMVN, nhưng đến nay chúng ta đã phải thở dài thất vọng. Sự im lặng hoàn toàn của Giáo hội Công Giáo Việt Nam trước các vấn đề lương tâm là một hành vi cực kỳ ngoan cố và không thể chấp nhận được. Chúng tôi thiết nghĩ nay đã đến lúc các tội ác phản quốc của Công Giáo Việt Nam cần phải được dân tộc Việt Nam đem ra tra vấn. Do đó, chúng tôi xin đặt vấn đề trách nhiệm của HĐGMVN trước công tâm phán xét của toàn thể đồng bào trong cũng như ngoài nước, nhất là trách nhiệm của HĐGMVN về những tác hại của các sách Kinh Nguyện Công Giáo.

  46. concun permalink

    Cụ Ngô Đình Diệm sinh ngày 3.01.1901 tại Huế, trong gia dình Công Giáo kỳ cựu. Nguyên quán làng Đại Phong (Quảng Bình). Trú quán tại làng Phương Quả (Thừa Thiên). Đến 20 tuổi đã vào trường Hành chánh làm tri phủ Hải Lăng nơi có thánh địa La Vang, ở gần nhà thờ La Vang một thời gian thì ông phải xa nhà Đức Mẹ mà đi làm Tổng đốc Bình Thuận, rồi ông lại trở về Huế giữ chức Thượng thư Bộ Lại… Đến ngày 27.1.1955, cụ Ngô trở về nước với chức thủ tướng chính phủ… Từ khi lên làm Tổng thống (10.1955), cụ Ngô mỗi năm đều ra Quảng Trị, việc đầu tiên là cụ tới La Vang để cầu khẩn Đức Mẹ. Chẳng hạn như ngày 18.6.1961, sau lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, cụ đến viếng đền Mẹ La Vang với một cử chỉ đạo đức tỏ lòng thành kính Đức Mẹ đặc biệt. Đoàn xe dừng lại ở đầu đường trải nhựa, cụ xuống xe, cởi giầy từ đó đi chân không đến cửa để thờ… (LĐLV, 134-135).

    Ngày 8.8.1961, HĐGMVN quyết định tổ chức Đại Hội Thánh Mẫu Toàn Quốc kéo dài ba năm. Lễ Bế Mạc trọng thể dự tính sẽ được tổ chức vào tháng 8.1964 dưới sự chủ tọa của một Đức Hồng Y đại diện Tòa Thánh. Đức Cha Ngô Đình Thục được HĐGM đề cử đứng ra khẩn xin Tòa Thánh chấp thuận đề nghị cử Đức Hồng Y Agaginian, bộ trưởng Thánh Bộ Truyền Giáo sang Việt Nam chủ tọa đại lễ này. Nhưng Công Đồng Vatican II họp tại La Mã tháng 10.1963 đã bác bỏ đề nghị của TGM Ngô Đình Thục và ra lệnh hoãn Đại Hội Thánh Mẫu Toàn Quốc tại La Vang vô thời hạn (LĐLV, tr. 124-125)”

    Mấy trang sách nói trên cũng cho chúng ta nhận thức được vai trò hết sức quan trọng của HĐGMVN đối với vận mệnh đất nước như thế nào. Vai trò của HĐGM lại càng trở nên quan yếu hơn nữa trong một quốc gia có chính quyền nằm trong tay người Công Giáo. Những trang sách này cũng là những bằng cớ lịch sử không thể chối cãi chứng tỏ HĐGMVN và chế độ Diệm đã có quyết tâm biến Công Giáo thành quốc giáo. Đó là ước mơ sâu kín và mãnh liệt nhất của hàng giáo phẩm và giáo dân cuồng tín Việt Nam. Ước mơ thấy được thể hiện thường xuyên trong các lời kinh cầu nguyện. Xin quý độc giả cứ lật mấy cuốn sách kinh nguyện Công Giáo Việt ngữ ra đọc sẽ thấy nhan nhản những bằng cớ cụ thể. Trong suốt thời gian Pháp thuộc, các giáo sĩ Tây Phương vẫn cố gieo vào đầu óc các tu sĩ và giáo dân Việt Nam một “châm ngôn nô lệ” nổi tiếng: “Nước Pháp là trưởng nữ Hội Thánh và là Mẹ Việt Nam” (France, fille ainée de l’Eglise, mère du Việt Nam). Nhiều tài liệu lịch sử đã chứng minh TGM Ngô Đình Thục rất trung thành với thực dân Pháp. Tổng giám mục Ngô Đình Thục và HĐGMVN đã cố gắng hết sức mình để thực hiện “châm ngôn nô lệ” nói trên trong suốt thời gian Ngô Đình Diệm làm tổng thống Việt Nam Cộng Hòa.

    Sự thật lịch sử là Giáo quyền Công Giáo do HĐGMVN đứng đầu và Thế quyền Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam, do Ngô Đình Diệm lãnh đạo đã phối hợp chặt chẽ với nhau trong âm mưu hiến dâng tổ quốc Việt Nam cho bọn thực dân đế quốc. Nếu không có chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, nếu không có cuộc đảo chánh thành công của phe cấp tiến tại Vatican trong Tháng Mười năm 1962 (Công Đồng Vatican II khai mạc vào tháng Mười năm 1962 là một cuộc đảo chánh thành công của phe Công Giáo Cấp Tiến Âu Châu loại trừ phe bảo thủ của giáo hội do Pio XII và Spellman lãnh đạo. Phe bảo thủ Công Giáo này chính là siêu quyền lực quốc tế cũ đã đưa Kennedy gốc Công Giáo Ái Nhĩ Lan và thầy tu Diệm lên nắm chính quyền tại Mỹ và Việt Nam). Nhất là nếu không có cuộc Cách Mạng 1.11.1963 thì Tổ Quốc Việt Nam có thể đã bị xóa bỏ vĩnh viễn. Lịch sử thế giới đã chứng minh không có một chế độ độc tài nào khủng khiếp và nham hiểm cho bằng độc tài Công Giáo. Một khi Công Giáo đã trở thành quốc giáo thì “châm ngôn nô lệ” nói trên sẽ thành hiện thực. Bọn thực dân đế quốc chỉ mong đợi Việt Nam trở thành toàn tòng Công Giáo thì nước pháp sẽ chính thức là mẹ của Việt Nam, tất nhiên Vatican sẽ là bà ngoại của dân tộc ta! Các tôn giáo khác nhất định sẽ bị tiêu diệt và mọi truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc sẽ không còn. Một khi Văn Hóa truyền thông bị tiêu diệt thì dân tộc ta chỉ còn là cái xác không hồn. Có nhận thức được điều này mới thấy rõ Công Giáo là đại họa khủng khiếp nhất của dân tộc ta từ trước đến nay.

  47. concun permalink

    Bàn thờ chính tại nhà thờ Lavang sẽ được gọi là “Bàn thờ dâng hiến giáo hội và Tổ Quốc Việt Nam, cho Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ” và 3 bàn thờ phụ để dâng kính Các Thành Tử Đạo của 3 miền Việt Nam. Các bàn thờ đều được làm bằng đá cẩm thạch lấy từ vùng núi Non Nước (Ngũ Hành Sơn) để tượng trưng cho Non Nước Việt nam.

    – Một công trường rộng lớn, ở giữa lễ đài được xây dựng kiểu Đài Nam Giao của triều đình Huế để dùng vào những ngày lễ hội (tương tự như lễ hội tế Nam Giao của các vua nhà Nguyễn).

    Ngày 20.7.1961, TGM Ngô Đình Thục viết lời phi lộ trên tờ Nguyệt San Đức Mẹ La Vang số 1 nhấn mạnh: “La Vang là của chung toàn thể quốc dân Việt Nam, cả lương lẫn giáo”. Ngày 1.6.1961, TGM Ngô Đình Thục thay mặt HĐGMVN gửi hiệu triệu đi toàn quốc như sau: “Ta vui mừng ban phép và dạy tổ chức Đại Hội kính Đức Mẹ La Vang năm 1961″. Nha Chiến Tranh Tâm Lý của chính phủ VNCH được lệnh quyên tiền của đồng bào từ Nam chí Bắc không phân biệt lương giáo. Linh Địa La Vang, tr. 103-109).

    Danh tiếng Linh Địa La Vang còn được tung ra khắp năm châu nhờ cuộc phát hành Bưu Hoa Đức Mẹ La Vang. Lần đầu tiên trong lịch sử Bưu Chính Việt Nam, một con tem với đề tài tôn giáo Đức Mẹ La Vang được Phát hành ngày song thất 7.7.1962. Trước đây, giới sưu tập đã có dịp thưởng thức những loại tem thắng cảnh như nhà thờ chính tòa Phủ Cam Huế (1958), tháp Thiên Mụ (1959), qua năm 1964, tem Giáo Sĩ Đắc Lộ. Hôm nay họ lại có dịp sưu tập những cánh tem Bưu Chính mang chân dung Mẹ từ ái của Việt Nam: Đức Mẹ La Vang.

    Phóng viên Nhật Báo Viễn Đông Journal d’Extrême Orient mô tả sự tấp nập tại công thự Bưu điện Saigon trong buổi phát hành tem thơ Đức Mẹ La Vang: Sáng nay, 7.7.1962, ngay từ khi mới mở các ghi-sê, hàng ngàn người thuộc đủ quốc tịch đã tràn ngập bưu sảnh Saigon, những linh mục, chủng sinh, sinh viên, học sinh, để mua những con tem mới dâng kính đức Mẹ La Vang do sở Bưu điện phát hành. Tổng Hội Những Người Công Giáo Ái Mộ Tem Thơ (Association Catholique des Amis du Timbre) đã cho biết rằng họ rất yêu mến loại tem Đức Mẹ La Vang của Việt Nam vì tính các lịch sử cũng như công trình ấn loát của loại tem ấy…Tem thơ Đức Mẹ La Vang mang chân dung Đức Mẹ đặt Chúa Hài Đồng trên địa cầu, phía sau là mấy bụi trúc tốt tươi nằm bên cạnh Mẹ, đó là quốc huy của nước Việt Nam Công Hòa” (Linh Địa La Vang 133-134 – Điều này ngụ ý thế quyền Việt Nam Cộng Hòa phải phục tòng thần quyền là HĐGMVN – chú thích của Charlie Nguyễn).

    Đức Hồng y giáo chủ Hoa kỳ Francis Spellman đã đến thăm Linh địa La Vang ngày 7.1.1955 và làm lễ nơi bàn thờ Đức Mẹ. Ngài tuyên bố “Tôi cầu nguyện và tôi tin chắc Đức Mẹ La Vang sẽ thắng” không nói rõ “ai thắng ai” – LĐLV, tr. 138). Hồng y Agagianian, Đặc sứ Toàn quyền Tòa Thánh đến thăm La Vang ngày 21.2.1959, Ngài tuyên bố: “Tôi khẩn khoản nài xin lòng nhân lành Thiên Chúa sẽ đổ xuống như mưa trên trời cho giáo hội và dân tộc Việt Nam để vinh danh Chúa Ki-tô Vua, để sáng danh giáo hội Công Giáo là Mẹ lành, hầu nên một đoàn chiên dưới sự điều khiển của một chủ chiên” (LĐLV, 139-140: Từ ngữ Công Giáo “nên một đoàn chiên” có nghĩa là cả nước VN sẽ trở thành toàn tòng Công Giáo – Ch. N).

    Hơn một thế kỷ qua kể từ khi Đức Mẹ “hiện ra” tại La Vang, linh địa La Vang vẫn khiêm tốn nằm giữa cảnh rừng hoang núi vắng không mấy ai được biết. Trong thời gian lâu dài trên, đoàn con của Đức Mẹ sống quằn quại giữa những kỳ cấm đạo liên tiếp và bao biến cố chính trị xáo trộn. Vì thế, các Đức Giám mục Bề trên của địa phận Huế lúc bấy giờ như Đức Cha Labarielle, Đức Cha Tabert, Đức Cha Á Thánh Cuénot, Đức Cha Pellerin, Đức Cha Sohier và Đức Cha Ponviane phải im hơi lặng tiếng đối với Linh Địa La Vang.

    Trái lại, trong thời gian việc đạo được bằng an phồn thịnh từ 1886 đến 1963, La Vang được lớn hơn, được đẹp hơn và được sùng mộ hơn. Trước tiên là do sự lo lắng của các Đức Cha Địa phận như Đức Cha Gaspar, Đức Cha Allys, Đức Cha Chobanon, Đức Cha Lemasle, Đức Cha Urritia và Đức Tổng Giám mục Ngô Đình Thục… Các đấng vì lòng thành kính Đức Mẹ La Vang đã nỗ lực tô điểm La Vang bằng tinh thần và bằng vật chất để Linh địa La Vang trở thành giáo đô của một dân tộc. Các Đức Giám Mục gốc Bình Trị Thiên rất sùng kính Đức Mẹ La Vang như Đức Cha Đominico Hồ Ngọc Cẩn, Đức Cha Phêrô Ngô Đình Thục, Đức Cha Anselmo Lê Hữu Từ, Đức Cha Simon Hòa Hiền và Đức Cha Phancixô Xavie Nguyễn Văn Thuận… (LĐLV 143-144 – xin lưu ý danh từ “Giáo Đô” Ch. N.)

  48. concun permalink

    VẤN ĐỀ TRÁCH NHIỆM của HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC

    Mỗi giáo phận Công Giáo thường có một cuốn sách sưu tập các bài kinh do giáo hội soạn sẵn để giáo dân đọc mỗi khi cầu nguyện tại nhà hoặc đọc chung tại nhà thờ. Sách sưu tập các bài kinh này được gọi là Sách Kinh Nguyện (prayer-book). Các sách kinh nguyện gồm có phần lớn là các bài kinh đọc quanh năm gọi là Toàn Niên Kinh Nguyện. Một số bài kinh đặc biệt khác để đọc theo mùa (mùa chay, mùa Giáng Sinh, tháng Đức Mẹ, tháng Trái Tim Chúa v.v…). Các sách kinh nguyện được xuất bản và lưu hành trong mỗi giáo phận luôn luôn phải có phép chuẩn y của giám mục hay tổng giám mục quản nhiệm. Sự chuẩn y này thường được ghi bằng tiếng La tinh (Imprimatur; Imprimi potest; Nihil Obstat) chẳng hạn như ở trang đầu sách kinh Nhựt Khóa của Tổng giáo phận Saigon có ghi:

    Imprimatur

    Saigon, die 19 mensis martu 1971

    Paulus NGUYỄN VĂN BÌNH

    Archiepiscopus de Saigon

    Sách Kinh Nguyện của các địa phận có thể khác nhau về ngôn ngữ địa phương hoặc có một số bài kinh được in trong sách của địa phương này mà không được in trong sách của địa phận khác, nhưng về mặt nội dung thì tất cả các sách kinh nguyện đều đồng nhất. Theo thư của Giám mục Hồ Ngọc Cẩn in trong phần đầu sách toàn niên Kinh nguyện Bùi Chu thì nội dung của các sách kinh nguyện đã được minh định là đồng nhất trong cuộc họp của toàn thể các Giám mục Huế năm 1924.

    Để dẫn chứng về trách nhiệm của hội Đồng Giám Mục Việt Nam, chúng tôi đặc biệt chú ý đến sách “Linh Địa La Vang” của Linh Mục Xitanio Nguyễn Văn Ngọc, được xuất bản lần đầu tại Việt Nam với sự chuẩn y của Tổng Đại Diện Tòa Giám Mục Huế ngày 13.4.1970 và được tái bản năm 1978 tại Hoa Kỳ do Nguyệt San Trái Tim Đức Mẹ, thuộc Dòng Đồng Công ở Missouri (P.O. Box 836 – Carthage MO. 64838). Sách LĐLV đã được viết ra một cách rất tự nhiên, bộc lộ nguyên vẹn tim gan sâu kín của giới tu sĩ Công Giáo Việt Nam. Cuốn sách này đã được giới chức có thẩm quyền theo giáo luật cho phép và đã được Dòng Đồng Công hải ngoại cho tái bản. Ngoài việc sách này cho biết thêm chi tiết về hội đồng san định các kinh nguyện, nó còn cho chúng ta biết rất nhiều điều đáng ghi nhận về trách nhiệm của Hội đồng Giám mục Việt Nam.

    Theo sách Linh Địa La Vang (LĐLV), Hội Đồng sửa kinh đã cùng nhau làm việc trong ba tuần lễ, từ 28 tháng 4 đến 17 tháng 5 1924. Ngày 19 tháng 5.1924, Hội Đồng Sửa Kinh đã đến viếng “thánh địa” La Vang bằng xe hơi của Nguyễn Hữu Bài (Lại-Bộ Tham-Biện Cơ-Mật tức Bộ trưởng Nội vụ của chính phủ Nam triều thời Pháp thuộc) cùng với Giám mục Lemasle cai quản địa phận Huế thời đó (trang 147).

    Năm 1885, triều đình Huế thất thủ. Năm 1886, Giám mục Sohier ỷ vào thế lực thực dân Pháp trưng đất của dân làng Thanh Tấn và Ba Trục thuộc tỉnh Quảng Trị để mở mang linh địa La Vang (LĐLV trang 48). Tại đây có một ngôi chùa dưới gốc cây đa trong rừng Lá Vằng đã được dân làng xây dựng từ đầu đời vua Minh Mạng. Dân Công Giáo đến phá chùa để cướp đất và họ đã làm những bài vè khá dài kể về việc này. Có điều là họ cho rằng người phá chùa là Đức Mẹ linh thiêng chứ không phải người thường. Bài vè này đến nay vẫn được giáo dân La Vang truyền tụng, Linh Mục Xitanio Nguyễn Văn Ngọc ghi lại vài vè khá dài (Tr. 39-46), trong đó nhưng đoạn như sau:

    “Rằng Phật rằng Thần lao đao
    Có Bà bên đạo phép cao lạ lùng
    Bà vào Bà đánh tứ tung
    Bao nhiêu Thần Phật đều tung ra ngoài
    Tiếng Bà thật đã linh oai
    Lư hương bát đất đền đài đều hư… (LĐLV tr. 40-41)
    Chốn này là chốn Chúa bà
    Cho nên thần Phật Quỉ Ma kiêng dè… (LĐLV, tr. 45).

    Ngôi chùa đã được biến thành nhà thờ Công Giáo từ đó. Đây là thánh đường đầu tiên tại La Vang nơi chính Đức Mẹ đã hiện ra . [ Người ta phao tin như thế.]

    (Tên cũ Lá Vằng được đổi thành La Vang có lẽ do các giáo sĩ người pháp viết như vậy trong các văn kiện nói về Lá Vằng – Ghi chú của Charlie Nguyễn). Từ khi ở linh địa La Vang có nhà thờ đầu tiên thì sự tích Đức Mẹ hiện ra được thông báo đi khắp nơi bằng giấy mực của giáo quyền và chính quyền thực dân. Bài vè có ghi chép:

    Các người đều lãnh thơ đi
    Kẻ thời ra Nghệ, người đi Kinh thành
    Nghe thơ kể việc rành rành
    Thảy đểu khen ngợi thanh danh Đức Bà
    Tiếng đồn chóng thổi gần xa
    Thông qua biển cả huống là non sông…(LĐLV, tr. 43-44)

    Năm 1939, Đức Khâm Mạng Tòa Thánh Drapier gửi thông báo cho toàn thể Đông Dương chọn ngày 30 tháng 6 Dương lịch là ngày lễ hai thánh Phê-rô và Phao-lô làm lễ cầu an khắp nơi và sẽ tổ chức một cuộc rước kiệu thật lớn tại đền thờ Đức Mẹ La Vang. Phủ Toàn Quyền cũng thông sức khắp nơi cho các công nhân (viên chức nhà nước) phải đi lễ vào ngày nói trên (LĐLV, tr. 81). Mọi cuộc lễ tại La Vang bị tạm ngưng do Thế chiến 1939-1945. Sau khi Pháp trở lại Việt Nam, ngày 12.9.1946, lễ kính Đức Mẹ La Vang lại được cử hành. Hôm đó có bà Vĩnh Thụy tức Nam Phương Hoàng Hậu đi xe hơi từ Huế ra tận La Vang để dự lễ cầu an (LĐLV, tr. 82)

    Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGMVN) được chính thức thành lập do Sắc chỉ ngày 24.11.1960 của Giáo Hoàng Gioan XXII. Ngày 18.12.1960, HĐGMVN tổ chức đại lễ tạ ơn Tòa Thánh tại nhà thờ lớn Saigon với sự tham dự của toàn bộ các giới chức cao cấp của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa do Ngô Đình Diệm lãnh đạo. Chính hôm ấy, HĐGMVN và chính phủ Diệm đã quyết định việc dâng hiến tổ quốc Việt Nam cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Đức Mẹ (mà đại diện độc quyền chính thức của Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Đức Mẹ trên trái đất này là Vatican – chú thích của Charlie Nguyễn) đồng thời khấn hứa sẽ xây dựng một đền thờ dâng kính Trái Tim Đức Mẹ tại La Vang. Nhà thờ La Vang sẽ được gọi là “Đền Thờ Toàn Quốc dâng kính Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ” và “Linh Địa” La Vang sẽ được gọi là “Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc”. Ngày 8.8.1961, HĐGMVN họp tại Đà Lạt đã quyết định như sau:

  49. concun permalink

    Trước khi các đạo du nhập vào đất nước ta, tổ tiên chúng ta đã sống hàng ngàn năm bình yên, hạnh phúc mà không cần tới một đạo nào cả. Tổ tiên chúng ta đã nhận thức rằng: chúng ta đã có sẵn một đạo cao hơn tất cả các tôn giáo, đó là “Đạo Làm Người”.

    Tổ tiên chúng ta là con Hồng cháu Lạc, chứ không phải là con cháu của Adong-Evà, nên không hề mắc cái “tội tổ tông”. Do đó chúng ta chẳng cần một thứ chúa Cứu Thế nào cứu chuộc. Vào năm 40 sau Công-nguyên, hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị đã cứu nước ta thoát ách đô hộ ngoại bang và dành lại độc lập cho tổ quốc. Hai Bà, sấp sỉ bằng tuổi Jesus, và hai Bà Trưng đã thực sự là Chúa Cứu Thế của dân tộc ta. Jesus lúc đó còn bận giảng đạo ở Jerusalem, chẳng biết cái xứ Giao Chỉ nằm ở nơi nào trên địa cầu làm sao tới cứu? Jesus bị quân La Mã đánh đập tơi bời rồi bị đóng đinh trần truồng trên thập giá về cái tội dám chống lại đế quốc. Jesus là nạn nhân của bọn đế quốc La Mã. Đối đầu với cả một đế quốc hung bạo, Jesus đã không thể tự cứu mình, nên đã phải chết dưới tay chúng.

    Một người đã không thể cứu nổi chính mình thì làm sao có khả năng làm Chúa Cứu Thế cả thế gian, trong đó có cả những người chủ mưu giết mình ? Học giả Do Thái Leonard Yassen đã viết rất chí lý trong tác phẩm “The Jesus Connection to Triumph over Anti-Semistism” (Crossroad 1995) : “Jesus không hề biết gì về Ki Tô Giáo (Christianity), cũng không chết với danh nghĩa là người dã sáng lập ra đạo này, mà chết vì danh nghĩa một công dân Do Thái”. Ông gọi Ki Tô Giáo là một cái boomerang vĩ đại do đế quốc La Mã tạo ra để khiến cho nó quay lại tiêu diệt tổ quốc của công dân Jesus. Do Thái quả là một một dân tộc được chọn (a chosen people), nhưng người chọn không phải là Thiên Chúa mà là đế quốc La Mã. và họ đã chọn dân tộc Do Thái với mục tiêu rõ rệt là để tiêu diệt dân tộc này.

  50. concun permalink

    Việt gian Cato, dư đảng Cần lao Công giáo tiếp tục thờ Ngô Đình Diệm, Trần lục. Điều này có nghĩa là gì?.
    Có nghĩa chúng không thấy việc phản quốc là sai, chúng đồng tình với ước mơ của Ngô Đình Thục: Kito hoá miền Nam. Chúng đứng về phía thực dân coi khởi nghĩa chống xâm lược là nổi loạn!!.
    Chúng coi cha ông ta ( không đạo chúa) là kẻ thù, điều này chúng cũng coi chúng ta ( con cháu những người không đạo chúa) là con cháu của kẻ thù.
    Diễn đàn Viet land giáo gian cuồng tín chụp mũ Phật tử là CS, gốc Chệt, việt gian Tàu Cộng một cách tàn độc, nếu chúng có quyền chúng không khác gì Ngô đình Diệm.
    Muốn thấy bộ mặt gian ác của giáo gian Cato không gì thiết thực hơn là vào diễn đàn Viet land, ai mà khác ý chúng là chúng chụp mũ Viet gian ngay tức khắc, đối với chúng chỉ có hai loại người, một là chúng ( cong giáo) hai là Viet gian!!!!!!!!

  51. concun permalink

    Vì sao Bắc kỳ cato có những tánh xấu này?.
    Trước nhất họ học được từ trong Kinh Thánh!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!.
    Thứ hai khi họ sống chung, làm việc chung với thành phần thấp kém ngoại quốc Kito hay dân Kito ngoại quốc , để tồn tại họ phải nịnh bợ và lâu ngày họ cũng bị nhiễm theo.

  52. concun permalink

    Không thể thay đổi bản chất quỵ luỵ vong bản của giáo hội, giáo gian VN. Tôi đã từng làm việc chung, ở chung.. với Bắc kỳ Cato. Các đặc điểm nổi bật của Bắc kỳ cato là ganh tỵ, dạy đời, nói láo, nổ hay hạ nhục người khác mà các tật xấu này chúng ta có thể thấy từ già đến trẻ, từ đàn bà đến thanh niên!!!!.

  53. concun permalink

    Nhà nước phi Kito cần phải dựng bảng ghi tiểu sử của tên Viet gian Trần lục trước nhà thờ Phát Diệm ( do hắn xây) cho nhân dân VN biết, bằng không thiên hạ cứ ca tụng nhà thờ này mà không biết rằng tên Trần lục tấn công cuộc khởi nghĩa Ba đình, đốt chết cha ông ta.
    Không thể để lịch sử phản quốc của giáo hội, giáo gian VN chìm vào quên lãng, chỉ có vài sử gia biết hay vài người may mắn còn sống kể lại!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!.
    Phải đưa sự thật lịch sử phản quốc của Viet gian cato vào môn sử các cấp trong trường học và chuyên ngành.
    Nếu thế hệ trẻ không biết thì còn ai biết sau khi nhân chứng, sử gia già chết hết.
    Kiểm tra tiểu sử của các nhân vật được mang tên đường, không chừng thờ Viet gian mà không hay.

  54. concun permalink

    Sở dĩ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của cha ông ta phải kéo lâu dài hơn, đổ máu nhiều hơn vì cha ông ta phải đối phó, đánh trả với hai kẻ thù: nội thù và ngoại thù.
    Nội thù: Việt gian Cato trở mặt phản bội từ thời Trịnh Nguyễn.
    Ngoại thù: thực dân, phát xít…
    Nội ứng, ngoại nhập làm cha ông ta hy sinh nhiều hơn vì Việt gian ngoại hình có khác gì chúng ta, cũng người Viet nói tiếng Việt.
    Ngay tại hải ngoại, chúng tiếp tục thờ phượng tên đại Viet gian Trần lục!!!. Điều này có nghĩa chúng coi cha ông ta là kẻ thù của chúng.

  55. concun permalink

    Diệm là một kẻ cuồng tín tôn giáo. Hắn chỉ biết có “Chúa”. Diệm không thừa nhận Quốc Tổ Hùng Vương. Khi lên làm Tổng thống, Diệm liền hủy bỏ ngày nghỉ lễ Giỗ Tổ hàng năm, và cấm không cho tổ chức công khai Giỗ Tổ Hùng Vương.

    Không công nhận Quốc Tổ Hùng Vương thì Diệm chính là tên Phản Quốc… chứ còn gì nữa ? !

    5.- Điều tối quan trọng nữa là, khi tuyên bố thành lập nền Cộng Hòa, Diệm hủy bỏ và thay thế toàn bộ luật lệ do thực dân Pháp và Bảo Đại để lại. Điều này rất đúng. Nhưng Diệm lại cố ý giữ lại “Dụ số 10” một cách bất hợp pháp ! Chỉ vì “Dụ số 10” cho phép ông ta độc tôn “Tôn Giáo” (công nhận chỉ có Thiên Chúa Giáo) ; và độc tôn “Đảng phái” (công nhận chỉ có Đảng Cần Lao).

    Hỏi có tên nào đại gian manh quỷ quyệt như Ngô Đình Diệm ? Kẻ nào phản quốc hơn Diệm (chối bỏ Tổ Tiên) ? Tội của hắn đáng chết cả trăm ngàn lần. Và cũng xin đừng đổ tội cho Ngô Đình Nhu hay các cấp dưới quyền : Chính ông Diệm mới là Tổng Thống, và dĩ nhiên ông ta phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước lịch sử và dân tộc !

    Bởi vậy, bây giờ kẻ nào còn tôn vinh tên đại phản quốc Ngô Đình Diệm tức là đã nhận giặc làm cha rồi vậy. Xin lỗi !

    Bao lâu vấn nạn “Cần Lao” ở hải ngoại này biến mất thì may ra người Quốc Gia chúng ta mới tạo được sự đoàn kết Quốc Gia, Đoàn Kết Dân Tộc.

    GÓP GIÓ

  56. concun permalink

    1.- Phong kiến còn hơn cả phong kiến (Gia đình trị, mỗi vùng một lãnh chúa, suy tôn Ngô Tổng thống muôn năm…).

    2.- Thực dân còn hơn cả Thực dân (lần hồi thâu tóm toàn bộ nền kinh tế quốc dân vào trong tay gia đình và Đảng Cần Lao, như vận tải đường bộ, hàng không, hàng hải, nhà phát hành thống nhứt, độc quyền khai thác gỗ rừng, Ngô Đình Cẩn xử dụng tài nguyên quốc gia xây Khu An Dưỡng (Nhật Ký Đỗ Thọ)…

    3.- Còn vấn đề Diệt cộng ra sao ? Khi mới lên chấp chánh, thì Diệm cho mở chiến dịch Tố Cộng thật rầm rộ và được nâng lên hàng ”Quốc Sách”. Nhưng khi đã trở thành Tổng thống rồi thì chấm dứt chiến dịch “Tố Cộng”, quay ra “thả cộng” vào rừng (trường hợp điển hình như Nguyễn Hữu Thọ). Ra lịnh các tỉnh trưởng thu hồi vũ khí tự động của Bảo An, Dân Vệ để cho VC tha hồ hoạt động ở nông thôn (Hồi ký Công và Tội của Nguyễn Trân).

    Trong hồi ký Một Kiếp Người của tướng Huỳnh Văn Cao còn tiết lộ nhiều điều kinh khủng khác về chuyện Dinh Độc Lập có dính líu với Cộng Sản. Như việc tin dùng đại tá tình báo Việt Cộng Phạm Ngọc Thảo. Đến nỗi tướng Paul Harkins còn tỏ ý nghi ngờ tổng thống Diệm là Cộng Sản, vì bất cứ cuộc hành quân MẬT nào báo cho Dinh Độc Lập biết, thì Việt Cộng đều biết trước !

    Ngoài ra, chiến dịch thả Biệt Kích ra Bắc cũng bị Cộng Sản biết trước ngày giờ và địa điểm đổ quân, mai phục bắt gọn. Chỉ có vài lần thoát, nhờ các phi công xin đổi địa điểm thả Biệt Kích vào giờ chót vì lý do kỷ thuật, thời tiết… Nhưng rồi cũng bị Việt Cộng săn đuổi diệt hết..

    Người Mỹ rất cay cú chuyện này vì kế hoạch dùng BK đánh phá hậu phương miền Bắc bị thất bại hoàn toàn !

    Vậy kẻ nào ở Dinh Độc Lập làm nội gián cho Việt Cộng ? Xin đừng đổ thừa cho Vũ Ngọc Nhạ. Chỉ cần suy nghĩ một chút cũng nhận ra Nhạ chính là thủ hạ của Ngô Đình Nhu. Nhu dùng Nhạ núp dưới võ bọc “Cố vấn” để che mắt Tình báo Mỹ. Nhu là một tên cáo già đại quỷ quyệt, làm sao Nguyễn Ngọc Nhạ có thể qua mặt được Nhu ? ? ?

  57. concun permalink

    Ngô Đình Diệm có công lao gì ? Bản chất là một tên Phản Bội gia truyền. Làm tôi tớ cho Pháp, được đào tạo trở thành Tri Huyện trung thành với giặc Pháp đàn áp những người yêu nước chống Pháp, sau được Pháp tiến cử làm quan Thượng Thư. Rồi lại PHẢN Pháp theo Nhựt (hồi ký Việt Nam Nhân Chứng – Trần Văn Đôn). Khi Nhựt đầu hàng, Pháp quay trở lại Đông Dương truy tìm Diệm, may nhờ người Mỹ cứu đưa về Mỹ nuôi nấn, dạy dỗ… Cho tới năm 1954, người Mỹ lại bồng Diệm từ Mỹ đưa về nước, vận động với Pháp để Bảo Đại cho làm Thủ tướng. Sau lại PHẢN BỘI Bảo Đại lên làm Tổng thống “tự phong” không do dân bầu.

    Cuối cùng Diệm lại âm mưu PHẢN BỘI Mỹ… định bắt tay với Việt Cộng để đuổi Mỹ. Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa bắt buộc phải đứng lên làm Cách mạng lật đổ bè lũ Cần Lao độc tài gia đình trị gian ác, phản quốc. Xin đừng có ai đổ thừa cho CIA và người Mỹ. Chính Ngô Đình Diệm rước Mỹ vào VN năm 1954 chứ ai ? Người Mỹ muốn Diệm chống Cộng. Nhưng thực chất Diệm chính là con đẻ của Vatican. Diệm chỉ lợi dụng người Mỹ để lên nắm quyền. Khi đã củng cố được quyền hành, diệt xong các đảng phái và đối lập rồi, gia đình họ Ngô liền quay ra tìm cách đuổi Mỹ…

    Vậy ai chính là kẻ đỡ đầu cho hành vi phản nghịch của Diệm phía sau, nếu không là Vatican và Pháp ? ? ?

    Khi về nước chấp chánh 7-7-1954, Diệm đề ra 3 mục tiêu hành động cách mạng : “Bài Phong, Đả Thực, Diệt Cộng”. Ai mà không ủng hộ ? Thế nhưng khi đã trở thành Tổng thống, Diệm hành động trái ngược lại hết.

    1.- Phong kiến còn hơn cả phong

  58. concun permalink

    Phật từ đừng tai ngơ mắt nhắm trước tình trạng giao thông gây tai nạn chết người quá nhiều, tình trạng thực phẩm độc hại lan tràn, ăn thịt chó hiện nay.
    Từ bi, hiếu sinh, phóng sinh sao không thực hiện.
    Nên khuyến khích ngươi dân đi xe đò, xe lam… giảm thiểu tai nạn cho mình, các nước khác không có tình trạng xe gắn máy chạy chung với xe hơi. Có nhưng hiếm vì ai cũng biết rất là nguy hiểm cho bản thân mình.
    Khuyến khích những ai thất nghiệp có đất nên nuôi trồng heo gà rau cải bán cho dân địa phương hay cho cả nước.
    Nhà cửa nên có rào, cửa rào có khoá, bảo vệ trẻ em và chó an toàn, nhà cửa có phòng cho đàn bà, con gái có khoá đề phòng yêu râu xanh, ao, giếng đều phải rào, cắm bảng hiệu.
    Khi còn ở VN một lần ra rẫy, chắc số chưa chết nên tôi không lọt xuống giếng sâu thăm thẳm, không thể tin nổi khi miệng giếng ngang bằng với mặt rẫy mà không có rào báo hiệu gì hết!!!!.
    Vì nhà VN không làm rào, khoá lại nên người gian dễ vào nhà bỏ bùa hay gây mê lấy sạch đồ.

  59. concun permalink

    Nhiều nhà thờ làm giỗ Ngô Đình Diệm mỗi năm chờ ngày… “trả thù”

    Tôi còn nhớ là có nghe qua giai thoại một lần nào đó có ai đã vào “tấu” Tông Tông và đề nghị xây đền thờ Tổ. Hắn đã thốt lên lời bất nhân, bất nghĩa rằng:

    – Tổ của các anh … chứ tổ của tôi sao!? [2]

    Hết ý. Trước khi sắp chết hắn còn “trối” rằng: Tôi tiến, các người tiến theo tôi. Tôi chết, các người trả thù cho tôi. [3]

    Hãy nhớ nhé mọi người, đây là sự thật lịch sử của bọn bán nước, phi dân tộc, phản dân tộc đó.

    Nguyễn Hoàng Cương

  60. concun permalink

    Chưa đâu, đến sau ngày 26/10/1956 … cái ngày mà đài phát thanh Sàigòn cứ ra rả suốt ngày: Ai bao năm, vì sông núi, quên thân mình! Cứu đất nước, thề tranh đấu, cho tự do… Ngô tổng thống … Ngô tổng thống muôn năm, toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô tổng thống, chung đắp xây nền thống nhất sơn hà.

    Sau cái ngày này là hiện tượng bọn kiêu dân bắt đầu “xấp mặt” (trở mặt) … vỗ bụng, xưng tên: Chúng ông … chúng ông là con cưng của Tổng thống. Chúng mày bọn ngoại đạo có đi qua vùng Hố Nai phải luôn luôn ghi nhớ. Lái xe mà đụng vào một con chó của chúng ông thì cứ chết mất xác. Bọn mặt thú, da người này … sống trong công đồng dân tộc mà cũng như người xa lạ. Chúng chẳng biết gì đến công đức của Tổ Tiên … có thờ thì chúng thờ ông mắt xanh, mũi lõ. Hơi đâu mà thờ cái đám dân da vàng, mũi tẹt.

  61. concun permalink

    Hễ cứ nói đến Ca Tô Rô Ma giáo là tôi thấy phát khiếp lên … Năm 1954, tôi còn ở cái tuổi “thiếu sinh nhi đồng”. Nhớ cái ngày những người đồng bào từ miền Bắc đã bỏ quê hương, nhà cửa theo Đức Mẹ chạy trốn cộng sản để vào vùng tự do. Nhớ cái ngày các con chiên “tụ” lại vùng đất Biên Hòa, lập làng, lập xóm đạo: Hố Nai, Kẻ Sặt, Gia Kiệm. Nhớ rất nhiều sau giai đoạn đầu khi “đồng bào của tôi” bắt đầu lên Sàigòn để tìm công ăn, việc làm.

    Hồi ấy họ rất dễ thương, dễ mến lắm. Họ ăn nói lễ phép và ngọt như mía lùi khi đi xin việc, họ than thở, kể lể, nghe như mật rót vào tại vây: Nào là chúng con, chúng cháu đã phải bỏ lại tất cả để quyết theo Đức Mẹ vào Nam, chứ không thể sống nổi với bọn vô thần. Nào là chúng con biết ơn đồng bào miền Nam, biết ơn ông bà, biết ơn các cô, các chú …v.v…. Một tiếng con, hai tiếng cháu lễ phép vô cùng.

    Thế mà, chỉ thoắt cái … sau ngày 23/10/1955, ngày đánh dấu sự bôi tro, trát trấu vào mặt … người đã ký cho “tên” đại diện cho gia đình “tam đại Việt gian” cái vinh dự về làm thủ tướng! Bọn kiêu dân đã ló mòi “phản tặc”, chúng tha hồ hát các bài vè do “bọn bồi bút” viết lên … bọn “phi dân tộc”, bọn “phản dân tộc” này cứ líu la, líu lo suốt ngày rằng: Nghe vẻ, nghe ve, nghe vè Bảo Đại … là quân ăn hại, bán nước cho thực dân … đầu hàng giặc cộng.

  62. concun permalink

    Chùa chiền, tăng ni, phật tử cần coi đài Animal planet để biết luật bảo vệ động vật của Human Society.
    Nếu dân thấy ai hành hạ động vật họ sẽ gọi cho cảnh sát và animal cop sẽ đến đó giải quyết.
    Bất cứ chuyện gì đến animal, thí dụ như dân nghe tiếng mèo kêu ở nhà kia mà nhà đó dọn đi rồi, dân sẽ gọi cảnh sát đến. Cảnh sát sẽ đem mấy con mèo đó đi. Bỏ đói thú vật cũng là hành hạ.

  63. concun permalink

    Quý vị hãy vào Viet land sẽ thấy tư cách của Bắc kỳ Cato : ăn nói tục tĩu, phỉ báng Phật giáo, chụp mũ người đối thoại ôn hoà là CS. Diễn đán này quy tụ giáo dân cuồng tín: Ải Nam quan, Diệt VC, Viet xưa, tri liễu, vanthanhtrinh,…

  64. concun permalink

    Thí dụ trong làng đó có ông A sở hữu nhiều con heo, nhiều cây mai quý và hàng xóm là ông B thấy thèm ăn thịt heo và muốn chưng mai. Một thằng ăn trộm trong làng đó biết vậy, ăn cắp heo và mai của ông A đem về bán cho ông B.
    Ông A biết nhưng không làm gì được. Quý vị nghĩ sao?. Tất nhiên là ông A sẽ nghĩ ông B khuyến khích tên ăn trộm , thông đồng với ăn trộm, vui vẻ trên sự đau khổ của mình.

  65. concun permalink

    Chùa chiền, tăng ni, Phật tử phải chấn chỉnh đạo đức của nhân dân, giáo dục, tuyên truyền cấm nhân dân ăn thịt chó, quyên tiền chuộc chó buôn lậu trả về nguyên quán Thái lan, thực hiện lời dạy phóng sinh của Phật và cũng là lời dạy không trộm cắp của Phật.
    Nếu chúng ta biết dân buôn lậu ăn cắp chó mà chúng ta mua, điều này đồng nghĩa chúng ta thông đồng với việc ăn cắp. Dân Thái lan biết chúng ta bỏ tiền ra ăn cắp vật sở hữu của họ, họ sẽ đánh giá thấp chúng ta, chưa kể con chó là con vật cưng yêu quý của họ.

  66. concun permalink

    Bắc kỳ Cato hay than trách kể khổ vua quan cấm đạo, còn mấy tên cuồng tín như NDD hay tên Nhân dân Tự vệ trên diễn đàn Viet land đòi trả thù bách đạo…
    Bách đạo, cấm đạo vì vua quan, nho sĩ nhìn vô cái đạo này là biết tà đạo.
    Cũng nhờ cấm đạo nên miền Nam mới không giết, ăn thịt chó. Cho nên đạo Phật là ân nhân của loài chó .

  67. concun permalink

    Thiên Chúa có phải là kẻ thích giết hại con cái không?

    Xuất Hành 12: 29: Vào nửa đêm Thiên Chúa giết chết mọi đứa con đầu lòng trên đất Ai Cập, từ đứa con đầu lòng của Vua Ai Cập (Pharaoh) cho đến các con đầu lòng của các tù nhân trong ngục tối, và luôn cả những đứa con đầu lòng của súc vật.

    Lê-vi 26: 22: Ta sẽ sai các ác thú đến giữa các ngươi để xé nát con cái các ngươi và giết hết súc vật của các ngươi.

    Lê-vi 26: 29: Các ngươi sẽ ăn thịt con trai con gái các ngươi [You shall eat the flesh of your sons, and you shall eat the flesh of your daughters]

    2 Samuel 12: 15-18: Và Thiên Chúa làm cho đứa con của David, sinh ra bởi vợ của Uriah, đau nặng…Và bảy ngày sau đứa bé chết.

    Ezekiel 5: 10: Vậy những người cha sẽ ăn thịt các con trai của mình, các con trai sẽ ăn thịt những người cha của mình [Therefore fathers shal eat their sons, and sons shall eat their fathers]

    Jeremiah 19: 9: Ta sẽ làm cho chúng nó ăn thịt các con trai, con gái của mình …

    11) Thiên Chúa có chủ trương diệt chủng không?

    Phục truyền 13: 15: Các ngươi phải dùng kiếm tận diệt tất cả dân chúng trong thành (vì họ đi thờ thần khác), phá hủy hoàn toàn tất cả những gì trong đó, và cả mọi súc vật trong đó.

    Phục Truyền 20: 16-17: Nhưng đối với những thị trấn của các dân tộc mà Thiên Chúa cho các ngươi thừa hưởng, các ngươi không được để cho một sinh vật có hơi thở nào được sống sót. Mà các ngươi phải tận diệt các dân Hittite, Amorite, Canaanite, Perizzite, Hivite và Jebusite như Thiên Chúa đã ban lệnh cho các ngươi.

    Joshua 10: 40: Vậy Joshua chinh phục mọi miền đất, miền núi, đồi giốc cũng như miền đồng bằng phía Nam, tiêu diệt các Vua ở các nơi này, tận diệt mọi sinh vật có hơi thở, theo đúng lệnh của Thiên Chúa của Do Thái.

    1 Samuel 15: 2-3: Ta sẽ trừng phạt dân Amalek và phá hủy tất cả những gì chúng có và giết hết không chừa ai: đàn ông, đàn bà, con trẻ, con nít mới sinh, bò, cừu, lạc đà và lừa của chúng.

    12) Thiên Chúa có dạy cha mẹ giết con không?

    Lê-vi 20: 9: Đứa con nào rủa cha hay mẹ mình thì phải mang ra giết đi.

    Lê-Vi 21: 9: Nếu con gái của thầy tế lễ làm nghề mãi dâm, xúc phạm cha mình, người con gái ấy phải mang đi thiêu sống.

    Phục truyền 13: 6-10: Nếu anh em ngươi, con trai hay con gái ngươi, vợ ngươi hay bạn ngươi, khuyến dụ ngươi đi thờ các thần khác, thần của các nước lân bang hay xa xôi.., thì ngươi phải giết nó đi, trước hết là đích thân tay ngươi phải ném đá để cho nó chết, rồi sau mới đến tay của dân chúng. [Nếu luật này cũng được áp dụng đối với các tôn giáo khác thì mọi nhà truyền giáo Ki Tô, từ Alexandre de Rhodes cho tới Puginier v..v…, và các nhà truyền đạo Tin Lành trên thế giới đều phải bị ném đá cho chết đi. Nhưng mừng thay, chẳng có đạo nào ở Á Đông lại ác ôn như đạo Thiên Chúa]

    Psalm 137: 9: Phúc cho kẻ nào đem những con trẻ của ngươi đập vào đá cho chết [Happy shall he who takes and dashes your little ones against the rock]

  68. concun permalink

    Thiên Chúa có ghét phái nữ không?

    Sáng Thế 19: 8: “Thánh” Lot (người được Thiên Chúa chọn là người công chính duy nhất trong thành Sô-đôm) phán: “Nay, tôi có hai đứa con gái còn trinh trắng. Tôi sẽ dẫn chúng ra cho anh em muốn làm gì thì làm….” [Sau đó, chuyện “Thánh” Lot còn tệ mạt hơn: ngủ với cả hai con gái và sinh con (Sáng Thế 19: 33-38)]

    Lê-Vi 21: 9: Nếu con gái của thầy tế lễ làm nghề mãi dâm, xúc phạm cha mình, người con gái ấy phải bị thiêu sống.

    Dân Số 31: 15-18: Moses hỏi thuộc hạ: “Tại sao các ngươi để cho tất cả phụ nữ Ma-đi-an còn sống?..Ta phải giết hết những đứa con trai và tất cả đàn bà đã ngủ với đàn ông, nhưng để cho các trinh nữ sống..” Tại sao vậy? Vì Thiên Chúa không thích đàn bà, chỉ thích trinh nữ. Trong các chiến lợi phẩm, Moses theo lệnh Thiên Chúa, đã dâng cho Thiên Chúa 2 phần ngàn của tất cả các chiến lợi phẩm trong đó có 32 gái trinh (Dân Số: 31: 40), 2 phần ngàn của số 16000 trinh nữ. Làm Thiên Chúa của đạo Thiên Chúa kể ra cũng sướng thật, nhưng cũng chưa sướng bằng những người Hồi Giáo tử vì đạo, vì trên thiên đường (mù) lúc nào cũng có 72 trinh nữ chờ đón họ.

    Phục Truyền 22: 23-24: Luật của Thiên Chúa: Nếu một người đàn ông thông dâm với một gái trinh đã đính hôn làm vợ người khác, phải mang cả hai ra cổng thành và ném đá cho chết. [Tân Ước viết: Trinh nữ Mary đã đính hôn làm vợ của Joseph, nhưng con Ma Thánh, cũng là Thiên Chúa, cũng là Giê-su, đã thông dâm với Maria để sinh ra Giê-su, vậy mà chẳng có ai mang họ ra cổng thành để ném đá cho chết. Làm Chúa của Thiên Chúa Giáo kể cũng sướng thật, tha hồ làm bậy mà chẳng sao cả. Chẳng vậy mà khi Vatican phong thánh cho một tên Linh mục dâm tặc ở Trung Quốc thì Trung Quốc đã lên tiếng phản đối và Vatican đã phải xin lỗi. Lý do: tên Linh mục này tự cho là Chúa Thứ Hai, bắt chước Thiên Chúa, và ra lệnh cho con chiên Tàu, người con gái nào trước khi lên xe hoa về nhà chồng cũng phải để cho ông ta hưởng trước, vì đó là ân sủng của Chúa. Chuyện này không chỉ xảy ra ở Trung Quốc, mà còn xảy ra nhiều ở Âu Châu. Không hiểu Việt Nam ra sao, nhưng hình như trong một cuốn hồi ký của ai đó có kể là đi ở các miền xa xôi trong nước thấy nhiều con lai trong các xứ đạo. Người dân ở đó giải thích, khi có mang luôn luôn tưởng nhớ và cầu nguyện Đức Mẹ nên sinh ra con đẹp đẽ như Đức Mẹ.]

    Độc giả nào muốn biết về Thiên Chúa đối với phái nữ như thế nào xin hãy đọc thêm Phục Truyền 20: 13-14; Phục truyền 21: 11-13, 15; Phục truyền 22: 13, 14-21; Phục truyền 25: 11-12; Thẩm Phán 5: 30; 2 Samuel 12: 11; Ezekiel 26: 6.

    8) Thiên Chúa có kỵ đồng giống luyến ái không?

    Lê-vi 18: 22: Không được đồng giống luyến ái, đó là một tội đáng tởm.

    Lê-vi 20: 13: Hai người đồng giống luyến ái phải bị xử chết vì họ phạm tội đáng tởm [Như vậy thì gần nửa dân San Francisco ngày nay đều phải lên ghế điện, nếu Ki Tô Giáo ở Mỹ có quyền như Công Giáo trong thời trung Cổ.]

    9) Thiên Chúa có kỳ thị chủng tộc không?

    Phục truyền 7: 6: Thiên Chúa của các ngươi đã chọn các ngươi làm dân tộc của Người, một kho báu đặc biệt đứng trên mọi dân tộc khác trên mặt đất.

    Phục truyền 23: 2-3: Một người con hoang (như Giê-su về sau) không được vào cộng đồng dân Chúa. Con cháu người này đến 10 đời sau cũng không được vào cộng đồng dân Chúa. Người Am-môn, người Mô-áp không được vào cộng đồng dân Chúa. Con cháu chúng đến 10 đời sau cũng không bao giờ được vào cộng đồng dân Chúa (even to the tenth generation none of his descendants shall enter the congregation of the Lord forever). [Xin nhớ, dân Chúa là dân Do Thái chứ chẳng phải là dân tộc nào khác, kể cả Việt Nam]

  69. concun permalink

    Thiên Chúa có ưa trả thù không?

    Phục Truyền 32: 35: Sự báo thù sẽ thuộc về ta, phần đối trả sẽ qui về ta, vì ngày khốn khổ của chúng đã gần kề.

    Phục Truyền 32:39-43: Ta giết cho chết…Ta làm cho bị thương…Ta sẽ báo thù kẻ cừu địch ta… Ta sẽ làm cho các mũi tên của ta đẫm máu.. những lưỡi gươm của ta đính đầy thịt… Vì Đức Chúa Trời sẽ trả thù máu của tôi tớ Ngài, trả thù kẻ cừu địch Ngài.

    Jeremiah 11:22 : Này, Ta sẽ phạt chúng nó; những người trai tráng sẽ chết bởi gươm đao, con trai con gái của chúng sẽ chết bởi đói kém.

    Jeremiah 46:10: Ngày đó thuộc về Chúa.., ấy là ngày báo thù, Ngài sẽ báo thù kẻ thù nghịch mình.

    Micah 5:14: Ta sẽ báo thù những nước không nghe theo ta, trong cơn thịnh nộ và căm tức của ta.

    5) Thiên Chúa có khát máu không?

    Leviticus 4:17: Và Thầy tế lễ sẽ nhúng ngón tay vào máu [của con bò bị giết để tế Thiên Chúa] và rảy bảy lần trước Thiên chúa.

    Leviticus 26:28-29: Ta sẽ nổi giận, phạt tội các ngươi nặng gấp 7 lần. Và các người sẽ ăn thịt con trai và con gái các ngươi. [And ye shall eat the flesh of your sons, and the flesh of your daughters shall ye eat.]

    Phục Truyền 32:39-42: Ta giết cho chết…Ta làm cho bị thương…Ta sẽ báo thù kẻ cừu địch ta… Ta sẽ làm cho các mũi tên của ta đẫm máu.. những lưỡi gươm của ta đính đầy thịt…

    Thi Thiên 68: 21-23: Thiên Chúa sẽ dẫm nát đầu kẻ thù của ông ta.. Và chân các người sẽ ngập máu kẻ thù.

    Isaiah 34: 6-8: Lưỡi gươm của Chúa dính đầy máu… Đất đai của chúng sẽ ngập máu… Vì đó là ngày trả thù của Thiên Chúa.

    Độc giả nào thích ăn thịt uống máu Chúa thì có thể đọc thêm những hành động khát máu của Thiên Chúa trong cuốn Thánh Kinh như sau: Isaiah 49: 26; Isaiah 63: 2-6; Jemeriah 19: 9; Jeremiah 46: 10; Jeremiah 48: 10; Ezekiel 39: 17, 18, 19; Zephaniah 1: 17. Cũng xin đọc ở đây: http://skepticsannotatedbible.com/cruelty/ot_list.html danh sách 769 hành động độc ác trong Cựu Ước. [See here for a list of 769 Old Testament cruelties.]

    6) Thiên Chúa có phải là một kẻ khát máu diệt dân tộc khác không?

    Deutoronomy 13:15: Các ngươi phải dùng kiếm tận diệt tất cả dân chúng trong thành (vì họ đi thờ thần khác), phá hủy hoàn toàn tất cả những gì trong đó, và cả mọi súc vật trong đó.

    1 Samuel 15: 2-3: Ta sẽ trừng phạt dân Amalek và phá hủy tất cả những gì chúng có và giết hết không chừa ai: đàn ông, đàn bà, con trẻ, con nít mới sinh, bò, cừu, lạc đà và lừa của chúng.

  70. concun permalink

    Thiên Chúa có bất công, tự cho là có quyền năng làm ác và bất nhân không?

    Xuất Hành 4:23: Nếu ngươi (Vua Ai Cập) không để cho người Do Thái ra đi, Ta sẽ giết con của ngươi, và ngay cả đứa con đầu lòng của ngươi.

    Xuất Hành 13:15: Thiên Chúa giết mọi đứa con đầu lòng trên đất Ai cập, con đầu lòng của người cũng như con đầu lòng của các súc vật.

    Xuất Hành 20: 5 và Phục Truyền 5:9: Ta, Thiên Chúa của các ngươi, là một Thiên Chúa ghen tuông đố kỵ, sẽ trừng phạt tới ba bốn thế hệ sau của những kẻ nào ghét Ta (nghĩa là những người đi thờ phụng Thần khác hay hình ảnh khác)

    Isaiah 14: 21: Hãy sẵn sàng để giết những đứa con vì tội của cha chúng.

    Xin đọc trong http://skepticsannotatedbible.com/inj/ot_list.html, có liệt kê 878 vụ bất công của Thiên Chúa trong Cựu ước.

    Joshua 24:19: Ông ta là một Thiên Chúa ghen tuông, đố kỵ; ông ta không tha thứ cho những sự phạm pháp [nghĩa là thờ các thần khác] cũng như những tội lỗi của ngươi.

    Jeremiah 11:14: Vậy ngươi (Jeremiah) chớ cầu nguyện thay cho dân này (dân Giu-đa); chớ vì chúng nó mà lên tiếng cầu nguyện; vì khi chúng nó cầu nguyện Ta khi bị hoạn nạn Ta sẽ không nghe chúng. [Điều này: “Ta sẽ không nghe chúng” thật đã rõ ràng ở Tòa Khâm Sứ và Thái Hà, vì Thiên Chúa không hề biết đến dân Việt, và trong chương trình “cứu rỗi” của Giê-su không hề có người Việt như Tân Ước đã viết rõ]

    Jeremiah 14:12: Khi chúng nó (dân Giu-đa) nhịn ăn, và khi chúng nó dâng cúng đồ nướng và bánh trái, Ta sẽ không nhận: nhưng ta sẽ diệt chúng nó bằng gươm giáo, nạn đói và ôn dịch.

    Ezekiel 8:18: Vậy Ta sẽ làm theo cơn giận của Ta: mắt ta sẽ không đoái thương chúng nó, Ta cũng chẳng có lòng thương xót; và dù chúng kêu van vào tai Ta, Ta cũng không thèm nghe chúng.

    Chúng ta hãy đọc vài câu trích từ Phục Truyền 28:15-68:

    15-24: Nếu ngươi không nghe theo lời phán của Thiên Chúa ngươi, không làm theo các lời răn và luật pháp của Ngài thì mọi sự rủa sả sẽ giáng xuống trên mình ngươi.

    Ngươi sẽ bị rủa sả ở trong thành và ngoại đồng ruộng, cái giỏ và thùng nhồi bột của ngươi cũng bị rủa sả…bông trái của đất ruộng ngươi, luôn với những con bò con, chiên con của ngươi đều bị rủa sả.

    Ngươi sẽ bị rủa sả khi đi ra và lúc đi vào.. Thiên Chúa sẽ giáng xuống ngươi sự rủa sả, kinh khủng, và hăm dọa cho đến khi ngươi bị hủy diệt.. Ngài sẽ khiến cho ôn dịch theo đuổi ngươi cho đến khi ngươi bị hủy diệt khỏi trái đất… Ngài sẽ giáng bịnh lao, bịnh nóng lạnh, bịnh phù, hạn hán, binh đao và sâu bọ trong đồng lúa cho đến khi ngươi chết. Thay vì mưa, Ngài sẽ khiến cát bụi từ trên trời sa xuống trên đất ngươi cho đến khi ngươi bị hủy diệt.

    27: Thiên Chúa sẽ giáng cho ngươi ghẻ chốc của xứ Ai Cập, trĩ lậu, ghẻ ngứa và lác, mà ngươi không thể chữa lành..

    53: Ngươi sẽ ăn hoa quả của thân thể mình, tức là ăn thịt con trai và con gái mình, mà Thiên Chúa ban cho ngươi.

    Trong Phục Truyền 28:15-68: còn có nhiều đoạn khác Thiên Chúa phán rất ác ôn và ghê tởm mà tôi nghĩ không có một ác quỷ nào có thể độc ác và tàn bạo như vậy.

  71. concun permalink

    Thiên Chúa có phải là một kẻ nhỏ nhen lặt vặt (petty) không?

    Xuất Hành 28:33,35: Dùng chỉ xanh, tím, đỏ thắt hình trái lựu xung quanh gấu áo, xen kẽ với những chuông vàng. Aaron sẽ mặc áo đó và chuông vàng sẽ khua mỗi khi Aaron vào nơi thánh trước Chúa và khi đi ra, như vậy hắn sẽ không bị chết [Không làm theo lời này thì sẽ bị Chúa vật chết]

    Lê-Vi 19: 19: Phải giữ luật của Ta: không được cho các thú vật khác giống giao hợp cùng nhau, không được gieo hai thứ hạt giống trong cùng một đám ruộng, không được mặc áo may bằng hai thứ vải.

    Phục Truyền 17:1: Không được dâng tế Thiên Chúa của các ngươi các vật hi sinh như bò, cừu nào có tật, vì đó là điều ghê tởm đối với Thiên Chúa.

    Phục Truyền 23:1: Một người bị thương dập vào đá, hoặc dương vật bị cắt, sẽ không được vào cộng đồng của Thiên Chúa.

    Phục truyền 23:2: Một đứa con hoang không được vào cộng đồng của Thiên Chúa, cả 10 thế hệ sau của hắn cũng vậy.

    Phục Truyền 23: 13-14: Mỗi người phải có một cái xuổng nhỏ trong hành trang của mình để khi đi cầu xong phải đào lỗ lấp lại. Trại phải giữ sạch sẽ, vì Chúa đi đi giữa trại quân để cứu giúp các ngươi đánh kẻ thù, không muốn nhìn thấy những thứ dơ bẩn giữa các ngươi mà bỏ đi.

    Thiên Chúa không có cái gì hay hơn để dạy con người mà dạy những chuyện nhỏ nhen lặt vặt như trên. Nhưng theo đúng luật trong Phục truyền 23:2 thì rất có thể chính Giê-su, một đứa con hoang, cũng không được vào cộng đồng của Thiên Chúa. Thật vậy, Giám mục John Shelby Spong viết trong cuốn Sinh Ra Từ Một Người Đàn Bà: Một Giám Mục Nghĩ Lại Chuyện Sinh Ra Đời Của Giê-su (Born of a woman: A Bishop Rethinks The Birth of Jesus, Harper, SanFrancisco, 1992), trang 41:

    Giê-su đã được “ sinh ra từ một người đàn bà”. Nguồn gốc sinh ra đời của Giê-su cũng gây nhiều tai tiếng như cách ông ta chết. Ông ta (Giê-su) không là ai cả, một đứa trẻ ở Nazareth, chẳng có gì tốt đẹp có thể rút tỉa ra từ sự sinh ra đời này. Chẳng có ai biết cha ông ta là ai. Rất có thể ông ta là một đứa con hoang. Rải rác trong miền đất truyền thống Ki Tô lúc đầu (4 Phúc Âm), có những chi tiết chứng tỏ như vậy, giống như những thỏi mìn chưa kiếm ra và chưa nổ .

    (But he was “born of a woman”… His origins were as scandalous as his means of death. He (Jesus) was a nobody, a child of Nazareth out of which nothing good was thought to come. No one seemed to know his father. He might well have been illegitimate. Hints of that are scattered like undetected and unexploded nuggets of dynamite in the landscape of the the early Christian tradition.)

    Thật vậy, trong thời đại ngày nay, nếu không còn mấy người tin vào chuyện hoang đường là Thánh Linh, nguyên thủy chỉ là một con Ma Thánh (Holy Ghost), một thực thể phi vật chất, có thể làm cho mẹ của Giê-su là Mary mang thai, thì tất nhiên Giê-su phải là đứa con hoang. Và không phải chỉ có Giám mục John Shelby Spong mới nhận định như trên, mà nhiều học giả khác và cả những nhà thần học trong Ki Tô giáo, thí dụ như Giáo sư thần học Công giáo Uta Ranke-Heinemann hay Mục sư Ernie Bringas, một nhà thần học Tin Lành, v..v.. cũng đã loại bỏ huyền thoại về Giê-su sinh ra từ một nữ trinh do ân sủng của Thánh Linh (The fairy tale of Virgin birth).

  72. concun permalink

    1) Thiên Chúa có phải là một kẻ ghen tuông, đố kỵ hay không?

    Xuất Ê-Díp-Tô Ký 20: 5 và Phục Truyền 5:9: Ta, Thiên Chúa của các ngươi, là một Thiên Chúa ghen tuông đố kỵ, sẽ trừng phạt tới ba bốn thế hệ sau của những kẻ nào ghét Ta (nghĩa là những người đi thờ phụng Thần khác hay hình ảnh khác)

    Xuất Ê-Díp-Tô Ký 34: 14: … các ngươi không được thờ phụng Thần nào khác, vì Thiên Chúa, tên ông ta là “Ghen Tuông, Đố Kỵ”, là một Thiên Chúa Ghen Tuông, Đố Kỵ [for the Lord, whose name is Jealous, is a jealous God]

    Phục Truyền 6: 15: Vì Thiên Chúa của ngươi là một Thiên Chúa ghen tuông đố kỵ trong đám các ngươi [For the Lord your God is a jealous God among you]

    Phục Truyền 29: 20: Cơn thịnh nộ của Thiên Chúa và lòng ghen tuông đố kỵ của Người sẽ đốt cháy người đó, và mọi sự nguyền rủa trong cuốn sách này sẽ đổ lên đầu hắn [trong cuốn “Kinh Thánh”, Cựu Ước cũng như Tân ước, có rất nhiều lời nguyền rủa. TCN]

    Phục Truyền 32: 16: Chúng khiêu khích Thiên Chúa ghen tuông, đố kỵ với các Thần khác [They provoked Him to jealousy with other gods]

    Đó chỉ là vài câu điển hình mô tả tính ghen tuông, đố kỵ của Thiên Chúa. Trong “Kinh Thánh” còn nhiều câu nói về tính ghen tuông đố kỵ của Thiên Chúa. Vì quá nhiều, tôi không thể kể hết ra đây được. Nhưng độc giả, nếu có cuốn “Kinh Thánh” trong nhà, thì có thể đọc những đoạn sau đây trong “Kinh Thánh” viết về tính ghen tuông đố kỵ của Thiên Chúa: Deuteronomy 32:21; Joshua 24:19; 1 Kings 14:22; Ezekiel 8:3, 5; Ezekiel 16:38; Ezekiel 16:42; Ezekiel 23:25; Ezekiel 36:5; Ezekiel 38:19; Nahum 1:2; Zechariah 1:14; Zechariah 8:2; Zephaniah 3:8

  73. concun permalink

    Hai đặc tính tiêu biểu của Bắc kỳ Cato là phản quốc và ăn thịt chó. Thật ra có nhiều đặc tính khác nhưng tôi chỉ nói hai điều căn bản này.
    VN du nhập đạo Phật, đạo Lão, Khổng, Nho… từ ngàn xưa nhưng tại sao người VN đạo Phật hay không đạo không có phản quốc và ăn thịt chó.
    Trong khi đạo Chúa lại đào tạo ra Viet gian phản quốc và ăn thịt chó.
    Đạo này đã giảng dạy gì ?.
    Vậy tín hữu chúa chét đừng có lên giọng đạo đức nghen, mà sao họ rửa tội hoài mà tội ngày càng chồng chất, rửa tội, xưng tội, cầu nguyện, đọc kinh hàng giờ mà sao vẫn không hiệu quả.

  74. concun permalink

    Tóm lại hàng giáo phẩm công giáo VN tội ác cao như núi đối với loài chó, do đó những mỹ từ thánh thiện, phúc âm, cứu rỗi của đức cha, bà sơ… loài chó quá rành, noel, phục sinh mấy ngày đó loài chó không thấy ơn trên mà chỉ thấy hung thần sát thủ áo chùng đen chờ ăn thịt mình.

  75. concun permalink

    Đạo chúa có dạy ăn thịt chó không, nếu không thì tại sao Tà Thánh Vatican không lên tiếng can thiệp việc Bắc kỳ Cato ăn thịt chó. Đâu phải là một ngày một bữa, chuyện này xảy ra từ lâu lắm rồi 1954 lận.
    Chúng ta đã thấy sự khác biệt giữa đạo Phật và đạo chúa, tín đồ đạo phật không ăn thịt chó có chăng là mấy tên sư giả.

  76. concun permalink

    Tự do tôn giáo của chúng là tự do ăn thịt chó trong khi chúng dè bỉu đạo Phật thì đạo Phật cấm sát sinh, không ăn thịt chó.
    Chúng hả họng ra là sạo sạo: công bằng, bác ái, thánh thiện mà sao chúng không cho con chó một chút công bằng nào, lễ chúa chúng cũng không tha chó mà còn ăn nhậu rầm rộ hơn.
    Sau khi giết, ăn chó đã đời thì chúng lên giọng rao giảng tin mừng!!!!!!.
    Tin mừng của chúng là tin khóc của mấy con chó. Làm sao tin nổi linh mục, giám mục, tín hữu, đức cha là thánh thiện khi chúng cũng ăn nhậu thịt chó với đồng đạo của chúng.

  77. concun permalink

    Bắc kỳ Kito ăn thịt chó ngay tại nước mỹ vậy mà lên giọng dạy đời: tự do dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo.
    Bản thân ăn thịt chó vậy làm sao mấy ông chấp nhận sự phản đối của những tổ chức bảo vệ động vật.
    Làm sao mấy ông ra luật bảo vệ động vật.
    Tốt hơn hết mấy ông nên dạy bảo nhau tín đồ Bắc kỳ Cato roma đừng ăn thịt chó nữa.

  78. concun permalink

    Vì sao cũng là Kito mà Bắc kỳ Kito ăn thịt chó còn Pháp Kito thì không?.

  79. concun permalink

    Thêm một ví dụ nữa đó là vào dịp Noel, chúng ta thường nghe các gia đình có đạo hay làm thịt chó để ăn mừng nhưng ở phương Tây thì lại ăn thịt gà Tây

    Tẩy chay những ai ăn thịt chó, nguỵ biện lý lẽ Phật không cấm ăn thịt chó của những tên sư giả ác ôn mạo danh Phật nói bừa.
    Tẩy chay báo chí bênh vực ăn thịt chó.

  80. concun permalink

    Từ năm 1950, Hong Kong ra pháp lệnh cấm giết chó mèo làm thực phẩm cho con người hoặc bất kỳ động vật nào. Tháng 12/2006, bốn người đàn ông địa phương phải ngồi tù 30 ngày vì giết thịt 2 con chó. Năm 1998, một người Hong Kong bị phạt tù 1 tháng và phạt 2.000 đô-la Hong Kong vì tội đuổi bắt chó trên phố để giết thịt.

    Năm 2001, chính quyền Đài Loan ra lệnh cấm bán thịt chó vì áp lực từ các nhóm hoạt động vì quyền động vật và cũng muốn cải thiện hình ảnh trong mắt cộng đồng quốc tế. Năm 2007, chính quyền thông qua luật cho phép phạt người bán thịt chó hơn 7.700 USD.

  81. concun permalink

    Để cho các bạn có được cái nhìn toàn cảnh ‘làn gió văn minh’ đang tràn qua phương Đông dữ dội như thế nào, mình xin đưa ra một vài ví dụ:

    Trước thế vận hội Olympic 2008, quan chức Bắc Kinh yêu cầu loại thịt chó ra khỏi thực đơn của 112 nhà hàng được lựa chọn phục vụ thế vận hội nhằm tránh làm người nước ngoài tức giận khi đến đây.

    Từ tháng 1/2007, ít nhất 10 nhóm hoạt động ở Trung Quốc cùng ký vào cam kết không ăn thịt chó, mèo. Cam kết này nhận được 42.000 chữ ký từ người dân, và được lan truyền khắp đất nước.

    Ngày 26/10/2010, trước sức ép của những hiệp hội bảo vệ vật nuôi, Trung Quốc đã đưa ra dự thảo luật cấm ăn thịt chó mèo, theo đó những ai bị phát hiện ăn thịt chó mèo có thể bị phạt tù đến 15 ngày

  82. concun permalink

    Ở đây, xuất hiện cả những ý kiến của một số du khách Pháp nói rằng sẽ không trở lại Việt Nam để chứng kiến cái cảnh ăn thịt chó nữa.

  83. concun permalink

    So với Viet gian Cato Nam kỳ, Viet gian cato Bắc kỳ đông hơn ( số người lên đến 500,000), thâm niên hơn ( đến nay 2013 vẫn còn thuần phục Vatican), quốc tế hơn ( kéo từ làng mạc ngoài Bắc vào Nam, có mặt tại Vatican đến Little Saigon), vũ trang ( đạo quân đàn áp), sốt sắng gặp người ngoại quốc hơn.

    Nguyên nhân vì sao?.

    Tại ăn thịt chó.

  84. concun permalink

    Như vậy người VN đạo Phật và người Việt cato roma giáo ai hiền hơn?.

  85. concun permalink

    Tại sao Bắc kỳ Cato tự hào văn minh Thiên chúa giáo mà lại mê ăn thịt chó, mở quán rầm rộ tại ngã ba ông Tạ? Thánh thiện quá hén.

  86. concun permalink

    Đối với hầu hết các dân tộc nông canh, thịt chó thật sự là một món ăn khoái khẩu, từ Hàn Quốc đến Việt Nam, từ Hà Nội, Nam Định cho đến Sài Gòn, không khó khăn dể tìm thấy một quán thịt chó

    Giải thích cho dân VN rõ:
    Ăn thịt chó xảy ra ở nước Hàn mắt hí, giải phẫu thẩm mỹ vì ác quá và ở miền Bắc, dân Việt gian Cato .
    Sau 1954, đám Cato Bắc kỳ kéo vào Nam đem theo cái thú ăn thịt chó.
    Dân miền Nam không ăn thịt chó, có chăng là tại đám Cato bày ra.
    1. Dân miền Nam đạo Phật.
    2. Miền Nam là thuộc đia của Pháp mà Tây, mỹ thì không có ăn thịt chó.
    Tây, Mỹ ác thì chỉ có ác với con người chư không có ác với chó. Vì sao?. con chó rất tốt với con người mà con người không thể tốt và yêu con người không điều kiện.

  87. concun permalink

    Đức Phật không bắt buộc người Phật tử phải tuân theo triệt để. Tuy nhiên 5 giới là 5 thành trì ngăn chặn cho chúng ta đừng đi vào đường ác, là 5 hàng rào cản cho chúng ta khỏi rơi vào vực sâu tội lỗi.

    1. Không sát sinh

    Không sát sinh bao gồm không giết hại từ con người đến súc vật lớn, nhỏ. Đồng thời, không làm tổn thương sự sống của bất luận sinh vật nào và không xúi giục người khác làm những điều ấy.

    Người Phật tử cũng không bảo người khác, bày mưu kế cho người khác làm các việc hành hạ, giết hại chúng sinh các loài. Khi thấy người khác đánh đập, sát hại con người và súc vật thì sinh lòng thương xót và khuyên can ngăn cản.

    Sự giữ giới không sát sinh nhằm mục đích bảo vệ công bằng. Bởi mọi chúng sinh đều muốn sống sợ chết và có Phật tính như nhau. Ngoài ra, giữ giới sát sinh là nuôi dưỡng lòng từ bi, người có lòng nhân không nỡ sát hại người hay vật.

    Theo giáo lý nhà Phật thì người giữ giới sát sinh luôn luôn có tâm an ổn, nét mặt hiền hòa. Nếu mọi người trên thế giới đều giữ giới không sát sinh thì thế giới không còn chiến tranh giết hại nữa.

  88. concun permalink

    Lời tạm biệt Xích lô Việt.
    Sau khi đọc tin VN tiêu thụ chó, tôi buồn và thất vọng quá, không còn muốn bình loạn nữa.
    Bao giờ VN ngăn cấm việc này, tôi mới trở lại.
    Xin chào tạm biệt.

  89. concun permalink

    Lúc đó tại trụ sở Việt Nam Công giáo cứu quốc mà Nguyễn công Chính chủ tịch, trụ sở ở số 9 đường Lamblot tức Lý quốc Sư tại Hà Nội bỗng xuất hiện hai nhân vật người Tàu là cán bộ công giáo vận Trung hoa đến từ Diên An (chiến khu của Mao trạch Ðông) được mặt trận Việt Minh cử tới làm cố vấn cho Nguyễn công Chính để tranh đấu cho giáo hội công giáo Việt Nam được tự trị, tách rời khỏi Toà Thánh Vatican Roma. Cha Hoàng Quỳnh và toàn thể Ban chấp hành Việt Nam Công giáo cứu quốc (ngoại trừ Nguyễn công Chính) khẳng định chống lại và vận động xin Ðức Khâm Sứ Drapier ở Huế tâu về Toà Thánh xin cử các Giám Mục Việt Nam lập hàng giáo phẩm toàn quốc Việt Nam. Kết quả đến năm 1960 đã tiến triển chia thành 3 giáo tỉnh là: Giáo tỉnh Hà Nội, Giáo tỉnh Huế và Giáo tỉnh Sàigòn.

    Ðứng trước những âm mưu của Việt Minh cộng sản tiếp tục phá hoại công giáo trong việc gọi là tranh đấu cho Giáo hội Công giáo Việt Nam tự trị. Mặt Trận Việt Nam Công giáo cứu quốc trụ sở tại Phát Diệm vẫn liên lạc với Việt Nam Công giáo cứu quốc trụ sở ở Hà Nội của Ngyễn công Chính, cốt để giữ tính cách hợp thức hoá, để tổ chức các lớp huấn luyện thường xuyên vế quân sự và chính trị như: Trung tâm Phúc Nhạc, Trung tâm Phát Diệm, Trung tâm Mữu Giáp.

  90. concun permalink

    Ðược tin Toà Thánh Roma cử Cha Anselmo Lê hữu Từ làm Giám Mục Phó địa phận Phát Diệm của Ðức Cha Nguyễn bá Tòng, cả địa phận Phát Diệm vui mừng, vì đã biết Cha Từ là một Cha dòng khổ tu Châu Sơn mà có tinh thần ái quốc. Cụ Trương văn Huế đã kể:” Năm 1944 cụ đến Châu Sơn để tĩnh tâm 10 ngày, ngoài giờ đọc kinh xem lễ và hướng dẫn đường tu đức, Cha Lê hữu Từ đã nhiều lần đề cập đến vấn đề đất nước, bởi Cha biết tôi là kỹ sư Công Chánh và có óc chống Pháp, nên Cha đã hỏi tôi

    – Sao các ông cứ chịu luồn cúi người Pháp mãi? Sao không hợp nhau cách mạng giải phóng cho dân tộc? Học thức như các ông có nhiều mà.

    Tôi thưa cùng Cha rằng

    – Khó lắm, vì những người có tinh thần thực sự chống Pháp rất ít, phần đông là hạng xu nịnh cả

    Cha Từ nói

    – Ít sao các ông không làm? Các ông làm đi tôi giúp sức.

  91. concun permalink

    Nước Nhật trước thì điều đình với Pháp mượn Việt Nam làm đường đem quân chiếm Thái Lan, Pháp đã thoả thuận cho Nhật đóng quân tại hải cảng Hải Phòng và các căn cứ quân sự Gia Lâm, Lào Kay, Lạng Sơn để kiểm soát đường tiếp tế của Trung Hoa. Tuy Pháp vẫn được quyền cai trị Việt Nam, Nhật lại ra lệnh cho Pháp thu lúa thóc trong dân chúng và nộp cho quân Nhật tích trữ. Nhưng Nhật đòi một, thì Pháp bắt dân nộp gấp mười lần; mục đích của Pháp là để dân chúng đói, để không ai còn nghĩ đến đánh Pháp dành độc lập. Lại bắt dân phải bỏ số ruộng cấy lúa, để trồng đay, dùng làm bao tải cho Nhật. Thống sứ Paul Chaulet ra lệnh thúc dân nộp đủ lúa thóc ấn định, ai không nộp đủ số thóc, thì nhà cửa bị tịch thu và phá bình địa, nên đã gây nên trận đói Ất Dậu năm 1945 làm hơn 2 triệu dân Việt Nam chết đói. Nhưng rồi trong một đêm 9 tháng 3 năm 1945 quân Nhật đã đánh úp quân Pháp và chiếm Việt Nam cùng toàn cỏi Ðông Dương.

    Ngày 10-3-1945 Nhật tuyên bố chiêu bài: Nhật giúp Việt Nam thực hiện độc lập để cùng nhau xây dựng khối Ðông Nam Á.

  92. concun permalink

    Đọc tin này tôi buồn và bất mãn quá, như thế này thì biết bao giờ VN mới khá nổi, còn trông mong gì ở tình cảm con người. Tại sao không nuôi bò, heo, gà, vịt để ăn?.

  93. concun permalink

    Theo điều tra của các nhà hoạt động bảo vệ động vật, mỗi năm vẫn có khoảng 200,000 con chó bị buôn lậu từ Thái Lan sang Việt Nam. Họ ước lượng mỗi năm người Việt Nam tiêu thụ hơn 1 triệu con chó. Sự tiêu thụ mạnh này đã đưa đến sự bùng nổ nạn buôn lậu chó ở khu vực sông Mekong.Những con chó nuôi trong gia đình thường trở thành mục tiêu của những kẻ săn chó bởi chúng hiền lành và dễ bị bắt. Từ các địa phương trong vùng đông bắc Thái Lan, những con chó bị chuyển đến những trại giữ chó ở các tỉnh Nong Khai, Bueng Kan, Nakhon Phanom và Mukdahan.Tại Thái Lan, việc buôn bán chó là bất hợp pháp và chính quyền đã bắt giữ những người buôn lậu hàng ngàn con chó. Thông thường, những kẻ buôn lậu sẽ bị truy tố theo các điều khoản cấm buôn lậu và vận chuyển động vật bất hợp pháp. Vì Thái Lan chưa có những luật quy định trực tiếp về vấn đề này, kẻ phạm tội thường chỉ bị truy tố với tội danh có hành động tàn ác đối với thú vật.
    Những kẻ buôn lậu thường chỉ bị xử nhẹ một vài tháng tù. Các nhà hoạt động nói rằng hàng ngàn con chó bị tịch thu và chuyển tới trung tâm kiểm dịch, đôi khi những con chó này quay trở lại với cuộc sống lang thang trên các đường phố và một lần nữa bị những kẻ buôn lậu bắt nhốt vào chuồng.
    Tổ Chức Bảo Vệ Chó Sói và Hội Bảo Vệ Thú Vật Thái Lan đang vận động để thay đổi điều này và đang làm việc với Bộ Phát Triển Chăn Nuôi để ra dự thảo luật bảo vệ chó.
    Một viên chức của Tổ Chức Bảo Vệ Chó Sói đặt trụ sở tại Phuket nói rằng vấn đề này sẽ được nêu ra tại Quốc Hội Thái Lan không nhằm phán xét việc ăn thịt chó là đúng hay sai, mà nhằm giải quyết nạn buôn lậu trị giá hàng triệu Mỹ kim mỗi năm của những nhóm tội ác có tổ chức, và cũng nhằm giảm bớt tình trạng những con chó bị hành hạ trên hành trình gian nan rồi đem giết thật khủng khiếp tại các quán nhậu.
    Ông John Dalley thuộc Tổ Chức Bảo Vệ Chó Sói cho biết nhóm của ông đã thâu video hình ảnh những con chó bị đưa từ Thái Lan đến tận nơi chúng bị giết ở Việt Nam. Ông nói, “Những đoạn phim mà chúng tôi quay được thật quá kinh khủng và vô nhân đạo, không thể đem đăng lên báo chí. Đó quả thật là một địa ngục trần gian.”

  94. concun permalink

    Trong thời gian gần đây báo chí tại Thái Lan và đài CNN tại Hoa Kỳ đã loan tin về tình trang buôn lậu chó từ Thái Lan qua biên giới Việt Nam. Một số nguồn tin cho rằng những đường dây buôn chó được kiểm soát bởi mafia. Qua những bản tin này, người ta được biết mỗi năm đã có hàng trăm ngàn con chó bị bắt và trải qua hành trình gian nan từ Thái Lan sang Việt Nam. Một số chó bị chết khát, bị ngạt thở trong những chuồng chật cứng trên đường qua biên giới, hoặc bị đánh đập trước khi kết thúc cuộc đời trên bàn nhậu tại Việt Nam.

    Trên mỗi chiếc xe vận tải xuất phát từ đông bắc Thái Lan, khoảng 1,000 con chó bị nhốt trong những chiếc giỏ sắt, mỗi chiếc giỏ nhồi chừng 20 con, xếp chồng lên nhau. Nhiều con chết vì đói khát, lo sợ và nghẹt thở trên hành trình kéo dài nhiều ngày.
    Một chuyên gia cho biết rằng khi bị xếp chồng lên nhau, những con chó sẽ cảm thấy khó chịu, mọi chuyển động làm cho những con ở sau bị ép lại sẽ khiến chúng cắn lẫn nhau.
    Dựa trên một niềm tin thiếu cơ sở, một số người buôn chó cho rằng nếu lo sợ thì con vật sẽ tiết ra các hormon khiến mùi vị của chúng đậm đà hơn, và vì lý do đó mà chó thường bị nhốt chật chứng trong chuồng trên đường đến Việt Nam. Cuối cùng, những con chó này bị đánh bằng dùi cui cho chết hoặc bị cắt tiết, thậm chí bị lột da sống ngay trước mắt những con chó khác.
    Theo các chuyên gia, chó là loài động vật thông minh, bởi vậy khi thấy một đồng loại bị giết thì những con khác biết chuyện gì sắp xảy ra cho chúng.
    Những kẻ buôn lậu thường đi tìm bắt chó ở xung quanh các gia đình nuôi chó. Họ cũng bắt những con chó đi lạc ở khắp Thái Lan, sau đó bán sang Việt Nam. Chó cũng được bán ở Trung Quốc.
    Trước đây, chó đi lạc ở Thái Lan thường bị bắt để đổi lấy những món vật dụng dùng trong nhà. Với nhu cầu gia tăng như hiện nay vì sự tiêu thụ tại Việt Nam, đặc biệt trong những tháng mùa đông, khi thịt chó trở thành một món ăn ưa thích, mỗi con chó ở Thái Lan có thể được bán với giá $10 Mỹ kim. Khi sang đến Việt Nam và bán tại các nhà hàng, mức giá của nó lên tới $60 Mỹ kim.

  95. concun permalink

    Nhân dân phi Kito khi đọc sách báo, tài liệu Internet đọc sử liệu cần cảnh giác và nen biết rõ website đó của đạo nào. Không đọc sử liệu của giáo dân Cato ( Việt gian).
    Đừng nghe những gì Cato nói, viết mà phải biết những gì họ làm là do Vatican chỉ đạo.

  96. concun permalink

    Có thể nói, chỉ cần dẫn một trong những sử liệu nêu trên, hoặc xem hành động Decoux “Kính cẩn nghiêng mình trước mộ Trần Lục”, hoặc việc chính phủ Thực Dân Pháp tặng Bảo Quốc Huân Chương cho Trần Lục cũng đủ chứng cớ để nói dứt khoát rằng Linh mục Trần Lục là một tên Đại Việt Gian có tội lớn với quốc gia dân tộc. Thế mà những người trí thức và giáo hội Công Giáo Việt Nam gọi Linh mục Trần Lục là một “Anh Tài”, một “Vĩ Nhân” không những của giáo hội mà còn đối với dân tộc chúng ta và cả nhân loại nữa. Một sự lộng ngôn quá đáng, một sự bóp méo lịch sử ngang tàng và một sự nhục mạ giống nòi trắng trợn. Tôi xin nhường sự phê phán nầy cho các độc giả và sử gia.

    BÙI KHA

  97. concun permalink

    Puginier là một Giám mục thực dân thâm độc và gian ác, ông muốn biến Bắc kỳ trở thành một nước Pháp nhỏ và biến dân Việt Nam trở thành người Pháp. Hệ thống quyền lực của đạo Ki Tô La Mã là hệ thống độc tài tổ chức như lối nhà binh: Giáo hoàng ra sắc lệnh chia thế giới và buộc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đi truyền đạo. Các Linh mục Giám mục như Alexandre de Rhodes, Retord, Gauthier, Puginier… được lênh của Giáo hoàng vận động Pháp chiếm Việt Nam. Linh mục Trần Lục là tay dưới của Giám mục Puginier thì phải theo lệnh của ông Giám mục nầy, chứ không thề làm khác được.

    Vì thế qua các sử liệu chính xác như trên, Linh mục Trần Lục có các tội đối với dân tộc Việt như sau:

    1.- Dẫn 5000 (năm ngàn) Giáo dân đi ủng hộ Pháp để đánh phá căn cứ Ba Đình của nhà anh hùng yêu nước Đinh Công Tráng.

    2.- Giúp chuẩn Úy Hautefeuille chiếm thành Ninh Bình.

    3.- Có cái “Đức” giết người như rạ, ỷ quyền thế để hà hiếp dân nên bị Cụ Phan Đình Phùng cho lính nọc xuống đất để đánh.

    4.- Tuyển mộ giáo dân và các tên vô lại đón đường cướp công văn của triều đình để dâng cho Pháp.

    5.- Giúp các Linh mục và Giám mục người Pháp đặc biệt là Giám mục Gauthier và Puginier để biến Bắc ký thành một nước Pháp nhỏ và biến dân Việt Nam trở thành người Pháp.

    6.- Cộng tác với chính quyền thực dân Pháp để cai trị và đô hộ nước ta.

    7.- Xây dựng nhà thờ Phát Diệm thời bấy giờ, ngoài vấn đề tín ngưỡng còn dùng để làm trụ sở cho việc biến dân Việt Nam trở thành người Pháp và là chỗ trú ẩn của các chức sắc Ki Tô làm gián điệp. Do đó, trước cổng nhà thờ Phát Diệm có cái tượng người lính Pháp làm bằng đá đứng gác cổng. [Theo cuốn Hà Nội Today, tác giả Virginia Gift, Ebory Inc. Maryland, USA, 1993] (3).

    Bằng những đóng góp quá lớn lao cho chính phủ thực dân như thế, nên Linh mục Trần Lục được chính phủ Pháp trao tặng hai Bắc Đẩu Bội tinh loại cao cấp và được toàn quyền Decoux đại diện bộ máy thực dân đế quốc Pháp kính cẩn nghiêng mình trước mộ Trần Lục năm 1940.

    Nhằm tăng cường thêm khả năng và sức mạnh cho Linh mục Trần Lục trong chương trình chống lại các phong trào kháng Pháp và đồng hóa dân tộc Việt, chính phủ Pháp ép buộc (và) các ông vua bù nhìn cuối thời nhà Nguyễn trao tặng chức tước và phẩm hàm cho Linh mục Trần Lục.

  98. concun permalink

    Phải chăng đây cũng là một phần trong kế hoạch mà Giám mục Gauthier và Giám mục Puginier chủ trương: “Tôi quả quyết rằng khi nào Bắc Kỳ trở thành Công Giáo, thì nó cũng trở thành một nước Pháp nhỏ ở Viễn Đông” (J’affirme que du moment où le Tonkin deviendra chretien, il deviendra aussi la petite France de l’Extrême Orient).

    Như thế, nhà thờ Phát Diệm, cũng như bao nhiêu nhà thờ xây cất trên đất nước Việt Nam thời bấy giờ, là nơi để biến người Việt Nam thành người Công Giáo nghĩa là trở thành người Pháp. Đó là chưa kể các nhà thờ lúc bấy giờ cũng là căn cứ của những giáo sĩ làm gián điệp cho quân xâm lăng núp bóng tôn giáo. Thật vậy, nhà thờ Kim Long Huế là chỗ ở của Giám mục tình báo Croc, nhà thờ Phát Diệm một thời là chỗ trú ngụ của ông Giám mục gián điệp Gauthier (thầy của Nguyễn Trường Tộ) ở trong đó để đến họp mật với ông trung tá hải quân Senez được phái ra Bắc năm 1872, để nghiên cứu tình hình và lấy tin tức cho một cuộc chiếm cứ Bắc Việt.

    Công trình văn hóa: Qua tác phẩm các bài ca vè của ông, tôi xin nhường sự phê phán cho các nhà thơ. Riêng ông Nguyễn Chấn (Charlie Nguyễn) một trí thức lâu đời theo Ki Tô giáo nhận định như sau:

    “…Huấn Tự Ca của cha Trần Lục vùng quê tôi gọi là “vè cụ Sáu”. Cha Trần Lục là người có công xây dựng một kỳ công kiến trúc là nhà thờ bằng đá ở Phát Diệm, nhưng đồng thời Ngài cũng là người giúp quân Pháp tiêu diệt những người Việt Nam yêu nước. Thi ca của cha Trần Lục rất nổi tiếng trong miền quê tôi nhưng tôi ngạc nhiên không thấy văn học sử nhắc tới. Có lẽ vì nó thuộc loại quá rẻ tiền không đáng bàn”.(Nguyễn Chấn, “Sau Nhiều Năm Khủng Hoảng Đức Tin”, in trong cuốn “Tại Sao Không Theo Đạo Chúa”, tập 2, Houston, Texas Hoa Kỳ, 1998, trang 4).

    10.- Tóm lược

    Trong thời kỳ đất nước ngã nghiêng bị thực dân Pháp đô hộ, toàn dân chống Pháp để giành độc lập cho nước nhà thì Linh mục Trần Lục trong giai đoạn nầy vào độ tuổi trên 30, đã không đóng góp gì cho công cuộc giải phóng quê hương. Trái lại ông đi tu để làm Linh mục. Làm Linh mục trong giai đoạn nầy rất có lợi cho chủ nghĩa thực dân và đế quốc Pháp vì người Pháp mà không có tín đồ Ki Tô thì cũng như con “cua bị bẻ gãy hết càng” như Giám mục Puginier đã nói.

  99. concun permalink

    Theo sử gia Đào Trinh Nhất trong sử liệu 2 dẫn ở trên chúng ta thấy “Trần Lục tục gọi là Cụ Sáu, mấy năm sau nhờ thế lực Pháp mà được triều đình phong làm Tuyên Phủ Sứ có oai quyền lừng lẫy một lúc ở Phát Diệm – Ninh Bình, ai cũng phải sợ”.

    Tài liệu 3 của nhà văn hóa Lãng Nhân Phùng Tất Đắc cho biết Linh Mục Trần Lục bị Cụ Phan đánh vào khoảng năm 1878. Từ đó, chúng ta có thể biết là triều đình vua Tự Đức vì áp lực của Pháp mà phong cho Trần Lục làm “Tuyên Phủ Sứ” vào thời gian sau khi Pháp đánh Đà Nẵng năm 1858, chiếm toàn bộ Nam Kỳ năm 1867, chiếm Bắc Kỳ năm 1874. Do đó, vua Tự Đức, trong cái thế không thể làm khác, không những bị áp lực của Pháp để phải cho Trần Lục chức tước mà còn nhượng bộ nhiều vấn đề trọng đại và tai hại cho quốc gia hơn nữa. Nhưng biết làm cách nào khác hơn trước thế lực của kẻ mạnh.

    Còn thời vua Đồng Khánh, Thành Thái và Khải Định thì chủ quyền quốc gia không còn thể thống gì nữa, chính quyền thực dân Pháp và các cố đạo muốn làm gì muốn chức gì và bao nhiêu chẳng được. Thật vậy, đọc lại đoạn sử liệu của tiến sĩ Nguyễn Xuân Thọ và sử gia Nguyễn Sinh Duy ở phía trước chúng ta thấy Đồng Khánh thân hành đến dinh của tướng De Courcy ở tả ngạn sông Hương, để xin được làm vua. De Courty còn cắt đặt Linh mục Nguyễn Hoằng kèm sát ông vua tay sai nầy để lấy tin tức và qua Nguyễn Hoằng De Courcy ra lệnh cho Đồng Khánh phải làm những gì mà Pháp muốn. Chúng ta cũng nên biết thêm rằng chính Linh mục Nguyễn Hoằng, Nguyễn Điều và Nguyễn Tường Tộ cùng đi với Giám mục tình báo Gauthier (Cha Hậu) đến đón quân Pháp tại cửa Mành Đà nẵng năm 1858, và Nguyễn Hoằng cũng được ông vua bù nhìn Đồng Khánh cho chức Hường Lô Tự Khanh kiêm Tham Biện Viện Cơ Mật thay vì bị xử án vì đến đón giặc tại Đà Nẵng năm 1858.

    Theo tài liệu 4, dẫn ở trên, thì Nguyễn Hữu Độ, Tổng đốc Hà Nội, là nhạc phụ của Đồng Khánh, đã liên kết với các giáo mục bản xứ, đặc biệt là Trần Lục và đề nghị cho ông Linh mục nầy làm Tuyên phủ sứ Thanh Hóa hàm Tham tri Bộ lễ, lo việc đánh dẹp quân Cần Vương.

    Như thế, qua sử liệu cho thấy, cuối đời Tự Đức, Việt Nam đã mất chủ quyền hoàn toàn. Vua Tự Đức bị áp lực Pháp để không những phải phong chức Trấp An cho Linh mục Trần Lục mà còn ký nhiều hòa ước nhượng cho Pháp nhiều quyền lợi vô cùng tai hại cho quốc gia. Cuối triều Nguyễn chỉ có vua Tự Đức (một phần nào), vua Hàm Nghi và vua Duy Tân là được dân tộc Việt Nam mến mộ còn Đồng Khánh thì đi xin tướng De Courcy để làm vua. Thành Thái lúc làm vua mới có 10 tuổi, quyền hành do Nguyễn Hữu Độ nắm giữ. Năm 1914 Thành Thái viết thư tay gởi cho toàn quyền Đông Dương có đoạn “trăm lạy quan lớn xin quan lớn làm cái ơn mọn nầy cho tôi với…” (1). Còn Khải Định bị Cụ Phan Chu Trinh trách cứ: “Tôn bậy quân quyền, lạm hành thưởng phạt…” (2). Hoàn cảnh vua Tự Đức như vậy, tư cách Đồng Khánh, Thành Thái, Khải Định như thế, việc Linh mục Trần Lục có chức tước, phẩm hàm do ba ông vua bù nhìn tay sai cho Pháp trao tặng, có một giá trị nào để khoe chăng?

    Bậc thức giả và những ai cảm thấy nhục quốc thể cũng là cái nhục của chính mình, có nên hãnh diên và khoe khoang một cách đắc ý về các ân huệ do tay sai, bù nhìn và thực dân Pháp trao tặng?

  100. concun permalink

    Thế là đã quá rõ, nếu không có công lao giết quá nhiều người Việt Nam yêu nước chống lại thực dân Pháp, không có công to lớn giúp Pháp chiếm Bắc Kỳ, giúp Pháp bình định các nơi chiếm đóng v.v.. thì vô cớ mà chính phủ thực dân Pháp tặng, không những chỉ một mà, đến hai huy chương thuộc loại cao cấp nhất của Pháp, và toàn quyền Decoux thay mặt thống chế Petain của Pháp và thay mặt nước Pháp kính cẩn nghiêng mình trước ngôi mộ của Linh mục Trần Lục.

    Chúng ta cũng cần biết thêm rằng lối tổ chức của Ki Tô giáo là một lối tổ chức theo đẳng cấp như nhà binh, và như các chính phủ độc tài: người dưới phải phục tòng lệnh của cấp trên. Do đó, kế hoạch của Giám mục Gauthier và Giám mục Puginier địa phận Bắc Kỳ là biến Bắc Kỳ trở thành một nước Pháp nhỏ và biến dân Việt Nam trở thành người Pháp hết như tôi đã dẫn chứng ở đoạn trước. Xem thế thì hai huy chương Bắc Đẩu Bội Tinh và Decoux nghiêng mình trước mộ Trần Lục có lẽ vẫn còn quá ít!

    Đoạn trích dẫn ở trước, đức ông Trần Ngọc Thụ cũng cho biết “với sự chấp thuận của giám mục địa phận” nên Trần Lục mới nhận chức Trấp An của vua Tự Đức. Giám mục địa phận lúc đó là Puginier, một tên thực dân cuồng nhiệt và có nhiều sáng kiến độc ác. Như thế rõ ràng quan thầy của Trần Lục là Puginier: thầy sao thì trò phải vậy.

    8.- Một người hung hãn hơn cả những tay hung hãn gian ác
    thực dân Pháp chính hiệu, nhưng tại sao bốn đời vua nhà Nguyễn lại phong
    phẩm hàm chức tước cho Linh mục Trần Lục?

  101. concun permalink

    Có lẽ quí độc giả đều đồng rằng các tài liệu trên không những chính xác mà còn thiếu quá nhiều, vì công lao của “bậc vĩ nhân” Trần Lục phục vụ cho Thực dân Pháp không phải chỉ có giản dị thô thiển như thế mà được đế quốc Pháp tặng thưởng! Thật vậy, trong lúc hăng say ca tụng bậc “anh tài” Trần Lục, đức ông Trần Ngọc Thụ (ở La Mã) cho biết chính phủ Pháp đã tặng cho ông Linh mục Trần Lục “Ngũ Đẳng Bắc Đẩu Bội Tinh” của Pháp năm 1884, và “Tứ Đẳng Bắc Đẩu Bội Tinh năm 1899” (theo cuốn Trần Lục đã dẫn, trang 18).

    Công lao to lớn của Linh mục Trần Lục đối với thực dân Pháp cũng được Pháp ghi nhận trong buổi lễ tại nhà thờ Phát Diệm năm 1940. Theo cuốn “Autour des Fetes du 3 Decembre 1940 à Phát Diệm”. (Chung quanh đại lễ ngày 3.12.1940 ở Phát Diệm). Tập sách có hai phần chữ Pháp và chữ Việt, mang số M1040 của Tổng Thư Viện Quốc Gia nói về đại lễ tấn phong Giám mục Phan Đình Phùng (trùng tên với nhà ái quốc kháng chiến Phan Đình Phùng, BK) và lễ gắn Ngũ Đẳng Bắc Đẩu Bội Tinh cho Giám mục Nguyễn Bá Tòng. Sách do nhà in Ngô Tử Hạ ấn hành và do Chánh phó Giám mục, Linh mục và các giáo dân địa phận Phát Diệm chủ trương. Trong đó có đoạn mô tả như sau:

    “Một phút yên lặng: quan toàn quyền kính điếu một vị anh hùng, một vị quốc công vang danh bốn bể (Trần Lục, BK) quan Toàn Quyền Decoux cảm xúc ái tình. Ngài cảm động hơn nữa khi nghĩ tới cụ Trần Lục là vị phúc tinh đã đem lại sự hòa bình thân thiện cho dân tộc Pháp – Nam…

    …Quan Toàn Quyền đưa cặp mắt đầy cảm động ngó xung quanh lũ con dân chằng chịt như nêm cối, bao nhiêu con mắt đổ dồn về ngài…

    …Đức cha Nguyễn Bá Tòng đọc diễn văn bày tỏ lòng cảm ơn chính phủ, tỏ lòng trung thành con dân Việt Nam đối với Mẫu Quốc. (Dẫn theo Toan Ánh trong cuốn Hội Hè Đình Đám).

    Đọc đoạn văn trên chúng ta thấy mấy điểm:

    * Lũ con dân (công giáo) chằng chịt vô số kể như nêm cối đổ mắt sung sướng nhìn về tên thực dân Decoux vì được làm con dân hiếu thảo của nó, của Petain và của thực dân Pháp.

    * Linh mục Trần Lục là một vị phúc tinh, một vị anh hùng của Decoux và của nước Pháp nên đại diện chính phủ Pháp kính cẩn nghiêng mình trước mộ của Trần Lục.

    * Cha Nguyễn Bá Tòng đọc diễn văn bày tỏ lòng biết ơn chính phủ thực dân Pháp, tỏ lòng trung thành con dân Việt Nam đối với Mẫu Quốc (Pháp). Như vậy Giám mục Nguyễn Bá Tòng tự tố cáo mình là người Việt gian, một kẻ bán nước, kẻ có tội với dân tộc chứ làm gì có đức mà xưng là “Đức Cha”.

    * Phát Diệm được xem là thủ đô tinh thần của Công giáo Việt Nam nhưng, rất nhiều người, từ trên xuống dưới từ cha cố đến con chiên lại hớn hở vui mừng nguyện trung thành với mẫu quốc thực dân Pháp! Quả là hết đường phê phán!

    Cha Nguyễn Bá Tòng mang tội thiếm xưng lúc dùng chữ “Con dân Việt Nam…” Có lẽ nên viết là “Dân công giáo Việt Nam nguyện trung thành với Mẫu Quốc thực dân Pháp”. Ngay cả nói như vậy cũng vẫn còn thiếm xưng, cha Tòng không có quyền vơ đủa cả nắm như thế. Vì có nhiều con chiên theo đạo nhưng họ vẫn trung thành với tổ quốc Việt Nam chứ không bán nước như cha Tòng.

  102. concun permalink

    Sử liệu 5:

    Trong cuốn Le Tonkin de 1872 à 1886, histoire et politique, Paris 1910, trang 203, 209-14, Jean Dupuis, tường thuật chi tiết sau đây:

    Ngày 5-12-1873 Linh mục Trần Lục hướng dẫn Chuẩn Úy Hautefeuille chiếm thành Ninh Bình không tốn một viên đạn. Trần Lục còn tuyển mộ thêm được 150 lính để giúp ông Chuẩn úy này bảo vệ an ninh.(Vũ Ngự Chiêu, SĐD, trang 225).

    ☞ Sử liệu 6:

    Trong cuốn Histoire d’un Prêtre Tonkinoirs: Le baron de Phát Diệm, tác giả là Giám mục Olichon, Paris, Bloud et Gay, 1931, trang 140, viết như sau:

    “Ở Bắc Việt, Linh mục Triêm (Nguyễn Hữu Triêm: Trần Lục, BK) tổ chức miền Công Giáo Phát Diệm và cọng tác với chính quyền bảo hộ” (Pháp). (Dẫn theo Nguyễn Thế Anh, Thạc Sĩ Sử Học, Trưởng ban Sử Học Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, trong cuốn Việt Nam Thời Pháp Đô Hộ, Lửa Thiêng xuất bản, Sài Gòn, 1970, trang 121).

    Qua sáu sử liệu trích dẫn ở trên chúng ta thấy cụ sáu Trần Lục một Anh Tài, một Vĩ Nhân của giáo hội Gia Tô có các hành động như sau:

    Dẫn năm ngàn giáo dân đi giúp quân thực dân Pháp. Có cái đức giết người nhiều như rạ. Mộ nhiều giáo dân và hàng ngàn tên vô lại nhiều lần đón đường cướp công văn của triều đình để dâng cho Pháp. Giúp Chuẩn úy Pháp chiếm thành Ninh Bình Bắc Việt. Lạm quyền và hà hiếp dân chúng. Cọng tác với thực dân Pháp.

  103. concun permalink

    Sử liệu 3:

    Lãng Nhân Phùng Tất Đắc là một nhà văn hóa lớn hiện sống tại Luân Đôn, trong cuốn Những Trận Đánh Pháp, từ Hàm Nghi đến Nguyễn Thái Học. Bản in lại tại Houston, Texas, Hoa Kỳ 1987, trang 20 viết như sau:

    “Phan (Phan Đình Phùng, BK) đỗ cử nhân khoa Bính Tý (1876), năm 33 tuổi; năm sau, đỗ tiến sĩ đình nguyên (khoa Đinh Sửu, Tự Đức 30, 1877). Sơ bổ tri phủ Yên Khánh, Ninh Bình, ở đây, ông thấy Linh mục Trần Lục hay ỷ thế hiếp dân, nên nhân một vụ lộng quyền, ông cho lính nọc Linh mục ra đánh. Vì thế phải gọi về kinh. Tự Đức 31 (1878) ông được sung chức ngự sử Đô Sát Viện”.

    Cũng cuốn sách nầy trang 42 tường thuật:

    “Đạo quân đánh Ba Đình gần 50 viên tướng Pháp và 2.250 quân. Đại tá Brissaud đứng tổng chỉ huy lập đại bản doanh ở Thuận Đào, dưới trướng có tham mưu D’Amade, Masson, đại tá Diguet chỉ huy quân Lê Dương, đại tá Steltz chỉ huy pháo binh, có đại úy Puts trợ lực. Mặt Bắc đại tá Doods đóng tại Nghi Vinh, mặt Nam đại tá Metzinger đóng tại Xa Liễn, đại úy Joffre (Joffre sau nầy làm thống chế), chỉ huy Công binh, phó quân lương Chaumont giữ việc quản trị, bác sĩ Velledary và Perrin đứng đầu y tế. Trên mặt sông, xung quanh thành, 4 chiến hạm chực sẵn do trung úy Thusnine, Surcouf, le Prieur và Dantin chỉ huy. Các giáo đoàn Phát Diệm, Kẻ Sở, Điền Hộ, Bồ Xuyên cung cho quân Pháp 5.000 giáo dân để đào hầm vận lương” (Cha xứ Phát Diệm lúc nầy là Linh Mục Trần Lục, BK).

    ☞ Sử liệu 4:

    Trong cuốn Đại Nam Thực Lục Chính Biên, bằng chữ Hán, 38 tập: Đây là các văn bản của Triều Nguyễn được đúc kết do Thượng Thư Bộ Học làm chủ biên, Viện Sử Học Hà Nội dịch ra tiếng Việt. (Hà Nội: 1962-1978). Trong tập 36:43 và tập 36:90 có những chi tiết tóm lược sau đây:

    “Độ (Nguyễn Hữu Độ, Tổng Đốc Hà Nội là nhạc phụ của vua Đồng Khánh, BK)cũng giữ liên hệ chặt chẽ với các giáo mục bản xứ, đặc biệt là Trần Lục (Trần Hữu Triêm), người cai quản giáo phận Phát Diệm, nằm giữ ranhgiới hai tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa. Từ năm 1883, Trần Lục công khai ngã theo Pháp. Theo sử quan nhà Nguyễn: Y mộ nhiều giáo dân và hàng ngàn tên vô lại, nhiều lần ra chận bắt dịch phu để cướp lấy công văn. Các quan trú quân đều phải qua đường Phủ Nho quan mà đệ công văn về (Huế)” (VI 36:43) “Trần Lục cũng hằng lui tới dinh sứ Pháp kêu xin tư xét” việc truy đánh dân đạo Ki Tô ở Thanh Hóa, khiến tháng 2 năm Giáp Tuất (3.1884) nhóm Tổng đốc Thanh Hóa Tôn Thất Tường và Tri phủ Thiệu Hóa là Nguyễn Đĩnh bị cách chức, thuộc hạ bị giết”. “Tháng 3 năm Bính Tuất (4-1884) Độ còn đề cử Trần Lục làm Tuyên phủ sứ Thanh Hóa, hàm Tham tri Bộ Lễ, lo việc đánh dẹp quân Cần Vương vì họ đạo của Lục nằm giữa ranh giới Ninh Bình và Thanh Hóa” (VI, 37:143). (Vũ Ngự Chiêu, trong cuốn “Các Vua Cuối Nhà Nguyễn 1883-1945). Tập I: Đại Nam mất tựchủ, 1858-1884,Văn hóa xuất bản, Houston, 1999, trang 343 và 361).

  104. concun permalink

    Để tránh hành động chạy tội và đổ thừa cho “Cộng Sản”, sử gia Linh Mục Trần Tam Tỉnh nói rõ ông lấy sử liệu từ một tu sĩ dòng Tên F. Rouvier, trong cuốn Loin du Pays, Paris 1896 trang 103-104.

    Nguyên văn tiếng Pháp:

    Jusqu’à sa mort le 25 Avril 1892, Mgr Puginier ne restait pas une journée sans travailler à affermir la position de la France dans son pays d’adoption. On conserve des dizaines de Notes et renseignements portant sa signature dans les Archives du Ministère des Colonies. Et en partie grâce à ses renseignements, les Francais purent écraser la résistance armée des Vietnamiens. La résistance la plus farouche était menée à Ba Dinh, Thanh Hoa, sous la direction de Dinh Cong Trang. C’était en apparence un village fortifié avec une ceinture de bambous, des remparts, des tranchées et boyaux de communication savamment disposés. Le moral des combattants était très haut. Pour le “pacifier”, les Francais envoyèrent une force de 2.250 soldats, 25 canons, 4 canonnières sous le commandement du colonel Metzinger. L’attaque du 18 décembre 1886 fut repoussée. Les Francais durent l’assièger en cherchant une nouvelle tactique. Heureusemet pour eux, un jeune officier, le capitaine Joffre (qui deviendra le fameux maréchal de France pendant la première guerre mondiale). Pensa à demander l’aide du père Tran Luc, curé de Phat Diem et Vice-roi pour la pacification des provinces de Thanh Hoa, Nghe An et Ha Tinh. Celui-ci avec la bénédiction de Mgr Puginier vint à la rescousse des Francais avec 5000 chrétiens. Et Ba Dinh fut pris.

    Il est douloureux pour un historien catholique Vietnamien de rappeler ces années où les troupes francaises de “pacification” ne trouvaient repos que dans les villages catholiques: “Quand après une marche accablante, nos soldats, épuisés par l’anémie, arrivaient devant un village paien ils y étaient souvent accueillis par des coups de fusil. Mais étaitce un village chrétien qu’ils traversaient? Les enfants accouraient au-devant eux, criant à tue-tête: “Catholica, Catholica” pour leur faire comprendre qu’ils n’avaient rien à craindre, et les villageois leur offraient, des bananes, des oeufs et des poulets. La différence est appréciable et vaut la peine d’être remarquée, n’est-ce pas?”. Ces lignes n’ont pas été écrites par un communiste, mais par un jésuite ravi de l’attitude des chrétiens qui pensaient de leur devoir d’être collaborateurs parce qu’ils étaient catholiques (F. Rouvier, Loin du pays,Paris 1896 p.103-104).

    ☞ Sử liệu2:

    Sử gia Đào Trinh Nhất trong cuốn Phan Đình Phùng, nhà lãnh đạo 10 năm kháng chiến 1886-1895 ở Nghệ Tĩnh,Tân Việt xuất bản, 31-1-1957, Nam phần Việt Nam, trang 19 và 20 tường thuật như sau:

    “Bởi vậy, khi làm Tri phủ Yên Khánh ở Ninh Bình, thấy một ông cố đạo bản xứ hay ỷ thế tôn giáo, hà hiếp lương dân, cụ Phan (tức là Phan Đình Phùng, BK) không kiêng nể ngần ngại gì, cứ việc hô lính đè cổ giáo sĩ đó xuống hỏi tội và đánh thẳng tay.

    Giáo sĩ bị trận đòn ấy là cụ Trần Lục, tục gọi là cụ Sáu, mấy năm sau nhờ thế lực Pháp mà được triều đình phong làm Tuyên phủ sứ có oai quyền lừng lẫy một lúc ở vùng Phát Diệm Ninh Bình, ai cũng phải sợ. Người ta nói ông có cái đức giết người như rạ, không kém gì Tôn Thất Thuyết.

    Cụ Phan đánh một ông cố đạo là đánh kẻ có tội hà hiếp người, chớ không phải bày tỏ thâm ý ghét đạo Thiên Chúa”.

  105. concun permalink

    Những mỹ từ Anh Tài, Vỹ Nhân được giáo hội Ki Tô và con chiên trí thức tặng cho Linh mục Trần Lục, và những phẩm hàm của bốn đời vua Triều Nguyễn tặng cho ông có một giá trị nào không, xin mời độc giả tìm hiểu các hành động của Linh mục Trần Lục qua các sử liệu sau đây.

    ☞ Sử liệu 1:

    Dẫn 5000 giáo dân giúp Pháp đánh lủy Ba Đình của Đinh Công Tráng.

    Linh mục Trần Tam Tĩnh, viện Sĩ Hàn Lâm Viện Hoàng gia Canada, giáo sư đại học Laval Canada là tác giả cuốn Dieu et Cesar (Thập Giá và Lưỡi Gươm), La Mã 19-5-1975, do nhà xuất bản Sudestasie, Paris 10-1978, trang 41 và 42 tường thuật như sau:

    “Cho tới ngày chết, 25-4-1892 Giám mục Puyginiê chẳng bỏ qua ngày nào mà không hoạt động để củng cố thêm vị trí nước Pháp tại xứ sở con nuôi này của ông. Người ta đang giữ hàng chục điệp văn và bản tin tình báo mang chữ ký của ông trong văn khố của Bộ Thuộc địa. Và một phần nhờ ở các bản tin đó mà quân Pháp đã đập tan cuộc kháng chiến vũ trang của người Việt. Cuộc kháng cự hùng mạnh nhất đã xảy ra tại Ba Đình, Thanh Hóa, dưới sự chỉ huy của Đinh Công Tráng. Bề ngoài, đó là một loại làng được biến thành căn cứ, được lũy tre bảo vệ có thành, đường hầm và hệ thống giao thông hào được bố trí rất thông minh. Tinh thần chiến sĩ lúc đó rất cao. Nhằm “bình định” cứ điểm này, quân Pháp đã gửi tới một lực lượng gồm 2250 tên lính, 25 đại bác, 4 pháo hạm dưới quyền chỉ huy của trung tá Metxanhgie (Metzinger). Cuộc tấn công ngày 16-12-1886 bị đẩy lui. Quân Pháp phải tổ chức bao vây để tìm hiểu chiến thuật mới. May cho chúng, vì có một sĩ quan trẻ, đại úy Giôphơrơ (Joffre sau này là thống chế Pháp trong chiến tranh Thế Giới Thứ Nhất) nghĩ tới việc nhờ Linh mục Trần Lục, quản xứ Phát Diệm và là Phó Vương, tiếp trợ cho cuộc bình định các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh. Ông linh mục này đã nhận phép lành của Giám mục Puyginiê, rồi đi tiếp viện cho quân Pháp với 5000 giáo dân. Ba Đình đã thất thủ.

    Thật đau lòng cho một sử gia người Việt Nam Công giáo khi phải nhắc lại những năm tháng ấy, thấy quân đội Pháp hành quân “bình định” chỉ được nghỉ ngơi trong các làng giáo:“Sau một cuộc hành quân mệt rã rời, quân lính của ta kiệt sức vì thiếu ăn, mà tiến vào một làng người lương thì thường chỉ được ăn đạn. Nhưng nếu gặp được một làng người giáo thì trẻ con chạy ra đón đường và kêu ầm lên: Công giáo, công giáo đây! để quân chúng ta biết rằng chẳng có gì phải sợ ở đó, rồi dân làng đem chuối, trứng, gà ra chiêu đãi. Sự khác biệt thật rõ ràng và là điều đáng ghi nhớ nhỉ?” Những giòng trên đây chẳng phải do một bàn tay Cộng Sản ghi lại, mà là do một tu sĩ dòng Tên đã say sưa thích thú về thái độ của người có đạo Kitô lúc đó nghĩ rằng bổn phận của họ là phải hợp tác (với Pháp) vì mình là người Công giáo”. (F, Rouvier, Loin du Pays, Paris 1896, tr.103-104)”.

  106. concun permalink

    Nguyên văn tiếng Pháp:

    Après avoir “beaucoup parcouru le pays, beaucoup regardé, beaucoup écouté, l’amiral Page finit par reconnaitre le bienfondé des arguments du gouvernement de Hue, lui même ayant été choqué par l’attitude des missionnaires et de leurs chrétiens.

    En effet, tandis que la population fuyait avec épouvante à l’approche des troupes francaises et que des milices armées s’organisaient là où il y avait un centre de population, 3.000 catholiques se rallièrent aux Francais et demandèrent à être ramenés à Saigon où Page avait crée une municipalité. “Quelle a été ma surprise? Lorsque le lendemain les missionnaires sont venus me déclarer que les chrétiens annamits ne pouvaient pas obéir à une autorité payenne, c’est leur mot. Quoi! Pas même pour la police municipale? Pour empêcher les voleur, les vagabonds de mettre la ville au pillage? Et je suis confus d’avouer à Votre Execellence que ces principes sont professés hautement par les associations annamites catholiques… “Du reste, pas un Vietnamien catholique n’hésita à demander à s’enriler comme soldat sous le draupeau francais, le roi payen du Vietnam n’était point leur roi. “Votre Excellence comprendre sans doute maintemant comment le Roi et les mandarins regardent les missionnaires catholiques comme des ennemis? (Depêche de l’amiral Page, du 14-12 et 25-12-1859. Archives Nationales, Fonds, Marine BB 777 (CHT, trang 128 & 129).

    7. Linh Mục Trần Lục: Anh tài, vĩ nhân

    Bối cảnh lịch sử nêu trên, nhìn từ các góc độ khác nhau, cụ Sáu Linh mục Trần Lục đã làm gì để được giáo hội của ông ca tụng là “bậc vĩ nhân” là “anh tài” không riêng cho giáo hội mà còn cả dân tộc Việt Nam nữa!

  107. concun permalink

    Ý kiến và vai trò của giáo sĩ và giáo dân
    đối với cuộc xâm lăng của Pháp

    a.- Ý kiến của Giám mục Puginier, địa phận Bắc Kỳ.

    Một văn thư gởi cho Bộ Hải Quân và Thuộc Địa trong thời gian từ tháng 3.1884 đến tháng 3.1887, Puginier cố chứng minh rằng Bắc Kỳ xứng đáng với sự hy sinh của Pháp:“Đây là một xứ cung cấp rất nhiều tài nguyên to lớn…Bắc kỳ sẽ mở cho Pháp con đường lưu thông dễ dàng để mang sản phẩm sang Lào và Tây Trung Hoa… “Bắc Kỳ là một dân tộc rất đáng chú ý, và có thể biến thành bạn nếu chúng ta biết đào tạo, lãnh đạo và cai trị”.

    “Bắc Kỳ đã cống hiến một lực lượng mạnh mẽ và đã thành bạn bè rồi: thật vậy, nó có 400.000 ngàn con chiên đã cho thấy lòng hy sinh cùng cảm tình của họ đối với Pháp”.

    (…”Le Tonkin fournit un élément puissant déja ami: il compte, en effet, 400 millle chrétiens “qui ont déjà donné des preuves de leur dévouement et de leur affection pour la France” (CHT, SĐD trang 412).

    “ Tôi xin xác định rằng khi nào Bắc Kỳ thành Thiên Chúa giáo thì nó cũng sẽ thành một nước Pháp nhỏ, hoàn toàn giống như các đảo Philippines đã thành một nước Tây Ban Nha nhỏ”.

    (“J”affirme que du moment où le Tonkin deviendra chrétien, il deviendra aussi la petite France de l’Extrême- Orient, absolument comme les iles Philippines sont une petite Espagne” (CHT, trang 421).

    b.- Các người truyền giáo trước đây cũng như hiện nay, thường hô hoán rằng các vua quan nhà Nguyễn cấm đạo, giết giáo sĩ và hà khắc con chiên, nhưng thực tế thì vì con chiên Việt Nam đã có những hành động chống lại Tổ Quốc. Sau đây là ý kiến của Đô Đốc Page trong văn thư ngày 14-12 và 25-12-1859 cho thấy như sau:

    Sau khi “đi khắp nước thấy nhiều, nghe nhiều” cuối cùng Đô đốc Page công nhận lý lẽ vững chắc của triều đình Huế, chính ông cũng bực mình về thái độ của các nhà truyền đạo và con chiên của họ:

    Thật vậy, trong lúc dân chúng hoảng hốt chạy trốn khi quân Pháp kéo đến và tổ chức vũ trang tự vệ, ở nơi đông dân thì 3000 tín đồ Gia Tô đi theo Pháp và xin được đưa vô Sài gòn là nơi mà Page đã dựng lên một thị trấn. “Tôi ngạc nhiên biết bao? Khi hôm sau các nhà truyền giáo đến nói với tôi, rằng các con chiên An Nam không tuân theo một quyền lực vô đạo, họ nói như thế. Sao! Họ cũng không muốn có cảnh sát để chận đứng trộm cướp du đảng, cướp bóc thành phố? Và tôi rất hổ thẹn khi thú nhận với Ngài rằng Giáo Hội Gia Tô tại An Nam đã ngạo nghễ đi rao giảng các nguyên lý đó: Ngoài ra không người Việt Nam theo Gia Tô nào ngần ngại xin gia nhập làm lính dưới cờ Pháp, ông vua Việt Nam không theo đạo, không phải là vua của họ. Chắc bây giờ Ngài đã hiểu tại sao vua, quan đã coi các nhà truyền giáo là kẻ thù?”

  108. concun permalink

    Hơn 200 năm sau (năm 1855) các giáo sĩ Pháp trực tiếp và tích cựcvận động Pháp chiếm Việt Nam là Tổng giám mục Bonnechose ở Rouen, Linh mục Huc cựu đại diện của Giáo hoàng ở Trung Quốc, Giám mục Pellerin, đại diện Giáo hoàng ở Bắc Nam Kỳ. Tháng 11, 1857 Giám mục Pellerin đến La Mã và được Giáo Hoàng Pie IX tán thành các vận động của phái bộ truyền giáo (Cao Huy Thuần, Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp và Thiên Chúa Giáo ở Việt Nam, trang 59 & 61). Ngày 1.9.1858 Pháp đổ bộ Đà Nẵng.

    Để vấn đề được vô tư hơn, tôi trích dẫn một số văn thư và ý kiến của các nhà truyền giáo, của các viên chức Pháp và các sử gia ngoại quốc để độc giả thấy mối giây chằng chịt, tủi nhục và đau thương của dân tộc Việt trong giai đoạn Linh mục Trần Lục trưởng thành.

    5. Kế hoạch xâm lăng và đồng hóa

    a.- Linh mục Legrand de la Liraye,đề nghị: “Theo thần, chiến tranh là cách duy nhất để đạt kết quả nghiêm chỉnh tại nước đó… phải đánh gấp ở Bắc Kỳ, Huế và Đà Nẵng cùng lúc, nếu được thì lật đổ chính phủ…” (CHT, SĐD, trang 65).

    b.- Văn thư ngày 30-4-1864, Đô đốc La Grandière viết cho viên Thượng Thư của họ: “Chúng ta cần các nhà truyền đạo…đổi đạo nghĩa là đồng hóa dễ dàng dân chúng nhờ sự giúp đỡ của các sư huynh, các trường đạo và các Bà Sơ”.

    (Nous avions besoin de missionnaires,… la conversion, c’est-à-dire l’assimilation si facile du peuple avec le concours des Frères des Ecoles chretiennes et des Religieuses: Thư khố Hải Ngoại của Pháp, A 30 (6), hộp 10. Dẫn theo CHT, trang 205 bản tiếng Pháp).

    c.- Đô đốc Bonard ở Nam Kỳ trình bày với viên Thượng thư của ông:

    “Truyền bá đạo Thiên Chúa nhất định là cách chắc chắn nhất để lôi kéo dân chúng hoàn toàn theo chúng ta. Trong sáu tỉnh (ở Nam Kỳ, BK), việc truyền bá này do các trường dạy trẻ thực hiện… Trường học sẽ là cơ hội tốt để chúng ta đồng hóa hoàn toàn dân tộc nầy…”

    (“La propagation du Catholicisme est certainement le moyen le plus sur d’avoir un peuple complètement à nous. Cette propagation dans les six provinces se fera par les écoles d’enfants… Les écoles seront une belle occasion de nous assimiler entièrement ce peuple…” Trích trong bản tường trình về tình hình chính trị ở Nam Kỳ của Aubaret, phụ tá của Đô đốc Bonart, Thư Khố Pháp, CHT, SĐD trang 207).

  109. concun permalink

    Tại Huế, sau những hòa ước ký với Pháp, óc thực dân và xâm lược của quân đội viễn chinh Pháp ngày càng gia tăng khủng khiếp. Tại Bắc kỳ giới chức Việt Nam không chịu công nhận hiệp ước do Nguyễn Trọng Hiệp ký. Vì thế, “Một phong trào kháng chiến có tính cách quốc gia và dân tộc được tổ chức. Sau 1883, Tôn Thất Thuyết (quan phụ chính đại thần, BK) đã quyết định triều đình sẽ rút vào một thành trì được dựng lên trong vùng núi, hàng chục ngàn công nhân đã bắt đầu công cuộc xây dựng từ tháng 8 năm đó. “Thủ Đô Mới” tại Tân Sở, trong tỉnh Quảng Trị, đồng thời các kho lúa, gạo cũng được tổ chức trong miền Thượng Du”.

    “…Tháng 4, 1884, triều đình Huế cho dựng lại tại tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An những trại quân quan trọng và ra lệnh cho các quan tỉnh, phủ, huyện tổ chức việc ra binh chốngPháp”. (Luận án tiến sĩ của Cao Huy Thuần, bản dịch tiếng Viêt: Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp và Thiên Chúa Giáo ở Việt Nam, trang 359 và 360).

    4. Nguyên nhân Pháp và Tây Ban Nha chiếm Việt Nam

    Ngược dòng lịch sử để thấy việc truyền đạo của Giáo hội La Mã, đi song hành hay đi trước chủ nghĩa thực dân Tây phương, bắt nguồn từ sắc lệnh của Giáo hoàng Alexandre VI năm 1493. Theo đó, giáo hoàng nầy chia thế giới làm hai phần cho Bồ Đào Nha và Tây Ba Nha và buộc họ đi chiếm thuộc địa để truyền đạo.

    Năm 1627, Linh Mục Alexandre de Rhodes đến Việt Nam truyền giáo, và Linh mục nầy là người đầu tiên vận động Pháp chiếm Việt Nam năm (Xin xem cuốn Divers Voyages et Mission trang 78 & 79, tác giả chính là Linh mục A de Rhodes cho biết như thế chứ không ai khác. Bản dịch tiếng việt của Hồng Nhuệ: “Hành Trình và Truyền Giáo” trang 263 và 264. Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo xuất bản, TP Hồ Chí Minh 1994).

  110. concun permalink

    Sử gia Nguyễn Sinh Duy trong cuốn Phong Trào Nghĩa Hội Quảng Nam, xuất bản tại Đà Nẵng, 1996, trang 340, viết:

    “… Sau khi Hàm Nghi lên ngôi rồi đi kháng chiến, Chánh Mông sang tòa khâm sứ Pháp xin De Courcy để tên đại tướng giặc thương tình cho hai đội lính Pháp hộ tống sang thành nội làm lễ đăng quang lên ngôi hoàng đế, đặt ra niên hiệu Đồng Khánh thì ông vua bù nhìn nầy được sự cố vấn của Trương Vĩnh Ký và Linh mục Nguyễn Hoàng (Chức Ngự tiền hành nhân) hợp cùng tay sai đắc lực Pháp như Nguyễn Hữu Độ, Phan Liêm… ra sức dùng mồi danh lợi kêu gọi nghĩa quân…”

    Đồng Khánh là một ông vua bù nhìn, sống bê tha trụy lạc, đã đem tổ quốc hiến dâng cho giặc Pháp. Ông làm vua được 4 năm, sau một trận nôn mửa ra máu đen, cơn hấp hối kéo dài 10 ngày rồi chết (28-1-1889). Ngày 1-2-1889 con trai của Dục Đức là Bửu Lân mới 10 tuổi được chọn lên làm vua dưới niên hiệu là Thành Thái (1889-1907).

    Tóm lược đôi điều về các ông vua cuối triều Nguyễn để chúng ta thấy nội tình của triều đình Việt Nam thời bấy giờ. Có người chỉ làm vua được ba ngày rồi bị truất phế. Đất nước nhiễu nhương, làm vua nhưng tất cả quyền hành đều nằm trong tay người Pháp và linh mục Công Giáo Việt Nam, ngay cả vua Tự Đức cũng phải nhượng bộ nhiều điều kiện mà Pháp đòi hỏi. Trước tình trạng ấy giới sĩ phu và quần chúng Việt Nam phản ứng như thế nào?

    3. Phản ứng của Nhân Dân Việt Nam
    đối với cuộc xâm lăng của Pháp.

    Hiệp ước 1862 mà triều đình vua Tự Đức ký với Pháp và Tây Ban Nha làm cho dân chúng Nam Kỳ bất mãn. Các đặc phái viên toàn quyền của vua Tự Đức là Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp bị dân coi là “Kẻ phản quốc” và Triều đình bị phê phán là “coi thường dân”: “Phan, Lâm mãi quốc, triều đình khi dân”. (Nuyễn Xuân Thọ tr. 81).

    Sự uất hận của dân miền Nam đối với việc triều đình nhượng bộ Pháp có thể được tìm thấy qua mấy vần thơ:

    “Tan nhà căm nỗi câu ly hận,
    Cắt đất thương thay cuộc giảng hòa.
    Gió bụi đôi phen xiêu ngãcỏ
    Ngậm cười hết nói nỗi quan ta”…
    (NXT, trang 81).

    Cuộc kháng chiến mãnh liệt của dân miền Nam được các nhân vật tên tuổi và uy tín lãnh đạo như Huyện Toại, Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thiên Hộ Dương, Thủ Khoa Huân…

  111. concun permalink

    Tình hình xã hội thời Trần Lục

    Để hiểu rõ thêm tâm chất và hành động của Linh mục Trần Lục chúng ta nên tìm hiểu tổng quát tình trạng xã hội thời ông. Linh mục Trần Lục sinh năm 1825. Lúc quân Pháp và Tây Ban Nha lần đầu tiên đổ bộ lên Đà Nẵng ngày 1-9-1858 thì ông đã được 33 tuổi. Ngày 17-1-1859 Pháp chiếm Sài gòn. Tháng 6-1862 hiệp ước Nhâm tuất ra đời. Việt Nam nhường cho Pháp ba tỉnh: Gia định, Định Tường, Biên Hòa và thừa nhận Ki Tô được tự do truyền đạo. Hiệp ước 1867, Việt Nam nhường thêm cho Pháp ba tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An giang và Hà Tiên. Như thế toàn xứ Nam Kỳ đều hoàn toàn bị Pháp đô hộ.

    Ngày 20-11-1874 quân Pháp chiếm thành Hà Nội. Hiệp ước 1874 ra đời, Bắc Kỳ trở thành xứ bảo hộ của Pháp. Ngày 16-7-1883 vua Tự Đức mất, thọ 55 tuổi, sau 36 năm làm vua. Người kế vị là Dục Đức làm vua được 3 ngày thì bị truất phế và Hiệp Hòa lên ngôi (27-7-1883). Ngày 30-11-1883 Hiệp Hòa bị truất phế và Kiếm Phúc lên ngôi mới 15 tuổi. Ngày 26-7-1884 vua Kiến Phúc mất, Ưng Lịch 12 tuổi lên làm vua hiệu là Hàm Nghi. Đêm 4 rạng ngày 5 tháng 7 năm 1885 sau cuộc tấn công các đồn của Pháp ở Huế bị thất bại, vua Hàm Nghi cùng triều đình chạy trốn ra Tân Sở Quảng Trị rồi truyền hịch kêu gọi toàn dân vũ trang chống Pháp.

    Ngày 29-9-1885, Chánh Mông, con nuôi cuối cùng của Vua Tự Đức 23 tuổi, thân hành đến sứ quán Pháp (ở Huế) gặp tướng De Courcy để xin lên làm vua niên hiệu là Đồng Khánh (1885-1889). Tư cách nhục nhả của Đồng Khánh được tiến sĩ Nguyễn Xuân Thọ, cựu viên chức ngoại giao làm việc khắp các tổng vụ trong bộ Ngoại Giao Pháp, mô tả như sau:

    “Tại Huế, với nhà vua mới nầy, công việc của các nhà chức trách Pháp trở nên rất nhẹ nhàng: Viện Cơ Mật, do một quan chức Pháp chủ tọa, và Đồng Khánh không ngớt bộc lộ những dấu hiệu phục tùng nô lệ của mình đối với kẻ chiếm đóng.

    Ngày Đồng Khánh nhận lễ thụ phong từ tay tướng De Courcy, trong buổi yết kiến từ biệt, Nhà “Vua mới” phong cho De Courcy tước “Đại Quận Công, Người Bảo Hộ Vương Quốc”. Vài tháng sau, ngày 23-2-1886, Đồng Khánh chuẩn y hiệp ước bảo hộ năm 1884.

    “Trước những điều kiện thuận lợi như thế, viên phụ tá của tướng De Courcy, là tướng Prudhomme, luôn luôn tạo ra những cơ hội mới để chứng minh sự quy phục của vua Đồng Khánh đối với chính quyền chiếm đóng; ông ta hy vọng, bằng cách đó, khai thác được tác dụng tâm lý đối với người Việt Nam do những dấu hiệu kiêng nể đối với những kẻ đại diện của Pháp, do những buổi dạo chơi, mà bên cạnh nhà Vua luôn luôn có một linh mục Công giáo Việt Nam đi kèm, là cha Hoằng (Nguyễn Hoằng, BK) được Pháp đặt bên cạnh nhà vua để “phục vụ” nhà vua làm thông dịch viên, và chắc chắn là để do thám cả nhà vua, khi cần…(Nguyễn Xuân Thọ trong cuốn Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp ở Việt Nam 1858-1897, trang 403).

  112. concun permalink

    Trước đó, vào tháng 7 năm 1996, nhóm của Linh mục Nguyễn Gia Đệ ở Gia Nã Đại (Canada) có xuất bản một cuốn sách dày 640 trang với tựa đề Trần Lục, có 22 tác giả gồm các Linh mục và con chiên có học thức. Hầu hết các tác giả của cuốn sách nầy đã xuyên tạc lịch sử với mục đích để ca tụng Linh mục Trần Lục, không những là một “vĩ nhân” của đất nước Việt Nam mà còn cả nhân loại nữa. Tuy nhiên, nhiều tác giả lúc say mê biện bạch để ca tụng Linh mục Trần Lục lên tột trời xanh, đã để lộ những chứng tích cho thấy vị linh mục nầy là một đại ân nhân của chính phủ thực dân Pháp. Và ông Sơn Diệm, Vũ Ngọc Anh, một trí thức Ki Tô, qua bài ca tụng Linh mục Trần Lục nói trên cũng tiết lộ: Cụ Sáu có đem Giáo dân đi giúp Pháp đánh chiến lũy Ba Đình, nhưng bào chữa răng vì sự “bất đắc dĩ”. Như thế ông Sơn Diệm đã vô tình tố cáo Linh mục Trần Lục là một tên Việt gian bán nước.

    Nói gọn, qua nhiều bài của các tác giả viết trên báo trong sách và băng cassette thì Linh mục Trần Lục là một người yêu nước thương dân, chống đối sự tàn ác của quân Pháp, là người có công xây nhà thờ Phát Diệm và sáng tác nhiều bài thơ vè giá trị. Vì thế, những danh từ Anh Tài và Vĩ Nhân được các tác giả và Giáo hội dùng để xưng tụng Linh mục Trần Lục.

    Bài viết nầy sẽ xử dụng những sử liệu chính xác để tìm hiểu Linh mục Trần Lục là Một Vị “Anh Tài” và “Vĩ Nhân” chỗ nào”?

    Người viết không dùng các tài liệu thuộc loại “cha hát con khen” mà tài liệu của chính các linh mục, của con chiên và các sử gia chân chính không bị vướng mắc bởi tình cảm khác tôn giáo, để xác định con người thực của Linh mục Trần Lục.

  113. concun permalink

    Ngày 17-7-1999 tại thành phố Santa Ana, Orange County, bang California Hoa Kỳ, Hội Truyền Thống Giáo Phận Phát Diệm Nam California tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm ngày Linh mục Trần Lục (1825-1899) qua đời. Buổi lễ được tổ chức trọng thể. Theo báo Vận Hội Mới thì có những vị chức sắc cao cấp của giáo hội từ La Mã đến, từ Việt Nam qua và từ Gia Na Đại về. Theo thứ tự, đức ông Trần Ngọc Thụ (từ La Mã), Linh mục Nguyễn Thái Bình, Linh mục Trần Phúc Vị, Linh Mục Trần Phúc Nhân (ba vị từ Việt Nam qua) và Linh Mục Nguyễn Gia Đệ từ Canada v.v… Điều đó cho thấy buổi lễ kỷ niệm và vinh danh cố Linh Mục Trần Lục có tầm vóc quốc tế và trọng thể đến chừng nào.

    Sau ngày lễ, đài Little Saigon nghe được từ Houston Texas, Hoa Kỳ lúc 7:45 sáng ngày 19-7-99, một nhân sĩ Ki Tô, ông Vũ Quang Ninh, cũng không tiếc lời ca ngợi cụ Sáu Trần Lục. Nhiều báo Việt Ngữ đã đăng một số bài viết để ca tụng Linh mục Trần Lục (cũng có biệt danh là Cụ Sáu Trần Lục). Ông Sơn Diệm Vũ Ngọc Ánh với bài “Phát Diệm ngày xưa” đăng trên tuần báo Việt Nam Tự Do (ngày 22-7-1999) cho thấy:nhờ “đức độ và tài ba” nên cụ Sáu được vua Tự Đức cử giữ chức Trấp An và vua Đồng Khánh bổ nhiệm làm khâm sai Tuyên phủ sứ với trọng trách là an dân ba tỉnh Thanh Nghệ Tỉnh.

    Nhật Báo Người Việt (26-7-1999) tại Orange County (Quận Cam) và báo Làng ở Sacramento California (số tháng 7-1999) đăng bài “Tưởng Niệm Một Vị Anh Tài: Cụ Sáu Trần Lục” của Linh Mục Trần Quí Thiện với những lời lẽ tôn vinh bằng đoạn mở đầu như sau:

    “Có những người chết đi nhưng thế giới không bao giờ quên được họ, vì đời sống họ đã ảnh hưởng tới xã hội này nhiều quá! Thân thế và sự nghiệp họ được truyền tụng từ thế hệ này qua thế hệ khác và không bớt phần vinh quang rực rỡ! Hành động và ngôn ngữ họ đã trở thành khuôn vàng thước ngọc cho hậu thế tâm niệm và noi gương bắt chước. Họ là ai?…

    Xin thưa đó là những vị Anh Hùng Dân Tộc đã vào sinh ra tử chiến thắng ngoại xâm, giữ gìn bờ cõi giang sơn trong quá trình dựng nước và cứu nước”.

    Sau khi định nghĩa thế nào là những vị Anh Hùng Dân tộc, Linh mục Trần Quí Thiện viết tiếp: “Ngày 6 tháng 7 năm 1999 vừa qua là lễ giỗ 100 năm ngày qua đời của Linh mục Trần Lục, thường gọi là “Cụ Sáu” một danh nhân anh tài không những của giáo hội Công giáo mà còn của dân tộc Việt Nam chúng ta”.

  114. concun permalink

    Tình trạng giáo sĩ viện cớ giảng đạo để dọ thám, mật báo, chọt vào chuyện chính trị nội bộ nước VN không riêng gì nước VN mà bên Tàu cũng bị tình trạng này. Tìm đọc sách Từ Hi Thái Hậu sẽ rõ.
    Cung Thân vương đã báo lên Thái hậu rằng: Đám giáo sĩ đâu chỉ có giảng đạo, đằng này chúng còn xen vào chuyện chính trị, xúi giục…
    Vào thời Tự Đức có loạn lê văn khôi, nguyên nhân do có sự bất mãn bị đè nén..
    Dư luận có người cho rằng Cha nào đó xúi giục Khôi để thành lập nước Thiên chúa giáo ở Nam kỳ.

  115. concun permalink

    Để ngăn ngừa hậu hoạn về sau và cũng để nhân dân hiểu rõ ràng về đạo bịp Thiên chúa ( bị giáo gian bưng bít, tuyên truyền tổ tiên chúng bị bách hại, vua quan, Phật tử tàn ác…), bộ giáo dục cần đưa lịch sử của Vatican, tội ác của hội thừa sai, giáo hội cong giáo VN vào chương trình sử các cấp và chuyên ngành.
    Tại sao trên thế giới các nước tại Mỹ, châu Âu đều biết rõ, sách in ra do các học giả nghiên cứu không bị ngăn cấm trong khi VN là nạn nhân của Vatican mà người dân lại không biết.
    Vatican liên minh với thực dân Pháp đánh chiếm VN và sau đó Vatican dụ dỗ Mỹ vào VN để đôi bên cùng có lợi.
    Bộ giáo dục cần đưa web site sachhiem và giao điểm vào môn sử.

  116. concun permalink

    Đập tan lý luận nịnh bợ giặc xâm lược của giáo gian Bắc kỳ. Chúng luôn trách, chửi vua quan nhà Nguyễn cấm đạo cho nên Pháp mới có cớ xâm lược VN!!!!!!!!!!!!!!!.
    Đám giáo sĩ ( thực chất là những tên dọ thám đội lốt tôn giáo) ngang nhiên vào nước VN đòi giảng đạo ( thực chất là tẩy não dân VN), thấy chủ nhà ( Vua ) không đồng ý, chúng kêu nước này nước nọ vào nước này đánh.
    Giả sử đám giáo sĩ nước Ấn độ, nước I ra q vào VN truyền đạo Bàlamon thờ bò, rắn, khỉ, chuột và đạo Hồi chặt tay người ăn cắp, nhà nước VN thấy không được vì man rợ quá, rồi đám giáo sĩ này kêu nước Ấn độ, I r aq đánh VN. Quý vị nghĩ sao?.
    Tại sao giáo gian không chấp hành lệnh vua VN, nhà nước VN, mà còn đổ thừa tại nhà nước VN cấm đạo Ba la mon, đạo Hồi, nước Ấn đánh là phải rồi!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!.

  117. concun permalink

    Ngày Thứ Hai đầu tuần, vị lãnh đạo cao cấp nhất của Giáo hội Công giáo Úc đã ra trước Ủy ban Điều tra của Quốc hội Tiểu bang Victoria để trả lời những câu hỏi liên quan đến nạn lạm dụng tình dục của các giáo sĩ đối với trẻ con.

    Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Sydney, Hồng Y George Pell là người cao cấp nhất của Công giáo Úc xuất hiện như là nhân chứng cuối cùng trước ủy ban điều tra về sự lạm dụng tình dục trong các giáo hội và các định chế của chính phủ.

    Có những người biểu tình trước tiền đình quốc hội yêu cầu Hồng Y Pell hãy nói sự thật. Có khoảng một trăm người tới nghe cuộc điều trần ở khu vực dành cho công chúng.

    Hồng Y Pell thừa nhận có sự lạm dụng tình dục từ các giáo sĩ và chuyện này đã dẫn đến những vụ tự tử. Đức Hồng Y nói có sự bao che trong giáo hội nhưng cá nhân hồng y không bao giờ bao che, kể cả khi làm Tổng Giám mục Melbourne từ năm 1996.

    Ngài cũng nhìn nhận giáo hội sợ những xì căng đan tình dục ảnh hưởng đến danh tiếng của giáo hội. Ngài nói tài sản của giáo hội lớn đáng kể nhưng bác bỏ việc cho rằng giáo hội giấu giếm tài sản của mình qua các loại trust.

    Tổng Giám mục Sydney nói giáo hội sẵn sàng đền bù cho những nạn nhân nếu được yêu cầu phải làm như thế, và có nhiệm vụ hoàn tất những trách nhiệm mà xã hội Úc ấn định và sẽ tiếp tục giúp đỡ các nhân.

    Ngài nói sự kê gian đối với trẻ con là chuyện không thể chấp nhận được.

    Thứ Hai tuần trước, Đức Tổng Giám Mục Denis Hart của Tổng Giáo phận Melbourne đã xin lỗi về những sự lạm dụng tình dục trẻ em và xin gánh nhận trách nhiệm.

    Trong buổi điều trần trước ủy ban điều tra của Quốc Hội Victoria vào hôm đó, Ngài nói rằng vụ xì-căn-đan quấy nhiễu tình dục của các tu sĩ là một trong những thời điểm buồn nhất trong hàng ngũ giáo sĩ của Ngài và là một trong những trang sử đen tối nhất của Giáo Hội Công Giáo.

  118. concun permalink

    NAM KỲ KHÁNG CHIẾN

    Bỏ Mỹ Tho, ta lui Cai Lậy
    Lệnh triều đình giữ lấy Vĩnh Long
    Nghĩa quân cát cứ Ba Giồng
    Quan gia Phủ Cậu một lòng vì dân

    Trương Công Định cầm quân chống chọi
    Đất Gò Công, Huyện Toại chiêu binh
    Duy Dương viên lại triều đình
    Thủ khoa Huân cử điều hành việc quân

    Nguyễn Trung Trực mấy lần dụ địch
    Đội nghĩa thuyền tập kích trên sông
    Espérance đang ở giữa giòng
    Du kích phóng lửa tấn công , tàu chìm

    Vùng Cái Thia thuộc miền Mỹ Quý
    Giặc tiến dần về phía Vĩnh Long
    Lebris đại tá tập trung
    Bọn nguời theo giặc tấn công Nam triều

    Tướng Bonard được điều sang thế
    Thay Charner tổng chỉ huy quân
    Viễn chinh của Pháp đang cần
    Đổi thay chiến lược nuốt dần miền Nam

    Giặc âm thầm chiêu quân (Catô) phản nghịch
    Lập ra đoàn du kích quấy ta
    Lấy tiền, chức tước ban ra
    Tuyên truyền “giết đạo” âm mưu gian tà

    Đánh Biên Hòa, tiến ra Bà Rịa
    Lấy Vũng Tàu, cứ địa Bình Tuy
    Miền Đông nay đã lâm nguy
    Vĩnh Long địch chiếm tin về kinh đô

    Với kẻ thù vô cùng xa lạ
    Và khí tài chúng quá tối tân
    Mưu mô chiến thuật điều quân
    Khác xa các nước lân bang quanh mình

    Cả triều đình hoang mang bối rối
    Trước tình hình tiến thối lưỡng nan
    Giặc Tây chiếm nửa miền Nam
    Nghị hoà hay chiến phải làm gì đây ?

    Lúc trước đó, có người dâng kế
    Xin đức Vua liệu thế về sau
    Nghị hòa hơn để thua đau
    Vì so với giặc kém nhau quá nhiều

    Xin vua theo gương người Nhật bản
    Và Trung Quốc mà tạm bang giao
    Để cho nhiều nước cùng vào
    Tự khắc thành thế vạc dầu ba chân

    Đất không mất mà quân vẫn giữ
    Việc giao thương thì cứ phồn vinh
    Người ta đem tới văn minh
    Giao lưu văn hóa dân mình lợi thêm

    Vua có xem nhưng lòng tơ rối
    Lời điều trần tâm huyết đưa ra
    Lời hay đành phải bỏ qua
    Bế quan tỏa cảng uy ra một mình

    Đến bây giờ, triều đình mới thấy
    Bọn giặc Tây cướp lấy vương quyền
    Biên Hòa, Gia Định, Trấn Biên
    Định Tường, Cai Lậy, thêm miền Vĩnh Long

  119. concun permalink

    Nếu đại học, trường chính trị…không hiểu thực chất đạo bịp này, thử hỏi làm sao dân chúng đầu tắt mặt tối làm sao biết được, họ vô tình vào đạo này vì miếng ăn, sau đó bị tẩy não hay vì danh lợi, trở mặt với đồng bào, gây ra cảnh nồi da xáo thịt, mất nước nhà tan.
    Muốn biết sự di hại này ra sao, cứ vào các web site của giáo dân sẽ rõ ( 2013).
    Đâu phải ai cũng rảnh hay tiền bạc dồi dào mà phải lăn lội đi tìm kiếm sử liệu trong các văn khố ngoại quốc để chứng minh cho lời nói của mình như các nhà sử học.

  120. concun permalink

    Đạo Thiên chúa giáo chẵng những là đạo bịp mà còn là đạo máu. Máu của người ngoại đạo, máu của dân mất nước trên toàn thế giới hai ngàn năm nay. Những ai sống ở Mỹ quá rành đạo này trừ những con cừu ngu nghiện. Đám giáo sĩ sử dụng phương tiện dồi dào truyền thộng quảng cáo, cho người đến nhà đập cửa đưa tạp chí đủ thứ tiếng, chúng đập cửa thường xuyên!!!!!!!!!!.

  121. concun permalink

    Tuyệt đại đa số các web site của giáo gian Thiên chúa giáo đều xuyên tạc, chửi bới tổ tiên VN chống thực dân Pháp. Đến năm 2013 chúng tung ra web site như dongcong.net, forum.tcnao.net , niemhyvong.net, nguoitinhuu.com….con cháu viet gian nhục mạ cuộc kháng chiến chống quân xâm lược là nổi loạn, phiến loạn. Vậy tôi hỏi Đại học Đà Nẵng chúng đứng về phía giặc hay phía Tổ quốc cha ông ta.
    Mong rằng các trường đại học cần cẩn thận hơn.

  122. concun permalink

    Đại học Đà Nẵng nên vào web site Sachhiem và Giao diểm để biết rõ thực chất của đạo thiên chúa.
    Đạo này đã có lịch sử vô cùng xấu xa, đi gây chiến tranh với Hồi giáo và các đạo khác 2000 năm.
    Cha ông ta như cụ Phan bội Châu đã tìm hiểu, nghiên cứu đạo này và kết luận đạo này là không tốt.
    Không hiểu tại sao Đại học Đà Nẵng lại kết án vua quan nhà Nguyễn đã cấm đạo bịp này.
    Chính học giả đạo gốc Cha rles Nguyễn đã từ bỏ đạo này và gọi đạo này là đạo bịp.
    Đại học Đà Nẵng nên nghiên cứu sách vở kỹ càng hơn hoặc dùng tư duy của mình mà suy luận. Hệ thống truyền thông của đạo bịp này rất mạnh rất nhiều do con cháu Việt gian tung ra, cần kiểm tra tác giả là ai.

  123. concun permalink

    PHÁP CHIẾM HÀ NỘI LẦN II ( 1882)

    Lúc Rheinart sang thay Philastre
    Nhất là khi nội các của Tây
    Lại bầu thủ tướng khác thay
    Chính sách cai trị đổi ngay tức thì

    Pháp muốn chiếm Bắc Kì lần nữa
    Một nguồn tin báo của nước Anh (1882)
    Vua ta nghe được phong thanh
    Rằng chính phủ Pháp động binh năm rồi

    Năm Nhâm Ngọ (1882) tháng hai vừa quá
    Rivière đại tá hải quân
    Đem hai chiến hạm tuần dương
    Mấy ngàn lính thủy lên đường tới nơi

    Đến Hà Nội đóng nơi Đồn Thủy
    Rivière gởi tối hậu thư
    Tổng đốc Hoàng Diệu khước từ
    Chia quân chống giữ để ngừa tấn công

    Thăng Long thành chìm trong biển lửa
    Kho thuốc súng rực cháy nửa đêm
    Tứ bề đạn pháo vang rền
    Quân ta giao chiến chung quanh chiến hào

    Bọn Việt gian cài sâu từng tổ
    Đợi thực dân súng nổ tấn công
    Túa ra đốt phá lung tung
    Khiến quân Hoàng Diệu khó lòng giữ yên

    Rivière hay tin Hà Nội
    Đã dần dần vuột khỏi quân ta
    Tung quân đánh xáp lá cà
    Quân Nam yếu thế lui ra dần dần

    Tôn Thất Bá tay chân của giặc
    Là Việt gian nằm sẵn trong thành
    Đốt kho thuốc súng nghi binh
    Giúp cho lũ giặc tràn nhanh vào thành

    Lúc bình minh giặc xông vào chiếm
    Ông Hoàng Diệu chạy đến Hành cung
    Thảo tờ di biểu tận trung
    Buộc dây oan nghiệt tạ lòng nước non

    Miếu Quan Thánh vẫn còn ghi dấu
    Mối căm hờn nung nấu tâm can
    Chữ trung với nước vô vàn
    Ngàn sau ai dám dễ dàng lãng quên

    Quan Tổng đốc có tên Hoàng Diệu
    Người Điện bàn , thuộc đạo Quảng Nam
    Được vua cắt cử ra làm
    Tổng đốc Hà nội với hàm thượng thư

    Khi ông chết di thư để lại
    Có những câu mãi mãi về sau :
    Tướng lược phi trường tử , tử quí sanh nhi vô ích.
    Thành vong mạc cứu , túng nhiên tử hữu như cô

    Cô trung nhi thệ giử Long Thành,
    nguyện trùng tiên thần Nguyễn Tri Phương ư đia hạ
    Sổ hàng huyết lệ ,vạn lý quân môn, nguyện nhựt
    nguyệt chi chi chiêu minh , biểu thần xích tâm nhi dĩ ”

    Cả toàn dân bừng lên khởi nghĩa
    Khởi đầu là về phía Văn thân
    Dâng cao như ngọn sóng thần
    Bình Tây sát Tả , đuổi quân Tam tài

    Ở Nghệ An : Như Mai, Trần Tấn
    Lãnh đạo chừng nửa vạn dân quân
    Truy kích diệt lũ tham quan
    “Bọn nối giáo giặc” phản dân tộc mình

    Sau khi chiếm được thành Hà Nội
    Pháp bèn trao cho lũ tay sai
    Tôn thất Bá được giao ngay
    Nắm quyền sinh sát thay Tây điều hành

    Ở kinh thành nhiều người phẫn uất
    Trước thảm cảnh nuớc mất nhà tan
    Nam triều họp mật mấy quan
    Sớ dâng xin đánh giết quân tử thù

    Vua truyền lệnh giao cho Túc Độ
    Lập hội đồng nhận lại Thăng Long
    Bởi vì giặc Pháp tính chung
    Lợi nhiều nếu trả đất vùng này đi

    Rivière liệt kê mười khoản:
    Buộc triều đình nhượng hẳn Hà Thành
    Từ hành chánh đến việc binh
    Độc quyền thu thuế thương thuyền bán buôn

    Chính phủ Pháp nhận luôn bảo hộ
    Trên toàn phần lãnh thổ Đại Nam
    Trước nhiều đòi hỏi tham lam
    Vô cùng láo xược của quân bạo tàn

    Cả toàn dân một lòng thề quyết
    Suốt ba miền không thể thờ ơ
    Trước quân cướp nước côn đồ
    Cần Vương tụ nghĩa phất cờ Văn Thân

    Giặc đánh chiếm bất thần Nam Định
    Cho pháo thuyền thôn tính Hòn Gay
    Quan quân chiến đấu mấy ngày
    Quần nhau với địch suốt ngày mới thua

    Bắn gãy chân Carreau trung tá
    Tấn công tàu đốt cháy Surprise
    Quân ta chống trả gan lì
    Dần dần hết đạn rút đi khỏi thành

    Mưu lũ giặc gian manh xâm lược
    Chúng cố tình cắt đứt ngoại giao
    Lệnh cho Rheinart xuống tàu
    Rời ngay khỏi Huế để vào trong Nam

    Chúng cố làm tình hình căng thẳng
    Để dễ bề điều động quân binh
    Cho ngay tàu chiến vây quanh
    Các đồn dọc biển án binh cắt đường

    Quân Trung Quốc vội vàng phản ứng
    Cho quân binh chận đứng âm mưu
    Cùng ta ngăn chận kẻ thù
    Muốn tràn chiếm lấy vùng bờ biển Đông

    Hoàng Kế Viêm hợp cùng Vĩnh Phúc
    Giữ các đồn khu vực Gia Lâm
    Ngầm cho Quang Đản tấn công
    Đánh cho Pháp rút về đồn thủy binh

    Quân Cờ đen bất ngờ đánh Pháp
    Nhắm chiến thuyền pháo tháp bắn sang
    Lê dương, Tây tặc kinh hoàng
    Làm tên đại tá vội vàng lui binh

    Lấy trăm binh rời thành đánh đuổi
    Quân Cờ đen rút khỏi rất nhanh
    Lui về Cầu Giấy phục binh
    Rivière quyết tự mình đuổi theo

    Chân Cầu Giấy trời chiều lảng đảng
    Vẫn im lìm hoang vắng thê lương
    Phục binh nằm sẵn bên đường
    Đột nhiên pháo lệnh nổ vang ngang đầu

    Giặc tranh nhau tìm đường trốn thoát
    Quân Nam Triều nhất loạt xông lên
    Điểu thương súng đã nổ rền
    Trơ vơ còn lại mấy tên cầm đầu

    Rivière rướn cao lảo đảo
    Một mũi gươm kết liễu cuộc đời
    Nghĩa trang Montmartre ngậm ngùi
    Hải quân đại tá thành người thiên thu

    Triều đình Huế gặp giờ bối rối
    Lúc nhà vua hấp hối trong cung
    Trung tuần tháng sáu lâm chung (16-6-1882)
    Là khi giặc Pháp sục lùng khắp nơi

    Vua Tự Đức vốn người hay chữ
    Băm sáu (36) năm nắm giữ ngôi vua
    Văn chương thi phú có thừa
    Rành về văn học nhưng chưa trải đời

    Thật hiếm hoi thấy vua kinh lý
    Ra khỏi thành để thấy nhân dân
    Có đi mới hiểu được rằng
    Quanh ta thế giới muôn phần văn minh

    Dưới đáy giếng tưởng mình là nhất
    Hóa ra rằng vốn thật sơ khai
    Văn minh mình chẳng bằng ai
    Bế quan, tỏa cảng càng thêm thiệt thòi

    Vây quanh vua triều đình thiển cận
    Bỏ ngoài tai những bảng điều trần
    Vua nghe một lũ nịnh thần
    Chuyên môn đố kị theo chân người Tàu

  124. concun permalink

    ĐẠI VIỆT SỬ THI
    Hồ Ðắc Duy

    QUYỂN 26
    THÀNH LẬP LIÊN BANG ĐÔNG DƯƠNG

    Pháp muốn chia Đông Dương từng mảnh
    Việc đầu tiên là đến Trung Hoa
    Thiên Tân ký kết nghị hòa(1884)
    Bắt tay Trung Quốc, buộc ta hết đường

    Rồi quay sang Cao Miên dụ dỗ
    Bảo nước này nên phải nghe theo
    Đông Dương liên kết lợi nhiều
    Pháp quốc bảo trợ nên vào liên bang

    Norodom nghe Tây bày chước
    Ký vào tờ hiệp ước Kim Biên (1884)
    Từ đây đất nước Cao Miên
    Do tay người Pháp nắm quyền quốc gia

    Qua Ai Lao đặt tòa lãnh sự
    Cử Pavie đại sứ lên đường (1887)
    Oumkham Vạn Tượng quốc vương
    Nghe lời đại sứ đất nhường cho Tây

    Kể từ đây, Đông Dương thuộc Pháp
    Chúng đem quân trấn áp khắp vùng
    Đầm lầy, sơn cốc lục sùng
    Ra tay vơ vét vô cùng dã man

    Cái “Liên Bang Đông Dương”thuộc Pháp
    Là ý đồ đã được thực dân
    Âm mưu thôn tính lần lần
    Cướp quyền, giành đất, tranh phần giử dân

    Không che mắt được dân trong nước
    Là những người hiểu được nỗi đau
    Chung tiền, góp sức cùng nhau
    Khắp nơi hưởng ứng phong trào Văn Thân

    Giết giáo dân truy tầm tà đạo
    Bởi vì người có đạo tay sai
    Nên dân hận bọn theo Tây
    Cam lòng cho lũ cướp này chỉ huy

    Ở Nam, Ngãi cũng như Bình Định
    Đội nghĩa binh chận đánh giáo dân
    Giết ngay linh mục Dupont
    Porier, chung với Guégran tử hình

    Nhiều tín đồ tìm đường tẩu thoát
    Bị giết chừng hai vạn giáo dân
    Bên Lương, bên Giáo tranh phân
    “Nồi da xáo thịt” vì ai đoạn trường ?

    Người thủ lợi là phường xâm lược
    Đào hố sâu ngăn bước hai bên
    Nhân dân nào sống được yên
    Âm mưu nham hiểm, ngày thêm rõ ràng

  125. concun permalink

    Tôi không hiểu sao trang truongchinhtrina.gov.vn lại cho Phong trào Bình Tây sát tả là điểm đen!!!!!!.
    Thế hệ trẻ VN nên vào sachhiem và Giao điem để biết rõ ngọn ngành về thực chất của đạo Thiên chúa, đầu não chính trị nằm tại Vatican, một khi đã vào đạo này, tín đồ sẽ bị Vatican tẩy não và vâng phục vatican vô điều kiện, không còn biết nguồn gốc ông bà tổ tiên như Ngô Đình Diệm, vì nếu biết tổ tiên thì làm sao giáo dân đi lính cho Tây bắn giết người yêu nước chống Tây xâm lược.

  126. concun permalink

    Quân xâm lược Pháp có vũ khí hiện đại hơn nước ta vào thời Nguyễn là một trời một vực. Chuyện chống Tây đã là một chuyện khó khăn. Đã vậy, giáo gian còn đắc lực làm tay sai cho Tây, chỉ điểm cho Tây.
    Làm sao mà chống Tây thành công khi bên trong nước VN có nội ứng chỉ điểm. chính vì lẽ này mà cha ông ta phải tiêu diệt Việt gian.
    Rất đơn giản dễ hiểu như vậy mà tôi không hiểu sao con cháu việt gian không hiểu còn giả bộ bình luận là: Bình tây đâu không thấy mà chỉ thấy sát tả.
    Vũ khí Tây hiện đại, súng ống, tàu thuyền đại bác lúc đó ta chưa có, chiến đấu vô cùng khó khăn phải dùng kế phục kích trong khi cha ông bây lại đi chỉ điểm tự nguyện xách súng bắn vào nghĩa quân.

  127. concun permalink

    Hiện tại con cháu Việt gian Cato Roma cho ra nhiều website như nguoitinhuu, niemhyvong,…nhục mạ các cuộc khởi nghĩa chống pháp của cha ông ta là phiến loạn, nổi loạn….che giấu tội phản quốc của cha ông chúng.

  128. concun permalink

    Kính thưa quý vị.
    Trang website Truongchinhtrina.gov.na không biết rõ về Vatican, không biết rằng một khi gia nhập đạo Thiên chúa Roman, giáo dân chỉ biết và vâng lời một ông vua duy nhất là giáo hoàng Vatican, đặt quyền lợi của Vatican lên trên quyền lợi của Tổ quốc VN. Vatican thực chất là một tổ chức chính trị quốc tế đội lốt tôn giáo cấu kết với bất cứ thế lực khác để mưu đồ xâm lược chiếm đất và tài nguyên.
    Trang web truongchinhtrina.gov.vn nên vào website sachhiem và giao điem để hiểu rõ xung đột lương giáo là do giáo dân đã phản bội Tổ quốc chỉ điểm, đi lính cho Pháp, và cho đến nay 2013 con cháu của Viet gian Kito Roma giáo vẫn còn vâng phục Vatican, chửi bới tổ tiên VN.

  129. concun permalink

    Trích một vài ý kiến của các nhà nghiên cứu:

    Học giả Vương Hồng Sển:
    “Ông (ám chỉ Trần Bá Lộc), người khô ráo dỏng dảy, môi mỏng, cặp mắt có sát khí. Ông ta bắt được địch thủ, nhứt quyết không cầm tù, chỉ chặt đầu y như quân lịnh: chém người như chém chuối, chém không chừa con đỏ. Chính Toàn quyền Paul Doumer còn phải hạ một câu xác đáng: “Nếu muốn (nhơn nghĩa) …thì thà đừng sai hắn (ám chỉ Lộc) cầm binh!” Sau việc bắt giữ Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân năm 1875, ngày 26 tháng 5 năm 1866, Phó Đô đốc Hải quân Pháp De La Grandirere khen ngợi Lộc: “Hãy tiếp tục phụng sự nước Pháp, đất nước mà ông là một trong những đứa con đáng tự hào”.[7]
    Nhà văn Sơn Nam:
    …”Khi Mai Xuân Thưởng khởi nghĩa, Trần Bá Lộc ở xứ Nam Kỳ lại hăng máu, xin đem quân ra đánh dẹp. Việc này xúc phạm đến tự ái của quân đội Pháp, các công sứ Pháp và Nguyễn Thân, tay Việt gian đắc lực. Tại sao dẹp một cuộc khởi loạn ở miền núi xứ An Nam đến chi viện? Nhưng vài tên Pháp đầu sỏ đã ủng hộ việc ấy, thế là Trần Bá Lộc huênh hoang, cho khắc con ấn với chữ Tổng đốc Thuận Khánh (Bình Thuận và Khánh Hòa) để sử dụng, đồng thời lại chiêu mộ hơn ngàn lính mã tà, đưa vào trại Ô Ma ở Sài Gòn để tập dượt.
    Với thủ đoạn từng áp dụng ở đảo Phú Quốc khi vây bắt nghĩa quân Nguyễn Trung Trực năm 1868, đàn áp cuộc khởi nghĩa Thủ Khoa Huân năm 1875 ở Mỹ Tho; Lộc bắt bớ rồi tra tấn thân nhân của nghĩa quân và của chính Mai Xuân Thưởng…Ngỡ mình lập thành tích xuất sắc, nhưng hắn gặp sự lạnh nhạt của cấp trên. Sau khi, hắn rút quân về Nam Kỳ rồi về Cái Bè (Tiền Giang). Bọn tay sai thực dân bèn tố giác sự lộng quyền của hắn. Sứ mạng đánh Mai Xuân Thưởng đã chấm dứt, ấy vậy mà về Nam Kỳ hắn tiếp tục xài con ấn Tổng đốc Thuận–Khánh. Rốt cuộc, thực dân khuyên hắn nên xưng danh Tổng đốc “hàm” tượng trưng”…[8]
    …”Đây là tay sai đắc lực số một, vượt hẳn hai nhân vật trên: háo thắng, ham địa vị, ưa tàn sát theo lối phong kiến…Đại khái, họ (ám chỉ Pháp) biết Lộc tàn ác nhưng họ xài trong thủ đoạn dùng người và luật lệ bổn xứ để đàn áp người bổn xứ: “Một viên chức quá kỹ lưỡng, quá tận tâm trong vài trường hợp”, “không cẩn thận trong việc dùng phương tiện, nhưng lại đạt mục đích chắc chắn”. Lộc sanh tật uống rượu, tánh tình thay đổi rõ rệt. Ba năm trước khi chết, Lộc được viên tham biện Mỹ Tho phê như sau: “Người ta có thể phàn nàn lão già này về những hành động ác độc lúc trước đã trở thành chuyện huyễn hoặc, khó tin, nhưng tôi cho là trong hàng ngũ viên chức bổn xứ hiện nay khó tìm được một người biết kính bề trên, dám tận tụy với chính nghĩa của nước Pháp bằng ông ta””[9]
    Sử gia Phạm Văn Sơn:
    “Miền Nam nhớ Trần Bá Lộc trong các vụ đàn áp phong trào Dân chúng tự vệ, Bình Tây sát tả; miền Trung cũng nhớ y trong vụ cộng tác với Nguyễn Thân đánh dẹp các nhà ái quốc mà đứng hàng đầu là cử nhân Mai Xuân Thưởng”…[10]
    Nhà sử học Tạ Chí Đại Trường:
    …”Lộc tiến mãi trong quân vụ thành một thứ lãnh chúa phong kiến nếu không có người Pháp ngăn bớt lại. Lộc đánh Cần Vương ở Nam Trung Kỳ đã nhân đó xin làm con dấu “Thuận Khánh Tổng đốc quan phòng” (tháng 7 năm 1886). Rồi đầu năm 1888, lại in danh thiếp xưng hẳn là “Khâm sai”, trách gì những kẻ ganh ghét tố cáo Lộc là “phản bội”, làm việc tân trào mà còn tự tôn xưng chức vụ của Triều đình Huế! Còn cần thì người Pháp hãy còn để, muốn xưng gì thì xưng, đến khi dẹp loạn xong, họ bèn đặt lại vấn đề và xét lại tước vị tự phong đó”…[11].

  130. concun permalink

    Trong Việt Nam sử lược có đoạn:

    Trong khi thống đốc Paul Bert xếp đặt mọi việc ở Bắc Kỳ, thì ở Trung Kỳ quân Cần Vương ở các tỉnh vẫn đánh phá. Quân Pháp phải tìm cách mà đánh dẹp cho yên. ở mạn Bình Thuận, Phú Yên thì thiếu tá De Lorme và viên công sứ Aymonier cùng với Trần Bá Lộc đem lính Tây và lính ở Nam Kỳ ra đánh dẹp. Trần Bá Lộc dùng cách dữ dội, chém giết rất nhiều, bởi vậy đất Bình Thuận không bao lâu mà yên; rồi đem quân ra dẹp đảng Văn Thân ở Phú Yên và Bình Định, bắt được cử nhân Mai Xuân Thưởng, Bùi Điền, Nguyễn Đức Nhuận đem chém. Từ tháng 6 năm Bính Tuất (1886) đến tháng 6 năm Đinh Hợi (1887), thì những tỉnh ở phía Nam đất Kinh kỳ đã dẹp yên [5].
    Lược kê một số thành tích của ông đối với thực dân Pháp:

    Tham gia trận Tháp Mười (đánh Võ Duy Dương) vào tháng 4 năm 1866.
    Truy bắt Nguyễn Trung Trực ở đảo Phú Quốc năm 1868.
    Đàn áp quân làm “ngụy” (thuộc giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương) ở phía Trà Đư (hay Trà Sư?) Châu Đốc năm 1868.
    Đánh dẹp cuộc khởi nghĩa Tứ Kiệt (1868-1871) ở Cai Lậy (Tiền Giang).
    Hành quân vào mật khu Bảy Thưa-Láng Linh (An Giang) của Trần Văn Thành năm 1871.
    Tháng 2 năm 1872, nghĩa quân Cầu Vòng do Đốc binh Lê Cẩn và Nguyễn Giao chỉ huy đã phục kích giết chết Tham biện Vĩnh Long là Salicetti. Trần Bá Lộc liền xua quân đến tàn sát dân làng và thiêu rụi nhà cửa của họ, vì “tội” chứa chấp “bọn phiến loạn”[6].
    Bắt sống Thủ Khoa Huân tại Chợ Gạo (Tiền Giang) năm 1875.
    Đàn áp cuộc khởi nghĩa của người Miên (Khmer) ở Trà Béc (vùng biên giới Việt-Campuchia) năm 1883.
    Đánh dẹp cuộc khởi nghĩa Lê Thành Phương ở Phú Yên năm 1887.
    Đánh dẹp cuộc khởi nghĩa Mai Xuân Thưởng ở Bình Định năm 1887, v.v…

  131. concun permalink

    Trần Bá Lộc (1839-1899) là một cộng tác đắc lực của thực dân Pháp[1] trong việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nông dân miền Nam Việt Nam những năm cuối thế kỷ 19
    Trần Bá Lộc sinh tại Cù lao Giêng (Chợ Mới, An Giang) trong một gia đình Công giáo. Cha ông là tú tài Trần Bá Phước, trước ở Quảng Bình, sau vì bất hòa với gia tộc, ông vào Nam mở trường dạy học tại Cù lao Giêng năm 1829. Mẹ ông là bà Nguyễn Thị Ở, con gái của Phó quản cơ Nguyễn Văn Thắng. Hiện phần mộ của hai ông bà vẫn còn tại cù lao này.

    Năm 1859, khi Pháp tấn công Sài Gòn, Trần Bá Lộc còn đang chèo ghe từ nơi ở đến Mỹ Tho bán cá cho quân đội Pháp. Sau nhờ quen biết giáo sĩ Marc, ông hàng Pháp (1861), rồi ba tháng sau làm cai mã tà đóng tại Chợ Gạo (Mỹ Tho).

    Năm 1863, ông lên chức đội nhì ở Mỹ Tho, làm cần vụ và dạy chữ Hán [3] cho tham biện Paul-Louis-Félix Philastre, người mà sau này là đồng tác giả Hòa ước Giáp Tuất (1874).

    Tháng 3 năm 1864, Trần Bá Lộc lên chức đội nhất, và đến ngày 19 tháng 7 năm 1865, ông được cử làm Tri huyện Kiến Phong (Cái Bè, Tiền Giang).

    Nhờ đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa ở Nam Kỳ, Trần Bá Lộc được thăng các chức: Tri phủ (1867), Đốc phủ sứ (1868), Thuận Khánh tổng đốc (24 tháng 7 năm 1886).

    Khi những cuộc khởi nghĩa ở Nam Kỳ và Trung Kỳ đã bị phá vỡ, ông về lại Cái Bè, chức danh trên bị thay là Tổng Đốc danh dự (honoraie) Cái Bè. Ngoài ra, ông còn nhận được các huy chương: Danh dự Bội tinh bạc (tháng 4 năm [[1866, sau khi tham gia trận Tháp Mười, đánh Võ Duy Dương), Bắc Đẩu Bội tinh đệ tứ đẳng (15 tháng 8 năm 1868), Bắc Đẩu Bội tinh đệ tam đẳng (10 tháng 2 năm 1887),…[4]

  132. concun permalink

    2 tháng bảy 1885
    Thống tướng De Coursy tới kinh đô Huế trình quốc thư.
    Mục đích sâu xa của chuyến đi này là nhằm thủ tiêu Tôn Thất Thuyết và đập tan phe chủ chiến trong triều đình lúc đó. Bởi vì mọi hoạt động chuẩn bị cho cuộc tổng nổi dậy đánh pháp do Tôn Thất Thuyết chỉ đạo đều đã được tên cố đạo thực dân Ca s pa rd bí mật thông báo cho De Coursy, ngay khi De Coursy đặt chân tới Bắc kỳ.

  133. concun permalink

    Tháng ba 1884
    Triều đình xử lý vụ đốt nhà, tàn sát dân theo đạo ở Thanh Hoá.
    Bốn người bị kết án xử chém là: Chánh sơn phòng sứ Hồ Tư cung, Phó sơn phòng sứ Đỗ huy Toản, hai quản mộ là Huyền và Mao. một người bị kết án phạt trượng và bắt đi đày Tổng đốc Thanh Hoá Tôn thất Trường. Một người bị giáng chức sung quân là Tri phủ Thiệu hoá Nguyễn Dĩnh.
    Vụ này xảy ra từ năm 1883, Triều đình ỉm đi. song do áp lực của Pháp, Triều đình buộc phải đưa vụ này ra xử.

  134. concun permalink

    Tháng chín 1874 cuộc khởi nghĩa Giáp Tuất bị dập tắt.
    Tháng hai 1883
    Giới cầm quyền TQ ở Vân Nam hạ mật lệnh cho lực lượng quân cờ đen ở VN phải giết hết số dân theo đạo ở Bắc kỳ để làm hậu thuẫn cho cuộc thương lượng với Pháp về vấn đề VN. Bản mật lệnh ghi rõ: ” Chúng ta không thể hy vọng đánh thắng được người pháp một khi ở xứ bắc kỳ đương còn số dân theo đạo Gia tô………Bởi vậy, trước hết chúng ta phải tiêu diệt hết bọn giáo dân, và như vậy chúng ta sẽ dễ dàng thắng lý với người Pháp”.

  135. concun permalink

    Tháng hai 1874
    nhân dân Nghệ An dưới sự lãnh đạo của Trấn Tấn và Đặng Như Mai nổi dậy khởi nghĩa chống triều đình Huế thoả hiệp với giặc, diệt trừ những phần tử theo Thiên chúa giáo làm tay sai cho giặc.
    Tháng tư 1866 Linh mục Pháp tố cáo việc này lên Bộ lễ.

  136. concun permalink

    1874
    Phái đoàn hiệp thương Việt- Pháp, do Nguyễn văn Tường và Philastre tới Hanoi. Sau mấy buổi hội bàn đôi bên đã cho giải thể 12000 người ( phần lớn là dân theo đạo Thiên chúa) vừa qua đã theo quân đội của Francis Gacnie đi phá rối các nơi.

    17 thang 1 1874
    Tự Đức ra dụ đại xá cho tất cả những ai thời gian vừa qua đã cộng tác với quân Pháp trong việc đánh chiếm các tỉnh thành Hanoi, Hải Dương , ninh bình , Nam định.

  137. concun permalink

    Tháng bảy 1871
    Để củng cố nền trật tự xã hội đang bị thối rỗng, Tự Đức đem 10 điều huấn dụ của Minh Mạng dịch và khắc in thành tập ” Thập điều diễn nghĩa” rồi đem phát cho mọi người để theo đó mà học tập tu tỉnh
    Trong điều chín của Hiệp ước 15- 3 -1874, có đoạn thực dân Pháp buộc Tự đức phải sửa lại những từ nói xấu đạo Thiên chúa in trong bản Thập điều kể trên. Đến khi bãi bỏ lệnh cấm đạo, triều đình Huế đã ra lệnh thu hồi các bản Thập điều đó.

  138. concun permalink

    Tháng sáu 1863
    Giáo sĩ Tây ban nha tập hợp dân đạo và bọn thổ phỉ người Việt, Tàu, đi hai chiếc tàu lớn và hơn 200 chiếc thuyền nhỏ theo đường sông Bạch đằng tấn công luỹ Nhất tự ở Hà Nam, phá đê đưa chiến thuyền vào để mưu chiếm Hà nam nhưng đã bị nhân dân ta đánh bại.

  139. concun permalink

    5 tháng sáu 1862
    Thực dân Pháp và Tây ban nha buộc triều đình Huế phải bãi bỏ lệnh cấm đạo trên toàn quốc ( điều hai Hiệp ước nhâm tuất).
    Buộc triều đình Huế bồi thường chiến phí. Tổng số tiền phải bồi thường là bốn triệu đô la, trả trong mười năm, mỗi năm 40 vạn, nộp cho Pháp, tại Saigon ( điều tám hiệp ước)
    Vì VN không dùng đô la nên quy định 1 đô la=.72 lạng bạc. Như vậy mỗi năm triều đình phải trả 288000 lạng bạc.

  140. concun permalink

    Tháng giêng 1862
    Triều đình cho phép những người bị tội được bỏ của ra để chuộc. Nhưng nếu tội nhân là những người theo đạo gia tô thì tuyệt đối không được giải quyết.

  141. concun permalink

    Tháng mười hai 1861
    Triều đình cho công bố một số hình thức xử lý đối với dân theo đạo. Chia làm hai loại: Loại đang bị đưa đi phục dịch việc quân: nếu cố tình không bỏ đạo sẽ bị giam giữ cho đến chết, nếu là loại đầu sỏ hung hăng sẽ loại ra cho thắt cổ chết ngay ( quan địa phương chịu trách nhiệm giáo dục và mỗi tháng phải kiểm tra hai lần để phân loại). Loại đang bị đưa đi an trí: ai đã bỏ đạo nhưng xét ra chưa thực tâm, sẽ bị đánh 60 trượng; ai chưa bỏ đạo sẽ bị đánh 80 trượng; ai trốn đi nơi khác bắt được sẽ đánh 100 trượng.
    Do lệnh này và các lệnh trước đó, nguyên tỉnh Nam định đã có hơn 4800 giáo dân bị giết.

  142. concun permalink

    Tháng mười 1861
    Triều đình cho dân nội tịch và ngoại tịch bên Lương được nhận phần ruộng tịch thu của dân theo đạo Gia tô để cày cấy. Hoa lợi chia đôi: hưởng một nửa, còn một nửa kia nhà nước thu để nuôi số dân theo đạo đương còn bị giam giữ.
    Tháng mười một 1861
    Chiến thắng Cái bè, Cai lậy của quân dân Định Tường, dưới sự chỉ huy của lãnh án sát Định Tường Nguyễn văn Nhã: hai chiến thuyền địch bị đánh đắm, 50 tên vừa lính pháp vừa lính ma tà bị giết.

  143. concun permalink

    Tháng bảy 1861
    Triều đình Huế ra lệnh tăng cường quản lý nghiêm ngặt số dân theo đạo. Đối với dân theo đạo Gia tô- không kể già trẻ trai gái, không kể đã bỏ đạo hay chưa bỏ đạo- đều phải thích chữ vào mặt và chia ghép đến ở các xã thôn không có người theo đạo để tiện việc quản thúc; đối với những giáo dân đầu sỏ, hung ác, phải giam giữ cẩn thận; trường hợp quân pháp- Tây ban nha kéo quân đến vùng có dân đạo ở thì lập tức phải đem giết hết dân đạo. Nơi nào không làm tròn việc này, sẽ chiếu quân luật trị tội.

  144. concun permalink

    Tháng tư 1861
    Tăng mức thuế thân để hạn chế số dân theo đạo Gia tô. Xã thôn nào bỏ đạo chưa hết, sẽ tăng thuế thân lên gấp rưỡi, xã thôn nào còn che giấu, chứa chấp đạo trưởng sẽ tăng mức thuế lên gấp đôi, dân ngoại đinh theo đạo sẽ phải nộp thuế thân ngang với mức thuế thân của dân nội đinh bên lương.

  145. concun permalink

    Trước đó Trần Xuân Hoà đã từng mộ quân đánh Pháp. Ông thường dùng chiến thuật phục kích để tiêu diệt sinh lực địch và đã có sáu trận thắng lớn, giết nhiều lính pháp và lính ma tà ( dân theo đạo, đi lính cho Pháp, được Pháp phiên chế thành các đơn vị riêng gọi là đơn vị lính ma tà)
    Bị giặc bắt được, ông không chịu khuất phục và đã cắn lưỡi tự vẫn.

  146. concun permalink

    Tháng 8-1861 Cha r nẻ giải thể toàn bộ binh linh đồn điền mộ từ trước và thay vào đó là số lính nguỵ do chúng tuyển lựa, đào tạo để làm công cụ đàn áp phong trào kháng chiến của quân dân ta………
    …..
    Xem 12-5-1884 thành lập đơn vị nguỵ binh ở Bắc kỳ.

  147. concun permalink

    24 tháng ba 1861
    Phó đô đốc Ch a rner ký nghị định chính thức thành lập 4 trung đội lính nguỵ đầu tiên ở Nam kỳ, mở đầu một cách quy mô chính sách dùng người Việt đánh người việt. Thực ra tiền thân của bốn trung đội lính nguỵ này là hai trung đội lính tập mà tướng Rigon de Gienuiy đã tổ chức ở Đà nẵng từ năm 1859, bao gồm tuyệt đại bộ phận là dân theo đạo Thiên chúa đã bị chúng dụ dỗ vào lính. Một trong hai trung đội do Gionuy thành lập đó đã được Cha rner sử dụng trong chiến dịch hạ đồn Chí hoà 23- 25 tháng hai 1861

  148. concun permalink

    Tháng mười hai 1859
    Tự đức ra lệnh cấm quan lại các cấp không được theo đạo gia tô. Quy định các mức phạt như sau: cách chức không dùng tất cả những ai trước đã có theo đạo; quan văn từ chánh thất phẩm trở xuống; quan võ từ suất đội trở xuống nếu không chịu bỏ đạo đều ghép vào hình phạt treo thắt cổ; quan văn từ tòng lục phẩm trở lên, quan võ từ cai đội trở lên nếu không bỏ đạo, bắt thắt cổ chết ngay.

  149. concun permalink

    Tháng mười 1859
    Tự Đức ra dụ cho các quan lại hàng tỉnh Nam kỳ và Bắc kỳ phải khẩn cấp thi hành mọi biện pháp nghiêm khắc để xử lý dân theo đạo như bắt giam những giáo dân có hành động kích động dân chúng; tịch thu tài sản của những giáo dân phạm tội; ghép số giáo dân có thái độ trông ngóng quân Pháp vào các xã thôn không có người theo đạo để tiện việc quản lý chúng; binh, dân phải có trách nhiệm phát giác và bắt nộp cho quan địa phương những giáo dân có hành động chống đối triều đình; ai bắt được bọn đạo trưởng hay bọn đầu mục gian ác đã theo đao sẽ được khen thưởng hoặc bổ cho quan tước; tỉnh nào thi hành chậm trễ hoặc thi hành trái với dụ này sẽ chiếu theo quân luật trị tội.

  150. concun permalink

    Đối với bọn cường hào đầu mục theo đạo phải quản lý chặt không cho chúng tự do đi lại; sáp nhập người già, trẻ con, phụ nữ đã theo đạo và có thái độ trông chờ quân Pháp vào các thôn xã không có người theo đạo để tiện quản lý; ngăn chận không cho dân đạo tiếp xúc liên hệ với Pháp; đối với dân theo đạo đã bỏ đạo ra thú thì cho phép xã sở tại được nhận về quản thúc, nhưng với điều kiện xã ấy phải ở xa nơi Pháp đóng chiếm ( trường hợp xã ở gần đồn binh Pháp thì không được nhận mà phải chuyển giao cho các xã ở xa đồn binh Pháp nhận quản thúc hộ)

  151. concun permalink

    Với mong muốn đánh chiếm nhanh Đà Nẵng, rồi sẽ “giáng cho Huế một đòn quyết định”, để có thể làm chủ nước Đại Nam; nhưng ý đồ của Liên quân Pháp và Tây Ban Nha đã không thể thực hiện được, vì vấp phải sự kháng cự của quân và dân nước ấy.

    Bị cầm chân ở Đà Nẵng, tướng Charles Rigault de Genouilly (gọi tắt là De Genouilly)[1] buộc phải thay đổi kế hoạch, là rút đi hai phần ba số quân (tức 2.000 người)[2] và 8 trong số 14 chiến thuyền ở mặt trận này để vào đánh chiếm Gia Định.

    Mặc dù được giáo sĩ Pellerin khuyên nên đem quân ra chiếm Bắc Kỳ, vì ở đó có giáo sĩ và giáo dân Thiên Chúa giáo, và những người tôn phù nhà Lê nổi lên góp sức, nhưng sau khi cân nhắc, tướng De Genouilly không tán thành [3]. Theo thư ngày 29 tháng 1 năm 1859 của viên tướng này gửi Bộ trưởng Hải quân Pháp ở Paris, thì “Sài Gòn nằm trên một con sông mà chiến thuyền của chúng ta dễ vào, và hễ quân lên bộ thì đánh thành ngay, không phải lưng cõng, vai mang, băng đồng mệt nhọc. Sài Gòn lại là một vựa thóc. Nhân dân và binh lính ở kinh thành Huế sống một phần nhờ gạo Sài Gòn. Đến tháng Ba thì thuyền chở thóc gạo, sẽ kéo buồm từ Sài Gòn ra Huế. Chúng tôi quyết chận thóc gạo đó lại…”[4]

  152. concun permalink

    Sự kiện lịch sử thời cận đại (1858-1945)
    1-9-1858 :Liên quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng vào thành Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm
    17-2-1859 :Quân Pháp đánh chiếm tỉnh thành Gia Định (Sài Gòn).
    Tháng năm 1859
    Triều đình đề ra một số biện pháp để quản lý số giáo dân ở Gia định đã bị giặc dụ dỗ làm tay sai cho chúng. Bắt giam cha mẹ vợ con của những kẻ đã thực sự làm tay sai cho giặc và buộc họ phải gọi chúng về.

  153. concun permalink

    Tháng Mười năm 1963, trong sự căng thẳng của những âm mưu và tình thế, ông Diệm có nhắc lại câu nói của một chính trị gia Tây phương: “Tôi tiến, hãy theo tôi. Tôi lùi, hãy giết tôi. Tôi chết, hãy trả thù cho tôi”. Năm 1955–1956 ông tiến trên con đường phục vụ dân tộc và cả miền Nam đã hết lòng theo ông: năm 1960–63, ông lùi và rẽ vào con đường hại nước hại dân nên cả nước đã giết ông. Không lẽ tàn dư của tập đoàn Cần Lao Công Giáo muốn trả thù nhân dân cả nước sao!?

    Dù ông Diệm không chết trong ngày chế độ ông bị lật đổ thì ông cũng đã chết trong lòng dân tộc, trong lòng lịch sử từ lâu rồi. Cái chết của ông Diệm không phải chỉ là sự tan rã của hình hài vật chất mà còn là sự tan rã của danh phận phẩm giá nữa. Mà đó mới là điều thê thảm. Thê thảm đến độ học giả Lãng Nhân Phùng Tất Đắc và nhân sĩ Hoàng Trọng Thược phải ghi vào sách sử lên án năm anh em nhà Ngô bằng những câu thơ “ngàn năm bia miệng” để đời [51]:

    Vùi nông đôi nấm giữa đêm sâu,

    Mười thước sau chùa đủ bể dâu.

    Ba cỗ quan tài bốn lỗ huyệt,

    Năm thằng Trời đánh một con Mầu.

    Mới vừa Hăm Sáu còn nguyên thủ,

    Mà đến Mồng Hai đã vỡ đầu.

    Bảy Tám thu trường Ngô với Đĩ,

    Ngô thì chín rụng Đĩ chơi đâu?

  154. concun permalink

    Cuốn “Vietnam A History” của Stanley Karnow viết rằng:

    “Trong một buổi hội kiến riêng tại Dinh Tổng thống ngày 2 tháng 9, ông Maneli tiết lộ cho ông Ngô Đình Nhu biết về cuộc nói chuyện giữa ông ta và Phạm Văn Đồng. Nhu tỏ ra thích thú. Maneli trở lại Hà Nội nơi mà nhóm lãnh đạo Cộng Sản nhấn mạnh rằng: “Kẻ thù chính của họ là Đế quốc Mỹ chứ không phải chế độ Diệm”…

    “Âm mưu trên nghiêm chỉnh hay là hỏa mù? Ở Việt Nam không phải cái gì cũng dễ dãi, có thể là một tập hợp cả hai. Hoàng Tùng, chủ nhiệm tờ Nhân Dân, đảng viên đặc trách tuyên truyền năm 1981 cho tôi biết rằng: “Sự thật thì Bắc Việt cố gắng đào sâu hố chia rẽ giữa Mỹ và Diệm. Còn Bà Nhu sau này xác nhận cuộc nói chuyện giữa ông Nhu và miền Bắc đang tiến hành, bà ta còn tiết lộ việc bà ta sẽ gửi hai đứa con của bà ta ra Hà Nội như một “cử chỉ thân thiện”. Nhưng âm mưu của Nhu còn là một thủ đoạn để “blackmail” người Mỹ. Ngoài nhiều điều khác Nhu kể ra cho ký giả Joseph Alsop có âm mưu trên là để dọa người Mỹ. Maneli đã nói: “Nhu chơi nhiều trò một lần”.

    “Với một số giới chức người Mỹ thì những âm mưu của Nhu tạo thêm lý do để lật đổ Diệm. Hillsman, trong một tờ trình tối mật cho ngoại trưởng Rusk, đề nghị phải thúc đẩy tướng lãnh gấp rút đảo chánh nếu Diệm nói chuyện với Hà Nội và khuyến cáo phải dùng quân lực chống lại Bắc Việt nếu Bắc Việt dùng quân đội để cứu Diệm…

    “Có thể một cơ hội đã mất cho một cuộc hôn nhân thuận tiện giữa Bắc và Nam Việt Nam. Nhưng trong tình thế lúc bấy giờ mà bảo Mỹ phải từ bỏ Việt Nam thì đó là một điều không tưởng tượng được”. (tr. 292)

    Để bổ túc cho nhận định của Karnow tôi ghi thêm đây một nhận định khác của bà Ellen Hammer:

    “Theo ông Hillsman thì các tướng lãnh miền Nam cũng tin rằng Nhu cố ý thương thuyết với Hà Nội và bán đứng miền Nam cho Cộng Sản. Tướng Khánh đã từng nói như thế với CIA Sài Gòn ngày 25-8-1963. Đó là lý do làm nặng cân cho người Mỹ và cho tướng lãnh Việt Nam”. (“A Death in November”, sđd tr. 177).

    Ngoài ra, việc ông Ngô Đình Nhu âm mưu bắt tay với Hà Nội không chỉ nhờ Đại sứ Maneli làm liên lạc giữa Hà Nội và Sài Gòn mà chính ông Ngô Đình Nhu đã đích thân đi gặp Phạm Hùng như tướng Trần Văn Đôn đã tiết lộ dưới đây:

    “Đầu tháng 2 năm 1963, Trung Tá Bường lúc ấy đang làm Tỉnh trưởng Bình Tuy, dùng xe Dodge 4×4 chở ông Ngô Đình Nhu và ông C. đi săn. Trời đã trở lạnh và có mưa mà ông Cố vấn đi săn! Nhưng có ai biết được đó chỉ là lối ngụy trang. Sự thật các ông ấy không đi săn mà đi thẳng tới một căn nhà lá trong rừng thuộc địa hạt quận Tánh Linh thuộc tỉnh Bình Tuy…

    “Trung tá Bường lái xe đưa ông Ngô Đình Nhu đến chỗ hẹn. Đến nơi, Trung tá Bường và ông C. chờ ngoài xe, lo an ninh. Chỉ có ông Nhu vô. Hai người ngồi ngoài lắng nghe những lời đối thoại ở bên trong lúc nhỏ lúc to. Người đang nói chuyện với ông Nhu là Phạm Hùng, có hai người nữa ngồi bên cạnh…

    … Ông Nhu hứa với Phạm Hùng khi nối xong đường xe lửa thì bà Nhu và Ngô Đình Lệ Thủy sẽ đi chuyến xe Thống Nhất đầu tiên ra Hà Nội… Trong câu chuyện, Phạm Hùng cũng trách sao giao những căn cứ quân sự cho Mỹ sử dụng. Ông Nhu nói Mỹ là đồng minh của miền Nam, Mỹ đến miền Nam và dĩ nhiên sử dụng những nơi đó chứ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa không có giao nhượng cho Mỹ…” (“Việt Nam Nhân Chứng”, Trần Văn Đôn, Hoa Kỳ, 1989, tr. 183, 184).

    Tiết lộ của tướng Đôn trên đây nhắc tôi nhớ lại đầu năm Quý Mão (tháng 2/1963), nhân buổi tiếp tân đầu Xuân tại dinh Gia Long, Tổng thống Diệm chỉ một cành đào được trưng bày trong đại sảnh rồi nói với quan khách rằng đó là cành đào do đồng bào Bắc Việt gởi tặng. Mọi người im lặng nhưng đều có vẻ suy tư. Sau này có người khám phá ra đó là quà tặng Tết của tướng Văn Tiến Dũng cho ông Diệm. Nếu quả đúng như thế thì âm mưu bắt tay với Hà Nội của hai ông Diệm–Nhu phải có từ lâu rồi. Ít nhất là trong năm 1962–1963, trước khi nhờ sự vận động của Đại sứ Maneli. Và quả thật anh em ông Diệm, vợ chồng Ngô Đình Nhu đã quyết tâm thỏa hiệp với Hà Nội trong tình hình chính trị, quân sự yếu kém của miền Nam, trong sự bất hòa trầm trọng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ tức là anh em ông Diệm muốn trao miền Nam cho Hà Nội, muốn thực hiện kế sách “sau ta là cơn Hồng Thủy” như một linh mục người Bỉ đã nói trên kia. Thế mà vẫn có trí thức Thiên Chúa giáo dùng lời lẽ ngụy biện để bênh vực hành động phản bội đó của ông Ngô Đình Nhu.

    Với những người có ý thức chính trị, qua những nhận định trên ta thấy ông Nhu là kẻ thiếu một tầm nhìn chiến lược bao quát và luôn luôn chủ quan nên đã tạo nhược điểm cho Hà Nội lường gạt và tạo sự công phẫn của người Mỹ và tướng lãnh chống Cộng của Việt Nam Cọng Hòa.

  155. concun permalink

    Thế mà sau khi ông Diệm bị lật đổ, nhất là từ sau biến cố thảm bại của Việt Nam Cộng Hòa năm 1975, tại hải ngoại nhiều sách báo của nhóm Công Giáo Cần Lao, đặc biệt là nhóm Văn Nghệ Tiền Phong, đã dám trắng trợn xuyên tạc cuộc đấu tranh của Phật giáo năm 1963 là do Cộng Sản chỉ đạo và vu khống Thượng Tọa Trí Quang là cán bộ Cộng Sản (qua cuốn Trong Lòng Địch của Trần Trung Quân).

    -o0o-

    Âm mưu của anh em ông Diệm Nhu thỏa hiệp với Hà Nội không phải chỉ có cuốn sách “War of The Vanquished” của cựu Đại sứ Ba Lan tại Sài Gòn lột trần sự thật, mà còn có nhiều tài liệu khả tín khác nữa:

    – Cuốn “Les Deux guerres du Vietnam” của George Chaffard, một ký giả Pháp triệt để trung thành và thân cận với cố Tổng thống De Gaulle, là nhân vật mà hai ông Diệm Nhu nhờ làm trung gian cho kế hoạch thỏa hiệp Bắc Nam, chủ trương thống nhất hai miền Nam Bắc với sự lãnh đạo của ông Hồ Chí Minh, và chống chính sách tham dự của Mỹ tại Việt Nam.

    – Cuốn “A Death in November” của nữ tiến sĩ Ellen Hammer, người thân với nhà Ngô và giáo sư Bửu Hội. Ông Bửu Hội vừa thân với ông Ngô Đình Nhu, vừa thân Pháp, vừa khâm phục ông Hồ Chí Minh cũng là nhân vật chống lại cuộc đấu tranh của Phật giáo và chống Mỹ. Cũng như ông Bửu Hội, bà Ellen Hammer ủng hộ âm mưu thỏa hiệp với Hà Nội của hai ông Diệm Nhu nên sách của bà thường có cảm tình với nhà Ngô và đánh phá Phật giáo và tướng lãnh Việt Nam đã lật đổ chế độ Diệm.

    – Tài liệu “The Cult of Diem” của ký giả Robert Shaplen được đăng trên tạp chí “The New Yorker”.

    Sau khi chỉ trích ông Ngô Đình Nhu chủ quan, tiếc cho ông Diệm đã bị giết và tiếc cho cuộc Cách mạng 1–11–1963 bất thành, Robert Shaplen đã kết luận:

    “Đã có những chứng liệu cho thấy rằng trước khi có cuộc đảo chánh, chính phủ Sài Gòn và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã tiến hành những nỗ lực thỏa hiệp với nhau. Những nỗ lực này có thể sẽ không đi đến đâu và chiến tranh sẽ tiếp tục dù ở mức độ nhỏ hơn. Nhưng dù ở mức độ nhỏ hơn hay dù thỏa hiệp chính trị có đạt được ngay cả khi Hà Nội hoàn toàn khống chế MTGPMN, thì Nam Việt cũng sẽ rơi vào một hình thức thống trị của Cộng Sản.”

  156. concun permalink

    Dennis Warner phần thì nhờ điều tra nghiên cứu kỹ càng tình hình Việt Nam, phần thì nhờ ông Trần Văn Khiêm em ruột bà Nhu cho biết về những bí ẩn của gia đình và chế độ Diệm nên đã lên án nặng nề ông Diệm và về vợ chồng Ngô Đình Nhu:

    A stage has been reached, in fact, where the tyranny the West allied in Saigon was in many ways worse than the tyranny it was fighting against. Communist terror was at least discriminately applied: Nhu’s was indiscriminated. And in all of this, Diem was a willing, but almost certainly unwitting, ally. As Saigon put it, he wore “blinkers” from the earliest of the regime. Since for years, it was impossible for an outsider to carry on a normal conversation with him, he never listened to the evidence against the Nhu. Cabot Lodge tried, as others has tried before him and failed. There was no alternative now but coup-d’etat [50].

    (“Đây là lúc mà chính quyền Sài Gòn đồng minh với Tây phương, đã trở nên độc tài hơn cả kẻ thù của họ. Cộng Sản tàn bạo một cách có chọn lựa, (Ngô Đình) Nhu tàn bạo một cách mù quáng. Và trong cái trạng huống này Diệm dù không cố ý, vẫn sẵn sàng làm một đồng minh của Nhu. Ở Sài Gòn, người ta biết rằng từ những ngày đầu của chế độ, ông Diệm chỉ như một con ngựa có hai miếng che bên hai mắt. Vốn đã từ nhiều năm rồi, không một người ngoài nào có thể đàm thoại bình thường với Diệm, ông ta không bao giờ chịu nghe những chứng cớ chống lại vợ chồng Ngô Đình Nhu. Cabot Lodge cố gắng nói với Diệm, như những người đi trước đã cố gắng, nhưng cũng đã thất bại. Do đó mà không còn một giải pháp nào khác hơn là một cuộc đảo chánh”).

    Cũng vì ông Diệm đã chiều lụy tất cả anh em và gia đình ông ta, kể cả việc chiều lụy để bắt tay với Cộng Sản phản bội cuộc chiến đấu gian khổ của quân dân miền Nam cho nên năm 1963 trong khi Phật giáo nổi dậy đấu tranh đòi quyền sống, thì quân đội cũng nổi dậy để lật đổ chế độ. Trong một cuộc họp báo sau ngày Cách mạng 1–11 thành công, tướng Tôn Thất Đính đã tuyên bố rõ ràng rằng quân đội phải ra tay vì anh em ông Diệm âm mưu bắt tay với Cộng Sản. Tướng Đính cũng nêu đích danh Đại sứ Ba Lan, ông Maneli là người liên lạc giữa Hà Nội và Sài Gòn, giữa hai ông Phạm Văn Đồng và Ngô Đình Nhu như chính ông Maneli đã kể trong hồi ký của ông ta.

    Cần phải nhắc lại rằng sau khi ra lệnh tấn công chùa chiền bắt bớ giam cầm Tăng Ni, sáng 21 tháng 8, qua đài phát thanh Sài Gòn, ông Diệm tuyên bố “nhận lãnh mọi trách nhiệm trước lịch sử về hành động của ông vì Việt Cộng đã tràn ngập Thủ Đô”. Rõ ràng ông Diệm đã vừa ăn cướp vừa la làng. Trong lúc vu khống Phật giáo là Cộng Sản thì anh em ông lại tiến hành cuộc thoả hiệp với Cộng Sản Hà Nội.

  157. concun permalink

    Năm 1942, cũng vì tin vào thái độ “cởi áo từ quan”, tin vào lý tưởng “vì dân” của ông Diệm nên tôi đã theo ông hơn hai mươi năm trời, đã hết lòng trung thành và hoạt động với ông, vì qua ông tôi ngỡ lý tưởng yêu nước yêu dân của mình được thành tựu. Trong suốt chín, mười năm cầm quyền, chế độ của ông khinh thường nhân dân, khủng bố đồng bào, đàn áp và tiêu diệt tôn giáo và đảng phái, giam cầm sát hại người quốc gia yêu nước, kể cả bạn thân, đồng chí, ân nhân, công thần, mà trong đó có rất nhiều tri kỷ của tôi, nhưng vì nghĩ rằng chế độ này còn thay đổi được, Cộng Sản còn là kẻ thù của ông, và vì còn muốn giữ chút tình cố cựu với riêng ông nên tôi đành ôm lấy hai chữ “ngu trung”, mặc cho bạn bè chê trách và rất nhiều lực lượng quốc gia yêu nước thù, ghét.

    Nhưng đến năm 1963, khi ông phóng tay công khai và tàn ác tiêu diệt bộ phận lớn nhất của dân tộc là Phật giáo, và khi ông quyết định tiến hành cuộc thỏa hiệp bất lợi để sống chung với Cộng Sản, và phản bội lại ý nguyện của toàn dân, thì tôi quyết định xem ông như kẻ thù, để thà làm kẻ “phản quân ái quốc” hơn là kẻ “phản quốc trung quân”. Vả lại, như tích xưa đã nói, mà quy luật cách mạng hiện đại nhất cũng đã chứng nghiệm: “Tôi chỉ nghe nói đến thiên hạ giết một kẻ hung bạo chứ không nghe ai nói giết Trụ Vương bao giờ”. (Lời của Mạnh Tử)

    “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Theo đức Mạnh Tử thì phải có dân mới có nước, và có nước mới có vua. Chức năng và nhiệm vụ người làm Vua là phải “Bảo Dân”, nghĩa là phải giữ gìn và tăng trưởng hạnh phúc của Dân. Nếu người làm Vua không hiểu rõ cái nhiệm vụ đó, hoặc hiểu mà vẫn không làm cái chức năng đó thì sẽ trái lòng dân, phản thế nước, ngược mệnh trời. Người giữ quyền trị dân mà chỉ dùng bạo lực để khống chế dân thì chỉ là bạo chúa phải diệt trừ.

    “Bởi cái tư tưởng ấy cho nên trong cái triết lý chính trị của Mạnh Tử có cái tinh thần Duy Dân thì việc trị dân trị nước chỉ có phép Công là trọng hơn cả, dù ai có quyền thế to thế nào cũng không ra ngoài phép Công được. Phép Công đã định thế thì từ vua quan cho chí người thường dân không ai được vượt qua mà làm điều trái phép. Đã có phép Công thì Thiên tử cũng không thể lấy quyền thế mà bỏ được. Người làm quan giữ phép phải theo phép mà trị tội, dù người trái phép là ông Thái Thượng Hoàng cũng không tha. Ấy thế mới là Công” [49].

    Lời giải thích quyết liệt và đầy đủ của học giả Trần Trọng Kim trong Nho giáo phản ánh chính sách trị quốc dân chủ và bình đẳng trong triết lý “thượng tôn pháp luật” của mọi quốc gia dưới mọi thời đại. Và học giả đó, khi là sử gia viết cuốn “Việt Nam Sử Lược”, thì cũng đã trung thực và can đảm ca ngợi nhà Tây Sơn dù khi viết ông đang sống dưới triều Khải Định, Bảo Đại là hậu duệ của Nguyễn Gia Long. Tư cách đó có khác gì tư cách của Tư Mã Thiên ngày xưa đâu!

    “Đã có phép Công thì Thiên tử cũng không lấy quyền thế mà bỏ được”. Nhà Nho Võ Như Nguyện nghĩ sao về lời dạy của thầy Mạnh Tử, đúng hay sai?

    Ông Võ Như Nguyện thời trước 1975 còn ở quê nhà từng có lập trường chống Cộng vững chắc, từng là chủ nhiệm báo Lòng Dân, từng viết tập “Thế Nước Lòng Dân” gởi cho ông Diệm, từng hô hào chánh sách lấy dân làm căn bản, lấy lòng dân làm vũ khí đấu tranh với Cộng Sản, thế mà ông lại bênh vực cho một gia đình làm mất lòng dân mà chính ông cũng đã nặng lời đả kích.

  158. concun permalink

    Anh em ông Diệm không chỉ mang mười chữ Bất nhưng nếu chịu khó nghiên cứu về dòng họ, xuất xứ, công danh, sự nghiệp, về tính tình và cách hành xử của họ thì sẽ thấy họ có ba yếu tính rất đặc thù:

    Họ là những kẻ tài bất cập chí, lực bất tòng tâm, thiếu ý thức chính trị và thiếu khả năng lãnh đạo mà luôn luôn mang tham vọng và hành xử độc tôn, độc quyền; dù họ có làm nên “Vương Bá” cũng chỉ là nhờ thế lực của ngoại nhân. Tư tưởng chính trị của họ không vượt quá tín điều Thiên Chúa giáo, hành động chính trị của họ trước sau chỉ là bạo quyền bạo lực.

    Họ là hạng người luôn luôn cao ngạo chủ quan, đầu có mang nặng lý thuyết mơ hồ, do đó hành xử luôn luôn không theo thực tế và không hợp lòng dân cho nên họ phải chịu thất bại. Thất bại với Phạm Quỳnh, thất bại với Pháp, thất bại với Nhật Bản, với Hoa Kỳ, với quân đội Việt Nam Cọng Hòa, với Phật giáo, với Cộng Sản…

    Họ luôn luôn là kẻ ăn cháo đá bát, vong ân phản bội với bằng hữu đồng chí ân nhân, với rất nhiều người, nhiều tổ chức, nhiều thế lực đã giúp họ trong những giờ phút gian nguy cũng như đã giúp họ ngồi lên quyền hành, địa vị cao cả.

    Tôi muốn nhắn hỏi ông Võ Như Nguyện (và cả ông Trần Văn Hướng, Trần Văn Dĩnh) về cái chết của Đội Xứ, Đội Lộc, Quản Quế, Quản Cang, của Tôn Thất Đạt trong tòa lãnh sự Nhật, của Nguyễn Văn Cẩn, Bửu Đà trong sở Hiến binh Nhật, của anh Bảo tại Ba Tơ khi theo ông Diệm từ Sài Gòn ra bị bắt tại Quảng Ngãi và cái chết của bao nhiêu người nữa rải rác khắp Trung kỳ, nhất là anh em quân nhân, tất cả những người từng là chiến hữu của ông Diệm và của chúng ta. Họ chết để tạo sự nghiệp, uy tín cho ông Diệm trong bước đầu gian nguy phò tá Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, thế mà sau khi anh em ông Diệm ngồi trên ngôi cao tuyệt đỉnh, bạc vàng như núi như non, có khi nào họ đoái hoài nhớ thương đến vong hồn của những người đó, ngay cả một lời hỏi han an ủi những vợ góa con côi của họ cũng không có.

    Các ông bênh vực nhà Ngô, tôi muốn hỏi các ông nhà Ngô có đạo đức không, có nhân nghĩa không, có thủy chung không, hay chỉ là kẻ qua sông chặt cầu?

  159. concun permalink

    Còn ông Diệm thì trên hết phải là anh em ruột thịt, dù anh em tràn đầy tội lỗi, còn quốc gia dân tộc chỉ là thứ yếu. Chỉ tiếc cho nhà nho Võ Như Nguyện gặp được cơ hội ông Diệm tỏ bày tâm sự thế mà không noi gương những kẻ võ biền Dã Tượng Yết Kiêu khuyên ông Diệm không nên nghe lời Ngô Đình Nhu bắt tay với Cộng Sản làm điều phản nghịch đối với quân dân miền Nam, lại còn viết thư cho tôi, cho bạn bè bênh vực tội phản phúc của anh em nhà Ngô.

    Những lời tâm sự của ông Diệm với ông Võ Như Nguyện còn cho thấy bản chất lừa dối bất tín của ông Diệm. Thật vậy, suốt thời gian lãnh đạo quốc gia, ông thường nêu cao khẩu hiệu “thành tín” trong các bài diễn văn, trong các lời tuyên bố. Hễ có dịp là ông trịnh trọng nhắc đến hai chữ “thành tín” để dạy dỗ dân và khuyên bảo kẻ thừa hành. Điều “thành tín” đầu tiên và sống chết nhất mà ông đòi hỏi nơi nhân dân là tuyệt đối trung thành và đặt xác tín vào lý tưởng “diệt Cộng cứu nước”. Những khẩu hiệu “Bài Phong, Phản Thực, Diệt Cộng” của chế độ được treo khắp thôn xóm thị thành, dán khắp hang cùng ngõ hẹp, và ra rả ngày đêm trên các đài phát thanh. Anh em ông và chế độ ông tiêu diệt hết mọi đảng phái, đàn áp hết mọi tôn giáo lớn nhỏ để nhân danh “chống Cộng” mà độc quyền chống Cộng. Thậm chí bất kỳ ai đối lập với ông, dù nhân vật đó là nhà cách mạng yêu nước và chống Cộng cũng bị anh em ông và chế độ ông nhân danh chống Cộng mà khủng bố, giam cầm hay thủ tiêu. Thế rồi sau mười năm dựa vào Mỹ và lập trường chống Cộng của nhân dân mà được làm Tổng thống và vinh thân phì gia, anh em ông lại đổi trắng thay đen, từ lập trường quyết liệt chống Cộng Sản như kẻ thù không đội trời chung, đến năm 1963 lại xoay thành lập trường thân Cộng, bắt tay với Hồ Chí Minh, gọi người Cộng Sản là “anh em máu mủ ruột thịt”, đề cao Cộng Sản là “những người Điện Biên Phủ” và chấp nhận triết lý xã hội của Marx–Hegel.

    Thái độ bất trung với nước và bất tín với dân của anh em ông Diệm như thế, chả trách ông Trần Văn Lý, một nhân sĩ Công giáo miền Trung vốn biết rõ xuất xứ, tôn tộc, sự nghiệp và cuộc đời của nhà Ngô, đã lên án nhà Ngô là những kẻ mang mười chữ “bất’: “Bất hiếu, bất trung, bất nhân, bất nghĩa, bất tài, bất trí, bất công, bất minh, bất tín, và bất hòa” [48].

    Hơn ai hết, ông Trần Văn Lý có đủ tư cách để lên án anh em họ Ngô mang mười chữ “Bất”. Ông Diệm với ông Lý từng là đôi bạn chí thân từ ngày mới vào quan trường, lại là đồng đạo và đồng hương (Bình Trị Thiên), cùng là môn đệ của Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài. Ông Diệm và ông Lý cùng ở trong Phong trào Cường Để; năm 1945, ông Diệm đã cùng sống với ông Lý tại Đà Lạt một tháng sau khi bị Nhật Bản bỏ rơi. Năm 1947–1948, cùng qua Hồng Kông xây dựng “Giải Pháp Bảo Đại”, cùng chủ trương thể chế “Quân chủ lập hiến”. Thời làm Thủ hiến, ông Lý đã từng giúp đỡ bạc tiền cho anh em ông Diệm hoạt động chính trị, ngày ông Diệm mới cầm quyền, ông Lý bị ông Ngô Đình Cẩn cho bộ hạ ném lựu đạn vào nhà khi ông còn ở gần nhà ga Huế, đến năm 1960 bị anh em ông Diệm bắt giam vì đã ở trong nhóm “Caravelle”.

  160. concun permalink

    Ông Diệm nói rằng ông không chấp nhận việc Mỹ áp lực đem quân vào miền Nam mà chính ông lại không những yêu cầu Mỹ mà còn cả Đài Loan đem quân đến miền Nam.

    Ông cũng đã để cho Mỹ đem 16 ngàn binh sĩ của họ vào hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, và mặc dù ngày 22 tháng 5 năm 1963 Tổng thống Kennedy tuyên bố sẵn sàng rút quân về Mỹ ngay nếu có sự yêu cầu của Việt Nam Cọng Hòa nhưng ông Diệm lại không yêu cầu, như đã nói trong một đoạn trước. Thử hỏi Việt Nam có còn chủ quyền không khi ông Diệm đã để cho Mỹ đặt Bộ Tư lệnh Hành quân tại thủ đô Sài Gòn do một vị tướng bốn sao (Paul Harkins) chỉ huy như dưới thời chiến tranh Pháp–Việt (1945–1954) với các vị Tư lệnh Pháp Carpentier, DeLattre, Navarre. Thử hỏi Việt Nam Cọng Hòa có còn chủ quyền nữa không khi người Mỹ muốn ra vào Việt Nam khi nào cũng được mà không chịu sự kiểm soát của luật lệ xuất nhập cảnh và di trú của Việt Nam Cọng Hòa.

    Nhóm Cần Lao Công Giáo lại còn bày đặt chuyện ông Diệm không chịu “cho thuê nhượng” (cession and bail) căn cứ Cam Ranh theo sự đòi hỏi của Mỹ. Thử hỏi tại sao người Mỹ lại cần ông Diệm nhượng cho họ hải cảng Cam Ranh khi mà họ là đồng minh (thời chiến) muốn sử dụng phi cảng hay hải cảng nào cũng được theo sự tiến triển của chiến tranh và sự thỏa thuận giữa hai Đồng minh như họ đã sử dụng các phi cảng Tân Sơn Nhất, Biên Hòa và Đà Nẵng (phi cảng Đà Nẵng hoàn toàn do người Mỹ phụ trách tái thiết với ngân quỹ 400 triệu đồng để đáp ứng với nhu cầu và trọng lượng của phi cơ hạng nặng Mỹ như đã được nhắc qua trong chương “Tham Nhũng”). Hải cảng Cam Ranh như đã được Mỹ sử dụng dưới thời Nguyễn Văn Thiệu mà họ có đòi chính phủ Thiệu nhượng cho họ đâu. Và mặc dù Mỹ sử dụng nhưng hải cảng Cam Ranh vẫn thuộc chủ quyền Việt Nam Cộng Hòa, vẫn phải chịu luật lệ hành chánh và an ninh của Việt Nam Cọng Hòa; những kho tiếp liệu của quân đội Việt Nam Cọng Hòa vẫn được thiết lập trên hải cảng Cam Ranh gần các cơ sở của quân đội Mỹ. Trường hợp này cũng đã xảy ra tại Pháp, tại Anh, tại Đại Hàn v.v… thời chiến tranh. Ngoài ra nếu Mỹ có đòi ông Diệm cho thuê và nhượng Cam Ranh mà ông Diệm không chịu thì tại sao biết bao nhiêu sách sử của Mỹ đã phanh phui những bí mật về chế độ Diệm, về chiến tranh Việt Nam mà không có một tài liệu nào đề cập đến chuyện “thuê nhượng” Cam Ranh. Tại sao trong chương trình truyền hình “A Television History” của ký giả Karnow trên đài PBS, những nhân vật hết lòng ủng hộ ông Diệm như Đại sứ Nolting chẳng hạn lại không đem vấn đề thuê nhượng Cam Ranh ra để bênh vực ông Diệm. Nhóm Công Giáo Cần Lao muốn đề cao ông Diệm là nhân vật chống Mỹ, là nhân vật quyết bảo vệ chủ quyền Việt Nam mà họ lại lờ đi những sự kiện lịch sử như vừa đề cập trên đây. Họ cứ tưởng thiên hạ không có người am hiểu tình hình, không có người nghiên cứu lịch sử. Huống chi dù người Mỹ có muốn Việt Nam Cọng Hòa cho thuê và nhượng căn cứ Cam Ranh thì việc đó vẫn có lợi cho Việt Nam Cọng Hòa cả mặt quốc phòng, mặt chống Cộng, lẫn mặt tài chánh mà Cam Ranh vẫn cứ thuộc chủ quyền Việt Nam, Việt Nam muốn thu hồi lại lúc nào cũng được như Thái Lan đã lấy lại căn cứ quân sự vô cùng quan trọng là Utapao hoặc như Phi Luật Tân (đã lấy lại Subic Bay và Clark Air Base năm 1992) và Hy Lạp thỉnh thoảng “dọa” thu hồi những căn cứ quân sự mà họ đã nhượng và cho thuê. Nếu quả thật không chịu cho Mỹ “thuê và nhượng” căn cứ Cam Ranh trong hoàn cảnh miền Nam đang bị xâm lăng, đang có chiến tranh và đang thường trực bị Bắc Việt (có sự yểm trợ tối đa của Nga–Tàu) đe dọa thì thái độ đó của ông Diệm khôn hay dại, có yêu nước, có chống Cộng không? Hay là vì anh em ông âm mưu thỏa hiệp với Cộng Sản Hà Nội nên mới chủ trương không cho Mỹ sử dụng Cam Ranh? Phải chăng những nhà lãnh đạo Đức, Anh, Bỉ, Pháp, Ý Đại Lợi, Bồ Đào Nha, Y Pha Nho, Hy Lạp, Đại Hàn, Phi Luật Tân… những quốc gia đã cho Mỹ thuê nhượng rất nhiều căn cứ quân sự từ sau đệ nhị thế chiến đến nay (nghĩa là trong thời bình) đều không yêu nước bằng anh em ông Diệm, đều không biết trách nhiệm đối với quốc dân bằng anh em ông Diệm? Cố tình xuyên tạc lịch sử hay vì thiển cận và mang nặng đầu óc phe đảng để đề cao anh em ông Diệm, thế mà nhóm Cần Lao Công Giáo lại lờ đi chuyện ông Ngô Đình Thục sau khi bị Toà thánh La Mã trừng phạt lần thứ hai vì tội lộng hành và phản phúc lại phải đến Hoa Kỳ nương nhờ người Mỹ rồi gởi nắm xương tàn nơi quê hương người Mỹ mà anh em ông Diệm đã từng chửi bới và phản bội khi chủ trương đuổi Mỹ để bắt tay với Cộng Sản Hà Nội? Xin hỏi nhà Nho và nhà chống Cộng (đến chiều) Võ Như Nguyện nghĩ sao?

  161. concun permalink

    Những hệ quả của kế hoạch thỏa hiệp với Cộng Sản của ông Nhu.

    – Hệ quả đầu tiên là trong hơn một năm trời (kể từ 1963 mà thôi) cấp lãnh đạo miền Nam đã không chống Cộng, đã để 12 tháng trời cho lực lượng Việt Cộng được dễ dàng phát triển. Và cũng trong 12 tháng đó, dĩ nhiên cấp lãnh đạo miền Nam, như một hệ luận tất yếu, phải tiêu diệt ý chí và khả năng chống Cộng của những lực lượng quốc gia chống lại âm mưu này. Mười hai tháng có thể là ngắn trong cuộc chiến Quốc Cộng 30 năm, nhưng 12 tháng của năm 1963 lại có giá trị sinh tử vì chúng nằm trong cơn trở mình nhiều sơ hở nhất của miền Nam.

    – Hệ quả thứ hai là để lại một ám ảnh sâu sắc và tiêu cực trong mối bang giao Việt–Mỹ cho những chính phủ kế tiếp. Đối với người Mỹ, ngoài ấn tượng không tốt về giới lãnh đạo Việt Nam xuyên qua chế độ Ngô Đình Diệm là chế độ mà họ đã đặt nhiều kỳ vọng nhất, từ đó trở đi họ phải luôn luôn xét lại chính sách đồng minh, đến nỗi sự xét lại đó nhiều lúc gây ra những phản ứng quá độ, làm vi phạm đến chủ quyền của miền Nam. Đối với các chính phủ Việt Nam kế tiếp – mà đa số là chính phủ quân nhân – tội ác thỏa hiệp với Cộng Sản của chế độ Diệm–Nhu đã làm cho họ mang mặc cảm và trở thành mù quáng trong sách lược đấu tranh chống Cộng. Chống Cộng đáng lẽ phải là một mắt xích trong toàn bộ chính lược phát triển quốc gia thì lại trở thành cứu cánh cuối cùng.

    – Hệ quả chính trị thứ ba là Cộng Sản Hà Nội đã qua kế hoạch này – dù cuối cùng không thực hiện được – đánh giá được đúng đắn hơn những nhược điểm của miền Nam. Từ giai tầng lãnh đạo đến tương quan lãnh tụ quần chúng, từ vai trò của người Mỹ đến bản chất của liên hệ Việt–Mỹ, từ các mâu thuẫn giữa các thành phần nhân dân đến các mâu thuẫn của các lực lượng chính trị tại miền Nam… Sự đánh giá thêm đúng đắn đó đã phần nào giúp họ khai thác được những sơ hở của các lực lượng trong cũng như ngoài chính quyền và giúp họ hoạch định các kế hoạch đánh chiếm miền Nam thêm hiệu dụng sau này.

    – Hệ quả cuối cùng, còn kéo dài đến ngày nay, là vì mù quáng và cố chấp bênh vực cho chế độ Ngô Đình Diệm, một số phần tử Cần Lao Công Giáo đã bênh vực luôn cả cái tội ác định dâng miền Nam cho Cộng Sản của ông Ngô Đình Nhu. Hoặc là họ đứng trên một quan điểm nhân bản và quốc gia rất què quặt và mù mờ để biện minh một cách rất lý thuyết cho hành động của ông Nhu, do đó đã gây hoang mang cho những nỗ lực lật đổ Cộng Sản; hoặc là họ bóp méo lịch sử cho rằng có nhiều nhân vật đảng phái hợp tác với ông Nhu trong kế hoạch này để hóa giải tội ác của ông Nhu, do đó đã gây nghi ngờ và chia rẽ giữa các lực lượng chống Cộng đang cần một sự đoàn kết tại hải ngoại. Cả hai thủ đoạn đó, thật ra, đều phát xuất từ ý đồ “chạy tội cho chủ”, nghĩa là cho quyền lợi phe nhóm của Cần Lao Công Giáo, mà không cần biết đến hậu quả cho dân tộc là gì.

  162. concun permalink

    Chính sách của Pháp về Đông Dương đã được Tổng thống De Gaulle công khai tuyên bố vào năm 1962 tại Phnom Penh, lấy Hiệp định Genève 1954 làm căn bản. Hiệp định đó phản ảnh đầy đủ lập trường của chính quyền Pháp: đẩy ảnh hưởng Mỹ ra khỏi Việt Nam, thống nhất hai miền bằng tổng tuyển cử, trung lập hóa toàn bán đảo Đông Dương. Ai cũng thấy lập trường đó gián tiếp mở đường cho cấp lãnh đạo Hà Nội trở thành cấp lãnh đạo của toàn nước Việt Nam. Và ai cũng thấy nhờ một quốc gia có lập trường như thế đóng vai trung gian cho một âm mưu thoả hiệp thì chẳng khác gì mở cửa cho cướp vào nhà. Ta còn nhớ năm 1975, Đại sứ Pháp Merillon đã đóng đúng vai trò của Đại sứ Lalouette của năm 1963, cũng nhận làm trung gian cho hai phe đối nghịch như chính sách của Pháp hơn 10 năm trước, để cuối cùng một số lực lượng của Việt Nam Cộng Hòa và Pháp đều bị Cộng Sản Việt Nam đánh lừa vào phút chót.

    Chính sách của Pháp là như thế, ý đồ của Cộng Sản là như thế, cho nên thỏa hiệp với Cộng Sản đã là phản động rồi, lại còn nhờ Pháp làm trung gian nữa thì đúng là ông Nhu vừa phản động vừa xuẩn động!

    Nhưng riêng hành động nhờ Tòa thánh Vatican dính dự vào âm mưu thỏa hiệp với Cộng Sản thì ông Nhu đã tỏ ra có ý thức chính trị. Trước hết về mặt tầm vóc, lực lượng Cộng Sản và Giáo hội Công giáo đều có tính quốc tế, người đảng viên Cộng Sản và người tín đồ Công giáo đều là những người đặt vấn đề quốc tế trên vấn đề quốc gia, một bên hướng về Điện Cẩm Linh, một bên hướng về Tòa Thánh La Mã. Thứ hai là Toà Thánh La Mã không những có giáo quyền mà thế quyền nhiều khi còn mạnh hơn với những ảnh hưởng chính trị và kinh tế toàn cầu. Thứ ba là nhìn lại quá trình lịch sử ngoại giao của Tòa thánh, ta thấy không phải là một mà đã rất nhiều lần, Tòa Thánh đã sẵn sàng thoả hiệp với mọi lực lượng, kể cả những lực lượng phản động và phi nhân nhất, miễn là bảo toàn được quyền lợi của Giáo hội hoặc của con chiên. Không cần phải trở lại quá khứ xa xăm, từ Đệ nhị Thế chiến đến nay, bắt đầu bằng Giáo Hoàng Pie XII thỏa hiệp với Phát xít Đức Hitler và Phát xít Ý Mussolini (mà quốc gia Do Thái hiện nay đang lần lượt phanh phui mọi bí ẩn), cho đến gần đây Giáo Hoàng John Paul II thỏa hiệp với chính quyền Cộng Sản Ba Lan của tướng Jaruzleski để làm tê liệt “Công Đoàn Đoàn Kết” của lãnh tụ Walesa, ta cũng thấy Toà Thánh La Mã quả thật có chính sách và có khả năng để làm trung gian mọi thỏa hiệp. Trong vụ Ba Lan, “chuyến viếng thăm Ba Lan của Giáo Hoàng và sự rút lui khó hiểu của vị lãnh tụ Công Đoàn Đoàn Kết Lech Walesa đã làm mờ đi những diễn biến quan trọng… Lời tuyên bố rằng Giáo Hội và chính quyền đang sửa soạn một nền móng để giúp cho nền nông nghiệp Ba Lan là vấn đề mấu chốt. Thật là lạ lùng khó tin khi biết rằng Giáo hội Công giáo La Mã và cấp lãnh đạo Cộng Sản tại vị lại hợp tác với nhau trong lãnh vực sống chết nhất của nền kinh tế Ba Lan [46]. Huống chi vào lúc mà ông Nhu muốn thỏa hiệp với Hà Nội thì Giáo Hoàng Paul VI lại là Giáo hoàng thân Cộng Sản, chắc chắn ông sẽ đứng về phe Cộng Sản chứ không phải đứng về phe miền Nam chống Cộng.

    Nhờ một thế lực có cả ba yếu tố: Quốc tế, Chính trị và có truyền thống thỏa hiệp, lại vốn là thế lực đã từng mở đầu cho chế độ, ông Nhu đã tính rất đúng. Tiếc rằng âm mưu của ông không thành hình để xem kết quả đó lợi cho Giáo hội Công giáo hay lợi cho dân tộc Việt Nam? Hay lợi cho Cộng Sản!

  163. concun permalink

    Về suy luận rằng Mỹ chống Cộng nên sẽ không bỏ rơi miền Nam, ta thấy điều đó không phải là ông Nhu hoàn toàn sai lầm. Thật vậy, cho đến cuối tháng 8 năm 1963 (nghĩa là cho đến ngày ông Nhu hung bạo tấn công các chùa chiền và bắt giam các tăng sĩ Phật giáo) dù liên hệ Việt–Mỹ đã trở nên rất căng thẳng vì những hành động và những lời tuyên bố của ông Nhu, dù tình báo Mỹ đã khám phá ra âm mưu của ông Nhu muốn thỏa hiệp với Cộng Sản, chính quyền Kennedy vẫn chưa có ý định ủng hộ một cuộc thay đổi cấp lãnh đạo tại miền Nam Việt Nam.

    Nhưng điểm sai lầm căn bản nhất của ông Nhu là đã không nhận định được sự vận hành của một cường quốc. Một cường quốc thì phải đặt chính sách ngoại giao trong một quan điểm toàn cầu và dài hạn. Ngăn chận Cộng Sản (containment) là triết lý ngoại giao chỉ đạo mọi sách lược của Hoa Kỳ lúc bấy giờ, và giúp Việt Nam trở thành một tiền đồn chống Cộng hay yểm trợ ông Diệm (năm 1953) về nước chống Cộng chỉ là những thể hiện có tính cách chính sách của triết lý ngoại giao đó mà thôi. Cho nên dù chế độ Diệm–Nhu có độc tài, tham nhũng, thì trong quá khứ Mỹ vẫn ủng hộ và sẽ còn ủng hộ mãi cho đến khi Diệm–Nhu không chống Cộng nữa hoặc làm lợi cho Cộng thì Mỹ mới can thiệp, vì làm lợi cho Cộng là đi ngược lại với cái triết lý ngoại giao chỉ đạo đó.

    Sự can thiệp đó có thể là chấm dứt tư cách đồng minh, có thể là vận động để thay thế bằng cấp lãnh đạo mới. Ông Nhu không thấy rằng Mỹ giúp miền Nam chống Cộng chứ không phải chỉ giúp riêng một gia đình họ Ngô chống Cộng, cho nên cứ đinh ninh là có thể làm “chantage” Mỹ được. Ông Nhu cứ tưởng rằng đối với Mỹ thì trong 15 triệu dân miền Nam chỉ có gia đình họ Ngô là có quyết tâm và có khả năng chống Cộng mà thôi nên muốn yêu sách gì cũng được. Và Mỹ đã không giải kết khỏi miền Nam trong năm 1963 đó, nhưng đã bỏ rơi gia đình họ Ngô.

    Ông Nhu đã nhận định đúng một nửa, là Mỹ không bỏ rơi miền Nam, nhưng nửa còn lại thì ông đã sai một cách thê thảm vì Mỹ sẵn sàng bỏ gia đình họ Ngô để yểm trợ cho một thành phần lãnh đạo mới. Ngoài ra, ông Nhu cũng không thấy rằng dù Hà Nội có thật tâm muốn thỏa hiệp để đuổi Mỹ chăng nữa thì hai đế quốc Cộng Sản Nga–Tàu vẫn muốn cầm chân Mỹ trong một chiến trường dai dẳng để không những bị tiêu hao uy tín chính trị và khả năng lãnh đạo Khối Tự Do của Mỹ, mà còn làm suy nhược Hà Nội, một chư hầu trong quỹ đạo của họ.

    Vả lại, dù ông Nhu có thật sự chống Mỹ đi nữa thì đối với cấp lãnh đạo Hà Nội, tư cách tay sai và hành động tay sai của chế độ Ngô Đình Diệm đã là một tư cách không thay đổi được nữa. Chế độ “Mỹ–Diệm’, Mặt Trận “Dân Tộc” hai từ ngữ đó đã nói lên rõ ràng và dứt khoát sự đánh giá của Cộng Sản Việt Nam đối với chế độ Ngô Đình Diệm. Thế mà ông Nhu vẫn mơ tưởng hão huyền !

    – Về sự bảo đảm quốc tế của Pháp và Vatican, ta lại càng thấy rõ ràng hơn tính chủ quan và thiển cận trong con tính chính trị của ông Nhu. Đành rằng mọi bang giao quốc tế đều đặt trên căn bản lưỡng lợi, nhưng khi nhờ Pháp dính dự vào kế hoạch của mình, ông Nhu quên rằng chính sách của Pháp lấy toàn bộ Việt Nam (cả Bắc lẫn Nam) làm đối tượng, còn ông Nhu thì chỉ lấy miền Nam làm đối tượng mà thôi. Điều đó có nghĩa là Pháp cũng muốn có những liên hệ tốt với miền Bắc để nếu cần thì hy sinh một số cam kết với miền Nam. Trong âm mưu thỏa hiệp này, Pháp cần Hà Nội hơn cần Sài Gòn, và Pháp cần Hà Nội hơn Hà Nội cần Pháp.

    Thật vậy, sau năm 1954, tại miền Nam, Pháp vẫn duy trì được các cơ sở kinh tế, văn hóa và xã hội, trong khi ở miền Bắc hệ quả của cuộc chiến tranh Pháp–Việt vẫn chưa cho phép Pháp đặt được một bộ phận ngoại giao (chứ đừng nói đến văn hóa và kinh tế) vững vàng nào. Đã vậy, để phản ứng lại ảnh hưởng và uy thế của Mỹ tại miền Nam, ta còn thấy Pháp gián tiếp yểm trợ cho miền Bắc: các cơ sở văn hóa, kinh tế, các đồn điền, các dịch vụ thương mãi… đều có liên hệ đến hệ thống tình báo của Pháp nhằm yểm trợ cụ thể cho Việt Cộng. Ngoài ra, không những De Gaulle đã yểm trợ cho chính sách chống phá Việt Nam Cộng Hòa của Sihanouk mà ngay tại thủ đô Paris, ông ta đã dành mọi dễ dàng cho đại diện Hà Nội, cho đại diện Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam tự do hoạt động để bôi nhọ chính nghĩa của miền Nam trước công luận quốc tế.

  164. concun permalink

    Kế hoạch đó được gọi là kế hoạch Bravo và dự định được tổ chức vào cuối tháng 10, ngay sau ngày Quốc Khánh. Ông Nhu định lấy Lực Lượng Đặc Biệt của Lê Quang Tung làm chủ lực, giả vờ bắt cóc ông Diệm và Nhu đem xuống Vũng Tàu, rồi sau đó điều động một số đơn vị do các sĩ quan Cần Lao Công giáo của Sư đoàn 5 (Biên Hòa) và Sư đoàn 7 (Mỹ Tho) chỉ huy, để phối hợp với một vài lực lượng không tác chiến của các Nha, Sở tại Thủ đô, và Thanh Niên Cộng Hòa, Phụ Nữ Bán Quân Sự. Các lực lượng này sẽ tạo một cuộc đảo chánh giả chống chính phủ không Tổng thống tại Sài Gòn với đòi hỏi “chấm dứt chiến tranh”, “yêu cầu Mỹ về nước”, và “yêu cầu anh em ông Diệm tiếp tục cầm quyền để thực hiện hai nguyện vọng của toàn dân”.

    Ông Nhu sẽ giả vờ dùng thế nhân dân để đuổi Mỹ và để thỏa hiệp với Cộng Sản Hà Nội cho có vẻ chính nghĩa. Ông Nhu cũng ra lệnh cho các đảng viên Cần Lao giả vờ hạ ảnh của ông Diệm tại vài nơi công cộng xuống, để lại lợi dụng thế nhân dân mà lên cầm quyền hầu có thể với tư cách là Tổng thống của miền Nam, tự do và toàn quyền đuổi Mỹ để thỏa hiệp với ông Hồ Chí Minh.

    Tuy nhiên, vì một phần của kế hoạch ông Nhu phải thông báo cho tướng Tôn Thất Đính là người mà ông Nhu tin tưởng và lúc bấy giờ đang là Tổng trấn Sài Gòn Gia Định nắm hết mọi lực lượng an ninh và Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến tại Thủ Đô, nên khi Đính quyết định theo lực lượng Cách Mạng thì Đính đã tìm cách kéo dài âm mưu đảo chánh của ông Nhu để tiếng súng Cách mạng ngày 1–11–1963 được nổ trước và chấm dứt không những kế hoạch thỏa hiệp với Cộng Sản của ông Nhu, mà còn chấm dứt vĩnh viễn cả chế độ phản bội miền Nam của Diệm–Nhu nữa. Vài ngày sau khi Cách mạng 1–11–1963 thành công, trong một cuộc họp báo, tướng Đính tuyên bố rõ ràng về âm mưu bắt tay với Hà Nội do trung gian của Maneli mà chính vị Trưởng phái đoàn Ba Lan đã ghi nhận được. Theo ký giả Karnow trong “Viet Nam: A History” (trang 292) thì sau này, bà Nhu còn tiết lộ việc bà ta đã dự định cho hai đứa con của bà ta ra sống tại Hà Nội để làm con tin (fraternal gesture) trong âm mưu thỏa hiệp với Cộng Sản của anh em chồng bà ta.

  165. concun permalink

    Ngày 2 tháng 9, ông Nhu viết một bài trên tờ Times of Vietnam tố cáo CIA “âm mưu lật đổ chế độ hợp pháp tại Việt Nam” để công khai và quyết liệt hơn bày tỏ chủ trương chống Mỹ của Diệm–Nhu. Maneli đến gặp ông Nhu lần thứ nhì tại dinh Gia Long trong cái không khí ngột ngạt đó của Sài Gòn. Trước hết ông Nhu trình bày triết lý chính trị của ông một cách rất mơ hồ về bản chất chính trị và tâm linh của cuộc chiến tại Việt Nam, vì theo ông Nhu cuộc chiến không phải chỉ đơn thuần là một cuộc tranh chấp Quốc Cộng. Chủ nghĩa tư bản chỉ có giá trị cho đến thế kỷ thứ 19, sau đó thì không còn dùng được nữa. ông Nhu chấp nhận một số luận đề Mác Xít ngoại trừ duy vật sử quan và vô sản chuyên chính. Theo ông Nhu, sự mâu thuẫn giữa những người theo chủ nghĩa nhân vị tại Sài Gòn và những người Cộng Sản tại Hà Nội không liên hệ gì đến quyền tư hữu trong chủ nghĩa tư bản mà liên hệ đến những giá trị tinh thần, và ông Nhu nhấn mạnh:

    Tôi là một người theo biện chứng Hegelian và tôi đồng ý với kết luận của Marx: nhà nước phải biến mất [42].

    Sau phần độc thoại mông lung và dài dòng đó, ông Nhu mới bắt đầu đi thẳng vào chủ đề của buổi nói chuyện, là ông Nhu không chống lại việc thương thảo và hợp tác với miền Bắc (“I am not against negotiations and cooperation with the North”) và hy vọng với tư cách cũng như nhiệm vụ của một thành viên trong Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến, ông Maneli có thể đóng một vai trò tích cực.

    Sau khi được ông Maneli nhận lời, ông Nhu cho biết hiện nay chưa thuận tiện để trực tiếp gặp cấp lãnh đạo Hà Nội nhưng trong tương lai gần thì mọi sự sẽ dễ dàng hơn. Và buổi gặp mặt chấm dứt ở đó.

    Ra khỏi dinh Gia Long, ông Maneli đến gặp Đại sứ Pháp Lalouette ngay, và sau khi kể lại nội dung buổi gặp mặt với ông Nhu, ông Lalouette có vẻ bồn chồn vì không thấy có gì cụ thể. Khi nói đến đoạn triết lý ông Nhu chống chủ nghĩa tư bản, Lalouette đã nhận định: “Nhu vẫn mang ảo tưởng là có thể tiến đến một sự cảm thông với Lodge. Nhu đã không muốn chặt cầu. Nếu Nhu không bỏ ảo tưởng này thì sẽ thất bại. Nhu đã làm một lỗi lầm rất bi thảm…” Đại sứ Lalouette cũng đồng ý với ông Maneli rằng chế độ Diệm bị cả thế giới khinh ghét nhưng “nếu chúng ta muốn tiến đến hòa bình thì không còn giải pháp nào nữa” [43].

    Hai ngày sau đó, ông Maneli gửi một báo cáo dài, trình bày mọi chi tiết của buổi gặp gỡ ông Nhu cho Bộ Ngoại Giao Ba Lan, Đại sứ Nga Tovmassian tại Hà Nội và ông Hà Văn Lâu. Nhưng trong khi hai ông Tovmassian và Hà Văn Lâu tỏ ra đặc biệt quan tâm và yêu cầu ông Maneli đi Hà Nội gấp thì Bộ Ngoại giao Ba Lan lại gửi công điện cấm ông Maneli từ đây không được gặp ông Nhu nữa và chấm dứt mọi hoạt động liên hệ đến công tác này [44].

    Là người đóng một vai trò quan trọng trong âm mưu thỏa hiệp giữa Sài Gòn và Hà Nội trong chín tháng cuối cùng của chế độ Ngô Đình Diệm, sau này (năm 1971) khi hồi tưởng lại, ông Maneli đã có những nhận định như sau về giai đoạn đó:

    – Âm mưu này đã được phát động từ lâu và do chính ông Nhu khởi xướng.

    – Pháp và Ấn Độ là hai quốc gia đầu tiên được ông Nhu liên lạc nhờ làm trung gian, sau đó ông Nhu có nhờ sự yểm trợ của Tòa thánh Vatican nữa.

    – Các cường quốc liên hệ đến Việt Nam đều chống đối âm mưu này: Nga và Tàu vì muốn cho Mỹ bị sa lầy trong cuộc chiến tại Việt Nam, và Hoa Kỳ vì muốn xây dựng một chế độ chống Cộng tại Đông Nam Á.

    – Hà Nội không bị đặt vào cái thế phải thỏa hiệp và lại càng không có lý do để thỏa hiệp với một chế độ chống Cộng và thân Mỹ. Toàn bộ kế hoạch đó chỉ nhằm âm mưu gây mâu thuẫn giữa chế độ Diệm và Mỹ, giữa các lực lượng tại miền Nam để Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam lớn mạnh thêm hầu có thể chiến thắng bằng một giải pháp quân sự.

    – Riêng đối với chế độ Ngô Đình Diệm, ông Maneli cho rằng khi tiến hành âm mưu này, các cấp lãnh đạo đã nghĩ đến chính họ nhiều hơn là đến miền Nam. Ba sai lầm lớn là (1) ông Nhu đã không biết gì về Cộng Sản, đặc biệt là giới lãnh đạo Cộng Sản tại Hà Nội; (2) là nhờ Pháp làm trung gian; và cuối cùng là (3) đánh giá sai phản ứng của Mỹ khi “blackmail” quốc gia này. Ngoài ra, theo ông Maneli, ông Nhu đã sống trong ảo tưởng, không biết gì về thực tế của miền Nam mà khuynh hướng và lực lượng chính trị chống Cộng của nhân dân Việt Nam là một sự thật không chối cãi được.

    “Cấp lãnh đạo của chế độ Diệm-Nhu đã bị bệnh cận thị nặng nề mà tôi có thể so sánh với căn bệnh của giới lãnh đạo Cộng Sản loại Stalinist” (The leaders of the Diem-Nhu regime suffered from definite myopia which I might compare with the myopia of the Stalinist-type Communist leaders) [45].

    Việc ông Maneli bị chấm dứt vai trò liên lạc nếu chỉ là một trở ngại kỹ thuật trong âm mưu thỏa hiệp của chính phủ Sài Gòn, thì riêng đối với ông Nhu nó lại là một dấu hiệu cho thấy sự can dự của các thế lực Nga và Mỹ càng lúc càng mạnh, có thể phá vỡ âm mưu của ông. Vì vậy từ cuối tháng 9 năm 1963, ông dồn hết mọi nỗ lực vào kế hoạch tổ chức một cuộc binh biến để chính thức thay ông Diệm hầu tiến hành những biện pháp sắt đá hơn trong việc kiểm soát các lực lượng chống đối và nhất là hầu có thể chấm dứt những “phá hoại” của người Mỹ.

  166. concun permalink

    Cũng trong mùa Xuân năm 1963 đó, để yểm trợ cho những vận động của Đại sứ Pháp, vị chủ tịch của Ủy Hội Quốc Tế KSĐC là Đại sứ Ấn Độ Goburdhun cũng nhịp nhàng tiến hành một số công tác khác. Ông ta đã ra Hà Nội thăm ông Hồ Chí Minh nhân dịp đầu Xuân. Và trong buổi nói chuyện đã tỏ ra rất ngạc nhiên nhận thấy Hà Nội đặc biệt chú ý đến tình trạng căng thẳng giữa Mỹ và anh em ông Diệm, nhất là việc “ông Diệm chống lại các áp lực của Mỹ”.

    Với điệu bộ “ngây thơ khó ai bắt chước nổi”, ông Hồ Chí Minh đã hỏi Đại sứ Ấn Độ có gì lạ xảy ra tại thủ đô Sài Gòn không, vấn an sức khỏe ông Diệm và tỏ vẻ để tâm đến việc ông Diệm bị Mỹ áp lực. Ông Hồ Chí Minh cũng bày tỏ sự tiếc nuối vì Sài Gòn đã không chịu chấp nhận những đàm phán mà Hà Nội đã nhiều lần đề nghị để tiến tới một thỏa hiệp chung. Khi Đại sứ Ấn từ giã ra về, ông Hồ Chí Minh còn ân cần dặn dò: Khi nào gặp ông Diệm nhờ ông bắt tay hộ. Khi kể lại chuyện này cho ông Nhu nghe, ông Nhu tỏ vẻ đắc chí lắm và giải thích cho Đại sứ Ấn Độ biết rằng đó là nhờ sự thành công của quốc sách Ấp Chiến Lược (?!) [28].

    Lời hỏi thăm này cũng như lời “khen ngợi” ông Diệm là người yêu nước của ông Hồ Chí Minh, mà sau này tàn dư Cần Lao Công Giáo tại hải ngoại thường huyênh hoang sử dụng như một bằng chứng khả tín, thật ra chỉ là hành xử chính trị của ông Hồ Chí Minh nhằm xúi giục ông Diệm cứ tiếp tục kế hoạch đuổi Mỹ ra khỏi miền Nam mà thôi. Cái tội hết theo Tây đến theo Nhật, bây giờ lại làm tay sai bản xứ cho Mỹ và Vatican chống lại dân tộc và tiêu diệt bao nhiêu đảng viên Cộng Sản, làm sao ông Hồ Chí Minh tha thứ để gọi ông Diệm là “người yêu nước” được. Nhưng người Công giáo Việt Nam, vốn tự hào là lực lượng chống Cộng hung hãn nhất và nguyền rủa ông Hồ Chí Minh nhiều nhất, sẽ quên tất cả mà chỉ cần câu nói của ông Hồ Chí Minh rửa mặt cho chủ cũ là được rồi!

    Đầu tháng Tư năm 1963, khi mọi dàn xếp cho cuộc gặp gỡ trực tiếp giữa ông Nhu và ông Maneli đã bắt đầu có vẻ cụ thể thì ông Maneli bèn điện về Warsaw để xin chỉ thị. Đồng thời cũng thông báo cho ông Hà Văn Lâu và Đại sứ Nga tại Hà Nội biết. Mấy ngày sau, đại diện của phái đoàn Ba Lan tại Hà Nội thông báo cho ông Maneli biết rằng “các đồng chí Việt Nam rất lưu tâm đến những chi tiết về sự dàn xếp của Nhu, cũng như nội dung cuộc gặp gỡ đó”, đồng thời đích thân ông Hà Văn Lâu trả lời thẳng cho ông Maneli rằng “các đồng chí lãnh đạo yêu cầu được thông báo tức khắc về các diễn tiến, và nếu đồng chí có thể về Hà Nội để hội ý với chúng tôi trước khi gặp Nhu thì rất tốt” [29].

    Trong khi đó thì ông Nhu cũng ráo riết hoạt động: nào là gọi giáo sư Bửu Hội (vốn là một phần tử có khuynh hướng thân Cộng đang ở Paris và được ủy làm trung gian để liên lạc với Pháp) về nước nhận chỉ thị trong kế hoạch thỏa hiệp với “những người Điện Biên Phủ” (“les hommes de Dien Bien Phu”), nào là tổ chức một chuyến tham quan chính trị từ Sài Gòn lên Đà Lạt cho ba vị Đại sứ của Ủy Hội Quốc Tế để giới thiệu những thành quả của Ấp Chiến Lược, những thành quả mà chỉ ông Nhu mới mang ảo tưởng có đủ sức mạnh để làm một món hàng trả giá với Hà Nội. (Trong cuộc tham quan này, ông Maneli đã chê bai Ấp Chiến Lược chỉ là trò hề đối với Việt Cộng như đã nói trước kia).

    Nhưng hoạt động lớn nhất trong tháng 5 năm 1963 của ông Nhu là nhằm công khai hóa lập trường chống Mỹ để thỏa mãn điều kiện tiên quyết của Hà Nội: ngày 12 tháng 5, ông Nhu tuyên bố với Washington Post – nhưng thật ra hướng về Hà Nội mà nói rằng:

    “Tôi không nghĩ rằng người Mỹ có khả năng cho chúng tôi những lời khuyên về Chiến tranh Cách mạng. Trong nhiều địa hạt khác như không gian, người Mỹ rất tiến bộ, nhưng còn những vấn đề nhỏ trên mặt đất, tôi nghĩ rằng người Mỹ không giỏi hơn chúng tôi”. Đồng thời trong một cuộc phỏng vấn khác của UPI, Nhu tỏ ý muốn Hoa Kỳ rút một số lớn cố vấn quân sự về nước [30].

  167. concun permalink

    Cũng vào mùa Xuân năm đó, ông Mieczyslaw Maneli đến Sài Gòn lần thứ nhì để đảm nhiệm chức vụ Trưởng phái đoàn Ba Lan trong Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến (của Hội nghị Genève 1954).

    Ông Maneli là một cán bộ trí thức Thiên Chúa giáo cao cấp của đảng Cộng Sản Ba Lan, có khuynh hướng quốc gia cực đoan và tự do tiến bộ, lại là một người hiểu biết nhiều về vấn đề Việt Nam. Hơn nữa, ông Maneli lại quen biết thân thiết với các lãnh tụ Cộng Sản cao cấp miền Bắc cũng như lại có dịp đi về thường xuyên đường Hà Nội–Sài Gòn nhờ tư cách Trưởng phái đoàn Ba Lan trong Ủy hội Quốc tế, nên khi ông vừa đến Sài Gòn thì Đại sứ Lalouette liên lạc ngay và khuyên nên gặp ông Ngô Đình Nhu [24].

    Sau đó, Trưởng phái đoàn Ấn Độ là Đại sứ Goburdhun, rồi vị Đại sứ Ý Đại Lợi Giovanni Orlandi, và ngay cả Khâm mạng Tòa thánh Salvatore d’Asta cũng thúc giục Maneli đến tiếp xúc ngay với Nhu. Tuy biết rằng đang có những vận động quan trọng liên hệ đến nước anh em Dân Chủ Cộng Hòa Bắc Việt, nhưng vì chưa nắm đầy đủ dữ kiện và chỉ thị nên Maneli từ chối: “Tôi đại diện cho một quốc gia không công nhận miền Nam Việt Nam. Theo quy ước của Hiệp Ước Genève thì chính quyền này chỉ có tính cách giao thời, do đó tôi chỉ phải đến chào vị Tổng trưởng Ngoại giao mà thôi… Tuy nhiên vì thực tế chính trị, tôi sẽ vui mừng được gặp ông Nhu với điều kiện là ông ta mời tôi” [25].

    Với lối trả lời linh động đó, ba vị Đại sứ Pháp, Ấn và Ý xem như ông Maneli đã đồng ý trên nguyên tắc nên tìm mọi cách để dàn xếp một cuộc gặp gỡ Nhu–Maneli. Họ cũng cho ông Maneli biết rằng họ đã phúc trình đầy đủ với ông Nhu về quá trình liên hệ và tư thế của ông Maneli đối với cấp lãnh đạo Hà Nội, và ông Nhu đã bày tỏ ý muốn gặp ông Maneli (“Nhu himself had expressed interest in meeting me”). Trong hồi ký của ông Maneli, ông thú nhận rằng ông đã không có đầy đủ tin tức về những vận động từ trước cho kế hoạch thỏa hiệp với Hà Nội như ông Nhu, mà chắc chắn trong kế hoạch đó, ông Nhu và hai vị Đại sứ Ấn cũng như Pháp đã có những mưu tính từ lâu. Điều làm cho ông Maneli ngạc nhiên là:

    … kế hoạch của Goburdhun nhằm làm trung gian giữa Nam và Bắc Việt Nam là một kết hợp giữa sự ngây thơ và quỷ quyệt, giữa sự thiếu thực tiễn và lý thuyết trừu tượng, giữa sự hùng biện và sự phức tạp của vấn đề. Điểm mấu chốt của kế hoạch này là câu nói rất mị dân của Nhu: “Tôi cũng chống tư bản”. Còn khi đề cập đến một chủ nghĩa xã hội thì cả Nhu lẫn Goburdhun đều không xác định nổi một cách rõ ràng, ngoại trừ chủ nghĩa xã hội đó không dựa trên duy vật biện chứng… Lời giải thích của Nhu cũng mơ hồ như lời mà ông ta hằng tuyên bố rằng trên thế giới này, ông ta là người theo chủ nghĩa xã hội chân chính nhất… trong khi vẫn nắm lấy hàng triệu Mỹ kim của ngân khố Mỹ [26].

    Còn về phần Đại sứ Pháp Lalouette thì sau hai lần gặp nhau, ông Maneli được biết kế hoạch của Pháp là tìm cách cho hai miền Bắc–Nam thương thảo với nhau để tiến đến trao đổi văn hóa và kinh tế, hầu mở đường cho những thỏa hiệp chính trị sau này. Phần vụ được chia rõ là ông Maneli sẽ đề nghị với Hà Nội mô thức đó trong khi Đại sứ Lalouette sẽ giữ liên hệ với chính phủ Sài Gòn.

    Một tuần sau đó, vào cuối tháng Hai, ông Maneli đi Hà Nội và trình bày toàn bộ kế hoạch của Lalouette cho các ông Phạm Văn Đồng và Xuân Thủy thì chỉ sau hai ngày, đã nhận được sự đồng ý của Hà Nội rằng “như lời của Hồ Chủ tịch đã tuyên bố từ lâu, chính phủ sẵn sàng bắt đầu thương thảo bất kỳ lúc nào và bí mật hay công khai cũng được” [27]. Đính kèm với thư trả lời là một danh sách những sản phẩm sẽ được trao đổi giữa hai miền, kể cả đề nghị cùng xuất bản sách chung.

    Ông Maneli bay trở về Sài Gòn và báo cáo cho Đại sứ Lalouette biết ý định của Hà Nội khiến ông Lalouette tỏ ra hài lòng. Đặc biệt ông Lalouette cứ cật vấn mãi về thái độ của các ông Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp có thù hằn cá nhân ông Nhu hay không? Khi được biết họ “không thù hằn” mà còn có vẻ “tin tưởng Nhu” (?!)ông Lalouette đã phải kêu lên: “Très intéressant! Très important!” Ông Maneli cho rằng câu hỏi đó là do ông Nhu thúc đẩy ông Lalouette hỏi và cảm tưởng của ông là mọi nguyên tắc về thỏa hiệp đã được đồng ý rồi, giai đoạn này chỉ còn là những vấn đề cá nhân mà thôi.

  168. concun permalink

    Toàn bộ sách lược thỏa hiệp với Cộng Sản của anh em Nhu–Diệm có thể tóm tắt trong bốn kế hoạch sau đây:

    1. Công khai và cụ thể chống Mỹ, nhưng chỉ chống đến một mức độ còn kiểm soát được, để vừa thoả mãn điều kiện tiên quyết của Hà Nội vừa lại có thể sử dụng được lực lượng của Mỹ như một áp lực với Hà Nội, hoặc nếu cần, có thể quay trở lại tình trạng đồng minh như cũ.

    2. Vận động để một số quốc gia, đặc biệt là Pháp, đóng vai trò trung gian và bảo đảm sự thực thi của thỏa hiệp trong và sau khi thỏa hiệp thành hình.

    3. Chuẩn bị và tiến hành những biện pháp an ninh và chính trị để kiểm soát các lực lượng quốc gia và quần chúng miền Nam trong trường hợp nổi dậy chống đối thỏa hiệp này.

    4. Trực tiếp đối thoại với chính quyền Hà Nội để thương thảo về vấn đề chấm dứt chiến tranh và thống nhất đất nước.

    Bốn kế hoạch đó được song song tiến hành và do chính ông Ngô Đình Nhu điều động kiểm soát. Vì tính cách tối mật và tối quan trọng của nó, những nhân sự được chọn lựa thi hành các công tác đã là những thuộc hạ trung tín nhất của ông Nhu, và chỉ biết được từng phần mà không biết được toàn bộ kế hoạch. Trong một vài trường hợp đặc biệt, chính ông Nhu đã đích thân trực tiếp thi hành công tác để bảo toàn bí mật.

    Diễn tiến của bốn kế hoạch đó lúc công khai lúc bí mật, lúc thì dồn dập lúc thì bế tắc, nhưng một cách thứ lớp thì đã xảy ra như sau:

    Từ đầu năm 1960, với tư cách là trưởng nhiệm sở ngoại giao tại Luân Đôn, ông Ngô Đình Luyện đã xin hội kiến với Tổng thống Pháp De Gaulle. Đáng lẽ ông De Gaulle không tiếp nhưng vì ông Luyện còn là bào đệ của ông Diệm, nên Tổng thống De Gaulle chịu tiếp trong 15 phút với tất cả sự lạnh lùng và qui ước của một cuộc hội kiến ngoại giao. Buổi hội kiến đó nhằm mở đường cho ông Nhu nhưng đã không mang lại kết quả nào vì năm 1961, khi ông Ngô Đình Nhu – trên đường đi dự lễ đăng quang của vua Hassan II tại Maroc – ghé qua Paris để xin gặp Tổng thống De Gaulle thì bị từ chối mà chỉ được Bộ trưởng Ngoại giao Couvre de Murville tiếp kiến và mời ăn cơm. Tham dự buổi tiệc này có các ông Phạm Khắc Hy, Bửu Hội, Đại sứ Pháp Lalouette và ông Etienne Manac, Giám đốc Đông Nam Á Sự Vụ của Bộ Ngoại Giao Pháp (ông này rất thiên về Hà Nội). Tuy cố gắng bày tỏ mọi cảm tình đối với nước Pháp, nhưng ông Nhu đã không thành công trong việc thuyết phục được Couvre de Murville về một chính sách mà nước Pháp có thể đóng một vai trò quan trọng hơn tại Việt Nam.

    Nhưng nếu không thành công lớn thì ít ra ông Nhu cũng đã tạo được một mối liên hệ tốt đẹp và hữu ích với Đại sứ Pháp Lalouette để ông này tiếp tục thuyết phục chính quyền “nên can dự vào nội bộ Việt Nam để khuyến khích và giúp đỡ anh em ông Diệm tránh được gọng kềm của Mỹ” (emprise americaine) [23].

    Năm 1961 đánh dấu một khúc quanh quan trọng trong chính sách ngoại giao của Pháp đối với Việt Nam và mang lại những kết quả tốt đẹp cho sự kiên nhẫn của Đại sứ Lalouette trong việc liên tục thuyết phục chính phủ mình hãy can thiệp nhiều hơn vào Việt Nam. Thật vậy, thất bại của Mỹ tại Cuba (Vịnh Con Heo, tháng 4 năm 1961) cho một sự hoà hoãn toàn cầu, hội nghị Genève về vấn đề Lào (tháng 5 năm 1961) để mở đầu cho một chính phủ liên hiệp do Hoàng thân Souvanna Phouma lãnh đạo, Hà Nội đề nghị một loạt các hiệp ước hợp tác văn hóa và kỹ thuật với Paris,… những sự kiện đó đã cho chính phủ Pháp thấy rằng chiều hướng chính trị quốc tế, đặc biệt tại Đông Dương, đã không thuận lợi cho Hoa Kỳ chút nào. Kẻ khổng lồ Mỹ ngây thơ vụng về đã thất bại tại Việt Nam để Pháp có thể rửa lại cái hận năm xưa bằng cách đẩy Mỹ ra khỏi Việt Nam hầu nắm lại ưu thế trên vùng đất cựu thuộc địa, mà ảnh hưởng văn hóa cũng như quyền lợi kinh tế vẫn chưa bị phai mờ. Để thực hiện mục tiêu này, trung lập hóa Đông Dương để tiến tới một Việt Nam thống nhất phi liên kết là công thức chính trị của đường lối ngoại giao Pháp.

    Bộ ngoại giao Pháp bắt đầu mở những cuộc thăm dò với Hà Nội và Sài Gòn. Bằng cách đi chơi thuyền trên sông Sài Gòn, ông Nhu và Lalouette gặp nhau nhiều lần để giải quyết những khác biệt cuối cùng và để hoạch định những kế hoạch cần thiết cho việc thỏa hiệp giữa hai miền. Trục Sài Gòn–Paris–Hà Nội càng lúc càng được khai thông cho những âm mưu, những dự tính, những thủ đoạn tuôn chảy. Và đến tháng Hai năm 1963, trong khi công luận và chính giới Hoa Kỳ công phẫn vì sự bất lực của chính sách quân viện Mỹ qua thảm bại Ấp Bắc và sự dối trá của chính phủ Ngô Đình Diệm về kết quả trận đánh này, thì chính phủ Pháp nắm lấy cơ hội đó, chính thức mời một phái đoàn Quốc Hội Việt Nam qua thăm Paris.

    Sau khi được ông De Gaulle tiếp kiến, phái đoàn Quốc hội do ông Trương Vĩnh Lê cầm đầu, gồm các Dân biểu Hà Như Chi, Nguyễn Hữu Chính, Nguyễn Quốc Hùng, Trần Văn Thọ, đã tỏ ra ngạc nhiên một cách hứng thú (“surprise agréable”) và ca ngợi De Gaulle đã “rất thông cảm với Việt Nam” (très compréhensible à l’égard du Vietnam”).

  169. concun permalink

    Bốn nguyên nhân mà tôi đề cập ở trên có thể xem như là những sức đẩy hăm dọa sự an toàn của chế độ: Nhân dân miền Nam đẩy ông Nhu ra khỏi tư thế lãnh đạo, Việt Cộng đẩy ông Nhu ra khỏi vị trí đại diện chính đáng, chính quyền Mỹ đẩy ông Nhu ra khỏi tác phong độc tôn độc tài, và bản chất chủ quan đẩy ông Nhu ra khỏi những khôn khéo chính trị tối thiểu của một người nắm vận mệnh đất nước. Trước những sức đẩy đó, ông Nhu hạ tay đi thế cờ tội ác chót: Thỏa hiệp với Cộng Sản để hóa giải mọi sức đẩy đang làm lung lay chế độ, đang đe dọa sự an toàn của bản thân ông Nhu, của gia tộc Ngô Đình và của bè phái Cần Lao.

    Thật vậy, thỏa hiệp được với Hà Nội thì Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam sẽ không còn vai trò để đóng, Mỹ sẽ không có lý do để áp lực, nhân dân miền Nam sẽ không còn tư thế để thay ông Nhu chống Cộng, và riêng cá nhân ông Nhu sẽ kiêu hãnh làm được nhiệm vụ lịch sử hòa hợp với những người “anh em” bên kia. Cũng trong con tính thỏa hiệp liều lĩnh này, ông Nhu tin chắc rằng Mỹ sẽ không bao giờ bỏ miền Nam mà phải trở nên “dễ bảo” hơn để quân bình ảnh hưởng của Cộng Sản; các sức mạnh của ông Nhu như đảng Cần Lao, Ấp Chiến Lược, khối Công giáo di cư, các bộ phận võ trang trong quân đội, mật vụ, công an,… sẽ đủ tư cách và đủ sức mạnh để thực hiện sách lược thỏa hiệp mà không bị phản bội.

    Ông Nhu chủ quan và liều lĩnh tính toán như vậy, nhưng còn ông Diệm thì sao? Lập trường của ông và thái độ của ông như thế nào trong toàn bộ âm mưu thỏa hiệp với Cộng Sản Hà Nội của người em cật ruột ?

    Ông Diệm là một tín đồ Công giáo có một niềm tín ngưỡng đậm đà nhưng không sâu sắc, ông tin tưởng tuyệt đối vào sứ mạng thiêng liêng tiêu diệt Cộng Sản mà ông cho là hiện thân của Satan. Lập trường chính trị của ông chỉ là một thể hiện tự nhiên những xác tín tôn giáo của ông chứ không phải từ một chứng nghiệm hay nghiên cứu chính trị sâu sắc về chủ nghĩa Mác–Lê, phong trào Cộng Sản và bối cảnh của dân tộc Việt Nam. Đối với ông Diệm, là người Công giáo thì tự nhiên phải chống Cộng. Và cũng từ đó mà ông quan niệm chắc nịch rằng chỉ có người Công giáo mới chống Cộng thật sự mà thôi. Toàn bộ quan điểm chống Cộng của ông Diệm cũng như đa số những người đồng đạo của ông ta bắt nguồn từ cái sứ mạng tông đồ tiêu diệt ma quỷ để làm sáng danh Chúa, hơn là từ những tình cảm hoặc ý thức dân tộc, nhân quyền, bình đẳng, tự do… Vì thế cho nên khi quân đội Pháp trở lại Việt Nam vào năm 1945–46 dưới quyền chỉ huy của một vị tu sĩ là Đô đốc Thierry d’ Argenlieu thì hầu hết người Công giáo Việt Nam đều chọn lựa theo ủng hộ đạo quân xâm lược mượn chiêu bài chống Cộng này, chứ không có một chút ngần ngại chính trị nào giữa hai chọn lựa “theo Kháng Chiến chống Tây” hay “theo Tây chống Cộng Sản” như tình trạng khá phổ quát của đa số các bộ phận khác của dân tộc lúc bấy giờ. Dó đó, nhiều đạo Thân binh hợp tác với quân đội viễn chinh Pháp lúc bấy giờ còn được gọi là Lính Đạo, và năm 1946, khi lực lượng Công giáo cho phổ biến “Lá Thư Luân Lưu” và thành lập “Liên Đoàn Công giáo Việt Nam” thì nội dung và động cơ của nó cũng lấy chủ điểm là đặc tính Vô Thần của chủ nghĩa Cộng Sản.

    Về mặt chính trị, không những cá nhân ông Diệm có mối thù máu với Cộng Sản đã giết cha con ông Ngô Đình Khôi và giam tù ông tại Thái Nguyên, mà chính sự nghiệp chính trị cũng như những quyền lực và danh vọng của ông đều được xây đắp nhờ chủ trương chống Cộng của ông, do những thế lực chống Cộng Việt Nam cũng như ngoại quốc ủng hộ. Ngày 7 tháng 12 năm 1961, ông Diệm đã gửi cho Tổng thống Kennedy một lá thư dài trình bày tình trạng bi đát của nhân dân miền Nam do Cộng Sản gây ra để kêu gọi vị Tổng thống nước bạn giúp đỡ [19]. Lá thư này đã hợp pháp hóa và chính đáng hóa quyết định gửi quân Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam của Kennedy và củng cố thêm lập trường chống Cộng quyết liệt của ông Diệm lúc bấy giờ. Ngay những tháng cuối cùng của chế độ, lúc ông cho tấn công các cơ sở Phật giáo và đàn áp Tăng Ni thì ông cũng nhân danh sự đe doạ của Cộng Sản để biện minh cho chính sách tàn bạo đó thì tại sao từ cái lập trường thân Mỹ, chống Cộng sắt đá như thế ông lại hoán chuyển tương quan thù bạn để chủ trương đuổi đồng minh Mỹ và bắt tay với kẻ thù Cộng Sản mà nay ông gọi là “anh em”.

    Tôi là một cán bộ trung kiên với ông Diệm vì lập trường yêu nước và chống Cộng Sản, thì việc chuyển đổi tư tưởng và lập trường của ông đã tạo cho tôi một nỗi băn khoăn, thắc mắc rất quan yếu. Tôi cứ tự hỏi chủ trương thỏa hiệp với Hà Nội là chính của ông Diệm hay của ông Ngô Đình Nhu. Tôi thật tâm nghi ngờ rằng ông Diệm đã bị ông Nhu thuyết phục lôi kéo vì ông Diệm thiếu quyết đoán mà lại cả nể ông Ngô Đình Nhu. Thật thế, cuộc đời chính trị của ông Diệm đã cho thấy thời làm quan Nam triều ông nổi tiếng là nhờ thái độ “cần kiệm liêm chính” chứ không phải nhờ tài năng trí tuệ, vì mọi chính sách và hoạt động đều đã có quan Tây chỉ bảo. Ông chỉ cần thi hành đúng đắn đường lối cai trị và chính sách đô hộ của người Pháp là đủ để được thăng quan tiến chức rồi. Từ ngày làm Tổng thống, vì thiếu khả năng lãnh đạo, lại mang tính tình bất thường khi nhu khi cương, đầu óc lộn xộn, nên ông đã phải nhờ quá nhiều vào sự giúp sức của anh em, vì vậy sau đó hoàn toàn bị anh em chi phối điều động. Từ sau biến cố Nhảy Dù cuối năm 1960, người ta thấy tương quan của hai anh em ông Diệm–Nhu trong Phủ Tổng thống không khác gì thời vua Lê chúa Trịnh, dù bề ngoài ông Diệm vẫn cố giữ cái thể thống của một vị nguyên thủ quốc gia. Từ sau cuộc đảo chánh Nhảy Dù, nhất là từ ngày dọn về dinh Gia Long (sau cuộc ném bom dinh Độc Lập), những người trong Dinh thường thấy ông Diệm hàng ngày kẹp hồ sơ xuống văn phòng ông Nhu ở tầng dưới để bàn công việc, tham khảo ý kiến. Người ta có cảm tưởng ông Diệm đã hành xử như một viên chức thừa hành mang hồ sơ đến trình bày công việc với thượng cấp là ông Nhu. Trong biến cố Phật giáo, ông Diệm đóng vai trò của một ống loa để tuyên bố, còn tất cả kế hoạch đối phó với cuộc khủng hoảng đều do ông Ngô Đình Nhu thiết kế và quyết định; mà ông Nhu thì lại vốn là người quá nể vợ, nếu không muốn nói là sợ vợ, như các nhân chứng và tài liệu đã nói rõ. Thành ra trong dinh Tổng thống, nhất là vào những năm cuối cùng, ông Diệm đã biến thành nhân vật thứ ba, nằm dưới quyền hành tuyệt đỉnh của vợ chồng Ngô Đình Nhu.

  170. concun permalink

    Thật vậy, như tôi đã trình bày trong hai chương 11 và 12, cao trào chống đối của quân dân miền Nam trước chính sách độc tài và đàn áp các lực lượng quốc gia của chính quyền Ngô Đình Diệm càng lúc càng gia tăng với bản cáo trạng lên án chế độ của nhóm Caravelle, với hoạt động đối kháng của Mặt Trận Đoàn Kết do ông Nguyễn Tường Tam chủ xướng, của đảng Tự Do Dân Chủ do ông Phan Quang Đán thúc đẩy, của Liên Minh Dân Chủ do nhóm các ông Phan Bá Cầm, Xuân Tùng, Hoàng Cơ Thụy lãnh đạo,… và hai cuộc binh biến táo bạo cũng như quyết liệt của binh chủng Nhảy Dù và vụ ném bom dinh Độc Lập. Đó là chưa nói đến những cá nhân hoặc đoàn thể trước kia đã từng cộng tác, ủng hộ và nhiều khi hy sinh cả đời người cho hoạt động chính trị của hai ông Nhu–Diệm thì kể từ năm 1960 trở đi, cũng đã công khai lên án chế độ và bày tỏ thái độ chống đối gia đình họ Ngô. Và đó cũng chưa kể đến sự công phẫn của quần chúng mà điển hình là cuộc vận động cách mạng của Phật giáo bắt đầu lan rộng và biến thành những hình thức đề kháng chế độ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.

    Những hoạt động chống đối đó đáng lẽ phải được nghiên cứu sâu sắc và truy tầm nguyên nhân để rút ra những bài học tích cực hầu xây dựng dân chủ và sửa sai chế độ thì hai ông Nhu–Diệm lại xem đó như những khiêu khích phản loạn cần phải diệt trừ cho tuyệt hậu họa. Họ đã xem hành động đối lập của các lực lượng quốc gia như hành động của kẻ thù tối nguy hiểm vì chính đối lập mới thực sự đe dọa đến quyền hành và danh vọng của họ, quyền lợi và mạng sống của họ. Họ lo lắng suy nghĩ và dành nhiều phương tiện cũng như nhân sự của quốc gia để lo đối phó với những thành phần đối lập quốc gia còn hơn cả đối phó với kẻ thù Cộng Sản. Nhưng như tôi đã trình bày và lịch sử giai đoạn đó đã chứng minh, chế độ càng đàn áp thì sự chống đối càng gia tăng. Gia tăng trên cả hai mặt mức độ cũng như số lượng đến nỗi đã dùng đến cả võ lực (vụ ném bom) vốn là hình thức cao nhất và dứt khoát nhất của mọi cuộc đấu tranh.

    Tình trạng lớn mạnh của đối lập đó, trong những năm từ 1960 trở đi, tuy chưa trực tiếp và tức thì đe dọa chế độ, nhưng hai ông Nhu–Diệm cũng đã phải nhận rằng nếu tình trạng đó kéo dài thì chính các lực lượng chính trị đối lập đó, chứ không ai khác, trong tương lai sẽ đập tan chế độ và uy quyền của họ. Nhận định đó, khi biến cố Phật giáo xảy ra vào năm 1963 và nhất là khi những áp lực của người Mỹ trở thành nặng nề hơn, mới trở thành một yếu tố tác động lên quyết định thỏa hiệp với Cộng Sản Hà Nội để hoặc là dùng Cộng Sản như một phụ lực tiêu diệt đối lập, hoặc dùng Cộng Sản như một mối đe dọa để làm chantage lực lượng đối lập. Kế hoạch hai mặt đó, hai ông Nhu–Diệm nghĩ rằng nếu không làm tê liệt được quyết tâm thì ít nhất cũng tiêu diệt được khả năng chống đối của người quốc gia.

    Cho nên chính sự thất bại và bế tắc trong chính sách đàn áp đối lập cuối cùng đã là nguyên nhân sâu sắc nhất nhưng lại ẩn tàng nhất đẩy hai ông Diệm–Nhu vào vòng tay Cộng Sản để mong bảo đảm danh vọng và quyền lợi cho họ.

  171. concun permalink

    Trong lúc biến cố Phật giáo đang sôi nổi thì trong giới chính trị và tình báo tại Thủ đô Sài Gòn có hai vấn đề cũng được thảo luận và theo dõi gần như công khai. Đó là nguồn tin về những vận động của chính quyền Nhu–Diệm nhằm thỏa hiệp với Cộng Sản Hà Nội và những tin tức về các cuộc đảo chánh có thể xảy ra.

    Sài Gòn như lên cơn sốt mùa hè với những tin đồn phóng đại, những giả thuyết đầy mâu thuẫn và những vận động ngầm sôi nổi. Đề tài về âm mưu thỏa hiệp với Hà Nội là đề tài nóng bỏng nhất vì không những nó liên hệ đến chế độ Diệm mà còn trực tiếp tạo nhiều hệ quả lớn lao cho vận mệnh của miền Nam Tự Do.

    Sau cách mạng 1–11–1963, các bí mật từ từ lộ ra qua các tài liệu Việt Nam và quốc tế, những nhân chứng trong cuộc cũng từ từ tiết lộ những sự kiện cụ thể để ta có thể nghiêm túc trình bày lại diễn tiến của âm mưu này, cũng như để ta có thể chín chắn suy nghiệm về biến cố mà hai anh em Nhu–Diệm đang từ theo Mỹ đến chống Mỹ và đang từ chống Cộng đến thỏa hiệp với Cộng.

    Âm mưu thỏa hiệp với chính quyền Cộng Sản Hà Nội của chế độ Diệm là một trong những động cơ quan trọng, nếu không muốn nói là động cơ thách đố nhất, thúc đẩy quân đội cùng với toàn dân đứng lên làm cuộc cách mạng 1–11–63. để ngăn chận và trừng phạt dòng họ Ngô Đình. Chính âm mưu này đã là nguyên động lực làm cho nhiều tổ chức chống chế độ có thể đoàn kết hợp tác với nhau mà không ngại ngùng, và đến khi tiếng súng cách mạng phát khởi thì các đoàn thể quần chúng và nhân dân cả nước cũng đều một lòng yểm trợ cho cuộc cách mạng lật đổ Ngô triều thành công.

    Có nhiều nguyên nhân dẫn đến quyết định thay đổi lập trường và chính sách chống Cộng của hai anh em ông Ngô Đình Diệm nhưng tựu trung có thể gồm lại trong bốn điểm chính: thứ nhất là sự chống đối càng lúc càng quyết liệt của nhân dân và các lực lượng chính trị đối lập tại miền Nam; thứ hai là áp lực càng lúc càng nặng nề của lực lượng chính trị võ trang của kẻ thù Cộng Sản; thứ ba là sự căng thẳng trong mối bang giao Việt–Mỹ mà những đổ vỡ có thể mang đến các di hại trầm trọng; và thứ tư, quan trọng nhất, là bản chất thủ đoạn cũng như tính chủ quan của ông Ngô Đình Nhu. Nếu chỉ có một, hay hai, hay cả ba nguyên nhân mà thôi thì chưa chắc hai ông Diệm–Nhu đã thỏa hiệp với Cộng Sản, nhưng vì bốn nguyên nhân vừa khách quan vừa chủ quan này đã, chậm chạp nhưng chắc chắn, cùng phối hợp với nhau nên đã đánh bật lập trường chống Cộng của anh em Ngô Đình, dù từ lâu mối thù giết anh ruột đã bắt gốc rễ vào tâm trí họ, và dù sự nghiệp chính trị của họ được xây dựng trên quyết tâm chống Cộng của quân dân miền Nam.

  172. concun permalink

    Một linh mục người Pháp vốn biết rất rõ về con người của ông Nhu, từ năm 1959, đã nói rằng: “Nhu có đầy đủ khả năng để bắt tay với Cộng Sản. Nhu sẽ thỏa hiệp với Cộng Sản khi nào cảm thấy bị dồn vào chân tường. Nhu là thứ người hành xử hoàn toàn theo chính sách “sau ta là trận đại hồng thủy” (après moi, c’est le deluge) [17]. Sau này tính liều lĩnh đó đã thể hiện rõ ràng hơn khi:

    … sự chống đối của tướng lãnh, của người Mỹ, và của Phong trào Phật giáo đã không cho Nhu một chọn lựa nào khác hơn để bám lấy chính quyền ngoài cách liều lĩnh thỏa hiệp với Hà Nội. Với Nhu thì không có gì là mất thể diện. Tất cả mọi nhân chứng đều cho thấy nhà mưu sĩ của chế độ, vì sống riêng biệt trong căn phòng bọc gấm và xa rời thực tế nông thôn, cứ tưởng chương trình Ấp Chiến Lược là một thành công. Những phúc trình của các sĩ quan khúm núm và các công chức sợ sệt đã cứ lải nhải (về sự thành công) như thế, còn Việt Cộng thì họ hiểu rằng nếu có thỏa hiệp, chắc chắn họ sẽ có lợi [18].

    Vừa chuộng lý thuyết vừa nặng đầu óc chủ quan, lại tính liều lĩnh nên khi bị dồn vào thế đường cùng thì ông Nhu không thể làm gì khác hơn là quay về thỏa hiệp với kẻ thù Cộng Sản, một kẻ thù mà vì đầu óc tiêm nhiễm những lý thuyết khuynh tả Tây phương, ông Nhu đã không thấy nó phi nhân bản và phản tiến hóa, một kẻ thù mà nặng đầu óc chủ quan, ông Nhu đã không đánh giá được một tương quan lực lượng rất bất lợi cho miền Nam, một kẻ thù mà vì tính liều lĩnh thủ đoạn, ông Nhu đã không cần biết những hậu quả gì sẽ xảy ra sau khi thỏa hiệp.

  173. concun permalink

    Tôi còn nhớ vào dạo đó, trong mấy tuần liên tiếp, cứ mỗi thứ năm từ 9 giờ sáng đến 12 giờ trưa, ông Nhu đến câu lạc bộ Tổng Tham mưu để thuyết trình cho khoảng 50 sĩ quan cấp Tướng và Tá gồm các chỉ huy trưởng và giám đốc nha, sở có mặt tại Sài Gòn. Tự cho mình là trí thức khoa bảng và với uy thế của vị Cố vấn Chính trị em ruột Tổng thống, ông Nhu đã xem các sĩ quan cao cấp đó như những kẻ võ biền không có ý thức chính trị nên ông thao thao bất tuyệt, dùng mọi lý luận để đả kích Phật giáo bằng những lời lẽ hung hăng, công kích sự tham dự quá mức của người Mỹ vào nội tình Việt Nam, đề cao một cách sống sượng các kết quả thống kê của quốc sách Ấp Chiến Lược và úp mở đề cập đến một nước Việt Nam thống nhất trong hòa bình.

    Suốt năm trời vì quá lo âu bày mưu tính kế đối phó với Phật giáo và Mỹ nên mặt ông Nhu trông hốc hác, cặp môi đã thâm lại thâm thêm, cặp mắt vốn mờ đục bấy giờ lại bị các quầng đen làm sâu hẳn. Ông không biết rằng càng nói càng làm cho hội trường thêm chán ghét và căm thù. Những hứa hẹn cũng như những đe dọa mà ông trình bày bằng một giọng lè nhè vì uống quá nhiều rượu whisky, chỉ làm cho hội trường thêm chán nản. Làm sao ông có thể đề cập đến lòng yêu nước và xây dựng quốc gia khi chính ông đang âm mưu thỏa hiệp với Cộng Sản và đang làm ung thối liên hệ đồng minh với một nước bạn chống Cộng ? Nhưng ông Nhu cũng say sưa nói, và vẫn chủ quan tin rằng mình đang thuyết phục được một hội trường vốn đã biết khá rõ về âm mưu của ông cũng như đang có những vận động đối chọi kịch liệt với ông.

  174. concun permalink

    Đến đây thì nguyên nhân thứ tư của quyết định thay đổi lập trường từ thân Mỹ đến chống Mỹ, từ chống Cộng đến thỏa hiệp với Cộng của ông Ngô Đình Nhu bắt đầu thành hình, mà sự thành hình đó bắt nguồn từ chính bản chất nội tại của con người ông ta.

    Những bản tính đặc biệt đó của ông Nhu là gì?

    Trước hết ông Nhu là một người Việt có một tâm hồn rất Tây, thứ Tây trí thức chuộng lý thuyết và đắm chìm trong những lý tưởng đến nỗi quên mất thực tại. Nền giáo dục từ chương nặng nề của Pháp vào thập niên 1930 và 40, cũng như nội dung giảng huấn của trường Chartres đã bủa màng lưới lý thuyết vây kín óc sáng tạo và tính khách quan của người thu nhận. Ông Nhu say sưa đọc sách, càng nhiều càng tốt, mà không biết đối chiếu với thực tại để khai mở một triết lý hành động cho chính mình cũng như cho chính quốc gia sau này. Do đó mà những tác phẩm lý thuyết mà ông Nhu là cha đẻ sau này như Hiến pháp Đệ nhất Cộng Hòa, Thuyết Nhân Vị, v.v… chỉ là một sự chắp vá gượng ép của rất nhiều trào lưu tư tưởng lúc bấy giờ mà chẳng có một nội dung đặc thù nào, lại càng không phù hợp với hiện thực chính trị và xã hội của miền Nam Việt Nam chút nào cả.

    Khi về nước phụ trách quản thủ thư viện tại Hà Nội rồi Huế, ông Nhu chỉ là một công bộc của bộ máy cai trị Tây, suy tư và hành xử như Tây chẳng khác một con cá biển sống thoải mái trong nước mặn. Do đó, ta không lạ gì khi thấy ông Nhu chỉ giao du với những thành phần thuộc giai cấp thượng lưu trí thức, và đến khi thành hôn thì cũng lấy con gái một gia đình trưởng giả trong nếp sống phóng đãng của Hà Nội bị Âu hóa. Văn hóa Pháp chi phối mạnh mẽ tâm hồn ông Nhu, mạnh mẽ đến nỗi khi diễn đạt, ông Nhu không dùng nổi tiếng Việt mà phải nhờ tiếng Pháp để nói và viết. Bài “Hội Mùa Xuân tại Hà Nội thời Hậu Lê” (La Fête de Printemps à Hanoi du temps des Lê Posterieurs), cũng như các diễn văn của ông Diệm sau này, ông Nhu đều viết tiếng Pháp và Võ Văn Hải dịch ra Việt văn. Con cái thì chỉ học trường Tây trường Đầm, và trong nhà thì chỉ đối đáp với nhau bằng Pháp ngữ.

    Rõ rệt hơn nữa là khi mới có chính quyền, vợ chồng Nhu đã vội chuyển tiền ra ngoại quốc và chỉ chuyển qua Pháp hoặc Thụy Sĩ. Mua sắm nhà cửa thì cũng tại Pháp và Ý, tạo mãi cơ sở kinh doanh dĩ nhiên cũng tại Pháp. Ba lần công du chính thức, ông Nhu đều tìm cách ghé qua Pháp, riêng bà Nhu thì đi Pháp hàng năm, có khi trong một năm đi hai, ba lần. Chỉ năm 1957, ông Ngô Đình Nhu có viếng thăm Hoa Kỳ và đã được Tổng thống Eisenhower tiếp kiến.

    Do đó, chính nếp sống Tây hóa, và quan điểm chính trị bị Tây hóa này đã làm cho ông Ngô Đình Nhu, trong sự hỗn loạn của tình hình lúc bấy giờ, đã trở nên chủ bại trong ý thức và trở về với lập trường khuynh tả của giới trí thức Âu Châu để chấp nhận chủ nghĩa của Marx như một chủ nghĩa nhân bản về mặt triết lý và là một hệ ý thức thuần lý về mặt sử quan, đến nỗi đã công khai tuyền bố “Tôi không phải là người chống Cộng trên quan điểm chính trị hay nhân bản. Tôi xem những người Cộng Sản như anh em…”

    Từ tình cảm thân Tây, phục Tây và trọng Tây trên mặt tư tưởng cũng như nếp sống đó, tâm lý chống Mỹ, khinh Mỹ, ghét Mỹ của ông Nhu chỉ là một hệ luận tất yếu mà thôi. Và ông Nhu bị rơi vào cái vòng nhị nguyên đối đãi của một thứ lựa chọn cứng nhắc: càng trọng Tây thì càng khinh Mỹ, càng chống Mỹ thì càng thân Tây, chứ không tìm được cho mình một chọn lựa đặc thù nào trên nền tảng dân tộc, để khỏi vật vờ trong thế tranh hùng ngoại bang Tây–Mỹ.

    Ngoài đặc tính nặng lý thuyết (mà là lý thuyết Tây phương) đến độ viển vông này, ông Nhu còn bị bệnh chủ quan của một người tưởng mình quán thông kim cổ, của một người khinh thế ngạo vật, xem trí thức và nhân sĩ miền Nam như cỏ rác. Ông Nhu chủ quan đến độ không nhận ra rằng anh mình được làm Tổng thống trước hết là nhờ Mỹ và tòa thánh La Mã chứ không phải nhờ những vận động chính trị đầy tính thỏa hiệp của ông Nhu tại Sài Gòn. Ông chủ quan đến nỗi không nhận ra rằng sau những năm đầu của chế độ, lòng dân đã bắt đầu dao động và những tình cảm cũng như sự tín nhiệm ban đầu của nhân dân đã bắt đầu biến đổi từ dè dặt đến nghi ngờ, từ nghi ngờ đến chống đối. Ông cũng chủ quan đến nỗi không biết rằng những sách lược và những tổ chức của mình như Ấp Chiến Lược, như Thanh Niên Cộng Hòa, như đảng Cần Lao Công giáo, như Lực Lượng Đặc Biệt, như trại giam P42 không đủ khả năng để chống đỡ cho chế độ đang bị ung thối từ trong cốt lõi. Ông cũng chủ quan đến độ vào những tháng cuối cùng của chế độ, khi biết được tin có những vận động nhằm lật đổ chế độ, ông vẫn dửng dưng xem thường và đánh giá rất thấp âm mưu đảo chánh của các sĩ quan.

  175. concun permalink

    Nhưng giờ đây thì những hình ảnh dã man tàn bạo của một cuốn phim thời trung cổ hiện rõ trước mắt tôi. Tôi nhìn thấy anh em ông Diệm, trong suốt chín năm qua, chẳng những là hạng người không có tài năng mà cũng chẳng có đạo đức. Đã thế họ lại chối bỏ Quốc tổ Hùng Vương, khinh mạn anh hùng liệt nữ, họ còn có chủ trương tiêu diệt truyền thống tốt đẹp của cha ông, tiêu diệt nền văn hóa đặc thù của dân tộc. Tôi nhìn thấy họ chỉ lo triệt hạ các tôn giáo, đảng phái và những người yêu nước đối lập với họ để phục vụ cho quyền lợi gia đình, phe nhóm và giáo hội La Mã mà thôi. Tôi nhìn thấy anh em ông Diệm chỉ là hiện thân rõ rệt của Vua Constantin, Vua Louis 14, của Alexandre de Rhodes, Pigneau de Béhaine; họ và nhóm Công giáo Cần Lao phe đảng của họ như những kẻ ngoại quốc sống trên quê hương mình, như kẻ ngoại nhân đến đô hộ dân mình, nước mình, đô hộ với một chính sách hà khắc không một chút lòng trắc ẩn đối với dân bản xứ.

  176. concun permalink

    Trước Lý Chánh Trung, học giả Đào Duy Anh cũng nói đến thái độ của người Việt dân tộc khó có thể chấp nhận ” Thiên Chúa giáo” dù người Việt vốn là một dân tộc hòa hài, vốn đã mở rộng vòng tay đón chào những tôn giáo, tín ngưỡng xa lạ từ thế kỷ 16, 17. Ông Đào Duy Anh viết rằng:

    Lấy số một triệu rưỡi tín đồ Cơ Đốc giáo mà so với dân số hơn 20 triệu thì ta thấy ảnh hưởng của Cơ Đốc giáo ở nước ta cũng không mạnh lắm. Thực ra thì dân ta phần nhiều cho rằng Cơ Đốc giáo không thừa nhận sự sùng bái tổ tiên là trái với luân lý và văn hóa cố hữu của ta, cho nên đem lòng kỳ thị. Trong số người theo Cơ Đốc giáo, một phần rất lớn là vì lợi mà theo chứ không phải vì tín ngưỡng sâu xa, cho nên ta có thể nói rằng ảnh hưởng tinh thần của Cơ Đốc giáo đối với dân ta lại còn ít hơn những thành tích thực hiện được [32].

    Xin lưu ý rằng những con số ông Đào Duy Anh đưa ra là vào thời kỳ 1938. Nhưng cho đến năm 1965, nghĩa là gần 30 năm sau, mặc dù chế độ Diệm ép buộc dân chúng miền Nam theo Công giáo, thế mà cả hai miền Nam Bắc vẫn chỉ có trên hai triệu ba trăm ngàn giáo dân trong tổng số gần năm mươi triệu dân Việt Nam mà thôi [33].

    Cũng vì người Việt gắn bó với truyền thống dân tộc, thắm thiết với tình tự quê hương cho nên dù các giáo sĩ ngoại quốc đã dùng đủ thứ phương tiên, biện pháp như súng đạn, thế lực, tiền bạc để hăm dọa, mua chuộc, dụ dỗ mong cầu biến Việt Nam thành một tỉnh, quận của nước Pháp “fille ainée de l’Eglise Catholique” mà vẫn không thành công.

    Tiếc thay, anh em ông Diệm đã không chịu nhìn cái gương tầy liếp ấy lại vẫn đi theo con đường của Constantin, của Gregoire XVI để mua lấy cái chết thảm nhục.

    Chủ trương triệt hạ Phật giáo, anh em ông Diệm hướng về ba mục tiêu rõ rệt:

    – Trả thù các phong trào Cần Vương, phong trào “Bình Tây – Sát Tả” và chính sách cấm đạo của các vua nhà Nguyễn thế kỷ 19.

    – Cùng với việc dồn dân vào ấp Chiến lược, nâng mức độ Công giáo hóa nhân dân miền Nam vào giai đoạn quyết định, nếu đè bẹp được cuộc đấu tranh của Phật giáo.

    – Vô hiệu hóa một lực lượng chống Cộng có đa số nhân dân để dễ dàng thỏa hiệp với Cộng sản, việc mà tôi sẽ nói tới trong chương sau.

    Chủ trương của nhà Ngô chẳng những là một tội ác đối với dân tộc mà còn là hành động đi ngược dòng lịch sử, kéo nhân dân Việt Nam trở về thời Trung Cổ lạc hậu. Anh em nhà Ngô lại còn không nhận ra rằng nước Chúa đang mỗi ngày mỗi thu hẹp và tín đồ khắp thế giới mỗi ngày mỗi quay lưng ngoảnh mặt với Giáo hội Vatican để hướng về cuộc sống nhân bản, khai phóng, tiến bộ hơn.

    Sách lược đàn áp, khủng bố Phật giáo tại Việt Nam vào năm 1963 của chế độ Công giáo trị Ngô Đình Diệm nhắc nhở tôi nhớ lại biến cố tàn sát, triệt hạ đạo Tin Lành của Công giáo Pháp vào cuối thế kỷ thứ 17. Ngày 17 tháng 10 năm 1685, vua Louis XIV đã ký một đạo luật đặt đạo Tin Lành ra ngoài vòng pháp luật. Kể từ đó, lính của nhà vua và những người Công giáo Pháp triệt phá các nhà thờ Tin Lành, lùng bắt các mục sư và tín đồ Tin Lành để giam cầm và sát hại. Từ 250 ngàn người đến 400 ngàn người Tin Lành phải bỏ nước ra đi để lánh nạn, số còn lại bị tù đày, bị giết chết, hay bị bắt làm nô lệ. Cũng từ đó, nhân loại lên án tội ác của vua Louis XIV, còn các sử gia Pháp gọi hành động bạo ngược của nhà vua là làm nhục quốc thể. Và cũng từ đó, đạo Tin Lành khắp thế giới mỗi ngày một bành trướng phát triển mạnh lớn thêm, tín đồ đạo Cơ Đốc giáo bỏ đạo cũ để theo đạo Tin Lành đông hơn.

  177. concun permalink

    Nhưng anh em ông Diệm lại không thấy cái ánh sáng chân lý đó mà chỉ biết noi gương Hoàng đế Constantin, vị Hoàng đế đã dùng bạo lực để mở mang nước Chúa, để mở rộng đế quốc Công giáo La Mã. Ta hãy nghe lời ta thán của ông Lý Chánh Trung, một trí thức Công giáo về chủ trương của Hoàng đế Constantin mà anh em ông Diệm đã là những hậu duệ trung thành nhất:

    … Lẽ dĩ nhiên, cứu cánh tối hậu này là mở mang nước Chúa, nhưng sự “mở mang nước Chúa” đôi khi đi ngược lại quyền lợi một số dân tộc. Chẳng hạn từ thời Phục hưng cho tới những năm gần đây, chính sách của Vatican trên căn bản vẫn là cấu kết với những cường quốc Tây phương theo gót những đoàn quân viễn chinh để giảng đạo, và trong các nước thuộc địa, biến các giáo hội bản xứ thành những rường cột của chế độ thực dân.

    Thứ đến, Phật giáo đã được truyền bá như một tôn giáo thuần túy, không pha lẫn với một trào lưu chính trị nào, cũng không có một tổ chức quốc tế rõ rệt nên đã không gây nên những hiểu lầm đáng tiếc như Công giáo.

    Trong giáo hội Công giáo thì trái lại, khuynh hướng đóng kín và tự mãn hiện diện ngay trên bình diện tập thể và giáo hội tự ý thức mình như một dân tộc được Thiên Chúa chọn lựa giao phó cho sứ mạng cứu rỗi nhân loại. Giáo hội là con đường độc nhất đưa tới Thiên Chúa: “Ngoài Giáo hội không thể có sự cứu rỗi” (Hors de l’Eglise, Point de Salut). Từ khi giáo hội thành Quốc giáo dưới triều đại Constantin và nắm được những thế lực lớn lao thì “cây gươm tinh thần” của thánh Phao Lồ đã luôn luôn bị cám dỗ, đã biến thành cây gươm thép thật sự. Giáo hội đã không ngần ngại dùng đến thế lực để tiêu diệt các tôn giáo khác, đập phá các đền thờ “tà thần”, đốt sách vở ngoại đạo và đốt luôn những người bị xem là “lạc đạo” nếu không chịu sửa sai. Trong xã hội loài người, giáo hội không bao giờ chịu công nhận cho các tôn giáo khác hoặc cho những người không Công giáo cái quyền ăn nói ngang hàng với mình bởi cái lý do giản dị là chỉ giáo hội mới có sự thật, mới có quyền ăn nói. Đức Giáo Hoàng Gregoire XVI đã gọi “tự do báo chí” là “tự do tai hại nhất, đáng ghét nhất, kinh tởm nhất” mà một số người dám đòi hỏi một cách ồn ào cuồng nhiệt và quảng bá khắp mọi nơi.

    Tôi nghĩ rằng chính sự bất khoan dung đó (và nhiều lý do khác) đã khiến cho Giáo hội va chạm một cách nặng nề với các dân tộc Á Đông và đã không mỹ mãn trong việc rao giảng tin mừng trong vùng này. Sau bốn thế kỷ giảng đạo với những phương tiện hùng hậu, những hy sinh lớn lao, phải nhận rằng số người Á Đông theo đạo Công giáo thật là ít ỏi ngoại trừ tại xứ Phi Luật Tân. (Đó là chỉ mới nhìn đến số lượng. Nếu nhìn đến phẩm lượng “qualité” thì có lẽ kết quả còn khiêm tốn hơn nữa: chưa có một Giáo hội Á Đông nào sản xuất được một vị thánh, và trình độ đạo đức trung bình của người Thiên Chúa giáo Á Đông không có gì gọi là “cao” hơn những người không Thiên Chúa giáo). Lý do căn bản của kết quả khiêm tốn ấy phải chăng là vì người Á Đông khi theo Đạo đã phải ly cách cộng đồng Dân Tộc. Chính vì Giáo Hội đã xem các nền văn hóa Á Đông là vô giá trị, sai lầm, tội lỗi do đó gần như bắt buộc người Á Đông phải lựa chọn giữa dân tộc và giáo hội [31].

  178. concun permalink

    Phật giáo có tính dân tộc và cách mạng vì Phật giáo là một tôn giáo sinh động, thực tiễn và khoa học. Phật giáo là một tôn giáo để sống chứ không phải để tin. Đạo Phật đề nghị một con đường tâm linh nhằm đối trị những đau khổ, nhục nhằn, xót xa của con người. Biểu đồ cuộc hành trình đầu tiên của Phật giáo là một đường thẳng mà gốc khởi hành là một ngai vàng lộng lẫy, quyền uy, sang trọng, mà điểm đến là đám cùng dân với đôi chân trần thuộc giai cấp hạ tiện nhất của xã hội Ấn Độ, chứ không phải ngược lại.

  179. concun permalink

    Chính nghĩa đấu tranh chống bạo quyền của Phật giáo được dân cả nước (trừ Cần Lao Công giáo và Cộng sản) yểm trợ, được cả thế giới tự do biểu đồng tình, thế mà anh em ông Diệm cứ một mực gán cho Phật giáo là Cộng sản. Thậm chí sau năm 1975, ra nước ngoài, báo chí Cần Lao Công giáo còn xuyên tạc phỉ báng hành động tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức. Họ bảo rằng Hòa Thượng đã bị tiêm thuốc cho chết cứng rồi bị đẩy ra làm mồi cho ngọn lửa. May mà hành động tự thiêu hào hùng của Ngài được hàng chục ký giả ngoại quốc (vốn đã được Phật giáo bí mật thông báo cho biết trước) để đến quay phim, chụp hình, viết tường trình tả rõ cảnh tự thiêu để cả thế giới nhận biết sự thật. Cuộc tự thiêu vĩ đại này làm rúng động con tim nhân loại cũng đã được một nhân chứng là ông Huỳnh Văn Hải (hiện sống ở San Jose, California) người tưới xăng vào thân thể Hòa thượng kể lại từng chi tiết trên nguyệt san Chấn Hưng (xuất bản tại Los Angeles số 4 ngày 8-8-1978).

    Một sự kiện lịch sử công khai, minh bạch như thế mà những tay chân nhà Ngô còn dám đổi trắng thay đen thì còn biết bao nhiêu chuyện khác họ đã xuyên tạc sự thật hầu che lấp tội ác của Ngô triều và của họ.

  180. concun permalink

    Nhắc lại chủ trương “trung lập và hòa bình”, tôi không khỏi nhớ đến Hội nghị Bandung:

    Ngày 1 tháng 2 năm 1955, Thủ tướng Nam Dương nhân danh khối Colombo, đại diện Miến Điện, Tích Lan (Phật giáo), Ấn Độ (Ấn Độ giáo), Hồi Quốc (Hồi Quốc và Nam Dương đều theo Hồi giáo) mời một số quốc gia trong đó có cả miền Nam Việt Nam (mà không có Cộng sản Hà Nội) tham dự, mở màn cho việc thành lập “Khối Các Quốc gia Phi Liên Kết”, trung lập trong cuộc tranh chấp giữa Cộng sản và Tư bản. Đây là một nỗ lực nhằm tạo đoàn kết cho các quốc gia đệ tam (“chậm tiến”) thành một sức mạnh quốc tế để phá vỡ cái trật tự của gọng kềm “lưỡng cực Cộng sản, Tư bản” do Nga Xô và Hoa Kỳ áp đặt. Sự thành hình của nó là kết quả những vận động khó khăn kiên nhẫn của những chiến sỹ dày công tranh đấu cho hòa bình như Nehru, Thủ tướng ấn Độ, như Tito, Quốc trưởng Nam Tư. Ngay cả Trung Cộng, một nước Cộng sản khổng lồ, nhìn được cái lợi thế chính trị của Khối Phi Liên Kết cũng phải tìm cách vào đứng chung với các tiểu quốc. Nước Miến Điện nhỏ bé và cô lập giữa vùng rừng núi cao nguyên đã nhờ ở trong Khối Phi Liên Kết và nhờ thế trung lập mà bên trong đã diệt trừ được Cộng sản Miến, bên ngoài lại được Trung Cộng (ngay cả dưới thời Mao Trạch Đông) phải tôn trọng nền độc lập, trung lập trọn vẹn. Ông U-Thant, một chính trị gia Miến Điện, giữ chức Tổng thư ký Tổ chức Liên Hiệp Quốc đến hai nhiệm kỳ.

    Chủ trương Việt Nam trung lập phi liên kết là một sáng tạo chính trị tích cực và là một đóng góp quí giá của Phật giáo Việt Nam cho dân tộc trong cái viễn ảnh đó, tiếc thay cả hai ông Hồ và Ngô đều giáo điều và thiển cận nên không nhìn thấy được, do đó đã làm cho đất nước tang thương và dân tộc điêu linh mãi cho đến ngày nay.

    Năm 1955, Giáo sư Nguyễn Văn Thoại, Bộ trưởng Kinh tế, và tướng Trình Minh Thế được cử đi tham dự Hội Nghị Bandung, nhưng đã không làm gì được gì vì ngay từ gốc và từ đầu, ông Ngô Đình Diệm đã tự nguyện đặt miền Nam nằm trong quỹ đạo của Hoa Kỳ rồi. Không đứng trong khối trung lập phi liên kết (trung lập mà vẫn có thể chống Nga Xô và nhận viện trợ Hoa Kỳ như Nam Tư của Tito, hay vẫn được Mỹ ủng hộ và hoà hoãn với Trung Cộng như Miến Điện) cho nên suốt hai mươi năm chống Cộng, miền Nam Việt Nam đã không được khối đông đảo “phi liên kết” hậu thuẫn, mà lại còn bị các nước Bắc Âu tẩy chay.

    Đau đớn nhìn lại lịch sử, nếu miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Genève 1954 biết chọn con đường trung lập như khát vọng của Phật giáo, thì biết đâu tháng tư 1975 đã không xảy ra để rồi khi mất nước vào tay Cộng sản, lưu vong nơi xứ người, nhiều chính khách, lãnh tụ, tướng tá, trí thức, cả già lẫn trẻ mong cầu Việt Nam sau khi được giải thoát khỏi chế độ Cộng sản sẽ là một quốc gia trung lập.

  181. concun permalink

    Người Việt miền Nam dưới hai chế độ Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa hễ ai nói tới “trung lập” và “hòa bình” thì bị chụp mũ Cộng sản. Những nhà lãnh đạo miền Nam không ý thức được rằng chính Cộng sản Việt Nam mới là kẻ lo sợ một miền Nam “trung lập và hòa bình”, nhất là một miền Nam gia nhập vào khối “phi liên kết”.

    Huống chi, có riêng gì Phật giáo chủ trương “trung lập và hòa bình” mà ngay cả Giáo chủ Cao Đài Phạm Công Tắc, sau khi đất nước chia đôi cũng chủ trương miền Nam “trung lập và hòa bình”. Tôi tin rằng nhiều bậc cao niên của Cao Đài cũng như nhiều chính khách của miền Nam thời bấy giờ, còn sống sót tại hải ngoại cho đến ngày nay, cũng còn nhớ rằng Giáo chủ Phạm Công Tắc đã đòi hỏi Thủ tướng Ngô Đình Diệm nên thực hiện chủ trương “trung lập và hòa bình” để chống lại âm mưu thôn tính miền Nam của Cộng sản Bắc Việt.

  182. concun permalink

    Tuy nhiên Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng. Mặc dù Phật giáo đồ và Thượng tọa Trí Quang đã hết sức chịu đựng nhưng đến năm 1963, chính sách kỳ thị và áp bức của chế độ Diệm lên đến cao điểm, tham vọng trở thành Hồng Y của Giám mục Ngô Đình Thục lên đến cực độ, chủ trương Công giáo hóa nhân dân miền Nam của anh em ông Diệm và nhóm Công giáo Cần Lao lên đến mức độ quyết liệt, ông Diệm ra lệnh cấm treo cờ Phật giáo mở đầu cho một biến cố làm rung chuyển miền Nam. Bị dồn vào chân tường, Phật giáo đồ và Thượng tọa Trí Quang buộc phải đấu tranh để giành quyền sống cho Giáo hội. Chính nghĩa đấu tranh của Phật giáo được dân cả nước ủng hộ mà ngay cả nhiều người Thiên Chúa giáo, cả Khâm mạng Tòa Thánh La Mã tại Sài Gòn, cả Đức Giáo Hoàng cũng có cảm tình, lương tri nhân loại rúng động, thế mà ông Diệm lại gán cho phong trào đấu tranh của Phật giáo là phong trào Cộng sản lại còn tuyên bố “Cộng sản sắp tràn ngập Thủ đô” khi ông ra lệnh tấn công chùa chiền đêm 20 tháng 8. Ông Nhu thì gán cho Thượng tọa Trí Quang âm mưu lật đổ chính quyền. Sau 1975, tại hải ngoại sách báo của giới Công giáo Cần Lao bày đặt ra đủ thứ chuyện để xuyên tạc Thượng tọa là cán bộ Cộng sản. Họ mượn cái dĩ vãng của Thượng tọa hoạt động cho Việt Minh thời chiến tranh Pháp – Việt (1945-1954) để dẫn chứng ông là một đảng viên Cộng sản nằm vùng.

    Năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền, năm 1946 quân xâm lược Pháp trở lại đánh chiếm Việt Nam, ông Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân kháng chiến chống xâm lăng, lời kêu gọi trên dù với chiêu bài của một cuộc cách mạng dân tộc để che dấu cho cuộc cách mạng vô sản sau này, thì ở vào thời điểm truân chuyên nghiêng ngửa đó của đất nước, vẫn đánh động được những tấm lòng yêu nước thương nòi của hàng hàng lớp lớp nhân dân, nhất là thành phần thanh niên, chủ lực thế hệ của dân tộc. Nông dân, thợ thuyền, tu sĩ, công chức, sinh viên, tiểu thương, quân nhân, trí thức,… già trẻ lớn bé đều đã đứng lên đáp lời sông núi, chống xâm lăng bảo vệ độc lập, thì một thanh niên 24 tuổi như Thích Trí Quang, được nuôi dưỡng trong tình yêu của dân tộc và đạo pháp, trong niềm kiêu hãnh của môn đồ Vạn Hạnh, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Toản, Trần Nhân Tôn, được hun đúc theo tinh thần Hội nghị Diên Hồng, cũng dấn thân theo kháng chiến là điều tất nhiên. Cũng như những thanh niên Phạm Duy, thanh niên Nguyễn Mạnh Côn, thanh niên Doãn Quốc Sỹ, và hàng triệu thanh niên khác đã lên đường theo kháng chiến. Vua Bảo Đại còn từ bỏ ngai vàng bệ ngọc nhường quyền cho Việt Minh, giám mục Lê Hữu Từ còn làm cố vấn tôn giáo cho Hồ Chí Minh, giáo chủ Huỳnh Phú Sổ còn vào bưng theo Việt Minh kháng chiến, văn hào Nguyễn Tường Tam còn làm Bộ trưởng Ngoại giao cho Việt Minh, lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng Vũ Hồng Khanh còn ký vào Hiệp ước Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 để cùng Việt Minh đánh Pháp… thì tại sao Thượng tọa Trí Quang lại không theo Việt Minh? Tại miền Trung, nhà cách mạng Huỳnh Thúc Kháng làm Bộ trưởng Nội vụ cho Việt Minh, các nhân sĩ, trí thức tiếng tăm như Đào Duy Anh, Phan Khôi, Bùi Bằng Đoàn, Lê Đình Thám, v.v… đều theo Việt Minh thì tại sao người thanh niên Trí Quang lại không theo phong trào Việt Minh để kháng chiến? Điều quan trọng đáng nói là năm 1954, khi ranh giới Quốc Cộng đã được phân định rõ ràng thì Thượng tọa Trí Quang cũng chấm dứt mọi hoạt động cho Việt Minh, và điều quan trọng đó nhóm Công giáo Cần Lao lại không nói đến.

  183. concun permalink

    Thượng tọa Trí Quang là một tăng sĩ khắc khổ, đọc nhiều sách, thích chơi cờ tướng, và thích nhạc cổ điển Tây Phương. Qua những cuộc đàm thoại với ông hay qua những bài tham luận của ông về văn hóa, tôn giáo, lịch sử, triết lý đăng trên những tạp chí Phật giáo như Hải Triều Âm, Viên Âm v.v… giới trí thức miền Trung kính phục ông là người vừa uyên thâm lại vừa uyên bác. Nếu tôi nhớ không lầm thì ông Nghiêm Xuân Hồng đã viết đâu đó những lời thán phục Thượng tọa Trí Quang đã dịch được tác phẩm “Lương Hoàng Sám”, một cuốn kinh rất phức tạp, khó dịch cả về nội dung lẫn văn từ, vốn được viết theo Đại tạng kinh nói về cuộc giải thoát tâm linh cho bà Hy Thị Hoàng Hậu vợ của vua Lương Vũ Đế (Tây lịch 502-549) do lớp cao tăng Trung Quốc lúc bấy giờ làm lễ sám hối cho Hy Thị được siêu thăng.

    Năm 1954, khi đất nước chia đôi, gia đình Thượng tọa Trí Quang cũng bị phân cách đôi miền. Thượng tọa và người em làm Hạ sĩ quan thì ở miền Nam trong lúc thân mẫu và người em đi tu thì ở lại miền Bắc. Thuộc thành phần tiểu tư sản có mấy mẫu tư điền, thân mẫu Thượng tọa bị Cộng sản đấu tố, giam cầm trong lúc người em tăng sĩ Thích Diệu Minh ở trong mặt trận Tổ Quốc của Việt Minh. Tháng 11 năm 1954 Thượng tọa Trí Quang bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam mấy ngày vì tội “có chân trong Phong trào Hòa Bình”.

    Theo ký giả Jerrold Schecter thì ngay từ khi ông Diệm vừa lên cầm quyền, Thượng tọa Trí Quang đã bày tỏ mối lo âu về tương lai của Phật giáo Việt Nam: “Cuộc sống dưới chế độ ông Diệm sẽ còn nguy hiểm và khó khăn hơn dưới thời Pháp thuộc, và chúng ta sẽ phải chịu đưng một thời kỳ đen tối nữa” [19]. Dù đã tiên đoán đúng tương lai đen tối của Phật giáo nhưng suốt 9 năm trời dưới chế độ Diệm, Thượng tọa cũng như Giáo hội Phật giáo miền Trung vẫn không dính dự vào một âm mưu hay sinh hoạt chính trị nào. Ngay cả những năm đầu của chế độ Diệm, lúc mà tất cả những tôn giáo (trừ Công giáo), đảng phái tại miền Nam đều chống lại ông Diệm làm cho địa vị ông Diệm lung lay, Phật giáo vẫn đứng ngoài mọi tranh chấp, chỉ lo hàn gắn những vết thương nội bộ do cuộc chiến Pháp – Việt 10 năm gây ra mà thôi. Năm 1957, nhân có lời mời tham dự hội chợ Thác Luông và Đại lễ Phật giáo của Hoàng Gia Lào, Chính phủ Ngô Đình Diệm cử một phái đoàn thân hữu đi Luang Prabang. Phái đoàn do Bộ trưởng Thông tin Trần Chánh Thành cầm đầu với các ông dân biểu Nguyễn Phương Thiệp, đại diện Bộ văn hóa giáo dục ông Thái Văn Kiểm, đại diện Bộ Ngoại giao ông Hoàng Đại Sầm, còn về phía Phật giáo có các Thượng tọa Trí Thủ, Đôn Hậu, và Trí Quang. Suốt 9 năm sống dưới chế độ Diệm tại Huế, Thượng tọa Trí Quang thỉnh thoảng có đến thăm ông Ngô Đình Cẩn với tư cách đồng hương để gián tiếp trình bày thái độ ôn hòa nhẫn nhục của Phật giáo trước những áp bức của chính quyền như đã kể trong chương trước. Ông Ngô Đình Cẩn thỉnh thoảng cũng đến chùa viếng thăm Thượng tọa. Những hình thức xã giao này phần nào giúp Thượng tọa tránh được những vu khống và xuyên tạc của nhóm Công giáo Cần Lao.

  184. concun permalink

    Đêm 20 tháng 8, khi chùa Xá Lợi bị tấn công, Thượng tọa Trí Quang cũng ở trong số Tăng Ni bị bắt giải đi, nhưng nhờ ông khéo cải trang lẫn lộn vào đám Tăng Ni Phật tử nên mặc dù công an mật vụ dày công tìm kiếm, phân cách, chọn lựa mà ông vẫn không bị bắt giải về trại giam Võ Tánh như trường hợp Thượng tọa Tâm Châu, Thiện Minh… hay cư sĩ Mai Thọ Truyền. Tình cảnh của Phật giáo đồ Việt Nam lúc bấy giờ là tình cảnh chim lồng cá chậu, riêng đối với Thượng tọa Trí Quang, quê hương mênh mông mà ông không có đất dung thân. Hai ngày sau, ông trốn được vào Tòa đại sứ Mỹ, chủ trương của ông là ẩn nấp vào nhà người Cha khi ông bị người Con đánh đuổi để dùng cái uy của người Cha mà kềm chế đứa con hung hăng. Cùng trốn với ông có Đại Đức Thích Nhật Thiện, một nhà sư trẻ biết nói tiếng Anh thành thạo. Theo Đại sứ Cabot Lodge thì trong thời gian Thượng tọa Trí Quang ở trong Tòa đại sứ ông rất ít nói, nhiều khi đã làm cho Đại sứ bực mình. Một nhân viên Tòa đại sứ giải thích rằng những nhà sư Việt Nam thường có thái độ “nói không hết lời”. Họ nhận họ là người Việt Nam trước đã rồi mới là nhà sư. Họ có những đức tính và cả những khuyết điểm, những khuyết điểm do dân tộc tính gây nên, không phải do đạo Phật, vì thế cho nên họ tự cho họ trước khi là nhà sư họ là người Việt, thứ người Việt yêu thương gia đình và yêu thương phần đất quê hương mình trước hết.

    Thượng tọa Trí Quang sinh tại làng Diêm Điền, phủ Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Thượng tọa tên thật là Phạm Văn Bông, sinh năm 1922 thuộc một gia đình trung nông. Làng của Thượng tọa ở gần Lũy Thầy của Đào Duy Từ, cách tỉnh lỵ Đồng Hới 3 cây số. Dân làng Diêm Điền vừa làm củi, vừa làm muối, vừa làm nghề nông nên đa số có cuộc sống tương đối đầy đủ. Thượng tọa Trí Quang có 3 người anh em: một người đi tu là Thích Diệu Minh, một người là Phạm Chánh chết năm 1947, một người nữa là Phạm Đại theo Việt Minh kháng chiến làm y tá, sau trở về vùng quốc gia rồi gia nhập Việt Binh đoàn dưới chế độ Bảo Đại, sau này trở thành Hạ sĩ quan trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Nhiều người Quảng Bình quen biết gia đình Thượng tọa thường gọi gia đình ông là gia đình Quang Minh Chánh Đại, do sự ghép tên của bốn người con trai này. Thân phụ Thượng tọa chết năm 1945.

    Sau khi đỗ bằng tiểu học năm 13 tuổi, Thượng tọa Trí Quang xin quy y và tu học tại một ngôi chùa ở Đồng Hới rồi được cử vào học tại chùa Bảo Quốc Huế. Là một tăng sinh hết sức thông minh nhưng cũng hết sức cứng đầu, nhiều lần tưởng đã bị đuổi khỏi trường, nhưng nhờ thầy là Thượng tọa Trí Độ khoan dung bảo bọc nên mới được tiếp tục tu học. Xuất thân từ Cao Đẳng Học Viện Huế năm 1944, ông chính thức trở thành tăng sĩ.

    Khoảng tháng 6 năm 1946, lúc mới 24 tuổi, ông theo Thượng tọa Trí Độ ra Bắc và được cử làm giáo sư dạy tại Phật học viện Hà Nội… Cũng như bao nhiêu thanh niên yêu nước lên đường chống giặc, ông gia nhập Hội Phật Giáo cứu quốc của Việt Minh do Thượng tọa Thích Mật Thể, một dân biểu Quốc hội cầm đầu, vì đối với ông việc chống ngoại xâm giành độc lập cho Tổ quốc là lý tưởng cao cả mà lúc bấy giờ ông Hồ Chí Minh đang hô hào toàn dân chống thực dân Pháp, kẻ thù của dân tộc đang tái xâm lăng Việt Nam để thiết lập lại nền đô hộ.

    Chiến sự tại Bắc Việt bùng nổ vào tháng Chạp năm 1946, Thượng tọa Trí Quang từ giã Hà Nội trở về miền Trung và đến Huế vào khoảng tháng 7 năm 1947, vào lúc quân đội Pháp đã đánh chiếm xong Huế và 4 tỉnh miền Trung. Về Huế, ông lại gia nhập Hội Phật Giáo Cứu Quốc để tiếp tục hoạt động cho Việt Minh nên bị Pháp nghi là cán bộ Cộng sản, vì vậy ông bị bắt nhưng chỉ bị giữ độ 10 ngày. Được trả tự do, ông làm giảng sư cho Phật Học Viện Huế, được phép đi Đà Lạt để thuyết pháp và làm chủ nhiệm báo Viên Âm. Tuy vẫn bị Pháp kiểm soát nhưng đến 1952, ông được phép đi Nhật Bản dự Đại hội Phật giáo Thế giới 28 ngày. Năm 1953, biết ông là người tuy có tinh thần chống Pháp và thân kháng chiến nhưng không phải là đảng viên Cộng sản, sở Liêm Phóng Trung Việt bãi bỏ lệnh kiểm soát nên từ đó Thượng tọa Trí Quang được tự do đi lại khắp nơi.

  185. concun permalink

    Sau nhiều phiên họp, hội viên các quốc gia trong Tổ chức Liên Hiệp Quốc quyết định gửi một phái đoàn đến Việt Nam để điều tra. Ngày 24 tháng 9 năm 1963, tuy Đại sứ Bửu Hội đại diện chính quyền Ngô Đình Diệm phản đối quyết định đó nhưng cuối cùng đành phải chấp nhận cuộc điều tra của phái đoàn Liên Hiệp Quốc. Chấp nhận không chỉ vì áp lực quốc tế mà còn vì ông Ngô Đình Nhu đã nuôi sẵn thủ đoạn đánh lừa và mua chuộc nhân viên phái đoàn Liên Hiệp Quốc. Trong những mưu mô của ông Ngô Đình Nhu thì thủ đoạn dơ bẩn nhất là tổ chức cho nhân viên phái đoàn chăn gối với gái điếm rồi chụp hình để làm “chantage”. Nghĩa là nhân viên nào không chịu bênh vực lập trường của nhà Ngô thì ông Ngô Đình Nhu sẽ đưa những tấm hình kia ra trước công luận để bôi lọ nhân viên ấy, đồng thời làm mất uy tín quốc gia của nhân viên đó. Những tấm hình này đã bị Thủy quân Lục chiến tịch thu được tại phòng giấy của ông Ngô Đình Nhu trong Dinh Gia Long ngày 2-11-1963. (Măm 1976, Trung tá Cảnh sát tên Hoàng, người phụ lễ cho Linh mục Nguyễn Văn Vi tại Sacramento, California, cùng với Thiếu tướng Nguyễn Văn Chức nhân đến thăm tôi đã thú nhận chính ông Nhu chủ trương dùng thủ đoạn “chantage” các nhân viên phái đoàn Liên Hiệp Quốc như vừa nói trên, vì biết rằng đa số nhân viên phái đoàn đã thu lượm được nhiều tài liệu rõ ràng chứng minh Phật giáo bị chế độ Diệm kỳ thị, đàn áp, khủng bố. Trung tá Hoàng là một Công giáo Cần Lao, từng chỉ huy trại giam bí mật P.42 ở Sở thú). Cũng vì thủ đoạn trên đây mà ông Đoàn Thêm mới ghi vào tác phẩm của ông rằng:

    “Phái đoàn Liên Hiệp Quốc đã được Chính phủ Diệm tiếp đãi chu đáo và chìu chuộng đặc biệt bằng đủ mọi cách” [16].

  186. concun permalink

    Ngày 10 tháng 9, bà Ngô Đình Nhu dẫn một phái đoàn Dân biểu đi dự Hội Nghị Quốc tế Nghị sĩ tại Nam Tư để giải độc dư luận quốc tế về vấn đề Phật giáo. Theo Đại sứ Cabot Lodge và nhiều ký giả quốc tế thì bà Nhu đã nghi ngờ sự khôn ngoan của Đức Giáo Hoàng Paul VI sau khi Ngài bày tỏ sự bàng hoàng trước chính sách khủng bố tôn giáo của anh em ông Diệm. Bà Nhu tuyên bố:

    Đức Giáo Hoàng thật cũng lo âu một cách quá dễ dàng. Là một người Công giáo, tôi chỉ buộc phải tin vào tín điều của tôn giáo tôi và tin vào Đức Giáo Hoàng mà thôi. Đức Giáo Hoàng sẽ không sai lầm khi Ngài tuyên bố về những điều đặc thù về tôn giáo. Tôi không tin rằng Ngài sẽ đứng ở tư thế của mình mà chối bỏ tôi, vì làm như thế quả là Ngài đã làm hại lớn cho đạo Công giáo (Pope Paul VI is too easily worried. As a Catholic, I am only required to believe in the dogma of my religion and the Pope. The Pope is only infaillible when he decrees something ex-cathedra. I do not believe that he will put himself in a chair to disavow me, because that will be a bad blow for Catholicism) [11].

    Lời tuyên bố ngạo mạn này phản ảnh hai sự kiện rất đặc thù về bà Nhu mà người anh chồng đang là một vị giáo phẩm số một của Hội Thánh Công giáo Việt Nam. Thứ nhất là quan điểm về tính xa cách giữa đạo và đời, xác định sự bất lực của giáo lý Thiên Chúa giáo khi đi vào hiện thực xã hội, nhất là một xã hội tràn đầy khổ đau và áp bức. Thứ hai là dùng một thứ “politique de chantage” với vị Giáo chủ của Hội Thánh khi bắt Giáo Hoàng phải chọn lựa giữa sự chấp nhận hành động của mình nếu không thì sẽ “làm hại lớn cho Công giáo”.

    Điểm đau đớn cho Giáo hội Công giáo Việt Nam là sau lời tuyên bố đó của bà Nhu cho toàn thế giới biết, Giáo hội đã không có một lời giải thích nào. Đừng nói đến một lời phản đối!

  187. concun permalink

    Sau cuộc tấn công tàn ác vào các chùa chiền, bắt bớ Tăng Ni Phật tử và giam giữ một số sinh viên, đồng thời đóng cửa các trường học và phi trường Tân Sơn Nhất, anh em ông Diệm bèn lợi dụng sự giao động của quần chúng để phóng tay phát động những thủ đoạn tàn nhẫn hơn của họ.

    Sáng ngày 22 tháng 8, ông Nhu kêu gọi Thanh Niên Cộng Hòa phải làm “rạng tỏ chính sách”. Đồng thời Chính phủ ra thông cáo cho biết đã khám xét và tịch thu được một số khí giới và dụng cụ bất hợp pháp tại các chùa Xá Lợi, Ấn Quang, Theravada.

    Ngày 24 tháng 8, anh em ông Diệm lại tạo ra một bức thư giả mạo của Hòa thượng Thích Tịnh Khiết nói rằng Hòa thượng giới thiệu một số Thượng tọa trong Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc để trông nom Phật sự, trong lúc thật sự Hòa thượng Tịnh Khiết còn đang bị thương và đang bị giam lỏng tại quân y viện Cộng Hòa. Họ đã tái diễn một cách trơ trẽn trò viết thư giả mạo như họ đã làm đối với bác sĩ Phan Quang Đán sau vụ Nhảy Dù đảo chánh năm 1960.

    Ngày 26, họ ép buộc Thượng tọa Thích Thiện Hành thành lập một ủy ban Liên Hiệp Bảo Vệ Phật giáo Thuần Túy gồm toàn các thầy chùa Cổ Sơn Môn để hành xử như các hội “Phật giáo yêu nước” hoặc “Công giáo yên nước” của Cọng sản sau 1975.

    Ngày 27, các đoàn thể tay sai của họ và các Tỉnh trưởng gởi kiến nghị bày tỏ lòng trung thành và ủng hộ lên Phủ Tổng thống.

    Ngày 31 tháng 8, Tổng thống Diệm viếng thăm ngôi chùa Sư Nữ ở Gia Định, nhưng cũng đúng giờ đó, họ tổ chức Thanh Niên Cộng Hòa biểu tình ở công trường Lê Lợi để ủng hộ Chính phủ.

    Ngày 1 tháng 9, có tin đồn ảnh của Tổng thống Diệm bị tháo gỡ ở vài công sở và được thay thế bằng ảnh của Cố vấn Tổng thủ lãnh Thanh niên Cộng Hòa. Có tin đồn Cố vấn Nhu sẽ đảo chánh để thi hành một chính sách đanh thép, độc tài hơn

  188. concun permalink

    Đêm 20 tháng 8, anh em ông Diệm điều động cảnh sát dã chiến và lực lượng đặc biệt tấn công các chùa ở Sài Gòn như Xá Lợi, Ấn Quang, Theravada, Giác Minh, Từ Quang… các chùa ở Huế như Bảo Quốc, Từ Đàm, Linh Quang… và nhiều chùa lớn ở các tỉnh khác. Tại chùa Xá Lợi, đội quân xung phong của chính quyền đập phá bàn thờ, tượng Phật và lấy mất thùng công quả… gây thương tích cho hàng trăm Tăng Ni. Riêng Hòa thượng Hội chủ Thích Tịnh Khiết thì bị xô té và bị thương nặng ở mắt. Tại Sài Gòn, chúng bắt tất cả hơn 1.400 Tăng Ni, Phật tử, kể cả Thượng tọa Tâm Châu, cụ Mai Thọ Truyền, Sư bà Diệu Huệ, Thượng Tọa Trí Quang… Cuộc tấn công kinh hoàng đó của chế độ Diệm được một người bạn Mỹ của ông Diệm là nhà viết sử Buttinger ví von như một cuộc tấn công của đội xung kích Nazi:

    The so-called special forces and the manner in which Nhu employed them in 1963 were reminiscent of the Nazi storm troopers [9].

    Gần 5 giờ sáng ngày 21 tháng 8, Tổng thống Diệm triệu tập khẩn cấp Hội đồng Chính phủ rồi ra tuyên cáo: “Phải hành động quyết liệt và lãnh trách nhiệm trước lịch sử vì có tin Việt Cộng sắp tràn ngập Thủ Đô (sic), ban hành lệnh giới nghiêm trên toàn lãnh thổ, ra lệnh cho quân đội bảo vệ an ninh trật tự” (Sắc lệnh số 84/TTP). Tướng Tôn Thất Đính, Tư lệnh Quân Đoàn III được cử kiêm Tổng trấn Sài Gòn-Gia Định, có nhiệm vụ thi hành lệnh thiết quân luật. Lệnh giới nghiêm cấm dân chúng đi lại từ 9 giờ đêm đến 5 giờ sáng. Cuộc tấn công chùa chiền bằng võ lực và lời tuyên bố xuyên tạc của Tổng thống Diệm nói rằng Việt Cộng sắp tràn ngập thủ đô để biện minh và hợp pháp hóa hành động bất hợp pháp, bất hợp hiến của mình, đã nói lên sự thất bại về chính trị và nhân tâm của chế độ. Ngoài ra, phương cách đối phó liều lĩnh của anh em ông Diệm càng tạo thêm những phản ứng vô cùng bất lợi của nhân dân và quốc tế mà phản ứng đầu tiên lại là hành động xuống tóc và từ chức của Bộ trưởng Ngoại giao Vũ Văn Mẫu.

  189. concun permalink

    Thật vậy, từ lâu, theo lời Trung tá Nguyễn Văn Châu ở cạnh nhà cho tôi biết thì ông Diệm thường dò hỏi nếp sống trong gia đình tôi, đặc biệt là việc thờ tự. Châu cho ông biết trong nhà tôi có bàn thờ Phật, bàn thờ ông bà rất tôn nghiêm, nhất là vào các dịp Tết nhất cúng kỵ rất trang trọng. Trong thư phòng của tôi lại có tượng Đức Khổng Tử tỏ ra tôi là con người nặng lòng với nền Tam Giáo. Ông Diệm đã biết thế mà nhiều đêm thầy trò đàm đạo, có lẽ vì muốn thuyết phục tôi nên ông không ngại ngùng mỉa mai chỉ trích đạo Phật là thứ đạo mê tín dị đoan, còn các nhà sư thì quê mùa dốt nát, chẳng qua vì nghèo đói, không có nghề nghiệp sinh nhai nên mới phải nương thân nơi của chùa lo việc gánh nước quét lá để kiếm nắm xôi miếng oản, rồi lâu ngày thành ra sư nọ sư kia. Ông lại ca ngợi đạo Công Giáo là thứ đạo văn minh khoa học, thứ đạo quốc tế với bảy trăm triệu tín đồ trên khắp thế giới năm châu. Rồi ông khuyến dụ tôi nên theo đạo Công giáo. Nghe ông phê phán như vậy tôi chỉ cười thầm trong bụng, tôi biết ông cũng có đọc Nho, Lão, Phật nhưng ông không thể hiểu cái tinh túy của Đạo Phật, cái triết lý cao thâm của Phật Giáo. Trái lại, trong cái hiểu biết của tôi thì Kinh Thánh và tôn giáo của ông có nhiều điều vô lý, phản khoa học, phản con người, và lịch sử Giáo hội cũng như chính bản thân một số Giáo Hoàng đã gây nhiều tội ác đối với nhân loại. Đặc biệt nhất là tôi chưa cảm nhận được tình tự dân tộc, bản chất Việt Nam trong Thiên Chúa giáo như trong đạo Phật, tuy nhiên, vì nặng nghĩa thầy trò nên tôi không muốn tranh cãi với ông. Vì vậy, mỗi lần ông đưa lời khuyến dụ tôi cải đạo, tôi chỉ dùng lời khôn khéo để chối từ: “Thưa Cụ, tôi còn có người anh quyền huynh thế phụ đã trên 60 tuổi, anh tôi hết sức bảo thủ, lại đang là khuôn trưởng khuôn A-Dục Phật giáo tại Nha Trang và là hội viên ban quản trị Hội Khổng học Khánh Hòa, vậy xin Cụ đợi khi nào anh tôi qua đời tôi sẽ xét lại vấn đề niềm tin rất quan trọng này”. Tôi chỉ nói đãi đưa cho qua câu chuyện, cho ông Diệm khỏi buồn lòng, chứ con người của tôi vốn từ bùn lầy nước đọng của quê hương nghèo nàn khốn khổ mà xuất thân sau khi đã nổi trôi bao cuộc bể dâu thì dù sao cũng có thể gọi là đã trải mùi nhân thế, làm sao tôi lại có thể dễ dàng bỏ đạo của dân tộc, của cha ông như một số Bộ trưởng, tướng tá khác.

  190. concun permalink

    Trước dã tâm của anh em nhà Ngô, và mặc dù lực lượng an ninh được tăng cường khắp nơi (riêng tại Sài Gòn, Chính phủ đưa về hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến và hai tiểu đoàn Nhảy Dù), phong trào đấu tranh càng trở nên kiên cường, toàn diện và mãnh liệt hơn. Tại nhiều tỉnh, các Đại đức, Ni cô tiếp tục tự thiêu, các Phật tử tiếp tục biểu tình, tuyệt thực, các sinh viên y khoa, luật khoa, văn khoa, học sinh các trường Chu Văn An, Trương Vĩnh Ký, Gia Long, Trưng Vương,… bãi khóa, xuống đường, hội thảo. Sư Bà Diệu Huệ, thân mẫu của Đại sứ Bửu Hội, cũng đòi tự thiêu và nữ sinh Mai Tuyết An, 18 tuổi ở Thị Nghè, sau khi đi Chùa về đã cầm dao chặt tay để phản đối lời tuyên bố của bà Nhu. Nhiều đảng viên của các đảng Đại Việt, Việt Quốc, Duy Dân ở Sài Gòn và các tỉnh đã tích cực hoạt động yểm trợ cho Phật giáo. Đặc biệt giới trí thức và nhân sĩ, dù âm thầm hay công khai, đều chống lại nhà Ngô mà điển hình là giáo sư Phạm Biểu Tâm, Khoa trưởng Đại học Y khoa, một nhân vật có uy tín lớn lao được giới tri thức và sinh viên rất trọng vọng (đã hai lần được ông Diệm mời làm Bộ trưởng mà vẫn từ chối) và một số giáo sư bị bắt. Linh mục Cao Văn Luận, Viện trưởng Viện Đại học Huế, vì ủng hộ phong trào sinh viên tranh đấu nên cũng bị cất chức ngày 16 tháng 8 năm 1963.

    Đến đây thì cuộc tranh đấu đã thật sự có tầm vóc quốc gia. Những phẫn uất câm nín, những đày đoạ nhọc nhằn, những áp bức tàn bạo bị dồn nén từ chín năm nay trên mọi miền đất nước, trong mọi tấm lòng của nhân dân, đã nổ bừng lên, kết hợp với phòng trào đấu tranh của Phật tử để trực diện đối phó với một chính quyền lạnh lùng và hiểm độc. Những danh từ mỹ miều của ông Diệm như “lương tri”, “ái quốc”, như “giải quyết trong tình huynh đệ” đã bị chính ông và tập đoàn Cần Lao Công giáo do anh em ông lãnh đạo chà đạp xuống đất. Dân chúng vốn đã không tin vào sự “thành tín” của ông, vốn đã kinh qua trăm đắng ngàn cay do chế độ ông tác hại, thì giờ đây sự công phẫn tích tụ từ lâu chỉ có thể biểu hiện bằng một thái độ mà thôi: Những kẻ bị đàn áp cùng đứng chung một chiến tuyến để chống lại tập đoàn thống trị.

  191. concun permalink

    Tôi cần phải nói rõ và nói lớn ở đây rằng cuộc đấu tranh của Phật giáo tuy phát động từ sự kiện cấm treo cờ nhưng nguyên ủy thật sự, động cơ sâu sắc của nó thật ra đã xuất hiện từ lâu, từ khi anh em ông Diệm tiến hành chính sách tiêu diệt các tôn giáo khác cho Công được ngôi vị độc tôn trong đời sống tâm linh và tín ngưỡng của người Việt. Động cơ đấu tranh đó là một động cơ có tính sống còn của Phật giáo, cho nên ở bước đường cùng, Phật tử đã không thể có một chọn lựa nào khác nếu không muốn bị tiêu diệt: Từ nhiều năm nay, Phật giáo đồ đã bị đàn áp, khủng bố khắp nơi, chúng tôi vẫn nhịn nhục đương nhiên không phải vì hèn yếu mà vì ý thức được những nỗi khổ đau, tang tóc của dân tộc ta hiện tại. Nhưng đau đớn thay, một số người đã lợi dụng quyền hành gây ra không biết bao nhiêu tang tóc đối với Tăng và Tín đồ Phật giáo khắp trong nước, đối xử một cách bất công với một tôn giáo có hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc [3]. Đó mới là nguyên ủy thật sự của cuộc đấu tranh, chứ lá cờ chỉ là giọt nước cuối cùng mà thôi. Chánh pháp như chiếc bè qua sông, qua rồi còn bỏ bè huống gì chỉ một lá cờ.

  192. concun permalink

    Vấn đề đặt ra là tại sao một người đã làm đến Tổng Giám mục như ông Ngô Đình Thục, tại sao một người đã làm đến Thượng Thư Bộ Lại rồi làm đến Tổng thống như ông Ngô Đình Diệm mà lại sai lầm một cách ấu trĩ nhưng lại trầm trọng như thế? Câu trả lời dĩ nhiên nằm trong cái liên hệ sống chết và cốt tủy quá chặt chẽ giữa dòng họ Ngô Đình với Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp, vì anh em nhà Ngô được đào tạo và nuôi dưỡng bởi một giáo hội có quá nhiều cấp lãnh đạo chỉ thấy cái Ta là đúng, ngoài Ta ra tất cả đều sai lầm. Sử liệu đã cho thấy vô số sự kiện nói về bệnh chấp ngã của Tòa Thánh La Mã. Ở đây, ta hãy nghe một lời dẫn chứng của học giả Merle Sever trong bài The World of Luther:

    Tòa Thánh La Mã đòi hỏi một sự phục tùng bất khả tư nghị. “Tôi sẽ phải tin rằng vật màu trắng mà tôi thấy là màu đen, nếu giáo hội quyết định đó là màu đen”. Ông Ignatius Loyola, sáng lập dòng Jesuite đã nói như thế. Giáo Hoàng Paul IV cũng xác định rằng: “Ngay nếu cả cha ruột tôi là người phản đạo, tôi cũng sẽ đi lượm củi để đốt ông ta” [1].

    Và đặc biệt trong tương quan thế quyền và giáo quyền, để chính xác áp dụng cho trường hợp của anh em ông Diệm, ta hãy nghe giáo sư Malachi Martin, một vị tu xuất dòng Jésuite, viết về niềm tin giáo điều sắt đá của Giáo Hoàng Léo III:

    Xác định một cách công khai rằng tất cả các quyền lực chính trị trên thế gian này đều do Chúa ban cho; và chỉ được ban cho cá nhân nào hay chính phủ nào qua trung gian của vị đại diện Đức Chúa Trời, vốn là vị Hồng Y La Mã, mà cũng là kẻ kế vị Thánh Phêrô” [2].

    Cho nên mù quáng trước điều mà họ cho là chân lý bất di bất dịch đó, rồi lại riêng cá nhân ông Thục mang tham vọng trở thành Hồng Y, anh em ông Diệm chỉ thấy việc Phật giáo treo cờ không đúng với thể lệ của nhà nước là một hành động thách thức chân lý đó, mà không cần biết đến chính tôn giáo của mình và chính Tổng Giám mục Ngô Đình Thục đã vi phạm trắng trợn luật treo cờ từ chín năm nay rồi.

  193. concun permalink

    Theo luật lệ treo cờ của Chính phủ Diệm, cờ Tôn giáo không được treo ngoài khuôn viên chùa chiền, nhà thờ hoặc các cơ sở tôn giáo… Vì bị Tổng Giám mục Ngô Đình Thục áp lực, ông Diệm đã đặt vấn đề treo cờ Phật giáo mà ông quên đi năm ngoái (1962), Phật giáo cũng treo cờ như năm nay mà không thấy chính phủ khuyến cáo gì cả. Tôi còn nhớ năm 1959, từ ngày 16 đến 18 tháng 2, tại Thủ đô Sài Gòn và khắp cả nước, giáo hội Công giáo Việt Nam tổ chức đại hội Thánh Mẫu và lễ nâng nhà thờ Đức Bà Sài Gòn lên hàng Vương Cung Thánh Đường vô cùng trọng thể dưới quyền chủ tọa của Hồng Y Agagianan (Đại diện Tòa Thánh La Mã). Cờ Tòa Thánh và ảnh tượng Đức Mẹ trưng bày khắp Thủ đô, tràn ngập cả công viên trước dinh Độc Lập từ đường Công Lý đến tận Sở Thú. Ngày 17 tháng 8 năm 1961 tại La Vang, nhân dịp kỷ niệm lễ Đức Mẹ hiện ra cách đây 160 năm và khánh thành Vương Cung Thánh Đường La Vang, những khải hoàn môn trưng bày ảnh tượng Đức Mẹ và cờ Công giáo Vatican (vàng – trắng) kéo dài từ thành phố Huế đến thành phố Quảng Trị dọc theo Quốc lộ Một. Rồi đến lễ khánh thành ngôi nhà thờ Huế do ông Ngô Đình Thục xây cất, và tiếp theo đó là lễ Ngân Khánh của ông Ngô Đình Thục xẩy ra vài tuần lễ trước ngày Phật Đản, cờ Công giáo Vatican lại tràn ngập cả thành phố Huế, nhất là về phía hữu ngạn sông Hương. Dân cả nước ai lại không thấy rằng hễ mỗi lần Công giáo có lễ lạc là cờ Công giáo Vatican treo ra ngoài khuôn viên nhà thờ, trên đường phố công cộng và nhiều khi trên cả các cơ sở quốc gia. Dưới chế độ Diệm, hầu như trong mỗi doanh trại quân đội đều có nhà thờ mà hễ đến ngày lễ Noel là cờ Công giáo Vatican treo khắp doanh trại, trước cổng trại lại có cả khải hoàn môn. Dân chúng làm sao quên được hình ảnh những vùng như Hố Nai, Gia Kiệm, Ngã Ba Ông Tạ, Ngã Ba Chú Ía, chung quanh Lăng Cha Cả, và những vườn hoa những đại lộ trước Tòa Đô Chính Sài Gòn tràn ngập ảnh tượng và cờ Công giáo Vatican trong những ngày lễ Giáng Sinh. Chính vì Công giáo đã đầu tiên và liên tục đạp lên trên luật lệ treo cờ của Chính phủ đến nỗi sau vụ cờ Phật giáo tại Huế, ngày 15 tháng 5 năm 1963, Giám mục Nguyễn Văn Bình đã phải ra thông báo nhắc nhở giáo dân: “Cờ của Tòa Thánh Vatican chỉ được treo trong nhà thờ hoặc những cơ sở của Hội Thánh”.

    Người Công giáo trắng trợn vi phạm luật treo cờ thì anh em ông Diệm chẳng những không bao giờ đả động đến mà còn lấy làm sung sướng vì sự ưu thế có tính cách hình thức đó, thế mà năm 1963, Phật tử treo cờ nhân ngày Phật Đản thì Ngô Đình Thục tức giận đặt vấn đề thể lệ treo cờ.

  194. concun permalink

    Thật thế, nếu Tổng Giám mục Ngô Đình Thục còn ở Vĩnh Long thì có lẽ vụ cấm treo cờ Phật giáo đã chưa xảy ra. Không ngờ Tòa thánh La Mã dưới triều đại Giáo Hoàng Paul 6 lại thuyên chuyển ông Ngô Đình Thục ra giáo phận Huế, nơi mà đại đa số dân chúng đều theo đạo Phật, nên nhà Ngô mới bị sa lầy sớm. Đổi ông Thục ra Huế, Tòa Thánh La Mã chỉ muốn ông Thục, vốn đã làm cho Giáo Hội chịu nhiều tai tiếng xấu trong cộng đồng thế giới, phải xa lánh Thủ đô, xa tai mắt ngoại giao đoàn, xa ký giả quốc tế và xa khối trí thức Việt Nam đông đảo tại Sài Gòn. Không ngờ hảo ý của Tòa Thánh La Mã lại biến thành đại họa cho nhà Ngô.

    Tất cả bắt đầu vào ngày 6 tháng 5 năm 1963, khi Tổng Giám mục Ngô Đình Thục đi thăm nhà thờ La Vang. Dọc đường, đâu đâu ông Thục cũng thấy cờ Phật giáo tung bay khắp thị thành thôn xóm để chào mừng Phật đản trong hai ngày nữa. Cờ Phật mà còn nhiều thì cái mộng Hồng Y của ông Thục khó sớm thành sự thực vì đã nhiều lần ông lỡ phúc trình với Tòa Thánh là dân Việt Nam ngày càng cải đạo, càng hướng về Giáo hội La Mã. Nhưng thực tế hôm đó hiển hiện trước mắt là cờ Phật giáo tràn ngập khắp nơi đã làm cho ông Thục giận lắm, nên khi trở về Huế, ông cho gọi Đại biểu chính phủ Trung phần là Hồ Đắc Khương đến Tòa Giám mục để khiển trách rồi gọi điện thoại viễn liên vào Sài Gòn báo cho em là Tổng thống Diệm biết tình hình. Ngay sau đó ông Diệm ra luật lệ treo cờ cho các Tôn giáo.

  195. concun permalink

    Với những biện pháp hành chánh quỷ quyệt, những thủ đoạn chính trị tàn ác và các chủ trương văn hóa gian hiểm, trong 9 năm trời, chế độ Diệm đã tìm mọi phương cách để tiêu diệt dần dần các lực lượng và ảnh hưởng Phật giáo Việt Nam theo kế hoạch tằm ăn dâu. Đến những năm 1962, 1963, chế độ Diệm lại có thêm chương trình ấp Chiến Lược mà họ thêm tin tưởng vừa có thể chiến thắng được Cộng Sản, lại vừa có thể Công giáo hóa toàn dân nông thôn. Chiếm được nông thôn là chiếm được địa bàn căn bản và lâu đời nhất của Phật giáo Việt Nam, họ sẽ bao vây Phật giáo, cô lập Phật giáo trong các chùa chiền ở đô thị và Phật giáo sẽ như cá trong ao khô hồ cạn, không còn nước nữa để sống còn và bơi lội vẫy vùng.

    Nếu anh em ông Ngô Đình Diệm kiên nhẫn dùng kế hoạch trên thì có lẽ biến cố Phật giáo năm 1963 đã chưa xảy ra vì một lý do rất dễ hiểu là mặc dù nỗi thống khổ của Phật tử đã đến cùng cực, thế mà Phật tử vẫn chỉ cắn răng chịu đựng. Nhưng mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên, nhà Ngô đi ngược lòng dân và ngược ý trời nên mới lấy quyết định cấm treo cờ Phật giáo nhân ngày lễ Phật Đản, một quyết định ban đầu nhà Ngô tưởng là không mang lại hệ quả đáng kể nhưng thật sự lại đưa chế độ Diệm vào đường cùng. Với những người tin vào thuyết lý số và thuyết âm đức thì năm 1963 đúng là năm chót trong cái đại vận “Phát dã như lôi” thụ hưởng phú quý tột đỉnh của anh em nhà Ngô để bước vào chu kỳ “Tán gia bại quốc” mang lại nhục nhã cho dòng họ.

  196. concun permalink

    Đối với đám giáo gian, Phật tử là cái gai trong mắt chúng vì phật tử, dân phi Kito không biết nịnh bợ, hôn chân hôn nhẫn người ngoại quốc.

  197. concun permalink

    Từ sự quyết tâm tiêu diệt Phật giáo của chế độ Diệm, chúng ta có thể suy ra rằng: Làm gì có chuyện Diệm yêu nước chống cộng mà dư đảng cần lao cong giáo ra rả đánh bóng. Chúng chỉ lo cho đồng đạo ( cùng nhau làm giàu bán nước trên thân xác dân phi Kito mà thôi, bằng chứng là tên Thục đóng thuế cho VC để khai thác rừng!!!).
    Có chống Cộng thành công đi nữa thì lịch sử vẫn còn ghi VN có bốn ngàn năm văn hiến, dân phi Kito vẫn còn đầy ra biết lịch sử chống Tây của tổ tiên VN.
    Lịch sử của dân phi Kito cũng ghi rõ giáo gian đứng về phía giặc tiêu diệt bất cứ ai chống chủ của chúng!!!.

  198. concun permalink

    Phật tử bên wesite Trúc lâm yên tử hãy trả lời câu này:Bốn trăm ngàn người dân phi Kito bị giết hại dưới thời nhà Ngô không đủ chứng minh là nhà Ngô đàn áp Phật giáo hay sao.
    Ba cái chết của anh em họ Ngô có đền mạng đủ cho bốn trăm ngàn người dân vô tội không.

  199. concun permalink

    Phật tử hay dân phi Kito nên biết rõ rằng: Vatican, chủ của giáo hội Cong giáo VN, có kinh nghiệm chiến tranh hơn 2000 năm, nguy hiểm hơn CS 20 lần. Đây là tổ chức ma phia quốc tế đội lốt tôn giáo không ngừng phỉ báng Phật giáo. Đến ngày hôm nay, con cừu cuồng tín Nhân dân tự vệ trên diễn đàn Viet land đổi chiến thuật lôi kéo trang website Trúc lâm yên tử vào che đậy tội ác nhà Ngô. Chúng định dùng vải thưa che mắt thánh. Nếu Phật tử hùa theo dư đảng Cần lao cong giáo thì họ phạm phải cái tội: phủ nhận cái chết oan ức của bốn trăm ngàn người dân vô tội dưới thời Ngô vì bị ép bỏ đạo.
    Phật tử nên biết rằng:
    Phật tử còn -> Phật giáo còn -> dân tộc còn.
    Phật tử mất -> Phật giáo mất -> dân tộc mất.
    Đừng mắc phải sai lầm lịch sử lần thứ hai, hãy biết rằng 1954 dân phi Kito ủng hộ nhà Ngô để rồi được gì, bản chất Viet gian không hề thay đổi, chúng phải tiêu diệt Phật tử ( Phật giáo) để không ai biết quá khứ nhơ nhớp của chúng dễ bề mềm lưng gối dẻo trước ngoại bang mà không bị dân phi Kito khinh bỉ.

  200. concun permalink

    Thời điểm nhà Ngô cai trị, dân phi Kito không hề ganh tỵ và phân biệt đạo, nhưng ngược lại chính bọn chúng mặc cảm và thù ghét dân phi Kito.
    Như cụ Vân xưa đã nói nhà Ngô mặc cảm với kháng chiến miền Nam, trong khi dân miền Nam đổ xương máu chống thực dân Pháp thì dòng họ ba đời nhà Ngô đã phản bội dân tộc đàn áp đồng bào mình.
    Nhà Ngô chắc hắn đã biết cái quá khứ xấu xa bẩn thỉu của dòng họ của đồng đạo mình bị nhân dân phi Kito quá rõ. Lịch sử rành rành chạy đâu cho khỏi. Nước VN có bề dày lịch sử 4000 năm, Phật giáo có mặt từ thời xa xưa. Các nhà sử học đều ghi rõ tội ác của giáo gian. Chính vì lẽ này mà nhà Ngô quyết tâm tiêu diệt Phật giáo, đồng hoá dân VN thành con cừu cho giống chúng, ai cũng như ai để che giấu quá khư xấu xa và dễ bề làm điều hại dân hại nước.

  201. concun permalink

    Nguyên nhân sâu xa của sự quyết tâm tiêu diệt của chế độ nhà Ngô ( xưa) và sự quyết tâm hồi phục tôn vinh ” Ngô chí sĩ” của dư đảng Cần lao Cong giáo ( hải ngoại ngày nay).
    Tôi lên diễn đàn Vietland hai năm góp ý, phản biện đã nhận ra nhiều điều về đám con cừu cuồng tín từ tâm ý, thái độ của chúng. Tôi không muốn lập lại nữa, chỉ nêu lên vài ý chính:
    – Trong thâm tâm, chúng căm thù Phật giáo, Phật tử và ý muốn loại hẳn Phật tử ra khỏi chính quyền nếu chúng có cơ hội như xưa.
    – Niềm mơ ước của chúng là Kito hoá VN.
    – Tổ tiên VN và sinh mạng dân phi Kito không là nghĩa lý gì với chúng.
    Bằng chứng: Tên Dr Tran ( Catolic) chửi bới tổ tiên VN hàng ngàn po st, chúng im lặng đồng tình và chúng phấn khởi mơ ước TQ đánh VN!!!!!.

  202. concun permalink

    Gandhi có nói: “Tôi đã học được, qua kinh nghiệm cay đắng, một bài học tối thượng về sự kiềm chế giận dữ, và giống như hơi nóng nén lại thì được chuyển thành năng lượng, giận dữ được kiềm chế có thể chuyển thành sức mạnh có khả năng dời cả thế giới”. Ông Diệm đã tấn công vào thành trì văn hóa trong suốt chín năm, ông Thục bồi thêm một phát đại bác văn hóa cuối cùng, và phẫn uất biến thành lịch sử 1963 dời được cả một thế giới cuồng tín.

    Pháp nạn năm 1963 là vậy: cuồng tín không phải là văn hóa Việt Nam. Chống cuồng tín là bảo vệ văn hóa. Không phải làm chính trị. Đây là điểm thứ hai phải nói rõ, bởi vì câu hỏi “Phật giáo muốn gì?” được đặt ra rất gay gắt, nhất là từ phía người Mỹ, tác nhân chính trong chiến tranh, sau năm 1963.

    Giáo sư Cao Huy Thuần

  203. concun permalink

    “Ý thức Phật tử” mà các vị lãnh đạo nhấn mạnh chính là ý thức về cái bản sắc văn hóa đặc thù ấy của tổ tiên mà Phật giáo phải gìn giữ và phát huy. Cái bản sắc ấy, các nhà thừa sai của thời xâm lược thuộc địa, rồi các chính phủ hậu thuộc địa kế thừa, đã tập trung sức lực để phá đổ, đưa đến cái Dụ số 10 quái gỡ mà chính quyền Ngô Đình Diệm triệt để tận dụng.

    Gián tiếp, Dụ số 10 chỉ xem có một tôn giáo ở Việt Nam thôi là Thiên chúa giáo, Phật giáo đứng ngang hàng với các hiệp hội, không hơn gì các hội từ thiện, thể thao, một thứ tín ngưỡng vặt. Từ giám mục Puginier của thời xâm lược đến giám mục Ngô Đình Thục của thời Bến Hải chia đôi, chính sách độc tôn bay thẳng một đường mũi tên, nhắm trái tim của văn hóa khoan hòa truyền thống mà bắn. Thách thức của 1963 là thách thức ấy. Thách thức văn hóa dựa trên sức mạnh chính trị, quân sự. Y hệt thời các Đô đốc thực dân nả súng vào Đà Nẵng. Đứng trên mặt văn hóa, hai thời kỳ giống nhau như hai trẻ sinh đôi. Cả hai đều có bối cảnh là chiến tranh, cả hai chiến tranh đều cho phép một lực lượng luận thuyết rằng muốn thắng quân sự phải dùng đến cái súng cối văn hóa. Tự bảo vệ mình để bảo vệ văn hóa của dân tộc: ý nghĩa của 1963 là vậy. Căn bản là bảo vệ văn hóa. Lật đổ ông Diệm không phải là vấn đề đặt ra. Tận trong thâm sâu, Phật giáo không muốn làm chính trị.

    Lịch sử của các cuộc nổi dậy ở đâu cũng bắt đầu bằng một biến cố bất ngờ, không toan tính trước, tưởng như tình cờ nhưng thực sự nằm trong một diễn biến hợp lý. Phong trào Phật giáo năm 1963 cũng bắt đầu bằng một biến cố như vậy: đó là lệnh cấm treo cờ Phật giáo trong ngày Phật Đản, đưa đến vụ thảm sát tám em bé trước đài phát thanh Huế. Lệnh đó đến từ đâu? Từ tổng giám mục Thục. Từ một chức sắc tôn giáo. Uất ức nhẫn nhục trong chín năm tràn đầy thêm một giọt nước mắt. Phật giáo không cho đó là nhục riêng của mình. Nhục chung cho cả văn hóa của tổ tiên. Thêm vào đó, ông Thục đang trấn địa ở ngay Huế, vốn được coi là “kinh đô Phật giáo” của cả miền Trung. Dân Huế hàng năm vẫn còn cúng giỗ các âm hồn trên các đường phố để kỷ niệm ngày thất thủ kinh đô năm 1885. Thiết giáp mà ông Thục đã ra lệnh bao vây đài phát thanh và nả súng vào dân chúng được xem như một vụ tấn công vào kinh đô lần thứ hai, lần này là kinh đô văn hóa.

    Bạo lực trong hành động đi đôi với bạo lực trong lý thuyết. Mùa hè 1963, giáo chức đại học Huế chúng tôi được triệu lên Viện Đại Học để nghe ông Thục dạy về tôn giáo. Ông dạy: đại đa số người Việt Nam theo “đạo ông bà”, Phật giáo chỉ là thiểu số. Ông dạy như thế trong một thành phố mà nhà nhà treo cờ, người người mô Phật.

  204. concun permalink

    Website Truclamyentu đúng là khùng điên, nói câu sau đá câu trước, Diệm- Nhu không đàn áp Phật giáo, vậy các thầy tự nhiên khơi khơi đi tự thiêu cho vui à.
    Các cô tự nhiên đi chặt tay mình à.
    Những ai lập nên trang web này nên hồi tâm tỉnh ngộ, hãy đọc 100 lời phê phán chế độ Ngô.
    Ngô Đình diệm được xếp vào hàng bạo chúa do nhà báo Anh xuất bản.
    NDD phản chủ Mỹ bắt tay với CS nên bị chủ giết. Mấy ông bao nhiêu tuổi rồi mà ăn không nói có vậy.

  205. concun permalink

    Đối với tay sai Vatican – Bắc kỳ cato roma này, dù cho các thầy có tự thiêu, chúng vẫn không biết tỉnh ngộ mà vẫn còn hò hét vu khống dân phi Kito là CS. Sau 50 năm, chúng vẫn còn tráo trở sự thật cho dù hình ảnh, nhân chứng trong và ngoài nước, thế giới đều biết. Thử hỏi nếu một sự việc nào đó xảy ra bất công cho người dân thấp cổ bé miệng, làm sao mà kiện cáo đây khi chúng nắm quyền.

  206. concun permalink

    Trước khi thị tịch, Hòa Thượng thượng Quảng hạ Đức đã để lại những lời như sau :

    (Kính dâng chư Phật 10 phương)

    Đệ tử hôm nay nguyện đốt mình,

    Làm đèn soi sáng nẻo vô minh.

    Vì bất công, tôi thiêu xác,

    Khói hồn nguyện độ kẻ hàm oan.

    Kính chúc tăng ni tâm dũng tiến

    Chánh pháp ngày mai phải trường tồn

    (Kính dâng Hiền Thánh Tăng – thơ của Ngài Quảng Đức để lại)

    “…Trước khi nhắm mắt về cảnh Phật, tôi trân trọng kính gởi lời cho Tổng-Thống Ngô-Đình-Diệm nên lấy lòng bác ai Từ Bi đối với quốc dân mà thi hành chánh sách bình đẳng tôn giáo để giữ vững nước nhà muôn thuở…” (Thích Quảng Đức).

    Có Nhân tức nhiên là có Quả.

    Lời nhắn nhủ vàng ngọc của cố HT thượng Quảng hạ Đức, Tổng-thống Ngô-Đình-Diệm chưa kịp thực hiện, thì ông đã ra người thiên cổ vào ngày 02-11-1963 cùng với bào đệ Ngô-Đình-Nhu.

  207. concun permalink

    Đọc tin tức thấy ca sĩ Hàn Psy mới đây 2013 qua Ý biểu diễn bị khán giả Ý la ó kỳ thị. Tôi có thắc mắc trong đầu, dân Ý là Kito mà dòng họ Ngô đình ở đây có bị kỳ thị không ta.

  208. concun permalink

    Bắc kỳ Cato roma giáo hay làm những chuyện thất nhân tâm, quái đản, ngu mà tưởng hay, chúng chỉ biết dựa ngoại bang để đè đầu cưỡi cổ dân phi con cừu.
    Thử nhìn lại những hoạt động của chúng từ khi tổ tiên chúng gia nhập vào đạo Cato Roma giáo, chúng chỉ biết vua Roma vatican, đàn áp người vn chống Tây dù chúng là người Viet. Đến khi chúng nắm chính quyền nhờ ngoại bang, chúng thực thi niềm mơ ước của chủ Vatican và của chúng. Sau 50 năm, chúng vẫn còn căm hận Phật giáo và tiếp tục vu khống, sửa sai lịch sử. Bản chất tay sai Vatican của chúng không hề giảm mà còn tăng lên nếu thấy không ai nói gì hay bận rộn quá hehe.

  209. concun permalink

    Ngoài tự thiêu ra, có hai nữ Phật tử phát nguyện chặt tay, lấy máu viết tâm thư, gởi lên Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đó là “Phi Yến” và “Mai Tuyết An” ( vợ ông Lý Đ Nguyên, hiện đang ở quận Cam- Hoa kỳ).

  210. concun permalink

    Trong 6 tháng Phật Giáo Việt Nam tranh đấu chống bạo quyền Thiên Chúa NGÔ ĐÌNH DIỆM, có 8 vị Bồ Tát Tăng tự nguyện thiêu thân, làm ngọn đuốc để soi lòng u tối của anh em Ngô Đình Diệm sáng lên, mà thấy được tội ác của mình qua những hành động đàn áp, sát hại lương dân vô tội, mau quây về khối dân tộc, ăn năn sám hối. Tám vị Bồ Tát tự thiêu sau đây:

    1-Bồ Tát Thích Quảng Đức,
    2-Bồ Tát Thích Nguyên Hương,
    3-Bồ Tát Thích Thanh Tuệ,
    4-Bồ tát Thích Tiêu Diêu,
    5-Tát Bồ Thích Nữ Diệu Quang,
    6-Bồ Tát Thích Nữ Diệu Huệ,
    7-Bồ tát Thích Quảng Hương,
    8-Bồ Tát Thích Thiện Mỹ,

    ( 8 vị-Bát Chánh Đạo) và một nam Bồ Tát tại gia,

    Phật tử Nguyễn Thìn, pd Hồng Thể-thương phế binh tại Phước Lâm Vũng Tàu.

    Tám vị Bồ Tát trên, cùng một sở nguyện tự thiêu thân như vậy, là do thấy được tâm địa của anh em Ngô Đình Diệm đang lừa dối, xảo quyệt, mưu mô những chiêu ác độc, chuẩn bị tiêu diệt lực lượng tranh đấu của Phật Giáo VN. Cho nên thời gian, nơi chốn tự thiêu của mỗi vị, đều khác nhau.

  211. concun permalink

    50 NĂM NHÌN LẠI PHẬT GIÁO TRANH ĐẤU 1963

    Đức Hạnh

    Nguyên nhân nào làm cho Phật Giáo Việt Nam đứng lên tranh đấu bất bạo động, và Tăng, Ni, Phật tử tự nguyện thiêu thân làm đuốc, chống bạo quyền Ngô Đình Diệm 1963 ? Vấn đề này, thật là dễ hiểu. Đó là Phật Giáo Việt Nam đã từng bị những người Việt theo Đạo Thiên Chúa đàn áp nhằm tiêu diệt để độc tôn Đạo Chúa họ từ thời Bảo Đại. Dữ kiện này, được thấy bà Nam Phương Hoàng Hậu, có văn phòng tại Sài Gòn, chỉ thị cho Thủ tướng Nguyễn văn Tâm ra Huế, đến chùa Từ Đàm, gỡ bảng Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam xuống, không cho treo vào năm 1951. Buộc Ngài Hội Chủ Thích Tịnh Khiết nạp khuôn dấu, nhân viên quản trị Trung ương, người bị bắt vào nhà tù, người lánh nạn.

    Đến thời Ngô Đình Diệm làm Tổng Thống Đệ I VNCH. Phật Giáo VN càng tiếp tục bị chính quyền Thiên Chúa Ngô Đình Diệm đàn áp bằng nhiều cách thật tàn ác đối với Phật tử tại miền Trung, Cao nguyên sau khi lên ngôi Tổng Thống 1955. Hành động đàn áp trắng trợn hơn hết, đó là ban hành công điện triệt hạ cờ Phật giáo quốc tế. Công điện mang số 5159, do Ngô Đình Diệm ký ngày 6-5-1963, gởi đi ra lệnh cho các thuộc hạ chính quyền địa phương trên toàn miền Nam thi hành triệt hạ, không cho treo vào ngày Phật Đản 15-4-âm lịch, năm Quý Mão, Phật lịch 2507, nhằm ngày 8-5-1963.

    Trước vô số hành động tàn ác, bạo ngược của chính quyền Thiên Chúa giáo Ngô Đình Diệm đối với Phật giáo VN, trong đó hành động triệt hạ Cờ Phật Giáo quốc tế, được xem là tội lớn nhất đối với Phật Giáo trên thế giới. Tội ác đó không thể tha được, phải đứng lên tranh đấu, dù bị máu đổ, sẵn sàng đổ máu. Do đó chư Tăng tại Huế khai nguồn và phát động tranh đấu. Lịch trình công cuộc tranh đấu, được diễn tiến hằng trăm bước, nhưng người viết, chỉ ghi lại một vài nét cơ bản sau đây :

    I- Diễn tiến:
    1- Điện văn gởi đến Phật Giáo quốc tế, yêu cầu can thiệp.
    2- Điện văn gởi TT Ngô Đình Diệm, nói lên niềm xúc động và hỏi lý do tại sao cấm Phật giáo VN treo cờ PG quốc tế. 3-Điện văn gởi các tập đoàn PGVN, cho biết cờ PG QT bị NGô Đ Diệm triệt hạ.
    4- Mở cuộc mít tin thật nóng bỏng tại chùa Từ Đàm sáng ngày 17 -4 Quý Mão (10-5-1963).

    Trong buổi mít tin, T Tọa Trí Quang nói lên cái chết của các em thiếu nhi tại đài phát thanh Huế. Số Phật tử tham dự trên 10 ngàn, hơn 2 lần sáng Rằm tháng 4 Quý Mão. 5-Một bức tâm thư và bản tuyên ngôn của Tổng HPGVN nói lên quan điểm, được HT Hội Chủ,Thích Tịnh Khiết ấn ký ngày 10-5-1963.

    II- Năm nguyện vọng:

    1- yêu cầu chính phủ VNCH thu hồi vĩnh viễn công điện triệt hạ giáo kỳ của Phật giáo.
    2-Yêu cầu để cho PGVN phải được hưởng một chế độ đặc biệt như các hội truyền giáo Thiên Chúa đã được ghi trong đạo dụ số 10.
    3- Yêu cầu chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ, khủng bố tín đồ Phật giáo VN.
    4-Yêu cầu cho Tăng,Tín đồ PGVN được tự do truyền đạo và hành đạo.
    5-Yêu cầu chính phủ bồi thường một cách xứng đáng cho những kẻ chết oan vô tội và kẻ chủ mưu giết hại phải đền bồi đúng mức.
    Huế 23-5-63. Hội Chủ THPGVN, ký tên HT Thích Tịnh Khiết;
    Hội Trưởng Tổng Trị Sự HPGVN Trung Phần, ký tên Thượng Tọa Thích Trí Quang.

    Nhiều bản Nguyện vọng,Tuyên ngôn, Tâm Thư, hằng trăm tài liệu khác , được tiếp tục hiện hữu, và gởi chính quyền NGô Đình Diệm từ lúc phát động tại Huế, và Sài Gòn, nhưng anh em ông Diệm gác qua, không thực thi.

  212. concun permalink

    Thế hệ trẻ khi đọc một bài viết nào cần phải biết tác giả đó là đạo gì. Trước 75 chế độ đạo phiệt do đám cần lao công giáo nắm giữ, tuyên truyền sạo láo.
    Lưu vong hải ngoại, chúng viết sách, báo vu khống những ai không đồng ý với chúng là CS.

  213. concun permalink

    Tự do dân chủ của bà Bắc kỳ Cato roma Tigon đây nè:
    Member Join Date:13-08-2010
    Posts:14,363Còn Người Việt Quốc Gia và hậu duệ của họ , thì Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ còn tung bay trên khắp thế giới
    Những kẻ âm mưu gỡ bỏ Cờ Vàng nếu không là Việt Cộng , cũng là Việt Gian

    Bà ta không cần hỏi ý dân trong nước có đồng ý lá cờ của bả không, bà ta cũng sắp đặt sẵn người lãnh đạo đất nước là hậu duệ VNCH, con cháu đồng đạo của bà ta.
    Bà Tigon, thành viên trên diễn đàn Vietland là tín đồ của bà Trần Lệ Xuân, vậy mà bà ta mở miệng ra sạo sạo: Tự do tôn giáo.

    Đêm 20 tháng 8 năm 1963, chính quyền Diệm đã thi hành kế hoạch “Nước Lũ” càn quét chùa chiền và tư gia Phật tử trên toàn miền Nam. Vài ngày sau đó, có lẽ trong cơn hứng cao độ, bà Nhu-Trần Lệ Xuận đã bộc lộ rằng “một ngày sung sướng nhất trong đời kể từ sau cuộc nghiền nát bọn Bình Xuyên năm 1955″

  214. conmeo permalink

    30-05-2013 01:20 AM #1021 Nhân Dân Tự Vệ
    View Profile View Forum Posts

    Member Join Date:25-01-2011
    Posts:3,817 Mặc dù bọn Việt Gian Giao Điểm- tay sai của Trung cộng- núp dưới danh nghĩa bênh vực Phật Giáo , mà thực ra chỉ là ….

    …Phật Giáo quốc doanh. Liên tục điên cuồng đánh phá sự trung thành với Vatican của một Giáo Hội Công Giáo VN không chịu quốc doanh..

  215. conmeo permalink

    Bắc kỳ kito Nhân dân tự vệ vô cùng hãnh diện Giáo hội cong giáo VN thuần phục Vatican, hahah, Vatican luyện thú giỏi thiệt. Mình chỉ kêu hắn trở về với dân tộc, đạo chúa chét gì đó cứ việc giữ, ai làm gì hắn đâu, hãy đứng dậy làm người, không bị điều khiển bởi ngoại bang mà hắn cứ nhảy đong đỏng, giống như đứa con nít bị bắt rời bà mẹ.
    Bà con cô bác nào thử đoán xem chừng nào Giáo Hội Công Giáo VN mới chịu từ bỏ sự tuân phục Vatican do…bọn Việt Gian Giao Điểm chửi qúa chịu không thấu..mà chấp nhận trở thành một Giáo Hội Công Giáo quốc doanh chỉ biết trung thành với đảng Cộng Sản Việt Nam y như khuôn mẫu của Tàu Cộng..để bọn Giao Điểm vui lòng giải thể, không còn chửi bậy nữa không ??

    Hi !! Hi !! Hi !!
    Last edited by Nhân Dân Tự Vệ; 27-05-2013 at 09:51 PM.

  216. conmeo permalink

    Viet gian Bắc kỳ kito tổ tiên chúng là Viet gian từ đời phong kiến Trịnh Nguyễn giờ đây lên giọng chửi dân phi Kito là Viet gian nếu ai nói lên sự thật. Bà già Bắc kỳ giáo gian thánh thiện Tigon phán:
    26-05-2013 10:45 PM #9 Tigon
    View Profile View Forum Posts

    Member Join Date:13-08-2010
    Posts:14,363Còn Người Việt Quốc Gia và hậu duệ của họ , thì Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ còn tung bay trên khắp thế giới
    Những kẻ âm mưu gỡ bỏ Cờ Vàng nếu không là Việt Cộng , cũng là Việt Gian
    Quý vị thấy chưa?.
    Bà này giống chủ của bả là Trần Lệ Xuân, bà ta đề cập hậu duệ VNCH hahah vậy là con ông cháu cha của ai vậy ta.
    Nghĩa là dân phi Kito không chấp nhận lá cờ của ngô đình diệm sẽ bị bà Tigon gắn mác là Viet gian, nếu bà ta có quyền sẽ cho xử tử hết hahah.
    Đúng là Bắc kỳ Kito hống hách.

  217. conmeo permalink

    Ngoài hai quốc gia Liberia và Ethiopia, từ thế kỷ thứ 18th trở vể trước, nhiều quốc gia Tây Phương không công nhận người châu Phi là con người. Họ săn bắt người châu Phi, xiềng dây xích vào cổ, đem ra chợ để bán làm nô lệ. Việc cải đạo tổ tiên của người châu Phi thành người Ca-Tô giáo, làm họ tiếp tục “càu nhàu” không dứt cho tới ngày nay:

    “- Sở dĩ có hàng triệu người Mỹ gốc châu Phi là người đạo Thiên Chúa ngày hôm nay là bởi vì tổ tiên của họ bị bắt buộc phải cải đạo, ngược lại nguyện vọng của họ, để chấp nhận cái đạo của ông chủ nô lệ!”

    “- Người Ca-Tô giáo không nên tự hào cho bất cứ số lượng lớn người theo đạo nào. Hầu như tất cả tổ tiên của người châu Phi theo đạo Ca-Tô và Tin Lành, thực sự không có lựa chọn. Họ bị bắc buộc phải chấp nhận Chúa Jesus, một Thiên Chúa vô hình trên trời, là thượng đế. Kitô là một tôn giáo bắt buộc. Ngày nay nó còn bắc buộc người ta phải theo nó bằng một cách khác, bằng một đội quân truyền giáo tới đập lên cửa của bạn, tẩy não con cái của bạn trong lớp học, trong các hoạt động ngoài trường học, hoặc trong các lớp thể thao!”

  218. conmeo permalink

    Quý vị sẽ hay nghe giáo gian Bắc kỳ Kito hãnh diện là đạo bịp của chúng có rất đông tín đồ trên thế giới.
    Bằng chứng là bà Bắc kỳ Kito trên Vietland Tigon đã tự hào.
    Đồng đạo của chúng là ai?. hahahah Là dân đen Phi châu, ngày xưa là nô lệ mà ngày nay tôi bảo đảm với quý vị giáo gian Băc kỳ rất sợ hãi.
    Còn đồng đạo với chúng là sắc dân H i s panic: Me xi can,…dân Nam Mỹ là loại dân ỷ đông hiếp yếu, mập ú, đẻ nhiều…học hành ít..

  219. conmeo permalink

    Đạo đức của tên Bắc kỳ Kito được thể hiện qua lời nói của hắn:

    29-05-2013 02:07 AM #1001 Viet xưa
    View Profile View Forum Posts

    Member Join Date:13-06-2011
    Posts:2,408QTT chỉ là con nhỏ gốc Xẩm bị tụi VC coi thua con nhỏ gốc Khmer Krom búa liềm võ thị 6 bị thực dân Tây gang rape tại Côn Đão .. Ở đó mà ba hoa chích choè “ngôi sao sáng” …he he he he he ..

    GDT có biết rule of thunb của tụi VC khi vinh danh một con vẹm cái đặt tên đường là gì ko?

    Là điều kiện ắt có và đủ con vẹm cái đó phải có quá khứ bị thực dân tây gang-rape hay ai đó rape rồi xử tử .

    Bắc kỳ kito là như vậy đó.

    Đám Kito này phản biện bằng cách hạ nhục nguồn gốc của bất cứ người nào sống trên đất Việt nam, chúng thánh thiện phát khiếp, chúng cũng hạ nhục luôn những ai bị thực dân Tây hiếp ( dù cho là có xảy ra hay không, chúng vu không bừa bãi), chúng coi dân phi Kito như là kẻ thù vì chúng đứng về phía Vatican, dùng từ ngữ của Tây, Mỹ . Thí dụ: VM = Vẹm hay VC = Vi xi ( Mỹ).

  220. conmeo permalink

    Ưu điểm của Thuyết Nhân Quả nhà Phật là nó cảnh giác con người đừng lầm tưởng làm ác thì có thể thoát khỏi quả báo ác. Vấn đề là nó đến sớm hay muộn mà thôi. Cũng vậy, nó khiến con người an lòng rằng việc thiện mình gieo ra, sớm hay muộn thì mình gặt hái được quả lành. Do đó, khi manh động một việc ác hay thiện, người tin vào thuyết Nhân Quả thường phải ý thức. Đừng thấy kẻ làm ác mà vẫn sống sướng, sống dai thì nghĩ rằng mình cũng sẽ như vậy. Không ai biết được cái nghiệp lành nó đang chi phối mình sẽ chấm dứt vào lúc nào. Cũng như rứa, không ai chắc chắn là cái nghiệp dữ nó sẽ đeo đuổi mình đến khi dứt kiếp. Và như tui đã nói, trường hợp anh em ông Diệm là do họ không tin vào thuyết Nhân Quả nhà Phật mà tin vào sự an bài của Thượng đế. Sự nghiệp chính trị của ông Diệm hầu như “thuận buồm xuôi gió”. Ông Diệm không phải “trầy da tróc vảy”, cũng như không cần yếu tố tài ba chi nhiều mà vẫn được đặt để vào những chiếc ghế ngon lành. Ông cũng chẳng ưu tư khắc khoải chi lắm về tổ quốc, dân tộc. Được làm quan to thì ông an hưởng. Không được thì ông trốn vô tu viện cầu xin Chúa, ngồi chờ sung rụng. Và khi cái phước phần nó đến, ông nghiễm nhiên được Mỹ bồng về, đặt lên ngai Tổng thống. Chắc có lẽ bởi do xuông sẻ mọi bề như rứa nên ông Diệm càng tin rằng Chúa đã nghe lời cầu xin của ông ta và Chúa “trả công bội hậu” cho ông ta. Vì vậy anh em ông Diệm tỏ ra ngạo mạn hung hăng gây nghiệp ác còn bạo hơn nữa. Không ngờ cái phước phần nhà Ngô nó đáo hạn và quả báo nó ập đến tức thì.

  221. conmeo permalink

    Bọn Việt Cộng sợ hãi Vatican là phải. Vì Vatican với tinh thần chiến đấu cho lẽ phải và sự thật đã khiến nhân dân yêu nước cuả các quốc gia Đông Âu đứng lên lật đổ bạo quyền Cộng Sản tại các nước của họ

    Và nếu với tinh thần ” Công lý, sự thật ” của Vatican khiến công dân yêu nước Việt Nam đứng lên lật đổ bạo quyền Việt cộng; tay sai của Trung cộng thì đó là một điều rất tốt.

    Bọn Giao Điểm – tay sai cuả Tàu cộng – ra sức phỉ báng Vatican- nhưng kết qủa ngược lại .

    Nhân dân yêu nước vẫn chỉ chống bản chất tay sai cuả bọn Việt cộng đối với Trung cộng .
    Không một ai chống lại sự trung thành với Vatican của Giáo Hội Công Giáo VN .
    Last edited by Nhân Dân Tự Vệ; 20-05-2013 at 11:57 PM.

  222. conmeo permalink

    Đêm 20 tháng 8 năm 1963, chính quyền Diệm đã thi hành kế hoạch “Nước Lũ” càn quét chùa chiền và tư gia Phật tử trên toàn miền Nam. Vài ngày sau đó, có lẽ trong cơn hứng cao độ, bà Nhu-Trần Lệ Xuận đã bộc lộ rằng “một ngày sung sướng nhất trong đời kể từ sau cuộc nghiền nát bọn Bình Xuyên năm 1955”

    A few days later, Madame Nhu, a Catholic convert from Buddhism, said in an interview that the raids were “the happiest day in my life since we crushed the Binh Xuyên in 1955”
    [trích: Xá Lợi Pagoda raids – Diệm reaction – Wiki]http://en.wikipedia.org/wiki/Xa_Loi_Pagoda_raids

  223. conmeo permalink

    Muốn biết về chế độ Diệm ra sao, hãy đọc hồi ký của nhạc sĩ Phạm Duy.

  224. conmeo permalink

    Các diễn đàn của Bắc kỳ Kito tức cười lắm, thành viên chỉ được tự do ca tụng đứt chúa trời, giáo hoàng đế, cụ diệm còn dân phi Kito là phản tướng, hàng tướng, phản bội, CS…

  225. conmeo permalink

    Số người trên tàu đã vơi đi thật nhiều, chiếc tàu đã nhẹ hơn trước, nhưng nước thủy triều xuống còn nhanh hơn nên chiếc tàu vẫn bị mắc cạn. Thêm nữa, một máy tàu bị hỏng không biết từ lúc nào, thợ máy cũng bó tay, nên chỉ còn một cách duy nhất là cầu cứu chiếc tàu khác vào kéo.

    Mọi người đều bồn chồn nóng nảy, thủy thủ đoàn lăng xăng gọi nhau ơi ới, tiếng súng vẫn tiếp tục nổ đì đoành đó đây trên tàu, tiếng khóc, tiếng la, tiếng cười, tiếng chửi thề cộng chung với nhau tạo thành một thứ âm thanh hỗn độn không thể gọi tên một cách chính xác.

    Thuyền trưởng là một ông chuẩn úy già – chuẩn úy Tấn – cố gắng một cách liên tục vừa đốc thúc sửa máy vừa liên lạc với những chiếc tàu khác còn đang qua lại ngoài khơi.

    Thời gian chờ đợi nào cũng dài hơn giờ thực sự của kim đồng hồ.

    Một chiếc tàu từ ngoài khơi quay mũi vào bờ để tiếp cứu.

    Thủy thủ đoàn – gọi là thủy thủ đoàn nhưng thực ra ngoài ông thuyền trưởng già đang liên lạc máy và người thợ máy đang cố gắng sửa máy dưới hầm, họ chỉ còn khoảng chừng ba, bốn người – được sự tiếp tay của mấy người Thủy Quân Lục Chiến còn khỏe mạnh lo chuẩn bị dây cáp để chuyền sang chiếc tàu đang từ ngoài vào.

    Nhưng chiếc tàu vào cứu đã không vào được đến nơi, vì khi còn cách chúng tôi chừng trăm thước, chiếc tàu đã ăn nguyên một quả tàn tàn – tàn tàn là tên chúng tôi đặt cho loại hỏa tiễn tầm nhiệt AT-3 của Việt Cộng. Có lẽ chỉ bị hư một máy nên chiếc tàu đã từ từ quay mũi và trở ra ngoài khơi. Vị cứu tinh của chúng tôi đã bỏ đi, niềm hy vọng của chúng tôi đã chạy mất.

    Ðến bây giờ mọi người mới sực nghĩ là mình vẫn còn đang nằm trong tầm súng của Việt Cộng.

    Cảm giác hãi hùng truyền đến cho tất cả mọi người trên tàu. Chúng tôi đang là những con cá đã nằm trên thớt, vậy mà không một ai để ý. Mọi người chỉ để ý đến một điều là tranh giành nhau, bắn giết nhau để có được một chỗ “ngon lành” trên “cái thớt”.

    Nhưng đã trót thì phải trét, không lẽ chúng tôi lại chịu bó tay, còn nước thì còn tát. Ông thuyền trưởng già lại liên lạc liên tục để xin tàu khác vào cứu, nhưng hình như hệ thống truyền tin của Hải Quân lúc này đang “hỏng”, hay vì hiệu thính viên của các tàu khác đang “ngủ gục” nên có đến cả gần một tiếng đồng hồ, ông thuyền trưởng vẫn không liên lạc được với bất cứ một chiếc tàu khác nào nữa. Giở khóc giở cười, ông ta nói với thiếu tá Thành, tiểu đoàn trưởng tôi.

    “Tôi không thể nào liên lạc được với những chiếc tàu ngoài kia nữa. Chắc chắn là tụi nó có nghe nhưng thằng nào cũng lạnh gáy nên không dám trả lời. Bây giờ nhờ thiếu tá liên lạc qua hệ thống của Thủy Quân Lục Chiến xem có giúp giải quyết được gì không?”

    Thiếu tá Thành vào đài chỉ huy. Chừng nửa giờ sau, ông ra cho biết:

    “Sẽ có một chiếc tàu nữa vào kéo, nhưng không vào sát trong này. Mình phải cho người đem dây cáp ra miết ngoài xa giao cho nó.”

    Một chiếc ca nô cấp cứu được hạ xuống biển. Kêu gọi và tuyển lựa được một tay lính Thủy Quân Lục Chiến bơi giỏi và khỏe mạnh xuống theo chiếc ca nô, bơi bằng dầm để mang dây cáp ra ngoài xa đón chiếc tàu sắp vào.

    Nước thủy triều vẫn đang rút, gió đã ngưng thổi từ lâu, nhưng không hiểu tại sao lại có sóng. Mọi người đổ dồn cặp mắt vào chiếc ca nô bị sóng nhồi, dập dềnh từ từ ra biển. Ðã có một chiếc tàu khác quay mũi vào, nhưng với vận tốc của chiếc ca nô thì còn khướt đầu dây cáp mới đưa được lên chiếc tàu vào cứu.

    Ù uỳnh.

    Tiếng nổ long trời làm tai tôi ù đi, mắt tôi hoa lên, hai hàm tôi tê dại đi. Sức ép của tiếng nổ làm tôi khó thở, phải há miệng ra để hớp không khí.

    Một quả đạn đã bắn trúng đài chỉ huy.

    Dưới sàn tàu, người ta dồn nhau về bên này, rồi dồn nhau về bên kia, rồi lại dồn nhau về bên này tàu. Mọi người đều cố tìm một lối để chạy, nhưng, làm gì có lối nào để mà chạy. Chắc chắn là có rất nhiều người bị chèn, bị ép, bị dẫm, bị đạp bởi mỗi một lần người ta dồn nhau. Nhiều tiếng la, nhiều tiếng hét, nhiều tiếng gào vang lên. Nhiều tiếng chửi rủa cũng vang lên.

    Trên boong tàu, cảnh chết chóc mới thật là khủng khiếp. Thịt, óc, quần áo, máu văng tứ tung trên thành tàu, lên thành đài chỉ huy, máu chảy lênh láng không còn chỗ nào là không có máu. Những tiếng rên, những tiếng khóc, những tiếng van vái của những người bị thương hòa lẫn với những tiếng kêu gọi nhau ơi ới của những người còn nguyên vẹn. Tôi không thể nhận ra được trong đám người chết, trong đám người bị thương đang nằm trên vũng máu khổng lồ ai là người mình quen, ai là người trong đại đội mình. Chỉ trừ một người tôi nhận ra, binh nhất Dũng mang băng ca kiêm thợ hớt tóc của đại đội. Dũng ngồi dựa lưng vào thành tàu, hai chân duỗi dài, đầu bị chẻ dọc gần như làm đôi, nửa đầu nhỏ hơn gẫy gập xuống gần chấm đến vai. Óc và máu văng dính vào thành tàu. Tôi nhận ra Dũng nhờ bảng tên không bị đẫm máu và hai bàn tay có những móng tay để dài hơn móng tay con gái của Dũng.

  226. conmeo permalink

    Lên đến trên tàu, không khí quá nặng nề ngột ngạt. Không phải nặng nề ngột ngạt vì số người trên tàu quá đông, mà vì cả tàu đang bị bao trùm bằng mùi giết chóc, căng thẳng.

    Huy mập nhét vào tay tôi khẩu súng ngắn, dặn dò:

    “Súng tôi lên đạn sẵn, ông giữ cẩn thận.”

    “Còn gì nữa để mà phải thủ súng lên đạn sẵn?”

    “Thì ông cứ giữ đề phòng. Biết đâu có lúc phải xài tới.”

    Chưa kịp tìm chỗ ngồi, tôi nghe một tiếng súng nổ.

    Hai người lính Thủy Quân Lục Chiến cúi xuống khiêng xác một người lính Bộ Binh vừa bị bắn chết ném xuống biển. Một người lính Thủy Quân Lục Chiến khác đang gí súng vào đầu một trung úy Bộ Binh ra lệnh:

    “Ðụ mẹ, có xuống không?”

    “Tôi lạy anh, anh cho tôi đi theo với.”

    “Ðụ mẹ, tao đếm tới ba, không nhảy xuống biển tao bắn.”

    “Tôi lạy anh mà, tôi đâu có gia đình ở ngoài này.”

    “Ðụ mẹ, một.”

    “Tôi lạy anh mà, anh đừng bắt tôi ở lại, anh muốn lạy bao nhiêu cái tôi cũng lạy hết. Tôi lạy anh, tôi lạy anh.”

    “Ðụ mẹ, hai.”

    “Trời đất, mình đồng đội với nhau mà, anh không thương gì tôi hết. Tôi lạy anh mà.”

    “Ðụ mẹ, ba.”

    Tiếng ba vừa dứt, tiếng súng nổ.

    Người trung úy Bộ Binh ngã bật ngửa ra, mặt còn giữ nguyên nét kinh hoàng. Viên đạn M-16 chui vào từ đỉnh đầu. Xác của anh ta được hai người lính Thủy Quân Lục Chiến khác khiêng ném xuống biển.

    Tên lính vừa bắn người thản nhiên tiếp tục chĩa súng vào đầu một thiếu tá Bộ Binh đang sợ hãi nằm mọp người ở cạnh đó, mặt lạnh băng đầy sát khí:

    “Ðụ mẹ, tới thằng này, mày có xuống không?”

    Ông thiếu tá Bộ Binh này hơi lớn tuổi, mặt cắt không còn hột máu, run lên cầm cập, năn nỉ:

    “Anh tha cho em, anh tha cho em.”

    “Ðụ mẹ, một.”

    “Thôi, thôi, thôi anh để em xuống.”

    Lết ra tới lan can tàu, ông ta quay lại năn nỉ lần chót:

    “Anh tha cho em, anh thương em với.”

    “Ðụ mẹ, hai.”

    Biết là không thể năn nỉ, xin xỏ gì được, ông ta vừa khóc vừa nhảy xuống biển.
    Cùng trong thời gian đó, tôi nghe thấy nhiều tiếng súng khác ở nhiều nơi khác nhau trên tàu.

    Huy mập cho biết:

    “Tàu chở nặng quá nên bị mắc cạn. Hồi nãy cố ra thử nhưng không nổi nên quay đúng một vòng tròn rồi hết nhúc nhích. Ông thuyền trưởng cho biết là tàu dành riêng cho Thủy Quân Lục Chiến, nên yêu cầu những ai không phải Thủy Quân Lục Chiến rời tàu. Ông Râu thấy không, sức mấy mà người ta chịu xuống. Thành ra ông thuyền trưởng yêu cầu Thủy Quân Lục Chiến giải quyết. Lính mình tụi nó giải quyết bằng súng.”

    “Vậy thì có nhằm nhò gì đến tôi mà ông bắt tôi phải thủ khẩu súng trong người.”

    “Bộ ông tưởng thằng mặc đồ rằn nào cũng là Thủy Quân Lục Chiến sao. Và bộ ông tưởng thằng Thủy Quân Lục Chiến nào cũng phải biết ông sao. Trong lúc hỗn quân hỗn quan này, ông không lo thủ lấy thân còn ai lo cho ông đây.”

    Tiếng súng vẫn đì đoành đây đó trên tàu. Xác người vẫn tiếp tục bị ném xuống biển. Nhiều người vừa khóc vừa nhảy ra khỏi tàu. Những khẩu súng vẫn được kê vào đầu những người lính Bộ Binh, vẫn đì đoành.

    Tình người!

    Tình chiến hữu!

    Tôi đứng nhìn bất lực. Tôi hoàn toàn bất lực trước cảnh đau xót này.

    Thiếu tá Thành tiểu đoàn trưởng cũng có mặt trên tàu nhưng tôi tìm không gặp. Chắc thiếu tá Thành cũng chỉ bất lực như tôi.

    Gặp trung úy Nghĩa – Hoàng Trung Nghĩa đại đội 1- hai đứa rủ nhau ra góc tàu phía sau đài chỉ huy. Nghĩa nói như một lời nhận tội về sự bất lực của mình.

    “Tụi nó giết người dã man quá. Kiếm chỗ khuất này ngồi may ra còn đánh lừa được con mắt của mình.”

    Một người lính còn mặc mỗi cái quần rằn, mặt ngơ ngác, mắt thất thần hai tay giơ ra phía trước như phân bua như làm chứng cho lời nói chỉ sợ người nghe không tin.
    “Vợ tôi chết rồi, chết dưới biển rồi, thật mà, tôi nói thật mà, vợ tôi chết thật rồi, chết đuối dưới biển rồi mà!”

    Một cô gái trần truồng, không còn một tí gì gọi là vải trên người, hai tay không che hết những chỗ cần che trên thân thể nên cũng chẳng buồn che, mặt còn in đủ những cảnh khủng khiếp vừa trải qua, hai con mắt mở to ráo hoảnh. Còn gì nữa đâu để mà phải mắc cỡ, còn gì nữa đâu để mà phải khóc lóc. Cô ta đón nhận một cách hững hờ cái quần của một người lính và cái áo của một người lính khác.

    Tôi nói với Nghĩa:

    “Thôi thì phó mặc, đã leo lên được trên tàu này rồi, sống hay chết, chạy thoát hay bị bắt nằm ngoài khả năng của mình. Giao hết mọi thứ cho số mạng.”

    “Mày cũng đổ cho số mạng cái chết của những người lính Bộ Binh đang bị bắn kia à?”
    Tôi cãi bướng:

    “Mỗi người có một số mạng tận cùng nên mới có thành ngữ “tận cùng bằng số”.”

  227. conmeo permalink

    Từ bờ ra đến tàu khoảng cách hơn trăm thước, tôi không còn trông thấy mầu xanh của nước biển mà chỉ thuần một mầu đen của đầu người. Ðầu của những người đang cố gắng bơi ra chiếc tàu.

    Trên tàu đã chật người, tỷ lệ một phần mười hình như đã đủ số, trên bờ đã có khá nhiều người trở lại, dưới nước đã có nhiều người trôi dạt ra xa, nhưng cuộc thi đã chấm dứt hay chưa khi mà số người bơi ra vẫn còn nhiều và số người bám quanh tàu mỗi lúc một đông thêm.

    Chiếc tàu bắt đầu kéo bửng, những người bám vào bửng tàu được nâng lên cao khỏi mặt nước, một số người may mắn rơi ngay vào trong lòng tàu, số còn lại lần lượt rơi xuống biển.

    Bửng tàu đã được kéo lên hoàn toàn nhưng không khép kín nổi vì giữa bửng và thành tàu đã kẹp cứng một thân người. Người bị kẹp nửa thân trên nằm trong lòng tàu, nửa thân dưới thò ra ngoài, hai chân giãy giụa, đạp đạp trong không khí được chừng nửa phút rồi ngay đơ. Hai cái chân của người xấu số trở thành có ích cho nhiều người còn ở dưới nước, họ bám vào đó để tiếp tục leo lên tàu. Lúc đầu hai cái chân còn đủ hai ống quần, dần dần chẳng còn gì cả và cuối cùng, cả hai chân đều bị gãy. Nhưng gãy thì gãy, người ta vẫn bám vào đó để leo lên tàu. Ít ra cũng có đến cả chục người leo được lên tàu nhờ cặp chân đó. Và chắc chắn sẽ còn được thêm nhiều người nữa nếu…

    Chiếc tàu phụt khói từ từ quay mũi ra biển. Chân vịt đạp nước đẩy không biết bao nhiêu người ra xa tàu, và không biết là đã chém đứt bao nhiêu người.

    Thân tàu quay ngang đập vỡ không biết bao nhiêu đầu người, và không biết đã nhận chìm bao nhiêu người xuống sâu dưới đáy tàu.

    Biết bao nhiêu người đã chết vì chiếc tàu quay mũi.

    Nhưng…

    Chiếc tàu đã không ngừng quay khi cái mũi đã hướng ra biển. Mà, chiếc tàu vẫn tiếp tục quay, mũi tàu lại từ từ hướng vào bờ.

    Chân vịt lại chém thêm không biết là bao nhiêu người.

    Thân tàu lại đập vỡ thêm không biết là bao nhiêu cái đầu, và lại nhận chìm thêm không biết là bao nhiêu người xuống sâu dưới đáy tàu.

    Tại sao chiếc tàu bỗng dưng quay đúng một vòng tròn để làm chết biết bao nhiêu là người như vậy?

    Ðã có những xác chết trôi nổi dập dềnh xen lẫn với những xác sống đang cố bơi ra tàu hoặc đang cố giữ cho mình không trở thành xác chết. Chiếc tàu lại nằm im như đang mời gọi.

    Chúng tôi ở cách xa vùng mặt trận có đến nửa cây số, tiếng súng chỉ nghe văng vẳng, nhưng chết chóc lại nhiều hơn có đến cả trăm lần.

    Ủa, tại sao lại có người từ trên tàu nhảy xuống biển, không lẽ mắt tôi đã hoa lên vì rượu. Không phải một người, hai người mà là rất nhiều. Rõ ràng là mắt tôi trông thấy người ta leo qua lan can tàu, có người còn ngần ngừ, có người không ngần ngừ nhảy xuống biển. Lại có người lao mình qua lan can tàu để nhảy xuống biển.

    Không tin nổi ở mắt mình mặc dầu tôi đã dụi mắt thật nhiều lần. Tôi hỏi Sĩ:

    “Mày có thấy người ta nhảy từ trên tàu xuống biển không?”

    Sĩ cũng ngạc nhiên không kém tôi.

    “Ðụ mẹ, kỳ quá mày!”

    Chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau, nhưng chúng tôi không có thời giờ để ngạc nhiên. Hai chiếc M-113 chở đầy người chạy từ hướng mặt trận đã cán bừa lên những người vừa từ biển lên còn đang nằm vật ra mà thở, và cán luôn cả những người không kịp chạy tránh đường.

    Vừa thấy bóng thiếu úy Ngô Du – một trung đội trưởng của đại đội tôi – từ dưới biển trở lên, đang lảo đảo như muốn ngã gần mé nước, tôi và Sĩ chạy vọt tới đỡ và kéo Du chạy thật nhanh vừa kịp chiếc M-113 chạy lướt qua sát người chúng tôi.

    Hai chiếc M-113 lội xuống nước để ra chiếc tàu.

    Những cái bánh xích đua nhau cán lên đầu của không biết bao nhiêu là người đang nhấp nhô từ bờ ra đến tàu.

    Ra đến nơi, chuyển hết người lên tàu xong, hai chiếc xe lội nước quay đầu lội vào bờ. Lại không biết bao nhiêu là đầu người bị nghiền nát bởi những cái bánh xích.

    Vào đến bờ, hai chiếc M-113 ngừng lại. Từ vị trí tài xế, một cái đầu thò ra, nhìn quanh rồi la lớn.

    “Ai muốn lên tàu thì leo lên tôi chở ra.”

    Lúc đầu nhiều người ngần ngại, nghi ngờ, nhưng rồi lác đác cũng có người leo lên. Có đến cả 15 phút mà hai chiếc M-113 vẫn chưa đầy người.

    Cái đầu lại thò ra, nhìn quanh rồi la lớn.

    “Leo lên gấp đi mấy cha, tôi ra chuyến này không trở vô nữa đâu.”

    Lại có thêm vài người leo lên.

    Tôi phân vân trong sự chọn lựa. Nên hay không nên leo lên. Tôi hỏi Sĩ:

    “Lên không mày?”

    Sĩ lắc đầu:

    “Tao không muốn chạy thoát bằng cái chết của những người đang lóp ngóp dưới kia.”

    Câu nói của Sĩ đã cho tôi một quyết định:

    “Mẹ kiếp, có mày có tao hay không có mày không có tao thì những người đang lóp ngóp dưới kia cũng sẽ bị những cái xích sắt này cán. Ðừng có triết lý ba xu thằng con trai.”

    Sĩ cười bướng:

    “Tao có nói khác gì mày đâu, nhưng tao không.”

    “Ðược rồi, phụ tao đưa thằng Du lên.”

    Sĩ và tôi đưa thiếu úy Du lên thiết vận xa. Trước khi leo lên, tôi nắm chặt vai Sĩ:

    “Hy vọng sẽ gặp mày ở Ðà Nẵng.”

    Sĩ nhìn tôi cười:

    “Ðụ mẹ, đồ cải lương, cút mẹ mày đi thằng con trai.”

    Hai chiếc M-113 lại lội nước ra tàu.

    Lần này tôi mục kích tận mắt những cái xích sắt nghiến nát những đầu người. Tiếng máy nổ và tiếng nước vỗ đã át đi những tiếng thét tiếng la và có thể, cả tiếng vỡ của những cái đầu, nhưng không có gì có thể che lấp được những mảnh quần áo và mầu đỏ của máu cuộn theo chiều quay của xích sắt. Màu đỏ của máu và những mảnh vải cuộn theo chúng tôi suốt cả lộ trình khoảng một trăm thước. Màu đỏ của máu và những mảnh quần áo chắc chắn còn dính cả thịt còn trồi lên, trồi lên xen lẫn với bọt nước phía sau chúng tôi. Không hiểu tôi có dã man không, không hiểu tôi có chai đá không, không hiểu tôi đã trở thành súc vật chưa, hay vì tôi đã nhìn thấy quá nhiều cái chết từ sáng đến giờ, hay vì tôi đã yên tâm trên đường ra tàu an toàn mà tôi rất thản nhiên, lòng tôi rất bình thản khi nhìn những cái chết, quá nhiều cái chết ngay dưới chỗ mình ngồi, bị chết bằng ngay cái phương tiện mình đang sử dụng. Tôi nhìn những cái chết như một kẻ bàng quan, vô thưởng vô phạt. Không hiểu thằng Sĩ hèn nhát không dám nhìn cảnh này hay thằng Sĩ quá can đảm chọn lựa ở lại, chấp nhận bất cứ một điều gì sẽ xảy ra cho nó khi sa vào tay Việt Cộng. Dù sao thì tao cũng mong là lần chia tay vừa rồi chỉ là tạm biệt thôi Sĩ ạ.

    Chiếc M-113 cặp sát vào thành tàu.

  228. conmeo permalink

    Tôi rất hoang mang với cái trò dị hợm này, tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách. Chúng tôi đã bỏ Quảng Trị, bỏ Huế, chúng tôi đã bỏ bớt lương thực, đạn dược cùng tất cả mọi thứ trang bị cá nhân, đơn vị lủng củng khác để tẩu về đến đây, nhưng chúng tôi đã không được lệnh lên tàu khi hoàn cảnh còn có thể, để tẩu cho xong đoạn đường tẩu. Bây giờ chúng tôi tẩu đi đâu trong cái túi “lửa” bốn bề là nước này. Phương tiện độc nhất là chiếc tàu thì nó đã “ra khơi thấy lòng phơi phới” rồi, vì trong lòng nó đã trống rỗng, không có chúng tôi.

    Ngập ngừng là chết, đã không thoái được thì phải tiến, nhưng lấy cái gì để mà tiến, và tiến đến đâu? Ðạn dược chúng tôi đã hết, lương thực chúng tôi cũng không còn, chúng tôi lại chỉ ở một bên mép của cù lao này, mà còn ngồi khơi khơi hóng mát chứ không chịu phòng thủ. Thoái đã không thoái mà tiến lại không chịu tiến, công đã không công mà thủ lại cũng không thủ. Có phải đây là một chiến thuật mới nhất đang được ghi vào quân sử?

    Lính của những đơn vị Bộ Binh đã tan hàng và người dân Huế chậm chân đang chạy theo chúng tôi chắc chắc chắn là hoang mang hơn chúng tôi nhiều. Họ tụ tập ở nhiều chỗ nhìn chúng tôi, nơi bám víu sau cùng của họ đang ngồi nhìn trời ngắm biển, chúng tôi đang làm gì chúng tôi còn không biết thì người ngoài làm sao biết được.

  229. conmeo permalink

    Chỉ cần một tay binh nhất có nghĩa là chỉ cần có chừng một năm kinh nghiệm chiến trường, thằng dốt đặc về quân sự, thằng chưa được học một khóa tiểu đội trưởng nào, chứ đừng nói đến hạ sĩ Nam lùn, trung sĩ Châu, cũng đã hiểu là chúng tôi phải xuống tàu càng nhanh càng sớm càng tốt, vì càng dây dưa bao nhiêu là càng rút ngắn khoảng cách giữa chúng tôi với Việt Cộng bấy nhiêu. Ðại bàng Lâm Thao tức đại tá lữ đoàn trưởng chắc chắn là biết điều này, vậy thì vì lý do gì chúng tôi đã không được xuống tàu.

    Với đội hình một hàng dọc ngoằn ngoèo như con rắn ở dọc bờ biển, chúng tôi nhận lệnh ngồi xuống. Chiếc tàu đã ra xa bờ và “đợi” chúng tôi tận ngoài khơi. Dĩ nhiên nó không thể đậu mãi ở gần bờ để xem chúng tôi đi dạo mát, để xem chúng tôi nấn ná không có một hành động nào chứng tỏ chúng tôi muốn xuống tàu cả. Hai ông xếp lớn của chúng tôi, đại tá Lương lữ đoàn trưởng và trung tá Tống lữ đoàn phó đứng thản nhiên nói chuyện, cười đùa thân mật với một ông xếp lớn nữa là trung tá Tòng (trong những bản in trước, vì trông gà hóa cuốc, tôi đã viết là đại tá Thiệt, biệt danh “Tử Thần”, xin thành thật tạ lỗi với “Tử Thần”) liên đoàn trưởng liên đoàn 14 Biệt Ðộng Quân. Không hiểu cả ba ông xếp lớn đang nghĩ gì trong những cái đầu của họ, đang thú vị gì trong những câu pha trò của họ, đang bàn bạc gì bằng những cái mồm của họ. Chỉ biết là cả ba đứng nói chuyện rất thoải mái và thỉnh thoảng cười ồ lên hình như vì một câu pha trò đầy ý nhị.

  230. conmeo permalink

    Huế đang là một thành phố chết và đang là một thành phố bị bỏ ngỏ. Cả thành phố chỉ còn lại vài ba ngọn đèn đường, cái sáng cái tối, đạn pháo Việt Cộng nã đều vào cầu Trường Tiền và khách sạn Hương Giang, đó đây người ta đang đạp xe ba bánh, xe xích lô đi hôi của.

    Ði lối cầu mới thì được an toàn, nhưng tôi sẽ đi lối cầu Trường Tiền mặc dù cầu này đang bị pháo. Một chút lãng mạn trong người tôi nổi dậy, chẳng gì cũng chỉ còn là lần chót. Ngay đầu cầu, một chiếc M-48 nằm chình ình, máy vẫn còn nổ mà không có người. Lên đến giữa cầu, tôi nói với mấy thằng lính đệ tử.

    “Quay lại nhìn Huế lần chót bay, chắc chắn là mình sẽ không đánh ra tới đây để lấy lại đâu.”

    Một nỗi buồn dâng lên trong tôi, không khóc nhưng mắt tôi đoanh tròng. Bao nhiêu gian truân, bao nhiêu xương máu, bao nhiêu xác người, bao nhiêu mồ hôi nước mắt của bạn bè, của anh em đồng đội tôi đã đổ xuống cho cái vùng địa đầu nghiệt ngã này. Bản thân tôi cũng đã hai lần đổ máu ở nơi này, bây giờ bỗng chốc bỏ đi, hỏi ai là người không tức tưởi. Ðù má những thằng chịu trách nhiệm trong vụ bỏ Huế này, lịch sử sẽ bôi tro trát trấu vào mặt chúng! Những ai đã từng tuyên bố, từng hô hào tử thủ Huế giờ này ở đâu? Khốn nỗi, những thằng đánh trận mà luôn luôn đi đàng sau và luôn luôn bỏ chạy trước lại là những thằng có quyền, có quyền mà hèn nhát, đốn mạt nên bây giờ bao nhiêu người khốn đốn, rút chạy như một lũ thua trận. Nhưng thực sự chúng tôi đã đánh nhau đâu để bị gọi là thua! Ðồ tiếp liệu trong thành Mang Cá dư sức cung cấp cho lữ đoàn tôi ít nhất là ba tháng, tại sao không cho chúng tôi vào thành Nội? Ờ mà tử thủ làm chó gì, bao nhiêu thằng xếp cút mẹ nó hết rồi, vợ đẹp con khôn và tiền bạc bao năm ăn bẩn không lẽ lại vứt bỏ. Vậy thì tội chó gì mình lại nghĩ đến chuyện ở lại đánh nhau để chết oan mạng, cùng lắm được vài giọt nước mắt cá sấu, một cái huy chương không giá trị, những lời ca tụng giả dối, ngoài cửa mồm thôi chứ có mẹ gì nữa đâu. Ðồ chó má!

  231. conmeo permalink

    Và tôi gọi Tháng Ba Gãy Súng là hồi ký vì tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm về những điều tôi viết, tất cả những địa danh, những tên người, tên đơn vị, tất cả những diễn tiến đều là thật, thật một trăm phần trăm. Tôi không lồng vào đấy bất cứ một hư cấu nhỏ nào, chắc chắn là tôi đã quên khá nhiều chi tiết, và với cấp bậc và chức vụ thấp kém của tôi, chắc chắn là có rất nhiều dữ kiện mà tôi đã không được biết. Tôi viết lại hoàn toàn sự thật những điều mắt thấy, tai nghe, những điều tôi đã nhận lệnh và đã thi hành.

    Nếu Tháng Ba Gãy Súng là tiểu thuyết thì tôi lại phải thêm một câu màu mè đại khái “những nhân vật và những sự việc đều do sự tưởng tượng của tác giả, mọi sự trùng hợp chỉ là ngẫu nhiên ngoài ý muốn…”, trong khi tôi chỉ có một điều ngoài ý muốn là tôi đã không đủ khả năng để viết tất cả những điều tôi phải viết.

    Cao Xuân Huy

  232. conmeo permalink

    Tôi không nhớ câu này của ai: “Cái đám quân thần của triều đình cũ chẳng có gì phải ngại cả, vì khi có quân có quyền trong tay họ còn chẳng làm được trò trống gì, thì bây giờ, chỉ còn trơ lại có mỗi cái thân giá áo túi cơm, hỏi rằng họ sẽ làm được gì hơn ngoài cái giá và cái túi”.

    Ðâu phải đất nước ta là một bàn cờ để hễ đánh thua ván này, xóa đi xếp quân làm lại bàn khác mà tướng vẫn là tướng, quân vẫn là quân. Ðâu phải những con xe, con mã, con chốt đã chết đi đều có thể dựng đầu dậy để làm lại một trận mới.

    Trí đã không mà dũng cũng không, chỉ có mỗi cái tài dở dở ương ương là sử dụng một cách bừa bãi cái dũng của người khác đến nỗi phải bỏ cả đất nước mà chạy, đánh lừa để bỏ hàng triệu thằng dám chiến đấu tới cùng vào trong những trại tù đỏ, vậy mà vẫn còn dám chường mặt ra đòi tiếp tục làm cha mẹ dân thì quả là quá lắm lắm. Cái dĩ vãng thối tha và hèn nhát thì dù cho người đương thời có thể bỏ qua, nhưng lịch sử đâu có tha thứ. Vẫn cái chính danh là chống Cộng nhưng cái ngôn của các ông trước kia làm xếp lớn đã không thuận rồi, bây giờ phải để cho lớp người mới. Với tư thế mới, họ mới là những người thuận ngôn. Danh chính ngôn thuận mới có thể thắng được Việt Cộng, khôi phục lại được đất nước. Những con chốt thấp cổ bé miệng, những thằng bị đè đầu sai khiến ngày xưa và những người mới lớn bây giờ mới có quyền nói và mới là người có tư cách làm.

    Quyển sách này không hề là một tiểu thuyết mà là một hồi ký. Bởi vì tôi chưa từng là một người cầm bút và tôi cũng không biết cách sắp xếp câu chuyện như thế nào. Tháng Ba thì mọi người đã rõ, còn Gãy Súng, tôi muốn nói lên một điều đau lòng cho những thằng lính cầm súng, khẩu súng mà không có đạn thì giá trị không bằng một khúc củi mục, chính tôi đã dẫn đại đội xung phong lên chiếm mục tiêu mà chỉ bắn bằng mồm. Súng của chúng tôi có phải là đã bị bẻ gãy không khi mà vẫn có thể tiếp tế đạn cho chúng tôi để chúng tôi chiến đấu? Ai đã bẻ gãy súng của chúng tôi? Tôi đặt chữ Gãy Súng cho quyển sách này là như vậy.

  233. conmeo permalink

    Tuy nhiên, vì ở một đơn vị thường xuyên tác chiến, cùng gian nguy, cùng sống chết với nhau nên tôi đã gắn bó với bạn bè, đồng đội trong đơn vị như với anh em ruột thịt. Tôi yêu đơn vị tôi, tôi yêu màu mũ, màu áo tôi, tôi yêu thuộc cấp tôi và tôi kính trọng thượng cấp tôi. Tôi bình thản chấp nhận mọi thói hư tật xấu của thượng cấp và thuộc cấp, và chính tôi cũng có quá nhiều thói hư tật xấu.

    Nhưng, khi hai ông xếp lớn của tôi là đại tá lữ đoàn trưởng và trung tá lữ đoàn phó bỏ lữ đoàn gồm bốn tiểu đoàn tác chiến và các đơn vị phụ thuộc tổng cộng vào khoảng trên dưới bốn ngàn người trong cơn quẫn bách để chạy lấy thân thì lòng căm hận của tôi đột nhiên bùng dậy. Tôi giết Việt Cộng không gớm tay nhưng không bởi lòng căm thù vì giữa chúng tôi và Việt Cộng đã có lằn ranh rõ rệt, hai bên chiến tuyến hẳn hòi, hễ cứ thấy mặt nhau là giết, dùng mọi mưu mọi cách để giết nhau. Còn đằng này, vừa mất niềm tin vừa tủi nhục vì những người mình vừa kính trọng vừa phải tuân lệnh một cách tuyệt đối.

    Làm thuyền trưởng thì phải sống chết theo tàu, làm đơn vị trưởng thì phải sống chết theo đơn vị. Tôi muốn nói đến tinh thần trách nhiệm của người chỉ huy. Người có quyền hành mà không có trách nhiệm nào có khác gì kẻ phản bội. Chúng ta thua không phải vì kẻ địch mạnh mà vì trong hàng ngũ chúng ta có quá nhiều kẻ phản bội và hèn nhát. Chính vì lòng thù hận sự hèn nhát và vô trách nhiệm của cấp chỉ huy nên hình ảnh và diễn tiến những ngày cuối cùng trước khi cả lữ đoàn tan rã và bị bắt bởi khoảng hơn một đại đội du kích Việt Cộng vào nửa cuối tháng Ba năm 1975 đã như một cuốn phim nằm in trong trí nhớ của tôi, chỉ cần một cái ấn nút là được chiếu lại một cách rõ nét với đầy đủ những suy nghĩ và phản ứng của tôi, với từng diễn tiến nhỏ mà tôi đã phải trải qua.
    Tôi ôm cái kỷ niệm đau đớn và tủi nhục này cả chục năm nay, qua những năm tù đày, qua những ngày tháng lang thang ở trại tỵ nạn, qua đến Mỹ, tôi đọc được lời tuyên bố của một ông tướng cũ nào đó trên báo đại khái “Ðể mất nước là tội chung của mọi người, làm lớn thì tội lớn, làm bé thì tội bé”. Tôi nghĩ ngay đến một điều là những thằng đâm sau lưng chiến sĩ có tội, và những thằng chiến sĩ đưa lưng cho xếp của mình đâm cũng có tội luôn. Ðiều này đã là cái ấn nút để tôi kể lại câu chuyện này.

  234. conmeo permalink

    Tôi không phải là một nhà văn, mà tôi chỉ là một người lính, lính tác chiến đúng nghĩa của danh từ, và những điều tôi viết trong quyển sách này chỉ là một câu chuyện, câu chuyện thật một trăm phần trăm được kể lại bằng chữ. Tôi viết những điều mà những thằng lính chúng tôi đã trực tiếp tham dự nhưng không ai viết lại, trong khi nhiều người đã viết về những chuyện chiến trường thì hình như chẳng có ai dự.

    Trong lứa tuổi của tôi, lứa tuổi dưới mười khi theo gia đình di cư từ Bắc vào Nam, ngoại trừ những người có thân nhân ruột thịt bị giết bởi Việt Cộng, còn hầu hết, có bao nhiêu người thực sự căm thù Việt Cộng đâu, vì rõ rệt một điều là từ lứa tuổi tôi trở xuống, có đứa nào biết Việt Cộng là cái gì đâu. Cũng y như lứa tuổi dưới mười khi theo cha mẹ qua Mỹ từ năm 1975 ở đây bây giờ. Cũng thù ghét Việt Cộng vậy, nhưng chỉ là cái thù gia truyền, cha mẹ thù ghét thì mình cũng thù ghét theo thế thôi, chứ chẳng có gì là sâu đậm cả. Cho đến khi lớn lên, đầu óc đã tạm đủ để suy xét thì khổ một nỗi, hệ thống tuyên truyền của Việt Nam Cộng Hòa lại có giá trị phản tuyên truyền nhiều hơn là tuyên truyền. Cho nên khi vào quân đội, tôi tình nguyện vào đơn vị tác chiến thứ thiệt vì căm thù kẻ địch thì ít mà vì cái máu ngông nghênh của tuổi trẻ, vì bị kích thích bởi những cảm giác mạnh của chiến trường thì nhiều.

  235. conmeo permalink

    Muốn biết tội ác của tập đoàn Bắc kỳ Kito VNCH hãy đọc hồi ký của sĩ quan, lính VNCH. Đây là những tự thú ngây thơ hoặc là những lời chân thật. Hồi ký ” Tháng ba gãy súng” của Cao Xuân Huy.
    Độc giả sẽ phải dựng tóc gáy về những hành động của lính: lái M113 chạy cán lên đầu người dân đang bơi trên biển..
    Cách hành xử này là do từ trên xuống , từ bọn lãnh đạo hèn nhát ác ôn coi dân như rác do chính Bắc kỳ di cư 54 kể lại.

  236. conmeo permalink

    Bắc Kỳ Kito sạo láo không dám cho ai đăng ký phản biện.

  237. concun permalink

    Đây là văn hoá Kito: nhí nhí mà đã biết ganh tỵ rồi đi giết người.
    Tin mới:
    Nữ sinh 16 tuổi tát bạn cùng lớp cho đến chết
    Chính bản thân người viết đã quit job vì bị đám ngoại quốc nữ làm chung ganh tỵ, đặc biệt là con supervisor nên tui không thể làm việc được phải quit job. Nhưng nhờ trời, tui ăn ở hiền lành nên không lo lắng về tiền bạc.

  238. concun permalink

    Diễn đàn Vietland là hang ổ của con cừu cuồng tín: Viet xua, Diệt VC, Nhân dân tự vệ, Tigon..

  239. concun permalink

    26-05-2013 10:45 PM #9 Tigon
    View Profile View Forum Posts

    Member Join Date:13-08-2010
    Posts:14,356Còn Người Việt Quốc Gia và hậu duệ của họ , thì Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ còn tung bay trên khắp thế giới

    Bà này là Bắc kỳ Kito. Bà ta tối ngày mở miệng ra là hậu duệ VNCH có nghĩa là đám Kito Vatican.

  240. concun permalink

    Chợ Bến Thành, người bán bún bò nhớ mang bao tay nylon hay dùng muỗng đũa múc hành phi…
    Coi youtube thấy người bán dùng tay không bóc bún, người nước ngoài thấy là dan VN mắc cỡ lắm.

  241. concun permalink

    Đàn cừu ngu, ác, làm theo ý chủ ngoại quốc, chẳng những làm theo mà chúng còn sốt sắng Kito hoá toàn diện văn hoá Phật giáo, văn hoá VN vì mấy giáo hoàng đế biết khỉ gì về Phật giáo, văn hoá VN đâu.
    Chúng làm ác không biết là ác. Giọng điệu của chúng là hay dùng từ: phản bội.
    Tức cười lắm: Tên Mường giang phán một câu: một miền Nam phản bội hahah mà không dám nói tại sao ahah.
    Dư đảng Cấn lao công giáo phán: Phản tướng, hàng tướng… trong khi đó chúng chạy như vịt trước thiên hạ thì chúng không phán là gì hết heheh.

  242. concun permalink

    Đám con chiên cuồng tín, ngu nghiện đạo trên diễn đàn Vietland là Kan, Viet xưa, Pheng, Tigon, Tieng xua,..
    Vietland và X cà phe là hang ổ của con cừu Viet gian. VN muốn giàu mạnh phải biết rõ hang ổ Viet gian.
    Chúng chỉ biết vâng lời ngoại bang, nói sao hay vậy để làm lợi cho chủ của chúng và cho chúng.
    Ai mà nói sự thật chúng chụp mũ là CS.

  243. concun permalink

    Bao giờ VN sẽ giàu mạnh?.
    1. Khi không còn người VN nào ăn thịt chó.
    2. Khi không còn người VN nịnh bợ, khúm núm, sợ sệt người nước ngoài hay cõng rắn cắn gà nhà.
    3. Khi người VN có cách sống văn minh, sạch sẽ, môi trường sạch, xanh ít ra cũng bằng Singapore, Philipin.

  244. concun permalink

    Vì sao con chiên cuồng tín trên diễn đàn Vietland căm thù CS và dân phi Kito?.
    1. Do Vatican nhồi sọ: CS vô thần và dân ngoại đạo là chim muông cầm thú, không kính sợ chúa ahaha.
    2. Dân phi Kito không chịu làm con cừu, xảy ra Cách mạng 1993.
    Con chiên: Pheng, Nhân dân tự vệ, Viet xưa, van thanh trinh ngu nghiện đạo đổ thừa Phật giáo, CS trà trộn.. mà giấu giếm sự thật là NDD phản chủ Mỹ bắt tay CS nên bị chủ giết.
    Chúng ghét dân phi Kito vì nhà Ngô đàn áp Phật giáo không được rồi bị sụp đổ làm chúng mất đặc quyền đặc lợi, nam 75 quan chức chúng chạy trốn trước thiên hạ thì chúng ngậm tăm.
    Chúng ghét CS cũng vì lý do: CS lấy mất chế độ của chúng.

  245. concun permalink

    Bây giờ chúng ta hãy thử duyệt qua vài nhận định về cái lễ tiết “ban Thánh thể” này, một lễ tiết quan trọng bậc nhất của Ki Tô Giáo. Để tránh bị lên án là “vọng ngoại”, trước hết là nhận định của một tín đồ Công giáo Việt Nam, ông Charlie Nguyễn. Trong cuốn Công Giáo: Huyền Thoại & Tội Ác, ông Nguyễn viết, trang 9 – 11:

    Cũng như tại các nhà thờ Công giáo ngày nay, các linh mục làm lễ MISA, có nghĩa bữa tiệc tế thần Jehovah (Đức Chúa Cha) bằng thân xác của Đức Chúa Con (Jesus). Sau khi Chúa Cha ăn thịt Chúa Con xong thì đến phiên các cha cố và giáo dân cùng chia nhau ăn bánh thánh và uống rượu nho mà họ gọi là “rước lễ” hoặc “Phép Mình Thánh Chúa” (Corpus Christi). Giáo lý Công giáo buộc mọi tín đồ phải tin rằng lúc rước lễ là lúc họ đang ăn thịt thật và uống máu thật của Jesus đã chết thối cách đây gần 2000 năm! Đó là nghi lễ tôn giáo trọng đại của những người tự hào là “văn minh” đang sống trong một nước “mọi rợ” phương Đông là nước Việt Nam! Nhờ phúc đức của ông bà tổ tiên nhân hậu để lại nên dân tộc Việt Nam chỉ có khoảng 8% dân số hồ hởi phấn khởi chạy theo nền văn minh khoái khẩu món thịt người (Cannibal). Số còn lại 92% dân số Việt Nam may mắn đều là dân “mọi rợ” (theo nghĩa “mọi rợ” của sách kinh Công giáo dưới cặp mắt cú vọ của các cố đạo thừa sai cũng như dưới cặp mắt mơ huyền của các cố đạo bản xứ mất gốc.)

    Theo sử gia Hislop thì cái ý nghĩ quái đản về sự ăn thịt Chúa của người Công giáo là học đòi tục lệ của tà giáo mọi rợ ăn thịt người… (The idea of eating the flesh of God was of cannibalistic inception)..

    Sử gia trứ danh Durant, với những bộ sử lớn lao của ông đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới, đã viết: “Niềm tin về sự biến thể của bánh và rượu thành thịt và máu của Chúa Jesus trong nghi lễ Công giáo La mã là một trong những nghi lễ cổ xưa nhất của những tôn giáo thời ăn lông ở lỗ” (The belief in transubstantiation as practiced in the Roman Catholic Church is one of the oldest ceremonies of primitive religion. – The Story of Civilization: The Reformation, p. 749)

  246. concun permalink

    Về từ “thánh” thì phải nói rằng Công giáo “thánh” hơn Tin Lành nhiều, vì từ “thánh” có vẻ như tràn ngập trong Công giáo. “Hội thánh Công giáo” có “đức thánh cha” là vị chủ chăn, quyền uy hơn vua chúa ngày xưa, có riêng một chiếc Popemobile để cho Ngài ngồi an toàn trên đó, đi các nơi dạy các con chiên của Ngài “đừng sợ”, và dạy các giám mục Việt Nam hãy “ra khơi”, theo gương các “thánh tử đạo”, chống Cộng chết bỏ.. Ngoài ra còn có nhiều người đã được “phong Thánh” bởi những người chưa được phong thánh, còn xếp hàng dài, chưa biết bao giờ mới đến lượt mình được “phong Thánh”. Trong số những người được Vatican, mà chính một Hồng Y Công giáo, Silvio Oddi, đã gọi là một “xưởng sản xuất Thánh” (a saint factory), phong Thánh, có cả các “thánh tử đạo” trong nhiều quốc gia . Đặc biệt là trong số “thánh tử đạo” này có cả những “thánh” mà tuyệt đại đa số người dân Việt Nam chúng ta thường gọi là Việt gian, và người Tàu cũng gọi một số “thánh Công giáo Tàu” của họ là Hán gian v..v… Ngoài ra Ki Tô Giáo còn có cả “nước thánh”, “dầu thánh”, và “bánh thánh”, nghĩa là nước thường, dầu thường , và bánh bột thường, sau khi được ông linh mục hay mục sư hoa tay làm phép, lẩm bẩm vài tiếng La Tinh mà chính ông linh mục hay mục sư có khi cũng không hiểu hay không tin, chúng liền “biến thể” và mang tính chất “thánh”, tuy rằng các khoa học gia đã mang chúng đi phân tích và chứng minh rằng chúng hoàn toàn không có gì khác biệt giữa “trước” và “sau” khi chúng được “thánh hóa”.

  247. concun permalink

    Tín đồ Công Giáo cũng như Tin Lành được dạy và tin rằng mình thuộc một “hội Thánh”, và Ki Tô Giáo là đạo tiến bộ văn minh nhất thế gian, hoàn toàn không có một chút mê tín nào. Người Công giáo được dạy không tin vào chuyện thờ cúng tổ tiên nhảm nhí, mà chỉ tin những điều nhảm nhí mà giáo hội bắt họ phải tin, thí dụ như: Bà Maria, sau khi sinh nở ít ra là 7 lần, vẫn còn đồng trinh; và Chúa Giê-su, sau khi bị đóng đinh chết trên cây thập giá lại sống lại, sau 40 ngày bay lên Thiên đường (giả thử có đeo hỏa tiễn) ngồi bên phải Chúa Cha, và đến ngày phán xét sẽ làm cho xác chết những người tin Chúa (giả thử còn nguyên vẹn) sống lại hợp với linh hồn mà Chúa giữ trong một kho chứa linh hồn, để có cuộc sống đời đời bên Chúa trên Thiên đường, và nhiều điều tương tự khác trong đó có một phép lạ mà bất cứ một linh mục nào cũng có thể làm được: biến một cái bánh bằng bột thường thành “bánh thánh”: thân thể đích thực của Chúa Giê-su. Người Tin Lành cũng tin ở cái phép lạ này, ngoài ra còn tin rằng Thánh Kinh là những lời mạc khải của Thiên Chúa, do đó bất cứ điều gì trái ngược với Thánh Kinh đương nhiên là sai lầm. Chỉ có điều, ngày nay, tuyệt đại đa số các học giả và những trí thức ở trong cũng như ở ngoài Ki Tô Giáo đều đồng thuận ở một điểm: Thánh Kinh Ki Tô Giáo có rất nhiều sai lầm về Thần học cũng như về khoa học, sản phẩm của những người có trình độ hiểu biết thuộc thời bán khai ở Trung Đông..

  248. conmeo permalink

    Hãy Tỉnh Giấc! Quân Giặc Đã Ở Ngay Trước Thềm!

    Giặc Tàu cực kỳ thâm hiểm với các quyển binh thư của tổ tiên mà chúng tự hào. Gây hấn ở Biển Đông có thể là chiêu “dương Đông, kích Tây”, hoặc “điệu hổ ly sơn”. Người dân Việt cần lưu tâm đến sự thật là ở Lào đang có những “thành phố” Tàu mọc lên sát biên giới ViệtNammà Tàu thuê trong hàng trăm năm. Trong tình hình nước Lào có thưa thớt dân cư, thì việc Tàu sẽ trao lại các “thành phố” ấy cho Lào khi đến hạn chỉ mang ý nghĩa tượng trưng nhất thời, nếu không muốn nói sự sinh sôi nảy nở của dân Tàu tại đấy sẽ đồng nghĩa với việc biên giới nước Tàu sẽ tiếp giáp Việt Nam từ phía Tây sau khi đồng hóa và xóa tên Lào khỏi bản đồ thế giới chỉ sau vỏn vẹn vài năm mà ai cũng có thể đếm được trên duy chỉ một bàn tay đủ ngón.

    Kéo dài thêm vùng biên giới ấy xuống tận biển Phú Quốc, Tàu hiện đã có 1.000.000 người nhập quốc tịch Campuchia, và đang tung tiền mua đất sát biên giới Việt Nam, trên danh nghĩa lập các đồn điền cao su. Tại một xứ sở có 5 triệu dân, đoàn quân 1 triệu người Tàu này đang hoàn tất việc kéo dài biên giới Tàu xuống tận miền cực nam của bán đảo Đông Dương.

    Hỡi các bạn, hãy cảnh giác với khả năng giặc Tàu xâm lược tấn công ta từ phương Tây, tức là từ Lào và Campuchia. Việc Campuchia phá hỏng hội nghị ASEAN bằng cách từ chối việc ký thông cáo chung về Biển Đông đã phát ra tín hiệu rất rõ ràng là ASEAN đang tồn tại một con ngựa thành Troie. Nguy hiểm nhất là khi con ngựa ấy ở sát ViệtNamvà đang ra sức kích động hận thù dân tộc qua việc chính thức treo tại các điểm tham quan du lịch chính thức những tấm bản đồ vẽ ViệtNamchỉ kéo dài đến vùng Quảng mà thôi.

  249. conmeo permalink

    Với tư cách công dân trưởng thành của Việt Nam Cộng Hòa đã hoàn tất học vấn tú tài để bước vào Đại Học Văn Khoa, tôi khẳng định các vụ tự sát của sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn do tâm lý bấn loạn từ tất cả các tác động của sự tuyên truyền của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị Việt Nam Cộng Hòa luôn khiến họ bất an khiếp sợ, sự phẫn nộ trước việc mình bị bỏ rơi khi tổng thống cùng các quan chức chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trốn chạy khỏi Việt Nam, sự thất vọng trước hành động bỏ mặc của chính phủ Hoa Kỳ đối với đồng minh, sự ân hận trước những tội ác bản thân đã gây ra mà bản thân tin chắc sẽ không bao giờ được “bên thắng trận” tha thứ.

    Với tư cách người dân sống tại khu Bàn Cờ, Quận 3, Sài Gòn, cùng với tất cả cư dân Quận 3, tôi đã chứng kiến hàng chục xe Jeep chạy vào ngõ trường Phan Đình Phùng đậu xe trước nhà Ba Má tôi và chàng trai trưởng thành 18 tuổi (chứ không phải 13 tuổi) Hoàng Hữu Phước đã đứng trước cửa cùng bà con lối xóm chứng kiến việc hàng chục sĩ quan cấp úy (bông mai vàng) và cấp tá (bông mai trắng) nhanh nhẩu nhảy xuống xe, cởi bỏ áo giáp và quân phục, cởi bỏ giày và nón sắt, tháo rời tất cả các súng tiểu liên và trung liên, ra sức bẻ gãy cơ bẩm của súng hoặc uốn cong rồi vất mạnh lên các mái nhà, trước khi hỏi xin quần áo cũ cùng dép của các hộ dân đang đứng nhìn, rồi cùng nhau theo hẻm nhỏ chạy bộ ra đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai) để trốn về miền Tây. Đó là sự tháo chạy tán loạn trong kinh hoàng của các sĩ quan, bỏ mặc binh sĩ thuộc quyền “tử thủ” tại xa lộ và Cầu Phan Thanh Giản. Không bao giờ có cái gọi là tiết tháo nơi bọn sĩ quan cao cấp của Việt Nam Cộng Hòa: bọn chúng hoặc bỏ chạy thành công, hoặc tự sát khi cùng đường để tránh một cái đáng sợ hơn cả cái chết đó là sự trừng trị. Không phải tự nhiên mà Việt Nam hiện nay phải tổ chức canh chừng không để những tử tù đang chờ thi hành án thực hiện việc tự sát để tránh việc hành hình, vì rằng chính sự sợ hãi trước việc hành hình mới ghê sợ hơn cả cái chết. Những tên mà Huy Đức cho là “tuẫn tiết” chỉ là những kẻ phải tự sát vì kinh hãi trước ý nghĩ bản thân sẽ bị cộng sản xử tội.

  250. concun permalink

    Làm diễn viên là phải đóng đủ loại vai, thể hiện mọi tâm lý. Hãy coi phim Te rminator mà thấy người cảnh sát hay mẹ ghẻ có vẻ hiền, bình thường chuyển qua vẻ ác, thâm hiểm trong nhấp nháy ( Khi bị te rminator nhập vào người mình).
    Còn diễn viên VN không khác gì đứa con nít khi trả lời phỏng vấn là vai đó không phù hợp với tích cách dịu hiền, ngây thơ của cô ta!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!. Cô ta chỉ đóng được vai nào có tính cách giống như cô ta vây!!!!!
    Đầu óc đạo diễn, diễn viên VN có vấn đề, không khả năng viết nổi cốt truyện, kịch bản, đã vậy còn bắt chước ba cái rác rưởi của nước ngoài.

  251. concun permalink

    Hãy tự mình làm phim, đừng có mơ mộng ba cái Hollywood này, không có chỗ cho Á đông đâu.
    Khách quan: Có dân Mỹ nào mà nó thích nhìn cái mặt diễn viên Á đâu, mà cho dù người đó có ngon lành nó cũng nhấn chìm bằng cách cho nữ diễn viên xinh đẹp Tàu đóng cặp với Mỹ đen!!!
    Ngoài ra đây là ngành cạnh tranh khốc liệt.
    Đừng có nghe mấy thằng quảng cáo ca tụng diễn viên nó hay phim nó. Mấy con diễn viên Mỹ xấu òm mà nói là đẹp, già ngắc nhưng nói là trẻ, toàn là khùng điên, coi phim Mỹ bị ảnh hưởng xấu.
    Phim mỹ tình cảm xã hội toàn là giết người hại người giết vợ giết chồng hoặc con nào con nấy căng thẳng thần kinh chạy đi làm xất bất xang bang.

  252. concun permalink

    Khi được phỏng vấn tại Liên hoan phim Cannes hôm thứ 2 vừa qua, Lưu Đức Hoa không hề ngại ngần chia sẻ thẳng quan điểm của mình rằng “rõ ràng có tồn tại sự phân biệt chủng tộc ở Hollywood” và vì thế anh sẽ không xuất hiện trong bất cứ bộ phim nào do kinh đô điện ảnh lớn nhất thế giới sản xuất.

    Chia sẻ về đánh giá của anh khi gần đây Hollywood có một xu hướng mới là hễ sản xuất các phim bom tấn như “Iron Man 3” hay “Transformer 4” là sẽ mời các ngôi sao điện ảnh Trung Quốc tham gia, Lưu Đức Hoa đã trả lời thẳng thắn: “Hollywood chỉ mong đợi thâm nhập được vào thị trường phim Trung Quốc mà thôi, họ không hề tôn trọng những diễn viên người Trung Quốc chúng tôi.”

  253. concun permalink

    Chính bản thân người viết khi còn ở trong nước suýt chết vì ăn cải non xanh. Ra chợ thấy cải non xanh mua về nấu nửa đêm người viết và người bạn đau đớn từng đoạn ruột.
    Người trồng thiếu kiến thức vô tình giết người tiêu thụ khi họ không biết sử dụng liều lượng thuốc trừ sâu hay phân bón, nếu lúc đó tôi có chết cũng huề mà thôi vì có kiện cáo gì đâu, người bán đi đâu mất rồi.
    Dân không biết nhà nước phải dạy, cung cấp thông tin và có sự kiểm duyệt.
    Dân các nước khác tới Mỹ có biết lái xe đâu, cũng phải học luật, học lái.

  254. concun permalink

    Bà B trồng rau, bầu bí… được số lượng là 50 trái bí cũng phải đăng ký bản quyền, sáng chế ra logo và tên sản phẩm ( bí mà bà ta trồng) thí dụ là Hương đồng quê, bà ta lấy nylon bọc từng trái bí, dán nhãn hiệu của bả đem ra chợ bán, nếu nông trại lớn lại là chuyện khác, nói chung phải biết nguồn sản phẩm, heo gà, rau trái từ đâu đến và giữa siêu thị và nông trại phải có sự thoả thuận về mặt pháp lý chịu trách nhiệm về sự an toàn.
    Đăng ký bản quyền để phân biệt hàng VN và hàng TQ.
    Nên học hỏi bắt chước từ nước ngoài, biết nguồn sản phẩm do ai làm, có nhãn hiệu, địa chỉ, made in vietnam.

  255. concun permalink

    Cách giải quyết vấn đề an toàn thực phẩm và chất thuốc, chúng ta có thể học hỏi từ Mỹ, cần phải có cơ quan kiểm duyệt an toàn thực phẩm và drug.
    VN cần có hiệp hội nông gia VN để trau đồi kiến thức nuôi, trồng, sản xuất, cách thức sử dụng liều lượng phân bón, thuốc trừ sâu, xịt rầu an toàn lên rau trái, cây cối, tôm cá, heo bò gà..
    Cần có hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng VN phản ánh, khiếu nại của người tiêu thụ.
    Thí dụ: Ông A có trang trại nuôi 20 con gà, ông ta làm thịt bán.
    Ông ta cần phải đăng ký bản quyền nhãn hiệu sản xuất với cơ quan nhà nước.
    Điều này có lợi nhiều mặt cho kinh tế nước nhà, cho nông gia và cho khách hàng.
    Ông A sáng chế ra logo và tên món hàng thí dụ như là tên Hương miền Tây, có địa chỉ trang trại, số pho ne, made in Vietnam.
    Điều này sẽ kiểm soát được sự an toàn, uy tín cho người VN.
    Có cầu sẽ có cung, nếu người sản xuất VN làm ăn uy tín làm ra sản phẩm vệ sinh, ngon sẽ có khách hàng tiêu thu nhất là khi TQ sản xuất đồ độc hai, chắc chắn VN sẽ dễ dàng đạt thắng lợi.

  256. concun permalink

    Tôi có thắc mắc này, có ai trả lời giùm tôi được không. Tại sao nhà nước và dân nhập đồ ăn độc hại của Tàu?. Như vậy có nghĩa là gì, không lẽ mình tự giết mình.

  257. concun permalink

    Nước VN muốn giàu mạnh, trước nhất phải giải tán, bỏ tù những người hành hạ chó, giết chó, bán thịt chó.
    Các nước giàu không ai làm chuyện thất đức này.

  258. concun permalink

    Từ khi Bắc Kỳ Kito vào miền Nam, chúng mang theo văn hoá độc ác là ăn thịt chó. Qua Mỹ đâu có đói khát gì đâu mà chúng lại ăn thịt chó tiếp. Vậy mà chúng tự hào là văn minh Thiên chúa giáo.
    Những dân tộc ăn thịt chó là những dân tộc độc ác, nghèo đói, xấu xí.
    Bằng chứng: dân tộc Hàn xấu xí phải đi thẩm mỹ viện.

  259. concun permalink

    Nếu các cô gái Huế biết bạn trai của họ là loại người ăn thịt chó thì chắc là bạn ấy sẽ bị trừ điểm hạnh kiểm. Một ông thầy tu ăn thịt cá thì gọi là ngã mặn. Nhưng nếu sư ăn đến thịt chó – như Lỗ Trí Thâm trong truyện Thủy Hử chẳng hạn – thì thuộc đẳng cấp sư hổ mang. Thực ra ở Huế vẫn có người ăn thịt chó và cũng có nhà bị mất chó. Những người ăn thịt chó thường bị liệt vào hạng người không đàng hoàng đứng đắn. Ngay những người này có muốn ăn cũng tổ chức bữa nhậu một cách hạn chế. Không thể treo bảng hiệu “cầy tơ, cờ tây” hay bày bán thịt chó công khai bên đường như ở chợ ông Tạ trong thành phố Hồ Chí Minh. Nhà nào có nhiều chó con, ai xin thì cho chứ không bán. Ở Huế chưa thấy ai làm giàu nhờ nghề bán chó hay bán thịt chó. Hơn 80% gia đình đồng bào ở Huế có truyền thống văn hóa Phật giáo. Người ăn thịt chó rồi thì cảm thấy mình không được “tinh tấn”, không dám vào chùa lễ Phật. Theo tôi, nếu không phải khó khăn thiếu thốn quá thì đừng nói là ở Huế mà bất luận ở đâu cũng không nên ăn thịt chó. Chó là một con vật rất thông minh, tình cảm và trung thành với người. Dầu là con chó của người ăn mày cũng không vì chủ mình nghèo quá mà bỏ đi theo chủ khác.

  260. concun permalink

    Bắc kỳ Kito đừng giả nhân giả nghĩa nữa nha, tụi bây ăn thịt chó độc ác vô cùng, hồi nhỏ ta nghe hàng xóm nói đạo chúa ăn thịt chó.

  261. concun permalink

    Tôi có biết một ông Bắc kỳ kito cấm con lấy đen dù cho đen ( theo tôi biết) là Kito!!!.
    Thì ra Kito Bắc kỳ cũng lựa người!!.
    Tôi còn biết nhiều chuyện khác nữa ahah.

  262. concun permalink

    Bản chất vong bản của Bắc kỳ Kito chúng ta có thể thấy ở các nước Kito. Lá cờ vàng ba sọc đỏ đi chung với lá cờ Mỹ, úc, can a da và chúng xun xoe chung quanh các quan chức xứ này.
    có bao giờ người mỹ gọi người VN hay dân xứ khác là Mỹ đâu, chỉ có mấy ông Bắc kỳ Kito tự phong cho mình là người Mỹ gốc Việt thôi.

  263. concun permalink

    Có một điều quái đản là Bắc kỳ Kito nịnh bợ ngoại quốc tụ tập với nhau chứ có dám vô nhà thờ chung với trắng Kito hay đen Kito hay Sì kito hahah dù chúng thèm lắm nhưng phân biệt chủng tộc mà.

  264. concun permalink

    Các con cừu có một điểm chung là hèn với chủ Vatican, Tây, Mỹ.. ác với dân phi Kito.
    Trong khi Tây, Mỹ công khai in sách tố cáo Vatican, chúng ngậm họng không dám chửi chủ là tay sai Tàu Cộng, còn học giả VN phi Kito chỉ dịch sách của chủ Tây, Mỹ thì chúng chửi là Việt gian.
    Kito thánh thiện quá hén.

  265. concun permalink

    Các con chiên vì bảo vệ chủ mình, đạo bịp của mình nên chụp mũ bừa bãi ai ai cũng là Việt gian cho Tàu, từ chụp mũ bừa bãi đến chỗ xừ tử chỉ là một bước nhỏ nếu chúng nắm quyền.
    Lạ một điều sao chúng không lôi Tổng thống Thiệu ra hahah.

  266. concun permalink

    Tên Nhân dân tự vệ xác nhận Giáo hội Công giáo VN phục tùng Vatican hahah.
    Join Date:25-01-2011
    Posts:3,725MẶC DÙ BỌN VIỆT GIAN GIAO ĐIỂM -TAY SAI CỦA TRUNG CỘNG – NÚP DƯỚI DANH NGHĨA BÊNH VỰC PHẬT GIÁO VÀ VĂN HOÁ DÂN TỘC TAM GIÁO ĐỒNG QUY, ĐIÊN CUỒNG RA SỨC PHỈ BÁNG VATICAN VÀ GIÁO HỘI CỘNG GIÁO VIỆT NAM ĐỂ KÍCH ĐỘNG LÒNG HẬN THÙ CỦA NHÂN DÂN VN MÀ TUYỆT ĐẠI ĐA SỐ LÀ PHẬT TỬ, ĐỂ NHẰM LẬT ĐỔ MỘT GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VN VẪN ĐANG PHỤC TÙNG VATICAN ĐỂ NẶN RA MỘT GIÁO HỘI CÔNG GIÁO QUỐC DOANH CHỈ BIẾT PHỤC TÙNG ĐẢNG CỘNG SẢN VN Y THEO MẪU MỰC CỦA TRUNG CỘNG; TẠO THUẬN LỢI CHO BƯỚC KẾ TIẾP ĐỂ DỄ DÀNG NHẬP HÁN..

    .. NHƯNG NHÂN DÂN YÊN NƯỚC VIỆT NAM HOÀN TOÀN KHÔNG HỀ LÊN ÁN GIÁO HỘI CỘNG GIÁO VN VẪN ĐANG PHỤC TÙNG VATICAN. NHƯNG AI AI CŨNG CHỈ LÊN ÁN ĐẢNG CỘNG SẢN VN VẪN ĐANG LÀM TAY SAI CHO TRUNG CỘNG

  267. concun permalink

    Tên Nhân dân tự vệ xác nhận hội đồng giám mục VN phục tùng Vatican để chống cộng vì thế hắn không đồng ý việc hội đồng giám mục VN cắt đứt quan hệ với Vatican.
    Tên Nhân dân tự vệ trên Vietland hãy trả lời cho ta ba câu hỏi này:
    1. Hội đồng giám mục Kito VN phục tùng Vatican những điều gì và có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia hay không?
    Tôi biết nhưng muốn you trả lời.
    2. Tại sao ngày xưa giáo dân, linh mục không chống Tây?. Tại sao Vatican không cho linh mục, giáo dân chống Tây?. Đã vậy, chỉ thấy linh mục giáo dân đàn áp chỉ điểm những anh hùng nghĩa sĩ chống Tây.
    Tên khốn nạn vanthanhtrinh trên vietland dè bỉu các cuộc kháng chiến thất bại là tại vì nghèo quá!!!.
    3. Nếu chế độ hậu CS là chế độ phi Kito, giáo gian có chống lại theo lời Vatican không.
    4. Hiện tại giáo gian bưng bít sự thật về Vatican, Ngô đình Diệm và tôn vinh linh mục, giáo gian phản quốc.
    Vì lẽ gì?.
    Trong tim đen giáo gian, chúng luôn muốn duy trì lá cờ vàng sọc đỏ là vì chúng muốn nắm quyền để kito hoá VN.

  268. concun permalink

    Chính vì mở rộng dân chúa nên chúng ta có thể thấy những sắc dân khác như dân đen cũng đạo Kito, nhà thờ ca hát …
    mà đã là đen dù là Kito, nhà thờ, rửa tội…tôi bảo đảm giáo gian cũng chạy làng.

  269. concun permalink

    Sau khi đọc Giao điểm, concun mới hiểu ra vì sao mà giáo gian lại bỏ Pháp rồi quay qua Mỹ.
    Chỉ vì chủ nhân thực sự của giáo gian là Vatican.

  270. concun permalink

    Riêng về phần tu sĩ và tín đồ Da-tô người Việt, dù là đã muối mặt phản lại dân tộc, phản lại tổ quốc, làm tay sai cho Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican, bọn người “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” này vẫn bi bọn quan thày người Pháp khinh rẻ, coi chúng như là thứ người phản phúc lưu manh đốn mạt. Sở dĩ họ có thái đô này là vì một phần là do họ đã từng có kinh nghiệm về những hành động phản phúc, lưu manh đốn mạt của nhóm tín đồ Da-tô người Pháp ở tại Pháp trong thời gian 14/7/1789 –30/7/1830 (sẽ được trình bày đầy đủ trong Phần VII ở sau) và một phần họ lại chứng kiến bọn tu sĩ và tín đồ Da-tô người Việt cũng lại có những hành động đê tiện khốn nạn như vậy. Đây là một sự thât lịch sử. Sử thật này được sách Bước Mở Đầu Của Sự Thiểt Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Ở Việt Nam 1858-1897 ghi lại như sau:

    “Chúng tôi chỉ có với mình”, Đô Đốc Rieunier sau này nói, “những giáo dân và bọn du thủ du thực”. “Bọn lang bạt bị trục xuất khỏi làng vì đói rét hoặc vì tội phạm,” Đại Tá Bernard viết, xô về đây với cái lưng mềm dễ uốn, họ tham sống sợ chết; họ hoàn toàn hững hờ với cuộc đấu tranh của dân tộc mình, sẵn sàng phụng sự bất cứ những ông chủ nào… Người ta sẽ tuyển dụng trong số họ tất cả nhân viên hành chính cần thiết cho nhà nước, hoặc những người giúp việc gia đình: làm đầy tớ, làm khuân vác, làm người chạy giấy và cả những tên phiên dịch, hoặc những người ghi chép được đào tạo thô sơ qua các nhà trường của Hội Truyền Giáo. Chính là qua sự tiếp xúc với những kẻ khốn nạn này mà bọn thực dân và công chức, vừa mới đổ bộ lên, làm quen với dân tộc Việt Nam …”Nhà sử học Cultru kết luận:

    “Hoàn toàn hời hợt về cái gọi là giáo dục phương Tây mà họ đã được tiếp thụ, những thanh niên Việt Nam này đã trở thành những ông thông, ông phán, ông ký, kiểm soát, phiên dịch.. ấy lập thành tại xứ sở thuộc địa một tầng lớp những người tha hóa, chuyên lợi dụng địa vị chính thức của chúng để nhân danh chính phủ Pháp, lúc này không đủ biện pháp cai quản họ, để áp bức, đục khoét dân chúng, buộc lòng phải nhờ đến sự trung gian cuả họ…”

    Tại Nam kỳ, chính là từ trong những người Công Giáo Annam mà người ta tuyển chọn những kẻ giúp việc cho chính phủ Pháp, Phạm Quỳnh đã viết, “Họ có tài cán gỉ? … Phần lớn là những tay dạy giáo lý Cơ Đốc, vì hạnh kiểm kém mà bị các giám mục đuổi về, và dưới một cái tên La Tinh (bởi vì họ nói lõm bõm tiếng La Tinh), là đại diện sơ lược của thủ đoạn, của sự vô trách nhiệm, và sự thoái hóa của Châu Á.”.[v]

    Vì bị Pháp chèn ép trong phạm vi chính trị và hành chánh, Giáo Hội La Mã đành phải nín thở chờ thời và dồn nỗ lực vào mục tiêu cướp đoạt tài nguyên quốc gia (chiếm đọat ruộng cày và đất trồng), cướp chùa xây nhà thờ, đúng như tinh thần Sắc Chỉ Romanus Pontifex:

    “(Giáo Hội và giáo dân) được toàn quyền chiếm cứ tất cả các vương quốc, lãnh địa, vương hầu, đất đô hộ và tài sản của chúng (ta), toàn quyền chiếm đoạt của chìm của nổi của chúng (ta) và bắt tất cả chúng (ta) làm nô lệ vĩnh viễn.” (Như đã nói ở trên.)

  271. concun permalink

    Các nhóm tả khuynh còn vận động việc ban hành nghị định áp dụng ba đạo luật 1901, 1904 và 1905 tại Ðông Dương; nhưng Beau – trước sự đe dọa của các Giáo sĩ, và vì quyền lợi thuộc địa –không dám trực diện Hội truyền giáo. Thời gian này Hội truyền giáo đã phát triển và củng cố tổ chức chặt chẽ theo hàng dọc, từ các giáo phận xuống giáo xứ, họ đạo. Hầu hết các họ đạo tại các xã thôn đều do các giáo mục (curé) bản xứ trông nom. Mỗi giáo phận là một tiểu vương triều tự trị, với những luật lệ riêng. Dưới sự hướng dẫn của các linh mục, giáo dân trở thành kiêu dân, hoành hành bất kể luật pháp. Alphonse Louis Klingler ở Nghệ An và Martin ở Thanh Hoá chỉ là những thí dụ tiêu biểu.

    Không những chỉ lấn áp dân chúng, đập phá chùa chiền, cướp đoạt ruộng đất, công điền công thổ tại các xã lẫn lộn người Lương và giáo dân, “thập tự quân” còn kéo nhau đi làm tiền cả thân nhân Từ Dụ Thái Hoàng Thái hậu, hay cựu Phụ chính Ðại thần Trương Quang Ðãn, vì tư gia họ đã dùng gỗ lim, mới bị ra lệnh cấm đẵn để dành độc quyền cho các nhà khai thác.

    Các quan lại chẳng ai dám phản ứng, vì phạm lỗi với các giáo sĩ hay linh mục bản xứ sẽ lập tức bị cách chức, hay quở phạt.

    Trước viễn ảnh rạn nứt khó tránh giữa chế độ Bảo hộ Pháp và Hội truyền giáo – đồng thời, để tạo áp lực với các viên chức “rối đạo” – các giáo sĩ tìm cách móc nối, ăn rễ vào Hoàng tộc và những phong trào kháng Pháp. Một mặt, giới quan lại xuất thân thông ngôn được yểm trợ ngày một thăng tiến nhanh trong triều đình, hầu gây ảnh hưởng với vua và Hoàng tộc. Mặt khác, một số tìm cách liên kết với tổ chức Duy Tân Hội của Phan Bội Châu và Cường Ðể, dòng dõi duy nhất của Hoàng tử Cảnh. Sự ủng hộ của số giáo sĩ, giáo dân từ Vinh tới Quảng Nam – kể cả nhóm Ngô Ðình Khả, Nguyễn Hữu Bài, Mai Lão Bạng, v.. v…– liên hệ không nhỏ với bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh giữa Giáo Hội và phe tả khuynh Pháp.

    Tuy nhiên, tưởng cũng cần nhấn mạnh, khối giáo dân – hoặc ít nữa các nhóm thiểu số giáo sĩ và giáo dân tham vọng – không đoàn kết, nhất trí như có thể ngộ nhận. Ðường nứt rạn lớn nhất là giữa hai giáo phận gốc Espania – có liên hệ chặt chẽ với Manila (Philippines), và Roma – và các giáo phận của Hội Truyền giáo Pháp. Thêm nữa, ý thức chủng tộc cũng tách biệt dần giáo dân Việt và giáo sĩ ngoại quốc – đặc biệt là các giáo sĩ Pháp. Sau gần nửa thế kỷ được Pháp “giải phóng” (nói theo ngôn ngữ của Petrus Key năm 1859), giáo mục và giáo dân Việt vẫn bị xếp loại tín hữu hạng nhì. Triều đình Ki-tô Ðông Dương vẫn do các “cha triều” Pháp thống trị. Chưa một “linh mục triều” người Việt nào được lên chức Giám mục. Nói cách khác, Hội truyền giáo Pháp tự nó cũng là một tiểu vương triều “trắng” bảo hộ tiểu vương quốc Ki-tô “vàng.” Hội truyền giáo cũng không chỉ có con chiên người Việt. Các giáo sĩ bắt đầu mở mang họ đạo tới những vùng sơn cước ở Trung và Bắc Kỳ. Từ thập niên 1900, toàn thể Ðông Dương đã chia làm 7 giáo phận. Tại Bắc Kỳ, thêm giáo phận “Haut Tonkin” (Ðàng Ngoài Cao), để lo việc Ki-tô hoá dân thiểu số. Tại Trung Kỳ, hai giáo phận Ðông Ðàng Trong và Tây Ðàng Trong nỗ lực Ki-tô hoá các sắc tộc Ê-đê, Gia-rai, Sê-đăng, v.. v… trên cao nguyên.”[iv]

    Cũng may là trong suốt thời gian đánh chiếm và thống trị Việt Nam từ thập niên 1850 cho đến tháng 3 năm 1945, phe thực dân Pháp luôn luôn thắng thế trên sân khấu chính trị tại chính quốc cũng như tại Đông Dương và chỉ để cho Vatican được hưởng một số những đặc quyền về kinh tế cùng một số ưu thế trong xã hội Đông Dương và ưu tiên tuyển dụng bọn tín đồ Da-tô bản địa vào làm các công việc do thám chỉ điểm và tay sai đắc lực trong bộ mày đàn áp nhân dân ta. Còn kế hoạch Ki-tô nhân dân ta bằng tất cả những phương tiện của chính quyền, trong đó có việc sử dụng bạo lực để “diệt tận gốc trốc tận rẽ” nền văn hóa và tôn giáo cổ truyền của dân ta thì bị những người Pháp có thế lực cầm quyền ở chính quốc cũng như ở Đông Dương chống lại và bác bỏ. Nhờ vậy mà trong thời kỳ này, Việt Nam ta tuy là bị chia làm ba miền Bắc, Nam, Trung, nhưng không bị biến thành các vương quốc Da-tô. Cũng vì thế mà nhân dân ta không bị cưỡng bách phải theo đại Da-tô như chủ trương của Vatican.

  272. concun permalink

    Hầu hết những thành phần làm chính sách tại chính quốc Pháp và cầm quyền tại Đông Dương là những người Pháp mang nặng tinh thần Cách Mạng Pháp 1789. Họ rất ghê tởm và khinh rẻ tập đoàn lưu manh trong Tòa Thánh Vatican và bọn giao sĩ truyền đạo tại Đông Dương. Chủ trương của người Pháp là muốn biến Động Dương thành thuộc địa khai thác tài nguyên và thị trường tiêu thụ hàng hóa, biến nhân dân ta thành khối dân lao động rẻ tiền phục vụ cho các công trường khai thác quặng mỏ và trong các đồn điền cao su, trà, cà phê của bọn tư bản Pháp.

    Trong khi đó thì chủ trương của tập đoàn lưu manh trong Tòa Thánh Vatican là muốn xé nhỏ Đông Dương thành nhiều tiểu quốc theo biên giới sắc tộc, địa lý, và tôn giáo rồi dùng một tên tín đồ Da-tô địa phương đưa lên làm bạo chúa, thiết lập một vương quốc Da-tô để thi hành “Kế Hoạch Da-tô Hóa” với mục đích là “diệt tận gốc, trốc tận rễ” tất cả những gì thuộc về tôn giáo và văn hóa cổ truyền của dân tộc Đông Dương mà mục tiêu đầu tiên nhắm tới là giới “Nho sĩ” và tất cả những gì thuộc về Nho giáo và đạo Phật. Kế hoạch Puginier do chính Giám-mục Puginier biên soạn là bằng chứng nói lên cho sự kiện này. Mục tiêu kế tiếp là đạo Phật, đạo thờ cúng tổ tiên, đạo Lão và tất cả những nét đặc thù văn hóa khác của dân tộc.[iii]

    Vì những lý do trên đây, hai thế lực xâm lược này luôn hục hặc với nhau và luôn luôn tìm cách hất cẳng nhau ra khỏi sân khấu chính tri tại Đông Dương. Nói về tình trạng “đồng sang dị mộng” giữa Giáo Hội La Mã và nhà cầm quyền Pháp tại chính quốc Pháp cũng như tại Đông Dương. Sử gia Vũ Ngự Chiêu viết như sau:

    “Từ năm 1890, nếu không phải sớm hơn, một hiện tượng đặc thù xẩy ra làm sự rạn nứt giữa Hội truyền giáo và chính quyền thực dân Pháp, đưa đến những tranh chấp không ngừng, có thể gọi là “chiến tranh lạnh.”

    “Cuộc chiến tranh lạnh này đã khởi đầu từ ngày chủ nghĩa Cộng Hòa và khuynh tả thống trị chính giới Pháp, và chỉ tạm hòa hoãn trong giai đoạn 1895-1899, thường được biết như thời kỳ “ralliement”– tức chiêu hồi hay liên kết giữa hai phe Ki-tô và Cộng Hòa trung dung, để ngăn chặn ảnh hưởng phe tả khuynh. Từ năm 1899, Quốc Hội Pháp trực diện tấn công Giáo Hội bằng các Sắc luật năm 1901, 1904 và 1905, chính thức giải thoát xã hội Pháp khỏi sự kềm tỏa của thần quyền Ki-tô từ nhiều thế kỷ. Dưới thời chính phủ Emile Combes (1902-1904) của Khối Tả phái (Bloc des Gauches), tinh thần chống Giáo hội ngày càng mạnh.

    Tại Ðông Dương, những nhân vật Cộng Hòa hay tả khuynh cũng không ngừng đả kích Hội truyền giáo cùng chủ trương thống trị, “Ki-tô hoá và đồng hoá.” Ðối lại, Hội truyền giáo, giới quân sự và các nhóm viên chức thuộc địa bảo thủ cũng tạo thành một liên minh đánh phá Jean de Lanessan, đưa đến việc triệu hồi viên Toàn quyền này, dù thái độ của de Lanessan với Hội Truyền giáo khá thân mật. Năm 1893, chẳng hạn, khi tờ Le Courrier d’ Haiphong cho đăng một loạt bài có vẻ đả kích chủ trương thống trị và đồng hóa mà Hội truyền giáo theo đuổi, các giáo sĩ không chịu yếu thế. Họ quyết dùng báo chí để phản công, xuất vốn mua tờ L’Avenir du Tonkin (Tương lai Bắc Kỳ) ở Hà Nội. Ngày 18/7/1893, de Lanessan phải viết thư cho Giám mục P. Gendreau–mới thay Puginier ở Tây Ðàng Ngoài–khuyên Gendreau đừng nên dính líu vào những cuộc bút chiến trên báo chí. Trong thư trả lời ngày 23/7/1893, Gendreau khẳng định rằng báo chí là phương tiện duy nhất để tự vệ.

    Ít lâu sau, tới cuộc bút chiến giữa Linh mục J. B. Guerlach và Camille Pâris, một cựu viên chức bưu điện ở Tourane, sau chuyển sang khai thác đồn điền ở cao nguyên Trung Kỳ thuộc khu vực dân Sê-đăng. Pâris tố cáo Hội truyền giáo đã che chở cho tay phiêu lưu “Hầu tước de Mayréna” chiếm đoạt đất của dân Sê-đăng để thành lập một vương quốc với Giáo sĩ Ki-tô làm quốc sư.(118) Guerlach – một trong những cựu thủ lãnh “thập tự quân” – truy tố Pâris ra tòa về tội mạ lÿ. Tuy nhiên, Pâris được trắng án. Cuộc tranh chấp chỉ chấm dứt sau cái chết bí ẩn năm 1908 của Pâris tại đồn điền.

    Các báo thuộc nhóm “Radical” (Cấp tiến) hay “Lodge” (Tam Ðiểm) khác như L’Indépendence tonkinoise (Ðộc Lập của Bắc Kỳ) của Alfred Levasseur, và Le Mékong (Cửu Long) của Ulysse Leriche cũng mở nhiều đợt tấn kích Hội truyền giáo. Trong số báo ra ngày 22/5/1897, chẳng hạn, Le Mékong loan tin một trong 10 nữ tu y tá đã bỏ tu hành nghề mãi dâm. Ngày 12/6/1897, Jean Marie Depierre, Giám mục Tây Ðàng Trong – người đã tổ chức quyên góp dựng tượng Pigneau de Béhaine ở Sài Gòn – khởi tố với Tổng Biện lý Assaud ở Sài Gòn. Trước đó, ngày 25/5/1897, Depierre còn viết thư cho Leriche, cáo buộc Le Mékong dối trá khi bình luận rằng Hội truyền giáo là “ổ chống đối sự thống trị của Pháp.”

    Ngoài ra, các nhà in Rey, Curiol, và Francois H. Schneider cũng có lập trường chống Hội truyền giáo, đặc biệt hai tờ L’Univers (Vũ Trụ) và La Croix (Thập Tự Giá), cơ quan ngôn luận của Giáo hội.

  273. concun permalink

    Chủ đích của Giáo Hội La Mã là dùng vũ lực chinh phục toàn thể thế giới để thống trị toàn cầu và cưỡng bách nhân loại phải theo đạo Da-tô để làm nô lệ cho Giáo Hội. Mục đích này đã được thể hiện ra qua Sắc Chỉ Romanus Pontifex được ban hày vào ngày 8/1/1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455). Nội dung của sắc chỉ này đã được Linh-mục Trần Tam Tỉnh viết ra thành giấy trắng mực đen ở nơi hai trang 14 và 15 trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm mà chúng tôi đã ghi lại trong Chương 18, Mục VII ở trên. Xin ghi lại một lần nữa ở đây để độc giả dễ dàng có ý niệm liên tục tham vọng đại gian đại ác này của Vatican:

    “…, quyền lợi của Bồ Đào Nha đã được phân định rõ ràng trong sắc chỉ “Romanus Pontifex” do Đức (Giáo Hoàng) Nicholas V (1447-1455) ra ngày 8 tháng Giêng năm 1454. Theo quyền lực Chúa ban và quyền lực của Tòa Thánh, Đức Giáo Hoàng ban cho triều đình Lisbon (Bồ Đào Nha) “toàn quyền tự do xâm lăng, chinh phục, chiến đấu, đánh giặc và khuất phục tất cả các quân Sarrasins (tức người Ả Rập), các dân ngoại đạo và các kẻ thù khác của Giáo Hội, gặp bất cứ nơi nào: được toàn quyền chiếm cứ tất cả các vương quốc, lãnh địa, vương hầu, đất đô hộ và tài sản của chúng; toàn quyền chiếm đoạt tất cả của nổi và của chìm của chúng và bắt tất cả chúng nó làm nô lệ vĩnh viễn”.

    Khi ban quyền cho người Bồ Đào Nha được chiếm mọi thứ lợi lộc kể trên, Giáo Hoàng đồng thời cũng muốn mở mang nước Chúa sang các miền xa xôi. Và để nhà vua Bồ Đào Nha yên tâm hơn, Giáo Hoàng ra lệnh cấm không một ai khác được phép đặt chân tới các vùng đất ấy nếu không có phép của nhà vua, dành cho nhà vua độc quyền buôn bán và ra vạ tuyệt thông tức khắc cho bất kỳ ai dám hành động ngược lại.”[i]

    Sau đó, cái sắc chỉ ăn cướp khốn nạn này lại được nhắc đi nhắc lại nhiều lần bằng một loạt thánh luật khác. Đó là các thánh lệnh Inter caetera (1456) trong thời Giáo Hoàng Callistus III (1455-1458), Aeterni Regis (1481) Giáo Hoàng Sixtus (1471-1484), Examinae devotionis (ngày 3/5/1493), Inter caetera (ngày 3 và 4/5/1493) Dudun siquidem (ngày 23 [26?]/9/1454) trong thời Giáo Hoàng Alexander VI (1492-1503).[ii]

    Như vậy Đông Duơng chỉ là một trong những mục tiêu đã được Vatican nhắm tới để chinh phục. Nói cho rõ hơn, Vatican vốn đã có chủ trương đánh chiếm Đông Dương rồi mới cho người đi vận động Pháp liên kết với Vatican (thành lập Liên Minh Thánh Pháp – Vatican) và xuất quân đánh chiếm Đông Dương để cùng thống trị, cùng cướp đoạt nguyền, cùng áp bức và cưỡng bách dân ta làm nô lệ cho chúng.

    Quy luật của kẻ mạnh là “Kẻ nào chi tiền người đó sẽ nắm quyền chỉ huy”, và theo quy luật lịch sử là “người ta chỉ đồng tình liên minh với nhau khi còn phải đương đầu với kẻ thù chính; khi kẻ thù chính đã suy yếu hay bị tiêu diệt rồi, thì chính những kẻ liên minh với nhau lại bắt đầu hục hặc, chống đối lẫn nhau và tìm cách tiêu diệt lẫn nhau” để chiếm độc quyền. Tòa Thánh Vatican liên kết với Pháp thành Liên Minh Thánh Pháp – Vatican để đánh chiếm và thống trị Đông Dương cũng không đi ra ngoài những quy luật này. Cũng vì thế mà ngay từ khi khởi đầu liên minh với nhau, Pháp và Vatican là hai thế lực “đồng sàng nhưng dị mộng”.

    Hơn bất kỳ dân tộc nào khác, dân tộc Pháp có kinh nghiệm đau thương với Tòa Thánh Vatican nhiều hơn cả và phải mất cả khoảng 15 thế kỳ mới quật khởi lên được. Họ thù ghét Vatican đên tận xương tận tủy. Cũng vì thế mà họ đã từng goi đạo Da-tô là “cái tôn giáo ác ôn”, goại Giáo Hội La Mã là “Cái Giáo Hội Khốn Nạn”, gọi bọn tu sĩ Da-tô là “lũ quạ đen”, đã từng truất bỏ hết tất cả độc đặc quyền đặc lợi mà trong thời Trung Cổ Vatican đã cưỡng chiếm dành riêng cho Giáo Hội và giới tu sĩ, đã từng tịch thu toàn bộ bất động sản của Vatican, đã từng ban hành bản Hiến Chương Dân Sự cho Giới Tu Sĩ Da-tô, theo đó tu-sĩ bắt buộc phải thề trung thành với hiến pháp, chứ không phải trung thành với giáo hoàng. Cũng vì thế mà ngay từ khi tiến hành đánh chiếm Đông Dương, tập đoàn ăn cướp Vatican và bọn thực dân xâm lược Pháp đã hục hặc với nhau rồi.

  274. concun permalink

    Giáo Hội chuyên môn sử dụng những thủ đoạn lưu manh, đê tiện và khốn nạn như trên để cướp đoạt ruộng đất và các nguồn tài nguyên khác của dân ta để làm của riêng khiến cho trên 90% dân ta trở thành người dân vô sản và đói khổ. Ấy thế mà Giáo Hội cũng như các nhà truyền giáo và tín đồ của Giáo Hôi lúc nào cũng lớn tiếng cao rao rằng Giáo Hội La Mã là “Hội Thánh duy nhất thánh thiện, công giáo và tông tuyền”, là “Hiền Thế của Thiên Chúa Làm Người” và đạo Kitô là “đạo của bác ác”, “đạo của tình thương“ đem “Tin Mừng” và “Hồng Ân Thiên Chúa” đến “khai hoá văn minh” cho nhân dân ta. Giáo Hội và tín đồ của Giáo Hội bô bô cái miệng như vậy mà không biết ngượng mồm. Sự kiện này nói lên cái bản chất bịp bợm, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật lọng, tráo trở, đổi trắng thay đen, ăn không nói có của Giáo Hội La Mã và của tín đồ ngoan đạo của Giáo Hội, đúng như học giả Da-tô Phan Đình Diệm ghi nhận:

    “Giáo Hội giả trá, gian manh, buôn thần bán thánh, vô đạo đức”,… “Giáo Hội Công Giáo Rôma đào tạo sản xuất hàng triệu triệu “cái lưỡi không xương” để tuyền truyền nhồi sọ một nền “thần học không xương nhiều đường lắt léo vòng vo”. “Nghề thầy cúng Men-ki-sê-đê”, “cái nghề thầy cúng tồi tàn, giả hình, bất lương, vừa thất học, vừa ham danh lợi, vừa lười biếng…”, “Cái nghề thày cúng bịp bợm, cướp cạn, vô luân, làm đảo điên gia đình và xã hội…” [61] .

    Trên đây là bản chất “bịp bợm”và “tin tưởng vào bạo lực”, dùng bạo lực làm phương tỉện để đạt được mục tiêu và cũng là những thành tích cướp nước, cướp của giết người của Giáo Hội, thành tích của tu sĩ và tín đồ Da-tô dựa vào quyền lực của các đạo quân Liên Minh Pháp – Vatican để chiếm đoạt tài nguyên quốc gia, đốt nhà, đốt miếu, phá đình, phá chùa, giết người, hãm hiếp đàn bà con gái và cướp của, vơ vét tiền bạc của đất nước và nhân dân ta trong thời kỳ 1858-1945 đem về làm giầu cho kho nhà Chúa của Vatican.

  275. concun permalink

    Chùa Lá Vàng ở Quảng Trị bị Da-tô cướp đổi thành Nhà Thờ La Vang.- La Vang là tên gốc của làng Cổ Vưu có từ thời Nhà Lê, đến đời Gia Long đổi là phường Lá Vàng, nằm ở phía Tây đồn Dinh Cát, thủ phủ địa đầu của Việt Nam từ năm 1307, khi vua Chiêm Thành Chế Mân hiến dâng Nhà Trần hai châu Ô và Lý làm lễ cưới Huyền Trân Công Chúa. Hiện nay La Vang (Lá Vàng) thuộc xã Hải Phú, quận Mai Lĩnh, tỉnh Quảng Trị, ở về phía nam Quảng Trị khoảng 6 km và ở về Bắc Phú Xuân (Huế) khoảng 58 km.

    Năm 1797, “Vua Cảnh Thịnh Nhà Tây Sơn đã có lần bắt được mật thư của Nguyễn Ánh gửi Giám-mục Labarlette, xin giám mục tổ chức một đạo quân nội ứng gồm tín đồ Ki-tô Giáo tại chỗ, tiếp trợ cho lực lượng quân đội Pháp chỉ huy đánh từ ngoài vào.” (Le roi Canh Thinh des Tay Son intercepta un jour une lettre secrête que Nguyen Anh avait envoyé à Mgr Labarlette, lui demandant d’organiser à l’interieur une armée de chretiens) pour seconder les forces commandés par les francais.) – (Trần Tam Tinh , Dieu et César, Les Catholiques Dans Lihistore du Vietnam, 1978, p. 29).

    Chính vì thế Nhà Tây Sơn buộc phải triệt hạ Da-tô, nên:

    Ngảy 17/8/1798, Vua Cảnh Thịnh ra sắc dụ cấm đạo Da-tô kể từ Phú Xuân đến Bắc Hà, vì đây chỉ là “đạo dạy mê tín, dối gạt dân chúng và làm đảo lộn trật tự xã hội.” [Tạ Chí Đại Trường, Lịch Sử Nôi Chiến Ở Việt Nam [California: An Tiêm, 1991), tr. 309.]

    Năm 1823, dưới triều Minh Mạng, chùa Lá Vàng thờ Phật Bà Quan Âm bị những người Da-tô cướp phá và đổi thành nhà thờ La Vang Phật Bà Quan Âm đổi thanh Ma ria đồng trinh.” [51]

    Ngoài những vụ ăn cướp chùa trên đây, sách này còn ghi nhận những hành động cướp đất và tiền bạc dưới đây cũng do Giáo Hội La Mã chủ trương, xin tóm lược như sau:

    4.- “Chùa Thiên Mụ xây năm 1601 bị Da Tô đánh cướp 32 pho tượng vàng y.”

    5.- Chùa Diệu Đế bị Da-tô cướp đất:

    Năm 1885, Chính quyền Da-tô Thực Dân lấy Cát Tường Tư Thất làm sở đúc tiền và lấy Trí Tuệ Tịnh Xá làm phủ đường Thừa Thiên – lấy một tăng phòng làm Nhà Lao của tỉnh và một tăng phòng làm trụ sở cho trụ sở cho Khám Thiên Giám.

    Năm 1887, chính quyền Da-tô triệt hạ một số căn nhà khác trong chùa..

    Năm 1910, chính quyền Da-tô lại triệt hạ Đào Nguyên và thay vào bằng hai nhà nhỏ thờ Kim Cang. [Nguyễn Quang Tuân, Những Ngôi Chùa Danh Tiếng, 1991, tr.115] .

  276. concun permalink

    Các vị chức sắc TCG người Pháp và đặc biệt là hai ông Ngô Đình Thục và Ngô Đình Diệm đã gieo vào lòng giáo dân TCG niềm tin “Đức Mẹ” được đồn là đã hiện ra để an ủi che chở cho giáo dân Trí Bưu La Vang. Niềm tin do ý đồ chính trị tạo nên đã biến thành niềm tin tín ngưỡng của một số đông giáo dân. Mà theo niềm tin tín ngưỡng TCG mà tôi đã được học tại Đại học Văn khoa Huế là “mặc khải” không cần tư liệu lịch sử, không cần hợp lý hay không, chỉ có “tin” hay “không tin” mà thôi. Do đó tôi viết bài nầy không nhằm mục đích hướng đến các giáo dân đã sùng kính “Đức Mẹ” La Vang mà chỉ nhắm phanh phui những điều thiếu khoa học của “những tài liệu sử” mà các nhà viết sử TCG đã công bố, và công bố những điều có liên quan đến nhà thờ La Vang mà các nhà viết sử TCG đã tảng lờ. Tôi viết bài nầy cũng như hàng chục tham luận khoa học lịch sử khác về đề tài “Triều Nguyễn và Huế xưa” của tôi trong mấy chục năm qua để góp phần làm sáng tỏ những sai lệch, những bí ẩn lịch sử đã diễn ra trong thời gian đất nước bị ngoại xâm và cuộc chiến tranh trường kỳ giải phóng dân tộc. Đây cũng là trách nhiệm của người cầm bút đời nầy tránh cho các thế hệ mai sau, khỏi nhầm lẫn sử dụng những chuyện hư cấu, lời đồn đại, chuyện do người đời sau dàn dựng cho quá khứ làm tài liệu lịch sử.

    Tôi biết tham luận của tôi sẽ làm cho nhiều cây bút TCG không bằng lòng như họ đã không bằng lòng với những bài viết của chính những cây bút TCG. Để tiếp cận được chân lý khoa học, tôi mong được các bậc thức giả trong và ngoài TCG góp ý cho bài viết nầy. Trước khi kết thúc, tôi xin chân thành cám ơn Đức Cố Lê đã cho tôi được trích lại nhiều tư liệu của ông, cám ơn hương hồn Linh mục Nguyễn Văn Ngọc đã cho tôi được tiếp cận với “tư liệu lịch sử” của đền thờ La Vang gần ba mươi năm trước. Xin cám ơn tất cả.

    Ngày 11 tháng 11 năm 2005

  277. concun permalink

    Bản niên biểu cho thấy: Từ ngày bắt đầu xây dựng (1886) cho đến trước ngày Giải phóng miền Nam Việt Nam (1975) với lịch sử gần 90 năm (không tính thời kỳ truyền khẩu trước năm 1885), chứng tỏ nhà thờ/đền thờ/“Tiểu Vương Cung Thánh Đường”/Thánh Địa “Đức Mẹ” La Vang là “công đức” to lớn của các các vị Giám mục, linh mục Pháp (có gắn bó với thực dân Pháp) và Tổng Giám mục Ngô Đình Thục và Chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Vì thế, ngày nay khi viết lịch sử Nhà thờ La Vang phục vụ tín đồ TCG và khách tham quan La Vang cần quan tâm tránh gây sốc đối với các phong trào yêu nước đã tham gia chống thực dân Pháp[10], chống Đế quốc Mỹ xâm lược, đồng thời quan tâm đến tín đồ các tôn giáo khác đã từng là nạn nhân của anh em nhà họ Ngô, kể cả con cháu của những người đã từng bị anh em nhà họ Ngô bắt buộc phải đóng góp tiền của để xây dựng nhà thờ La Vang.

  278. concun permalink

    “ Vừa nắm được chính quyền, anh em ông Diệm đã vội nghĩ ngay đến việc trùng tu nhà thờ La Vang rồi nâng lên hàng (Tiểu) Vương Cung Thánh Đường. Vào ngày 9-3-1960, ngôi nhà thờ này được Toà Thánh Vatican tặng một cây sáp. Ngày 17-8-1961, Ngô Đình Thục tổ chức một đại lễ “dâng hiến Đức Mẹ hiện ra cách đây 160 năm” có đại diện các đoàn thể và hàng vạn giáo dân tham dự. Điểm cay đắng là ban đầu dân chúng chỉ tưởng anh em ông Diệm tôn vinh một ngôi giáo đường của tôn giáo mình mà thôi, ai ngờ họ còn muốn biến nhà thờ La Vang thành một trung tâm phát huy tinh thần của quốc gia cho toàn dân toàn quốc. Chẳng những trong việc trùng tu nhà thờ La Vang tiền bạc đóng góp là của cả người dân Lương mà đứng đầu danh sách lễ dâng hiến này là Phó Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà, một Phật tử. Ngô Đình Thục còn cho dựng một tấm bảng lớn bằng xi măng cốt sắt với hàng chữ “Pháo Đài Tinh Thần của Quốc Gia” (The Spiritual Bastion of The Country) để 15 triệu dân miền Nam, dù đại đa số là tín đồ của các tôn giáo khác, phải mặc nhiên công nhận một ngôi nhà thờ của Thiên Chúa giáo như là biểu tượng chính trị và văn hoá của quốc gia, như là thành trì tinh thần của dân tộc” (Sđd. tr.455).

  279. concun permalink

    La Vang được chọn làm Trung tâm Thánh mẫu toàn Quốc từ khi nào ?

    Tài liệu:

    1- Báo “Mẹ Việt-Nam”, số đặc-biệt 102 ra ngày 15-8-98, có đăng bài “Linh-Địa La Vang” về sau sửa chữa in lại trong sách Thuyền Ai Đậu Bến Văn Lâu (do tác giả xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2001) từ tr.175 đến 198, của Nguyễn Lý Tưởng, với đoạn kết luận như sau:“Hội-Đồng Giám-Mục (Việt Nam) họp ngày 01-05-1980 đã chấp-thuận chọn La Vang làm Trung-Tâm Thánh-Mẫu Toàn-Quốc”.

    2- Trong bài báo của Vatican đăng trên “L’Observatore Romano” kể trên, có đoạn: “Qua Bức Thư Chung (của Hội-Đồng Giám-Mục Nam Việt-Nam) đề ngày 8-8-61, La Vang đã được công-nhận là Trung-Tâm Thánh-Mẫu Toàn-Quốc. Sau ngày 30-4-75, tất cả giám-mục của Việt Nam, họp tại Hà Nội ngày 1-5-80, đã long-trọng chấp-thuận việc tiếp-tục chọn La Vang làm Trung-Tâm Thánh-Mẫu Toàn-Quốc…”

  280. concun permalink

    Cuốn sách nầy hấp dẫn tôi vì có đăng bài vãn La Vang mà nhiều sách văn học dân gian ở Huế chưa từng biết. Linh mục Nguyễn Văn Ngọc soạn cuốn Linh địa La Vang để phục vụ Đại hội Toàn quốc La Vang năm 1970. Về sau, tôi được biết vào năm 1978 Nguyệt san “Trái Tim Đức Mẹ” ở Mỹ tái bản và tôi đã nhờ một người bạn định cư bên Mỹ mua làm quà cho tôi một cuốn. Trong bộ tư liệu về Nhà thờ La Vang của tôi có nhiều bài viết về La Vang nhân lễ “Tôn Vinh Đức Mẹ La Vang Giữa Lòng Giáo-Hội Hoa Kỳ” năm 1998, đọc kỹ những tài liệu nầy tôi thấy phần rất lớn các nhà báo nhà nghiên cứu tìn đồ TCG đã sử dụng tài liệu trong cuốn sách của Linh mục Nguyễn Văn Ngọc. Và cũng ghi thêm thông tin nầy: Trong mấy năm qua, tôi cố tìm lại các bạn từng học Đại học Văn khoa với tôi hồi đầu những năm sáu mươi để mượn những tờ Nguyện San Đức Mẹ La Vang thời TGM Ngô Đình Thục để tìm tài liệu lịch sử La Vang thì được các bạn tôi cho biết “tất cả những thông tin “lịch sử” có “giá trị” trong các tờ Nguyệt san thuở ấy đã được Linh mục Nguyễn Văn Ngọc sử dụng đưa vào sách của ông. Nên khi đã có Linh địa La Vang thì không cần tìm “Nguyệt san Đức Mẹ La Vang nữa”.

  281. concun permalink

    Nhà Huế học vĩ đại – Linh mục Léopole Cadière, người thầy của các thế hệ nghiên cứu Huế suốt thế kỷ XX cho đến ngày nay, từng làm cha sở Trí Bưu – Quản hạt Dinh Cát trong đó có nhà thờ La Vang, từng “tham gia tổ chức Đại hội La Vang vào ngày 9.8.1910 (Lê Ngọc Bích, Nhân vật Giáo phận Huế, tập II, Huế 2000, t. 42), không hề viết một dòng nào nói về sự tích Bà Maria hiện ra ở La Vang cả . Phải chăng chuyện Đức Mẹ hiện ra ở La Vang không có thật nên Linh mục Cadière là một nhà sử học chân chính không có tài liệu gì nên không viết ?

    Linh mục Phan Phát Huồn tác giả sách Việt Nam Giáo Sử, quyển I ( 1533-1933 ), (Cứu Thế Tùng Thư SG 1965) – Bộ sử chính của TCG ở Việt Nam (dày 608 tr.) không hề nói đến lịch sử sự tích Bà Maria hiện ra ở La Vang. Trong cuốn sách quan trọng nầy khi viết về “Công cuộc truyền giáo ở miền Trung…(1888-1933), sau ngày Thất thủ Kinh đô (7.1885) Thực dân Pháp cai trị nước ta, tác giả chỉ lưu ý một việc có liên quan đến Nhà thờ La vang là “Một sự kiện lịch sử được chú ý nhất trong thời gian nầy là việc khánh thành Thánh đường Đức Mẹ Lavang thay thế cho ngôi thánh đường đã bị phá hủy vào năm 1885”. Tác giả Phan Phát Huồng xem Thánh đường “Đức mẹ” La Vang cũng như tất cả các thánh đường mang tên Đức Mẹ khác nên chẳng có gì đặc biệt để viết.

    Tài liệu viết về Nhà thờ La Vang phong phú nhất xuất hiện ở Giáo phận Huế từ sau ngày Tổng giám mục – Ngô Đình Thục – bào huynh của đương kim Tổng thống Ngô Đình Diệm thời bấy giờ, về lãnh đạo giáo phận Huế (12.4.1961). Để cổ vũ cho La Vang, TGM Ngô Đình Thục đã cho ra đời Nguyệt san Đức Mẹ La Vang (số 1 xuất bản vào tháng 8/1961) (Lê Ngọc Bích, tr.266). Năm 1962, học Đại học Văn khoa Huế tôi có được đọc tờ nguyệt san nầy, còn nhớ tập san đã một số quan chức chính phủ Diệm cúng tiền xây dựng nhà thờ La Vang đứng đầu là Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ và các Bộ trưởng của Chính phủ Ngô Đình Diện, nhưng vì đó là một tập san “nội bộ” của TCG nên những người ngoài đạo như tôi không giữ làm gì. Sau năm 1975, trên đường đi tìm tư liệu Huế (tư liệu sống) nhiều lần tôi được hỏi chuyện Linh mục Nguyễn Văn Ngọc ở nhà thờ Francisco trên đường Nguyễn Tri Phương Huế và được Linh mục cho đọc một số trước tác của ông, trong đó có cuốn Linh địa La Vang.

  282. concun permalink

    Đi tìm tư liệu lịch sử Nhà thờ La Vang

    Năm 1998, các họ đạo TCG của người Việt tại Hoa Kỳ, đã tổ chức một lễ “Tôn vinh Đức Mẹ La Vang giữa lòng Giáo-hội Hoa Kỳ” nhân kỷ niệm 200 năm diễn ra sự kiện “Đức Mẹ Maria hiện ra ở La Vang thuộc tỉnh Quảng Trị”. Theo những người tổ chức cuộc lễ nầy thì cái mốc khởi thủy của truyền thuyết Đức mẹ hiện ra ở La Vang bắt đầu vào năm 1798 thời vua Cảnh Thịnh của Phong trào Tây Sơn, trước khi Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long (1802) bốn năm. Theo tài liệu của TCG thì vua Cảnh Thịnh đàn áp người theo TCG nên Đức bà Maria hiện xuống bảo vệ an ủi con chiên ở La Vang”. Trong lúc đó TCG giúp Nguyễn Ánh/Gia Long đánh bại vua Cảnh Thịnh, theo lô-gích thông thường thì các tín đồ TCG ở La Vang thời ấy phải biết ơn vua Gia Long và ngược lại vua Gia Long phải ghi công Đức Bà đã xuất hiện ở La Vang đứng về phía Nguyễn Ánh/Gia Long. Nhưng rất tiếc trong tất cả các bộ sử của nhà Nguyễn không hề có một từ nào nhắc đến vấn đề nầy.

    Trong lịch sử TCG nhập vào Việt Nam từ thế kỷ XVII cho đến cuối thế kỷ XIX, không bao giờ thiếu mặt các vị Thừa sai TCG trên đất Việt, tất cả những sự việc liên quan đến việc TCG trên đất Việt đều được báo cáo về Vatican. Những báo cáo ấy liên quan đến lịch sử Việt Nam là một kho tư liệu rất quý đối với các nhà nghiên cứu lịch sử cận và đương đại Việt Nam. Việc Đức Mẹ Maria hiện ra ở La Vang nhiều lần (nếu có) vào năm 1798 là một phép lạ, một sự kiện hết sức huyền nhiệm, có ý nghĩa rất to lớn, không những đối với tín đồ TCG Việt Nam mà còn có ý nghĩa với tất cả con chiên trên toàn thế giới. Nhưng mãi cho đến nay chưa ai tìm được một báo cáo nào của các vị Thừa sai gởi về Vatican có đề cập đến La Vang cả (từ cuối thế kỷ XVIII đến đến đầu thế kỷ XX). Phải chăng sự kiện Đức mẹ Maria hiện ra ở La Vang không có thật nên không được đề cập đến trong những báo cáo của các vị Thừa sai gởi về Vatican?

  283. concun permalink

    Nhắn với bạn đọc: Vì trước đây, có nhiều tiệm sách hải ngoại bị “cấm bán” sách “Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư” của thầy Nguyễn Mạnh Quang, một số khác không chịu bán, nên người đọc rất khó tìm sách này. Nhưng rốt cuộc thì tác giả cũng đã không còn sách này nữa.

    Trong khi chưa được tái bản, bạn đọc có thể tìm thử trong thư viện của thành phố nào đó hay đại học nào đó. Xin bạn xem xét, nếu có trang nào bị mất hay bị xé, bạn nên nhờ quản thủ thư viện tìm xem ai là người mượn trước đây để tìm hiểu sự việc.

    Tự do ngôn luận của giáo gian là bưng bít sự thật về chế độ Diệm.

  284. concun permalink

    “Đức Giáo Hoàng Grégoire XVI đã gọi tự do báo chí là ”thứ tự do tai hại nhất, đáng ghét nhất kinh tởm nhất mà một số người dám đòi hỏi một cách ồn ào cuồng nhiệt và quảng bá khắp nơi…”

    Lý Chánh Trung, Tôn Giáo và Dân Tộc (Sàigòn: Lửa Thiêng, 1973), tr. 76.

  285. concun permalink

    Cũng vì thế mà Giáo Hội La Mã và bọn tín đồ Da-tô cuồng tín người Việt thù ghét Việt Minh y hệt như Vatican và những Da-tô cuồng tín Âu Châu

    – thù ghét phong trào Tin Lành,

    – thù ghét các nhà trí thức và tư tưởng gia trong Thời Đại Lý Trí (Age of Reason),

    – thù ghét Cánh Mạng Pháp 1789,

    – thù ghét Anh Hoàng Henry VIII (1491-1547),

    – thù ghét nhà Cách Mạng Anh Oliver Cromwell (1599-1658),

    – thù ghét cuộc Cách Mạng Vinh Quang Anh 1681 (The Glorious Revolution of 1688),

    – thù ghét Đạo Luật Ổn Định 1691 của nước Anh (the Act of Settlement of 1691),

    – thù ghét Cách Mạng Pháp 1789, thù ghét Cáchy Mạng Mễ Tây Cơ 1857,

    – thù ghét Cách Mạng Ý 1870,

    – thù ghét Cánh Mạng Nga 1917,

    – thù ghét Cách Mạng Tây Ban Nha 1936,

    – thù ghét Cách Mạng Trung Quốc 1949,

    – thù ghét Cách Mạng Cuba 1959, v.v…

    Các từ “cách mạng”, “nhân quyền” cũng như các cụm từ “dân chủ tự do”, “tư do tư tưởng”, “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí và “tư do tôn giáo” đã trở thành dị ứng và những điều cấm kị đối với Vatican cũng như đối với giới tu sĩ áo đen và tín đồ Ca-tô ngoan đạo (cuồng tín). Đây là sự thật lịch sử, và sự thật này đều được sách sử ghi lại rõ ràng. Sách Tôn Giáo Và Dân Tộc viết:

  286. concun permalink

    Trích trong Ba chuyến đi của mẹ của con chiên trên Việt báo. Con chiến này áp đặt tôn giáo của hắn lên toàn thể nhân loại ngoại đạo như đạo Hồi, đạo Phật, đạo Bàlamon….
    Và chuyến đi cuối cùng của Mẹ, cái định mệnh của con người trần thế, cái gia tài của tổ tông loài người Adam va Eva để lại: sự chết

    đã vậy còn kết luận:
    Con xin dâng lên Chúa lời kinh nguyện thay cho Mẹ hiền.”Chúa thương yêu những người kính sợ Người, Người đã biến đổi những phận hèn tôi tớ được trở nên cao ca.”

    Sao ngu dữ vậy?. Mắc mớ gì tôi phải kinh sợ Chúa. Kinh sợ, chắc là ác lắm nên mới kinh sợ.
    Vậy toàn bộ dân ngoại đạo đều là hèn, là tôi tớ!!!.
    Ngu trầm trọng, đàn bà từ cái xương sườn của đàn ông ra.
    Hèn chi chúng tự nhận chúng là cừu.

  287. concun permalink

    orn in 1980 in Salinas, California, Jodi Arias made headlines when she was charged with murdering her ex-boyfriend, Travis Alexander, in 2008. Alexander’s body was found in the shower of his Mesa, Arizona, apartment by friends on June 9, 2008, five days after he was brutally murdered—he had been shot in the head and stabbed 27 times, and his throat had been slit from ear to ear. Testimony in Arias’s trial began in January 2013

  288. concun permalink

    Các công tố viên ở Arizona sẽ bắt đầu tranh luận ngày hôm negative 32 tuổi Jodi Arias nên chết vì các vụ giết người đặc biệt tàn bạo của bạn trai một thời gian của mình, Travis Alexander, người được tìm thấy đã chết in showering của mình cách đây bốn năm.

    Các nhà điều tra nói rằng Arias đâm Alexander 27 lần, cắt cổ và bắn vào đầu tại nhà Mesa, Arizona, vào tháng Sáu năm 2008. Arias, người đã bị giam giữ kể từ khi cô bị bắt, đã không nhận tội giết người cấp độ đầu tiên.

    “Tôi không làm tổn thương Travis. Tôi sẽ không bao giờ làm tổn thương Travis,” Arias cho biết trong một cuộc phỏng vấn Jailhouse sau khi cô đã bị bắt vào tháng 7 năm 2008. “Tôi sẽ run lên trong những đôi ủng của tôi ngay bây giờ nếu tôi đã có câu trả lời cho Đức Chúa Trời là một tội ác ghê tởm như vậy.”

    Arias và Alexander đã gặp nhau tại một hội nghị làm việc sáu năm trước. Arias cho biết họ đã yêu nhau, đi du lịch nước với nhau, và tăng cường quan hệ của mình để Mormon mộ đạo, cô thậm chí chuyển đổi tôn giáo của mình. Tuy nhiên, bạn bè của Alexander nói rằng sau khi hẹn hò với một vài tháng, ông đã cố gắng để phá vỡ nó.

    Phần này không phải tôi dịch nhe, ai dịch không biết mà chính tôi đọc cũng không hiểu, tôi phải delete bớt hai chữ CỦA MÌNH.
    Nguyên văn:
    cắt cổ của mình—

  289. concun permalink

    Jodi là một cô gái mảnh mai, tóc dài, baptized ( rửa tội hay theo đạo) rồi, vậy mà cách giết người yêu cũ của cô ta thật là rùng rợn.

  290. concun permalink

    Travis Victor Alexander was born on July 28, 1977,[6] in Riverside, California. After his father’s death, Alexander and his siblings were taken in by their paternal grandmother, Norma Jean Preston Alexander Sarvey (1932–2012), who eventually introduced them to The Church of Jesus Christ of Latter-day Saints.[7]

    Alexander was a salesman for the multilevel marketing company Prepaid Legal Services; he also worked as a motivational speaker.

    Jodi Ann Arias was born on July 9, 1980, in Salinas, California. She and Alexander met in September 2006 at a Prepaid Legal Services conference, located in Las Vegas, Nevada. On November 26, 2006, Arias was baptized into the Latter-day Saint faith by Alexander.[8] As of February 2, 2007, Alexander and Arias were a couple.[6][8] After the two broke up on June 29, 2007, Arias moved to Mesa, Arizona,[9] until April 2008, at which time she moved to her grandparents’ house in Yreka, California.[10]

  291. concun permalink

    On June 4, 2008, Travis Alexander, a salesman, was killed at his home in Mesa, Arizona; his murder and the subsequent criminal trial have received widespread media attention.[1][2][3][4] Alexander’s injuries consisted of multiple stab wounds, a slit throat, and a shot to the head; the medical examiner ruled his death a homicide.

    Jodi Arias, Alexander’s ex-girlfriend, was charged with his murder, and her trial began on January 2, 2013. Arias testified that she killed Alexander in self-defense. She was found guilty of first-degree murder on May 8, 2013.[5]

    The case gained significant attention from the news media, and was considered by many as an example of both trial by media and a media circus.

  292. concun permalink

    Đầu lâu, bộ xương người, đầu rơi máu chảy…có thể thấy đầy trong sách báo, lễ hội Halloween…
    Dân tại Mỹ mở TV lên là thấy trong phim ảnh chỉ toàn là vợ hại chồng, chồng hại vợ, bạn bè hay mọi người chung quanh ám hại lẫn nhau!!!!
    Thực tế ngoài đời: Từ lâu lắm rồi vợ chồng Kito âm thầm mưu hại giết hại lẫn nhau.
    Quý vị có thể kiểm chứng bằng cách coi TV những đài vụ án, tin tức,.. xảy ra liên tục dù cho luật pháp có trừng trị!!!!!!!!!!.

  293. concun permalink

    Văn hoá Kito tại miền Nam trước 75 đào tạo ra những lớp người: háo danh, khoe khoang, hèn nhát, bạo lực, chửi thề ( bắt chước mấy thằng Kito: F…F), gái gú, trinh ( mặc dù bà Ma ria đẻ con làm mẹ vẫn còn trinh!!!), thiếu sự suy nghĩ do Vatican nói sao hay vậy.
    Người viết sẽ cung cấp các website để cho người đọc kiểm chứng.
    1. Hải ngoại phiếm đàm. Các chiến sĩ này chống cộng nhưng phải kèm theo gái nude.

  294. concun permalink

    Văn hoá Kito và sự di hoạ của nó tại miền Nam.
    Chính người của VNCH xác nhận trên diễn đàn Vietland rằng: Giáo dục VNCH cần coi lại vì nó đào tạo 30-40 % là những thằng chó đẻ.
    Riêng người viết đã từng chứng kiến từ trong nước ra tới hải ngoại xin được trình bày như sau:
    Văn hoá Kito do con chiên Bắc kỳ Kito truyền vào VN và văn hoá Kito của dân nhập cư và dân Mỹ tại xứ Mỹ.
    Người viết chỉ muốn đem sự nguy hại này cho dân đạo Phật hay thờ ông bà biết để mà tránh tai hoạ vì thiếu sự hiểu biết.

  295. concun permalink

    Lúc lên Đại học tôi phải thận trọng trước những hành vi có liên quan đến thời cuộc. Một linh mục dạy sử rất thương tôi có lần bảo: “Ông Diệm là người được Chúa giao nhiệm vụ cai trị nước Nam, mạng ông ấy lớn lắm, không ai làm chi ông được đâu !”. Tôi cũng thấy như thế. Năm 1957 (ngày 22.2), ông Diệm lên Ban Mê Thuột khai mạc Hội chợ Kinh tế, bị Hà Minh Trí nổ súng ám sát, bộ trưởng Cải cách điền địa bị thương nặng còn ông Diệm không hề hấn gì. Ngày 11.11.1960 đại tá nhảy dù Nguyễn Chánh Thi tổ chức đảo chánh, đã bắt được ông Diệm lên đài phát thanh tuyên bố rời chức nhưng rồi ông lại có quân đến cứu, ông lật lại và những người đảo chính ông phải xa chạy cao bay. Chế độ Diệm có được một cơ hội triệt hạ tất cả những người không ăn cánh với anh em nhà ông. Tại Huế dựng lên Vụ “Gián điệp miền Trung” ông Cẩn cho bắt hàng loạt các nhà tư sản ở Huế để tống tiền như chủ các hiệu buôn Rồng Vàng, Thái Lợi, Nguyễn Văn Yến, Đức Sinh…. Ngày 27.2.1962, hai phi công miền Nam Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc lái hai máy bay AD6 dội bom xuống khu vực sinh hoạt của gia đình họ Ngô trong Dinh Độc Lập, một góc Dinh sập nát. Lúc ấy trong Dinh có đủ mặt ông Thục, ông Diệm, ông bà Nhu và các con cháu nhà họ Ngô Đình nhưng chỉ có bà Nhu bị mảnh ngói làm sây sát ở mặt một chút, còn ngoài ra không ai việc gì. Thế mới biết tánh mạng mấy người ấy to đến chừng nào. Gia đình họ Ngô là các Thừa sai của Chúa cai trị miền Nam, thần thánh nào có thể làm ngược lại ý Chúa được !

    Tôi là một sinh viên nghèo gia đình ở nông thôn, chỉ gắn với Huế ở chỗ ngồi trong lớp học và bên cạnh tấm bảng đen những gia đình tôi đến làm gia sư trên đường Phan Bội Châu (Phan Đăng Lưu ngày nay) và đường Trần Hưng Đạo trước chợ Đông Ba. Trong môi trường Đại học, dù có qui chế tự trị nhưng thực chất Tổng hội Sinh viên Đại học Huế lúc đó do Đoàn Sinh viên Công giáo (SVCG) nắm giữ, mọi sinh hoạt của sinh viên đều mang tính Thiên chúa giáo. Những sinh hoạt đó xa lạ với tôi nên tôi luôn đứng bên lề sinh hoạt có tổ chức của sinh viên. Chế độ Ngô Đình Diệm và ngôi trường Đại học Huế là một. Đó là một thực thể dù tôi muốn hay không muốn nó vẫn thế. Chúa đã sắp đặt như thế rồi.

    Nhưng bất ngờ…

  296. concun permalink

    Cho tới %ầu thế kỷ XXI—dù chính phủ Mỹ %ã nhìn nhận chế %ộ Cộng Sản Việt Nam từ nam 1996,
    bình thường hóa thương mại nam 2001—chưa ai tìm %ược tài liệu nào giúp khẳng %ịnh các lãnh
    tụ Phật giáo là cán bộ Cộng Sản, hay do Cộng Sản giật dây như họ Ngô và thuộc hạ vu cáo. Chỉ
    thấy những cựu lãnh tụ Phật giáo tranh %ấu gục chết trong ngục tù (Thích Thiện Minh), hay %ang
    tiếp tục chống Cộng, ngay trong nội %ịa Việt Nam (Thích Huyền Quang, Thích Quảng Fộ, Thích
    Fức Nhuận) hay hải ngoại (Hòa thượng Tâm Châu, Hộ Giác, v.. v…). Tương tự, vẫn chưa ai trưng
    %ược bằng cớ rằng nam 1963 Mỹ xúi dục lãnh tụ Phật giáo nổi lên chống chế %ộ Diệm. Chỉ là
    những lời cả vú lấp miệng em, bất kể lý lẽ, hoặc chỉ thứ lý lẽ . . . dẻ rách sinh chuột con.
    Trong khi %ó, rất nhiều bằng chứng khẳng %ịnh ông Diệm muốn trở thành một thứ Constantine
    của Nam Việt Nam; và nỗ lực này %ược nhiều nhân chứng, kể cả các nhà ngoại giao Tây phương,
    ghi nhận. Việc ông Diệm tiếp tục áp dụng Dụ số 10 của Bảo Fại (nhìn nhận Ki-tô giáo là tổ chức
    tôn giáo duy nhất hoạt %ộng không phải xin phép chính phủ); hay dành %ộc quyền Nha Tuyên ủy
    trong quân %ội cho Ki-tô giáo; và thành lập Fại học Ki-tô Fà Lạt là ba bằng chứng rõ ràng nhất.
    Những lời Bảo Fại và Giám mục Lê Hữu Từ chỉ trích ông Diệm nam 1954-1955 cung chứng minh
    rõ giấc mơ Constantine của anh em họ Ngô. Thêm một bằng chứng khác nữa là báo cáo ngày
    10/3/1962 của Fại sứ Lalouette về những %ặc quyền dành cho Ki-tô giáo.(Chính Fạo, Việt Nam
    Niên Biểu, I-C: 1955-1963, tr. 248-9) Tổng Giám Mục Thục thì không những chỉ xen lấn vào thế
    quyền—như gửi gấm Phạm Ngọc Thảo cho ông Huynh Van Lang, nắm %ộc quyền %ấu thầu việc
    phá rừng %ể xây %ại học Ki-tô giáo Fà Lạt—mà còn nuôi tham vọng trở thành Hồng Y Giáo chủ
    %ầu tiên của VNCH. (Xem Chính Fạo, Tôn Giáo & Chính Trị: Phật Giáo, 1963-1967 [Houston:
    Van Hóa, 1994], chương I & Phụ Bản; Cao Van Luận, Bên dòng lịch sử [Sài Gòn: 1974], tr. 328)
    Fó là chưa kể việc ưu tiên cấp học bổng du học cho các giáo dân Ki-tô, dưới sự %iều %ộng của Linh
    mục Luận. Và rồi, cuối cùng, cái “khẩu lệnh” quái ác cấm treo cờ Phật giáo trong mùa Phật %ản
    1963; lệnh “tái lập trật tự” ở Huế và Sài Gòn; lệnh tấn công chùa chiền và bắt giữ hơn ngàn tang ni
    %êm 20 rạng 21/8/1963.
    Ngày

  297. concun permalink

    Bản hiệu triệu của ba ký giả Chu Tử, Hiếu Chân và Từ Chung trên tờ Ngôn Luận, số %ặc biệt chào
    mừng cách mạng thành công ra ngày 4/11/1963—trích lại trên bán nguyệt san Bách Khoa (số 165,
    ngày 15/11/1963, tr. 93) của ông Huynh Van Lang, một cựu lãnh tụ Cần Lao—phần nào nói lên sự
    thực này: Ba nhà báo Chu Tử, Hiếu Chân và Từ Chung tự trách %ã “%ánh %i tâm hồn, cam tâm
    làm gia nô cho họ Ngô trong chín nam qua.” Ngay %ến báo Sài Gòn Mới của Bà Bút Trà, có liên
    hệ với Bộ trưởng Canh Nông Lê Van Fồng, cung than phiền rằng “luôn luôn bị áp bức, khủng bố,”
    “[h]àng ngày phải chịu tram chiều tủi nhục, bắt buộc phải viết những %iều trái ngược với lòng
    mình, %ể hoan hô những cái %iêu ngoa, giả dối, tàn ác, bất nhơn của gia %ình họ Ngô.” (Bách
    Khoa, số 165 [15/11/1963], tr. 93-4; trích trong VNNB, IC: 1955-1963[2000], tr. 391)
    (

  298. concun permalink

    Cho tới nam 1963, sở di ông Minh chưa ra tay vì màng lưới bảo vệ ông Diệm của người Mỹ—sự
    bảo vệ mà cựu hoàng Bảo Fại từng cay %ắng gọi là “mù lòa.” Tướng Minh và các chiến hữu chỉ
    muốn người Mỹ %ừng ngan cản, hay không mật báo cho anh em ông Diệm-Nhu biết kế hoạch %ảo
    chính của mình. Việc Kennedy cho phép Fại sứ Cabot-Lodge toàn quyền hành %ộng, và ông
    Lodge (cung một giáo dân Ki-tô Vatican như Kennedy và anh em ông Diệm) quyết %ịnh không
    thể làm việc với ông Diệm %ược nữa, chỉ mở ra cho Tướng Minh và những người muốn thay %ổi
    chế %ộ cơ hội %ể hành %ộng.
    Hơn nữa, là một Phật tử, Tướng Minh (cung như các ông Lê Van Nghiêm, Fỗ Mậu, v.. v…) không
    thể buông xuôi hai tay làm ngơ trước cảnh anh em ông Diệm ngược %ãi Phật Giáo, lùng bắt sinh
    viên học sinh, vu cáo %ối lập là Cộng Sản. Bề ngoài, ông Diệm ra vẻ rất công bình, tuyên bố “sau
    lưng Hiến Pháp còn có tôi,” %ồng ý thỏa %áp các nguyện vọng của Phật giáo (Tuyên cáo chung
    ngày 16/6/1963 giữa ông Diệm và Hòa thượng Thích Tịnh Khiết), nhưng không thực thi những
    %iều hứa hẹn. Ngược lại, ngầm thả lỏng cho (hoặc không kiểm soát nổi) hai vợ chồng Ngô Fình
    Nhu-Trần Thị Lệ Xuân %ẩy Phật Giáo %ến chân tường. Trong những buổi %àm thoại với viên chức
    Mỹ và Pháp thì %ặt %iều vu cáo Phật giáo bằng những luận cứ mà một người có óc suy luận trung
    bình và lương thiện tối thiểu cung không dám phát biểu.(VNNB, I-C: 1955-1963) Nên chẳng phải
    ngẫu nhiên mà %ầu nam 1973, khi sắp lìa %ời tại bệnh viện Grall, Thượng tọa Thích Thiện Hoa ân
    cần trối trang với hàng tang lữ %ừng bao giờ quên công %ức của Fại tướng Minh với Phật giáo
    trong mùa pháp nạn 1963! (Tôi nghi Hòa thượng Thích Tâm Châu, một lãnh tụ tranh %ấu %ầu
    tiên ở Sài Gòn, cung %ồng ý với nhận xét trên).
    Tóm lại, ghép tội (%úng hơn là vu cáo) ông Minh “nhận lệnh Mỹ” %ể làm %ảo chính không %úng,
    hoặc do thiếu hiểu biết, hoặc, bất chấp sự thực lịch sử: Giữa anh em ông Diệm-Nhu và Tướng
    Minh chẳng còn chút thiện cảm nào %ể mất.

  299. concun permalink

    Nói lại: còn đường vòng đai chạy quanh sát đường biên là cho xe bốn bánh, một đường nữa cho hướng đông – tây, thí dụ như Đắc lắc- cà mau.

  300. concun permalink

    Nếu miền Nam bao gồm Phú Yên thì chúng ta lấy đường interstate từ Phú Yên đến Kiên giang.
    Có nghĩa là tuỳ theo hình thể của miền mà chúng ta lấy đường giữa từ trên xuống hay từ đông sang tây làm trục.
    Đó là cho đường xe bu s, còn đường vòng đai chạy quanh sát đường biên là cho xe bốn bánh, một đường nữa cho hướng bắc -nam ( chính giữa miền) cho xe bon banh

  301. concun permalink

    Tôi mới vừa coi lại bản đồ miền Nam, nó giống như hình thang, vì thế ta phải lấy đường interstate là điểm xa nhất của tỉnh Bình phước kéo dài đến điểm xa nhất của tỉnh cà mau. Từ đây chúng ta kẻ các đường song song, thí dụ như đường Bạc liêu- đồng nai,..Các đường cắt đại khái là vuông góc với các đường này ( còn tiếp)

  302. concun permalink

    Thí dụ, miền nam là một tiểu bang hay một county, chúng ta xây đường freeway có toll thu phí xe, dĩ nhiên freeway chỉ có xe hơi, xe 4 bánh trở lên, không có xe gắn máy, xe đạp, đường này chạy ôm đường biên của miền nam và một đường freeway như thế bắt đầu từ trên xuống dưới , chính giữa miền Nam. Dọc theo bờ phía đông của miền nam, chúng ta có một đường khác từ trên xuống là freeway, khộng thu phí.
    Còn hệ thống xe bu s của miền cứ từ trên xuống, có vài đường song song với nó, cắt ngang là các đường xe bu s, cứ cách khoảng đường là có b u s stop mang số hiệu. Từ trên xuống, ở giữa là đường interstate xe bu s chạy xuyên suốt và từ tây sang đông cũng có đường chạy xuyên suốt, nhiều các đường xe bu s cắt ngang các tuyến đường xe xuyên suốt.

  303. conmeo permalink

    Saigon rất nhỏ, nếu có đường chạy, tôi có thể chạy bằng xe đạp từ quận 6 qua quận bình thanh trong vòng 20 phút. Vì thế không có lý gì mà người VN không thể đi bộ nếu xe bu s không thể ngừng ngay điểm mình muốn xuống, ta có thể đi bộ 5, 10 phút.

  304. conmeo permalink

    Cách giải quyết nạn kẹt xe và tai nạn giao thông tại VN. Tôi nhận thấy nhiều người đóng góp ý kiến có giá trị, rất hiệu quả nhưng không hiểu sao VN không thực hiện. Diện tích VN rất nhỏ rất dễ giải quyết, điều quan trọng là cấm nhập cảng xe gắn máy, tăng số lượng xe bu s, cấm buôn bán trên đường đi bộ, muốn bán phải vào khu vực chẳng hạn như flea ma rket hay plaza.
    Phải có đường đi bộ hay chạy xe đạp cho dân.
    Có người phản biện rất buồn cười như ông này đây:

    Một thành phố với đường hẹp, quá nhiều giao cắt, thiếu chỗ đậu xe; đa số dân sống trong các hẻm, ngách nhỏ, thì phương tiện xe gắn máy là sự lựa chọn tốt nhất cho hầu hết cư dân.
    Phản biện của tôi:
    Hẻm, ngõ của VN ra đến đường chánh, khoảng cách không phải là chuyện quá to tát nếu chỉ là nhà ở và có lối đi bộ. Tuyệt đối không có chuyện buôn bán lấn đường hẻm. Bạn sẽ đi bộ rất nhanh nếu không có gì cản trở trên đường và mọi người tránh né nhường đường.
    Đây là cách giải quyết cho đô thị cũ và chưa có tiền.

    Một thành phố đang tồn tại hạ tầng lạc hậu như vậy liệu đáp ứng được cho sự phát triển xe buýt, nhất là loại xe có khổ lớn như hiện nay? Người dân không muốn sử dụng phương tiện giao thông công cộng không phải vì thói quen, mà chính là vì nó không đáp ứng những yêu cầu về thời gian, về khoảng cách từ nhà đến điểm dừng đậu xe…

    Phản biện:
    Điểm này dễ giải quyết bằng cách lên thời khoá biểu các tuyến đường xe chạy, cứ cách mười phút hay 15 phút là có xe, Saigon quá nhỏ chỉ vì thiếu đường xe đạp chạy!! hoặc cho người chạy bộ.
    Tuyến đường chạy ngang, chạy dọc Saigon, ngừng bất cứ nơi đâu khách hàng muốn và ngừng những điểm chánh những chợ, trường, mall.
    Cách học hỏi là học từ nước ngoài và sửa đổi cho phù hợp túi tiền ta.

    Rất dễ nhận thấy xe bốn bánh chiếm nhiều mặt đường hơn nhưng lại chở ít người hơn. Không những thế, khi qua các giao lộ, do kích thước không phù hợp thường di chuyển chậm gây cản trở phương tiện khác, làm giảm lưu lượng, gây ùn tắc. Những tình huống ùn tắc có sự hiện diện của ô tô thường gây khó khăn cho việc giải tỏa. Bởi ô tô không dễ quay đầu, thoát ra bằng cái cách không mong muốn như là leo lên vỉa hè, chui qua các con hẻm để thoát ra khỏi vùng bị kẹt như xe hai bánh.

    Phản biện.

    Trong thành phố hiện nay không thể sử dụng xe hơi vì đường không có, xe hai bánh không thể leo lên lề chạy vì lề chỉ cho người đi bộ hay xe đạp mà thôi.
    Chính vì thế cần phải sử dụng xe bu s hay xe lam. Xe lớn và xe gắn máy không thể nào cho chạy chung đường.

    Thứ hai: Trong điều kiện yếu kém về hạ tầng, yếu tố chủ quan của con người là cực kỳ quan trọng. Ngoài văn hóa, thành phố cần một hệ thống pháp luật giao thông thật sự mạnh trên cơ sở xử lý nghiêm minh các vi phạm (như xử phạt lỗi không đội mũ bảo hiểm); tăng cường cả về số lượng, chất lượng và trách nhiệm lực lượng cảnh sát để đủ sức giám sát, điều hành trật tự giao thông. Nếu chỉ chú trọng đổ tiền đầu tư cho xây dựng, cho tuyên truyền là chưa đủ. Cần đặc biệt ưu tiên để pháp luật về giao thông được thực thi triệt để.
    Sai.
    Phản biện.
    Người VN hay sắc dân khác phải học hỏi luật lệ đi đường ở Mỹ và nhà nước Mỹ phãi tạo đường đi bộ đường xe hơi và cung cấp phương tiện. Không thể làm đường xấu ổ gà rồi đổ thừa dân.

  305. concun permalink

    Bùi Kha

    14 tháng 9, 2007

    Ngô Đình Diệm – bảy nguyên nhân thất bại

  306. concun permalink

    Những khủng hoảng rối ren sau 1963 là lỗi của các vị tướng lãnh không lịch lãm trên trường chính trị. Những rối ren đó là điều bất hạnh cho các nước nhược tiểu, gồm có Việt Nam, bị làm con cờ thí cho ý thức hệ và quyền lợi của các cường quốc. Và sự rối ren ấy cũng khó ngăn cản được nhất là dưới thời ông Diệm, vì giới tư bản, qua những danh từ hoa mỹ, nhưng không ngoài mục đích cần phải tiêu thụ hết các sản phẩm còn tồn đọng sau Đệ Nhị Thế Chiến.

    Do đó, tư tưởng và hành động của tất cả mọi người dân phải đặt trên nền tảng “Ta về ta tắm ao ta”. Ta thương ta là tình thương trung thành hơn cả. Nên “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”như ông Bụt đã khuyên.

    9. 9. 2003

  307. concun permalink

    Đúng thế, Ngô Đình Diệm xuất thân từ một gia đình ba đời Việt gian, phụ tá nòng cốt là mấy anh em tham nhũng trong gia đình, cậy chức cậy quyền, lực lượng chính qui là giáo hội Công Giáo Việt Nam và trên một triệu con chiên vừa di cư ngoài Bắc vào, cọng với thành phần đã mai phục sẵn trong Nam. 80 % dân chúng miền Nam còn lại bị đặt trong tình trạng báo động thường trực vì họ không cùng một tín ngưỡng và lưng không mềm như người đồng đạo của ông Diệm. Thành phần đông đảo nầy bị chính phủ ông kỳ thị, dụ dỗ rửa tội hoặc vu khống chụp mũ, bỏ tù, tra tấn, giết chết thì lấy ai làm nòng cốt để có được “Một quốc gia Miền Nam riêng biệt không cọng sản”. Hơn nữa, lúc Hồ Chí Minh chưa là cọng sản, mà Hoa Kỳ là quốc gia lãnh đạo chống cọng nhưng có ủng hộ ông Hồ không? Và sau 1975,Việt Nam theo chủ nghĩa nào thì chúng ta đều đã biết. Nhưng người Mỹ có bang giao và bắt tay với họ để làm ăn không? Chúng ta cũng đã thấy. Do đó, xin đừng ngây thơ. Họ theo quyền lợi của họ, ta nên tắm nước ao ta. Nói như vậy không có nghĩa là tôi chống hay chỉ trích ai mà chỉ muốn nói rằng không nên ngây thơ, trọng ngoại và vọng ngoại. Vì bất cứ chính phủ nào cũng phải vì quyền lợi quốc gia của chính phủ ấy. Nếu chúng ta làm Tổng Thống hay Thủ Tướng thì cũng không thể hy sinh quyền lợi của quốc gia mình, ngoại trừ mình là những tên Việt gian bán nước. Tuy nhiên sự khác biệt giữa các lãnh tụ là: Nội chính, biết đặt quyền lợi quốc gia trên quyền lợi cá nhân. Về ngọai giao, tôn trọng quyền lợi của các quốc gia khác để chung sống hòa bình, hay sử dụng luật rừng: con người là lang sói của nhau?

    TÓM LƯỢC:

    Những sử liệu nêu trên cho thấy Tổng thống Ngô Đình Diệm xuất thân từ một gia đình Công giáo Ba Đời Việt Gian, không để lại được một tác phẩm hoặc một bài diễn văn, tự viết, để cho thấy tư tưởng chính trị và chương trình hành động của mình, không tranh đấu và khó nhọc trên chính trường, được thực dân Pháp cho chức Thượng Thư dưới thời Nguyễn mạt. Ông ra hải ngoại, sống từ tu viện nầy sang tu viện khác. Lúc thời cơ đến, ông được ngoại bang bồng về LÀM CÔNG dưới danh vị Thủ Tướng rồi Tổng Thống để thực hiện chính sách và bảo vệ quyền lợi của CHỦ.

    Cọng sự viên thân tín và cũng là những người trực tiếp đẩy ông xuống huyệt là mấy anh em người nhà: tham nhũng, hối lộ, ham quyền, lạm chức.

    Lực lượng hậu thuẫn trực tiếp là Giáo Hội Công Giáo Việt Nam và trên một triệu con chiên. Còn 80 % dân chúng khác tín ngưỡng thì bị đối xử bất công hoặc như kẻ thù, người thì bị tra tấn, tù đày, cưỡng bách cải đạo, kẻ thì bị giết.

    Dối gạt dân chúng, nhất là thành phần quân nhân, để đấu thầu chống cọng thu lượm đô la Mỹ. Không thực hiện được những điều mà CHỦ muốn, lại còn ngầm liên lạc với miền Bắc để kiếm ghế Thủ Trưởng Miền Nam nên bị CHỦ giết. Con người và sự nghiệp của Ngô Đình Diệm giản dị và rõ ràng như thế.

  308. concun permalink

    Giáo sư Tôn Thất Thiện, trong lúc cặm cụi đánh bóng, đã phơi bày sự giả dối của ông Diệm, và làm cho những ai đã từng ca tụng ông vô cùng thất vọng và choáng váng mặt mày vì lời lẽ và ý tứ, trong đoạn 2 và đoạn 3 nêu trên. Vì bài viết của ông Tôn Thất Thiện đã tố cáo ông Ngô Đình Diệm như sau:

    NÓ đang ở bụi nầy, mặt mũi NÓ là thế đó. NÓ cổ xúy quân dân hi sinh xương máu chống miền Bắc để nó và anh em nó lấy tiền viện trợ chống cọng của Mỹ ! Nhưng thực tế, NÓ đã đi đêm với Bắc Việt từ lâu!

    Những thành phần cố xuyên tạc lịch sử, chống Cọng hung hãn trả lời thế nào về chiến dịch chụp mũ và vu khống các giáo phái, đảng phái, các thương gia, nhà văn, nhà báo, nhà giáo, công tư chức…và Phật Tử là Cọng sản để tra tấn, bỏ tù hay thủ tiêu họ dưới thời Ngô Đình Diệm? Hành động ông Diệm đi đêm với cọng sản để kiếm cái chức Thủ Trưởng, một lần nữa đã được xác nhận bởi ông Tôn Thất Thiện, một người có học vị cao và liên tục suốt đời không ngớt viết bài ca tụng Ngô Đình Diệm và được các báo chống Cọng và các báo có khuynh hướng Công Giáo hớn hở đăng tải. Chúng ta cũng nên nhớ thêm rằng, hành động đi đêm với miền Bắc của ông Diệm là vì cái chức thủ trưởng Miền Nam chứ không phải vì muốn thống nhất đất nước và tiết kiệm xương máu của nhân dân.

    Về hành động đi đêm của Diệm, tuần báo Newsweek ngày 24.12. 2001 cũng viết: “ Năm 1963, Chính phủ Kennedy nhận thấy Ngô Đình Diệm Tổng thống miền Nam Việt Nam như là một công cụ của cọng sản và quyết định ‘Diệm phải ra đi’. Nhân viên tình báo Hoa Kỳ phối trí nỗ lực đảo chánh và đưa đến cái chết của ông ta vào tháng 11.” ( 1963 The Kennedy Administration begins to see South Vienamese President Ngô Đình Diệm as acommunist tool and decides that “Diem must go”. The CIA engineers coup attempt that eventually lead to his assassination in November.”

    Đoạn cuối bài viết nói trên, giáo sư Tôn Thất Thiện tiếp tục:

    “Đáng lẽ người Mỹ phải cho rằng họ may mắn được một người đồng minh cở lớn như Ông Diệm, đem lại được hòa bình cho Việt Nam mà đồng thời duy trì được một quốc gia Miền Nam Việt Nam riêng biệt và không cọng sản – và như vậy Hoa Kỳ có thể hãnh diện tuyên bố là họ đã “làm trọn sứ mạng”và rút lui trong danh dự. Đáng lẽ họ phải tuyên dương Ông Diệm là anh hùng và cứu tinh của họ. Thay vì vậy, họ đã chủ mưu lật đổ và ám sát Ông. “Thảm kịch Việt Nam” là ở đó.”

    Vì ơn mưa móc, nên giáo sư Tôn Thất Thiện dùng những lời rất đẹp để ca tụng Ngô Đình Diệm nhưng hoàn toàn không có chứng cớ. Sau đây là thêm một số dẫn chứng:

    a. Tài liệu mật của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ (The Pentagon Papers) bản in năm 1971, từ trang 8 đến trang 26 viết :

    “Năm 1948 và 1949, mối quan tâm càng được gia tăng tại Hoa Kỳ về sự bành trướng của Liên Bang Sô Viết tại Đông Aâu, chính phủ Hoa Thịnh Đốn trở nên lo âu việc liên hệ của Hồ Chí Minh với Cọng Sản. Tuy nhiên, một bản điều tra của cơ quan Tình Báo và Nghiên Cứu của Bộ Ngoại Giao vào mùa Thu 1948 kết luận rằng cơ quan nầy đã không tìm được một chứng cứ chắc chắn nào cho thấy Hồ Chí Minh thực sự làm theo chỉ thị của Mác Cơ Va”( In 1948 and 1949, as concern about the Soviet Union’s expansion in Eastern Europe grew in the United States, Washington became increasingly anxious about Ho Chi Minh’s Communist affiliations. Nevertheless, the account disclosed, a survey by the State Department Office of Intelligence and Research in the Fall of 1948 concluded that it could not find any hard evidence that Ho Chi Minh actually took his orders from Moscow) có nghĩa là cho đến mùa Thu năm 1948, Hồ Chí Minh chưa hẳn là Cọng Sản. Tài Liệu Mật cho biết thêm:

    “Từ tháng 10. 1945, đến tháng 2 năm sau, Hồ Chí Minh viết ít nhất là tám bức thư gởi cho Tổng Thống Truman họăc cho Bộ Ngọai Giao, kêu gọi Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc can thiệp chống lại chủ nghĩa thực dân.

    Tài liệu cho thấy, tất cả các bức thư đó không được trả lời.” (From October, 1945, until the following February, the account continue, Ho Chi Minh wrote at least eight letters to President Truman or to the Secretary of State, formally appealing for United States and United Nations intervention against French colonialism.

    There is no record, the analyst says, that any appealings were answered. P. 8).

    Nội dung của 2 trong 8 bức thư đó có mấy điểm chính, Hồ Chí Minh kêu gọi:

    (1) Hoa Kỳ ủng hộ Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc, (2) giúp Việt Nam độc lập như mẫu Phi Luật Tân, (3) thừa nhận chính phủ lâm thời Việt Nam, (4) có những hành động cần thiết để duy trì hòa bình thế giới, nền hòa bình nầy đang bị nguy hiểm vì các nỗ lực của Pháp để chiếm lại Đông Dương.”

    (In 2 letters, Ho Chi Minh request USA as one of United Nations to support idea of Annamese independence according to Philippines example, to examine the case of the Annamese, and to take steps necessary to maintenance of world peace which is being endangered by French efforts to reconquer Indochina, P. 26).

    Tài liệu mật nêu trên mới thật sự cho chúng ta thấy cái “Thảm kịch Việt Nam” chứ không phải “Thảm kịch Việt Nam” là vì Mỹ giết ông Diệm như giáo sư Tôn Thất Thiện nhận lầm. Thật vậy, như tôi đã nói trong một đọan trước, “Hoa Kỳ không có bạn, không có thù mà chỉ vì quyền lợi mà thôi” Tài liệu cho thấy, cho đến mùa Thu 1948, Hồ Chí Minh chưa hẳn là cọng sản, mà Hoa Kỳ là một quốc gia chống Cọng nhưng đâu có ủng hộ các đề nghị chính đáng của Hồ Chí Minh. Vì sao vậy? Vì họ không thể không biết rằng người có tinh thần ái quốc và không thể sai bảo như Hồ Chí Minh thì làm sao mà chính phủ Truman ủng hộ được. Vì vậy mà Hoa Thịnh Đốn và ngay cả Liên Hiệp Quốc do các cường quốc khống chế nên cũng không trả lời thư của Hồâ Chí Minh. Thực tế, nói thẳng thì mất lòng nhưng rất đúng, vấn đề mấu chốt nằm trong câu nói thời danh của Giám Mục Puginier nhưng cần phải được bổ túc thêm để có được tính phổ quát: “Không có giáo sĩ, mục sư và giáo dân thì người Pháp rồi đến người Mỹ …như cua bị bẻ gảy hết càng”. Vì thế, chúng ta không lấy làm lạ, Đại Tá Lansdale được chỉ thị phải đem gần 1 triệu người Công giáo từ Bắc di cư vào Nam để làm hậu thuẫn cho ông Diệm, và hai thời kỳ Đệ Nhất, Đệ Nhị Cọng Hòa tại miền Nam Việt Nam, tổng thống là người Công giáo vì dễ sai dễ bảo. Và lúc không vừa lòng thì cũng bị giết. Do đó, mới thấy chúng ta vẫn còn ngây thơ chưa tiêu hóa được câu tổ tiên dạy “Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”. Một điểm then chốt khác, Giáo sư Tôn Thất Thiện có học vị tiến sĩ chính trị lại tin rằng ông Ngô Đình Diệm có khả năng “đem lại được hòa bình cho Việt Nam mà đồng thời duy trì được một quốc gia Miền Nam Việt Nam riêng biệt và không cọng sản.” là một nhận định rất sai lầm khác.

  309. concun permalink

    Cũng thế, Giáo Hoàng Pius XII vận động và đề nghị chính phủ Hoa Kỳ thả từ 1 đến 6 quả bom nguyên tử bậc trung xuống Bắc Việt (2) để giải cứu cho quân đội Pháp bị bao vây tại trận Điện Biên Phủ, cũng nhắm đến hai mục đích chính: Một là Vatican có rất nhiều cổ phần trong tất cả các công ty sản xuất khí giới chiến tranh, mà khí giới chiến tranh chỉ có thể tiêu thụ bằng chiến tranh khí giới. Do đó, nếu cuộc chiến Việt Nam chấm dứt thì Vatican và các nhà tư bản có nhiều cổ phần trong các công ty dĩ nhiên là không muốn. Lý do thứ hai là cần cuộc chiến và mượn tay thực dân đế quốc để biến dân Việt Nam thành một quốc gia toàn tòng Công Giáo (và sau nầy có thêm Tin Lành) để dễ thống trị : Hình ảnh con cua gảy càng là một thí dụ rất chính xác của Giám Mục Puginier mà chúng ta nên nhớ làm lòng để giữ gìn quốc gia xứ sở.

    Ngô Đình Diệm không thể sống vì ông là một người làm công không đáp ứng được quyền lợi của chủ. Nói như thế không có nghĩa là tôi chê bai ông Diệm, mà nếu giả sử chúng ta là ông Diệm thì cũng bị giết chết nếu chúng ta không chuẩn bị cho mình cái thế dân tộc và nhân dân hậu thuẫn từ ban đầu. Nhưng rất tiếc, vì cái thế dân tộc, nếu có, của Ngô Đình Diệm là tập đòan giáo sĩ và hơn một triệu con chiên ít học và cuồng tín thì làm sao đứng vững được? Lý do khác mà người ta bỏ ông Diệm vào hòm cũng chẳng phải vì ông Diệm có tinh thần quốc gia dân tộc và độc lập tự cường như một số người bênh vực nhầm, nhưng vì ông Diệm quên rằng khi người ta dẫn ông về thìø ông phải biết cái mà người ta thích, và phải làm cái mà người ta muốn. Điều đó tổ tiên đã dạy rất kỹ nhưng chúng ta có lẽ vì học quá thuộc nên quên chăng: “Ta về ta tắm ao ta”.

    Thêm vào đó, ông Diệm lại ngầm liên lạc với Chủ tịch Hồ Chí Minh để được “bảo đảm” cái ghế “Thủ Trưởng Miền Nam trong Liên Bang Việt Nam sau nầy”, chứ cũng chẳng phải ông Diệm muốn hai miền thống nhất để tiết kiệm xương máu của nhân dân như một vài tay chân bộ hạ bênh vực thiếu cơ sở.

  310. concun permalink

    Không Đáp Ứng Nhu Cầu và Quyền Lợi Của Ngoại Bang

    Những ai có sống trên đất Mỹ nhiều năm hoặc có tìm hiểu về chính sách của chính phủ Hoa Kỳ thì sẽ thấy rằng, họ không có bạn cũng chẳng có thù nhưng chỉ vì quyền lợi mà thôi. Thực vậy, lúc cần phải bang giao với Việt Nam, (một quốc gia thù địch số một vì trong suốt chiều dài lịch sử của Mỹ họ chưa bao giờ thua trận tại một nước nào ngoại trừ Việt Nam), thì mặc cho cọng đồng người Việt nước ngoài (nhất là tại Hoa Kỳ) vận động, biểu tình, chống đối, gởi kiến nghị, dâng thỉnh nguyện thư, nhưng chính phủ Hoa Kỳ sau khi bỏ lệnh phong tỏa kinh tế họ lại ký giao thương với chính phủ Việt Nam, họ có bao giờ quan tâm đến những thành phần mang thù hận ngút ngàn hoặc những kẻ Việt Nam vong bản tha hương!

    Ông Ngô Đình Diệm sau bao năm hết đến Vatican thì trở lại Mỹ, thôi ở tu viện nầy lại đến trú tại tu viện khác. Lúc tình hình chín muồi vì Pháp đã bại trận sau gần 100 năm đô hộ Việt Nam, ông Diệm được Hoa Kỳ đưa về và cho làm Thủ Tướng rồi Tổng Thống trên một phần đất có hơn 80 % dân chúng khác tín ngưỡng với ông. Nhưng lúc ông Diệm vụng về và lộ liễu trong vấn đề kỳ thị tôn giáo làm cho chính phủ Hoa Kỳ khó ăn nói với thế giới, và nhất là lúc họ biết được ông liên lạc với miền Bắc để kiếm một thế đứng khác, thì chính phủ Hoa Kỳ bỏ rơi ông. Do đó, biến cố Phật Giáo năm 1963 chỉ là một phụ lực đẩy thêm cái cánh cửa mục nát đã sút hết bản lề. Đây cũng là một bài học mà những người làm chính trị cần lưu ý.

    Lúc chính phủ Pháp bại trận tại Điện Biên Phủ cũng có nghĩa là lúc Chủ nghĩa Thực-dân và phong trào đi chiếm thuộc địa toàn thế giới bị cáo chung. Và sự chiến thắng của quân đội Việt Minh tại Điện Biên Phủ ở miền Bắc Việt Nam cũng có nghĩa là sự thắng lợi của chủ nghĩa Cọng Sản quốc tế. Vì thế, Hoa kỳ thay chân Pháp mà một trong những mục đích chính là chận đứng sự bành trướng của Cọng Sản quốc tế ở vùng Đông Nam Á, nếu không thì thế ngọai giao của Hoa kỳ trên chính trường quốc tế bị thu hẹp, các đồng minh khinh thường hoặc dần dần xa lánh, và thị trường của Mỹ sẽ bị giới hạn. Điều đó cũng có nghĩa là quyền lợi của giới tư bản trong chính quyền Hoa Kỳ bị thương tổn, kéo theo sự lung lay thị trường chứng khóan thế giới mà các cổ phần của giới tư bản và cổ phần của các tổ chức tôn giáo Tây Phương cũng bị ảnh hưởng theo.

    Thực vậy, mặc dầu nói là dân chủ tự do, nhưng không giàu có thì không thể trở thành Tổng thống hay nghị sĩ dân biểu trên đất Hoa Kỳ. Bằng chứng là Bộ trưởng Quốc phòng McNamara từng là giám đốc công ty hãng xe hơi Ford, và ngoại trưởng Dean Rusk từng là giám đốc công ty khí giới. (Cũng như cuộc chiếm đóng Iraq hiện nay, chính phủ Hoa Kỳ gọi đó là cuộc “Giải Phóng Iraq” (For Iraqi Liberation), nhưng những đoàn biểu tình tại Mỹ lại cho là hành động “Lấy Máu Đổi Dầu” ( Blood For Oil ) vì Iraq là quốc gia có sản lượng dầu hỏa đứng hàng thứ nhì (?) thế giới. Báo Washington Post số ra ngày 28. 8. 03 cho biết rằng công ty Halliburton, do phó Tổng Thống Dick Cheney làm giám đốc trước đây, nhận được hợp đồng 1.7 tỉ Mỹ-kim và một số các hợp đồng khác trị giá hằng trăm triệâu Mỹ-kim mà tất cả đều không thông qua một thủ tục đấu thầu bình thường nào.

    Được đắc cử mà không phục vụ quyền lợi của giới tư bản thì cũng khó sống. Cái giá đó nhiều khi phải trả bằng chính mạng sống của mình như trường hợp Tổng Thống Kennedy, người có dự định rút quân ra khỏi Việt Nam sau khi tái đắc cử nhiệm kỳ 2, trong lúc số khí giới và các sản vật cung ứng cho Thế Chiến Thứ 2 còn tồn đọng quá nhiều chưa có cơ hội tiêu thụ hết để thu lợi nhuận.

  311. concun permalink

    Bóng ma của chế độ Diệm vẫn đè nặng trên sinh hoạt chính trị của miền Nam để điều động những chiếc áo dòng màu đen lăng xăng ở các trung tâm quyền lực. Truyền thống độc tài và bạo trị của gia đình họ Ngô vẫn khống chế dư đảng Cần Lao trong quân đội và ngoài dân sự để thúc giục họ duy trì một chánh sách bạo trị hại dân hại nước. Nói cách khác, ông Diệm chết rồi nhưng những kẻ thừa kế của ông, mà đứng đầu là con chiên Nguyễn Văn Thiệu và các linh mục đầy quyền lực, đã thành công trong việc phục hồi lại cái xác chết đó để làm biểu tượng cho chế độ, một chế độ Diệm không Diệm.

  312. concun permalink

    Sau quân đội là Cảnh sát Công an. Ban đầu vì còn có ông Nguyễn Cao Kỳ làm Phó Tổng thống nên ông Thiệu đồng ý để cho Đại tá Trần Văn Hai (sau khi tướng Loan bị thương trong biến cố Tết Mậu Thân) làm Tổng Giám đốc. Nhưng vì ông Hai thân với đảng Đại Việt và lại là một sĩ quan liêm chính nên muốn nắm vững Công an, ông Thiệu đặt Trung tá Nguyễn Mâu (một đảng viên Cần Lao từng thay ông Nguyễn Văn Đẵng trong chức vụ Tỉnh trưởng Thừa Thiên để đàn áp Phật giáo năm 1963) nắm giữ chức vụ Phụ tá ngành Công an Đặc biệt, một chức vụ sinh sát do Dương Văn Hiếu nắm giữ thời chế độ Diệm. Sau đó, khi Phó Tổng thống không phải là ông Kỳ nữa, Thiệu bèn giao chức Tổng giám đốc Cảnh sát Công an cho ông Nguyễn Khắc Bình, vừa là bà con với vợ Thiệu vừa lại có công với nhóm Cần Lao (Ông Bình đã có công tố cáo với ông Ngô Đình Nhu hành động “phản loạn” của tướng Nguyễn Hữu Có khi ông Có xuống Mỹ Tho tổ chức đảo chánh chế độ Diệm năm 1963).

    Như vậy, với một quân đội có những Cao Văn Viên, Đồng Văn Khuyên, Trần Văn Trung, Bùi Đình Đạm, Huỳnh Văn Lang, Ngô Du, Phạm Quốc Thuần,Đỗ Cao Trí, Trần Văn Minh, Phạm Văn Phú, Nguyễn Văn Toàn, Lữ Lan v.v… nắm những chức vụ then chốt ở trung ương; và với một lực lượng Công an Cảnh sát có những Nguyễn Mâu, Nguyễn Khắc Bình… Thiệu đã vá lại được mạng lưới Cần Lao hoặc Công Giáo bị rách vào năm 1963 để phủ xuống một quân lực mà các thành phần ưu tú và trong sạch nhất thì nằm ở tuyến đầu khói lửa chứ không phải tại các phủ bộ ở thủ đô Sài Gòn.

    Với tình hình an ninh càng lúc càng suy thoái và tiếp nối chính sách quân sự hóa các tỉnh trưởng của chế độ Diệm, ông Thiệu mở rộng mạng lưới Công giáo ra khắp nơi. Để làm vừa long các chiếc “áo chùng đen”, ông Thiệu còn trắng trợn và khiêu khích bổ nhiệm các sĩ quan Cần Lao cũ tại các địa phương đông Phật tử như Đại tá Thân, Đại tá Nguyễn Hữu Duệ tại Thừa Thiên và Đại tá Nguyễn Ngọc Khôi tại Đà Nẵng, hai sĩ quan sau là hai sĩ quan Công giáo cao cấp thuộc Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Tổng thống Phủ của ông Diệm trước 1963, còn Đại tá Thân là tay chân của Linh mục Cao Văn Luận.

    Nhìn lại toàn bộ lực lượng nhân sự nắm các địa vị quan trọng tại miền Nam dưới chế độ Thiệu, từ chức Tổng thống Cộng Hòa đến Tỉnh trưởng Thừa Thiên, từ Cục Tiếp Vận đến Bộ Giáo dục, từ Tổng Liên đoàn đến Nha Động Viên, từ Tư lệnh Sư đoàn đến Chủ tịch Quốc hội, từ Ban Cố vấn Tối cao đến các liên danh trong Thượng viện, từ Cảnh sát Công an đến Ngoại giao, từ Nguyễn Cao Thăng đến Đặng Văn Quang, từ Cao Văn Luận đến Trần Du, từ Nguyễn Bá Cẩn đến Bửu Dưỡng,… ta thấy rõ ràng đám con mồ côi chính trị của chế độ cũ đang nỗ lực làm sống lại cái tinh thần độc tài Công giáo trị của chế độ cũ của những Thục, Diệm, Nhu, Xuân, Cẩn.

  313. concun permalink

    QUÂN ĐỘI – Tuy nhiên, ông Thiệu biết rằng Lập pháp, Hành pháp hay Tư pháp trong một miền Nam chiến tranh và trong một chế độ làm đồng minh với Mỹ vẫn chưa đủ để củng cố quyền lực mà chính Quân đội mới là thành tố chính quyết định sức mạnh của kẻ cầm quyền. Hơn ai hết, ông Thiệu biết rõ vai trò của quân đội trong những biến cố chính trị, cũng hơn ai hết ông Thiệu biết rõ sự cần thiết phải Công giáo hóa quân đội mới hoàn tất được cái khế ước với lực lượng Công giáo đang hung hăng sống dậy tại miền Nam.

    Trước hết, ông Thiệu dàn xếp cho Tướng Cao Văn Viên giữ chức Tổng Tham mưu trưởng và người thân tín của Viên là ông Đồng Văn Khuyên thì vừa là Tổng Tham mưu phó vừa là Tổng Cục trưởng Tổng Cục Tiếp Vận. Ông Viên là thành phần trung thành tuyệt đối với Tổng thống Diệm, vợ ông là tay chân đắc lực của bà Nhu trong Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới cũ. Ông Viên đã từng được ông Diệm cử giữ chức Tư lệnh Nhảy Dù thay thế Đại tá Nguyễn Chánh Thi sau cuộc đảo chánh thất bại năm 1960 mặc dù ông Viên chưa một ngày ở trong binh chủng này và chỉ mới mang cấp bậc Trung tá. Hồ sơ quân vụ của ông Viên ghi đầy những công lao to lớn trung thành với nhà Ngô nên càng được khối Công giáo trong quân đội tín nhiệm và ủng hộ. Khốn nỗi bà Viên quá lộng hành và gây nhiều tai tiếng nên vị trí của ông Viên bị đe dọa, ông thu mình ngậm miệng lại và chỉ biết tìm nguồn vui qua việc tập luyện Yoga tại nhà hay ghi danh đi học ở Đại học Văn Khoa mà không để tâm nhiều vào việc chỉ huy quân đội.

    Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị với các Cục trực thuộc như Cục Tuyên úy, Cục Chiến Tranh Tâm Lý, Cục An Ninh Quân Đội, Đài phát thanh và báo chí quân đội thì do tướng Trần Văn Trung, một người Công giáo Phú Cam điều khiển. Cơ quan này đáng lẽ phải bảo vệ tinh thần quân đội thì lại trở thành một công cụ phục vụ cho các tuyên úy Công giáo trong quân đội. Hiện tượng này không lộ liễu như dưới thời ông Diệm nên người ngoài ít ai để ý, nhưng các thành phần thuộc các tôn giáo khác thì thấy rất rõ và tuy bất bình mà không dám công khai nói ra.

    Cầm đầu Nha Động Viên là ông Bùi Đình Đạm, một sĩ quan Công giáo di cư và từng là kẻ dưới quyền tướng Huỳnh Văn Cao. Ông Đạm liên hệ mật thiết với Linh mục Trần Du, chủ nhiệm báo Hòa Bình, vị Linh mục nằm trong hệ thống tình báo đặc trách việc theo dõi sinh hoạt báo chí cho nhóm Thiệu-Quang. Đạm là một sĩ quan hoàn toàn thiếu khả năng nhưng nhờ ngoan đạo mà được ông Thiệu giao cho chức vụ Giám đốc Nha Động Viên, một cơ quan vô cùng quan trọng và dễ dàng làm tiền dân chúng trong một quốc gia đang có chiến tranh. Phụ tá cho ông Đạm là Đại tá Huỳnh Văn Lang, lại cũng là một sĩ quan Công giáo khác.

    Xuống thấp một chút ở các đơn vị địa phương và thực sự nắm quân là các chức vụ Tư lệnh Quân đoàn, Sư đoàn thì những tướng tá Công Giáo hoặc tay chân của chế độ cũ cũng nắm phần đa số mà tiêu biểu là các tướng Ngô Du, Phạm Quốc Thuần, Đỗ Cao Trí, Nguyễn Văn Minh (cựu Tỉnh trưởng Long Xuyên thời Đệ Nhất Cộng Hòa, tay chân của Đặng Văn Quang), Phạm Văn Phú (nguyên Tư lệnh Phó Lực lượng Đặc biệt của Lê Quang Tung), Nguyễn Văn Toàn (từng chỉ huy Thiết giáp tấn công Phật giáo trong biến cố 1966), Lữ Lan (một tay chân thân tín của Tổng thống Diệm nên được Cao Thế Dung đề cao trong cuốn Làm thế nào để giết một Tổng thống).

  314. concun permalink

    LẬP PHÁP: Ở Thượng Viện, Nguyễn Văn Thiệu luôn luôn có 3 hay 4 liên danh Công giáo làm tay sai: Liên danh Nguyễn Văn Huyền, liên danh Huỳnh Văn Cao, liên danh Nguyễn Gia Hiến (anh của ông Nguyễn Gia Kiểng thuộc nhóm Thông Luận) và liên danh Trần Văn Lắm gồm hầu hết là người Công giáo hay là người của chế độ cũ nổi tiếng trung thành với ông Diệm. Chức Chủ tịch Thượng viện suốt thời gian ông Thiệu cầm quyền nằm trong tay hai nhân vật Công giáo là các ông Nguyễn Văn Huyền và Trần Văn Lắm. Đệ Nhất Phó Chủ tịch là ông Phạm Như Phiên, một vị cựu quan lại tay chân cũ của Tổng thống Diệm. Cũng có thời ông Hoàng Xuân Tửu (một người Công giáo Quảng Trị thuộc đảng Đại Việt Hà Thúc Ký) được bầu vào chức Đệ Nhị Phó Chủ tịch, nhưng đến năm 1973-74, ông Tửu theo đường lối của Đảng quay ra chống đối Thiệu trong Phong Trào Chống Tham Nhũng của Cha Trần Hữu Thanh.
    Còn ở Hạ Viện, người Công giáo (nhất là người Công giáo di cư và nhân sự cũ của chế độ Diệm) chiếm đa số, đặc biệt là khối Độc Lập 19 người gồm toàn thành phần Cần Lao Công Giáo do nhóm các ông Nguyễn Quang Luyện, Vũ Văn Mầu, Phạm Hữu Giáo cầm đầu. Khối này đã giành lấy những chức chủ tịch của các Uỷ Ban quan trọng để chi phối Hạ Viện. Trong Hạ Viện còn có dân biểu Đinh Xuân Minh (có em gái lấy Nghị sĩ Nguyễn Văn Chức). Ông Đinh Xuân Minh vốn là dân biểu của chế độ Diệm và là bác sĩ riêng của cố Tổng thống Diệm.
    Chủ tịch Hạ viện trong nhiệm kỳ đầu là ông Nguyễn Bá Lương. Ông không phải là người Công giáo nhưng được hai ông Thiệu và Thăng mua chuộc các Dân biểu khác để sắp đặt bầu vào chức Chủ tịch Hạ viện vì ông là người “ba phải”, dễ thỏa hiệp. Vả lại, lúc mới cầm quyền, ông Thiệu thấy rằng Tổng thống đã là Công giáo, Chủ tịch Thượng viện đã là Công giáo nên ông Thiệu đặt ông Nguyễn Bá Lương đứng đầu Hạ viện để có thể làm bớt lộ liễu màu sắc Công giáo của chính quyền. Đây cũng chỉ là một thủ đoạn nối dài của thời Đệ Nhất Cộng Hòa với một ông Nguyễn Ngọc Thơ (không Công giáo) được anh em ông Diệm cố tình cho giữ chức vụ Phó Tổng thống để làm nhẹ cái thực tế rõ ràng là Tổng thống Công giáo, các ông Chủ tịch Quốc hội thay phiên nhau như Trần Văn Lắm, Phạm Văn Nhu, Trương Vĩnh Lễ đều là Công giáo.
    Với một Quốc hội nằm trong tay đa số người Công giáo và người của chế độ Diệm đang cấu kết với ông Thiệu như thế, tất cả các dư luật thất nhân tâm như Luật Báo Chí, Luật Uỷ Quyền, việc hợp hiến hóa cuộc bầu cử Tổng thống độc diễn… đều đã được dễ dàng và mau chóng thông qua. Đó là không nói đến những hồ sơ tố cáo tham nhũng, lộng quyền bị Quốc hội dẹp bỏ trước sự công phẫn của nhân dân và chỉ trích gay gắt của báo chí như các nhật báo Bút Thép, Điện Tín, Dân Tộc…

  315. concun permalink

    Cố vấn Tình báo chiến lược là ông Huỳnh Văn Trọng, tốt nghiệp đại học Luật và là một tín đồ Công giáo xuất thân từ một dòng tu ở Hồng Kông. Dưới thời chính phủ Nguyễn Phan Long (1950), ông Trọng giữ chức Tổng Thư ký chính phủ và vẫn tiếp tục là nhân viên cao cấp dưới thời chính phủ Ngô Đình Diệm. Khi chính phủ Diệm tiến hành chính sách tiêu diệt đảng phái, ông Trọng trở thành đối tượng của chính sách nầy nên phải lánh nạn trong dòng Chúa Cứu Thế. Sau đó, khi tình hình bớt nguy hiểm, ông Trọng tái xuất hiện nhưng chỉ âm thầm dạy Việt ngữ và Pháp ngữ cho nhân viên Sứ quán Mỹ tại Sài Gòn. Chính trong thời gian nầy, nhân viên cao cấp của Hà Nội là ông Vũ Ngọc Nhạ đã phát hiện ra ông Trọng và kết nạp vào Cụm tình báo A-22. Sau cuộc bầu cử Tổng thống năm 1967, ông Vũ Ngọc Nhạ định vận động với ông Nguyễn Văn Thiệu cho ông Trọng giữ chức Thủ tướng, nhưng vì điều kiện chính trị phức tạp lúc đó nên ông Trọng chỉ đóng vai Cố vấn tình báo chiến lược về những vấn đề chính trị và ngoại giao trong Phủ Tổng thống. Nhưng rồi A-22 bị phát giác, cả hai ông Nhạ lẫn Trọng đều bị bắt và bị Tòa án Quân sự Đặc biệt kết án đày ra Côn đảo.

    Cố vấn đặc biệt của Tổng thống Diệm, rồi Tổng trưởng Kế hoạch và Phát triển Kinh tế trong mấy năm cuối của Việt Nam Cọng Hòa là con chiên mộ đạo Gregory Nguyễn Tiến Hưng, người trước khi quyết định hợp tác với ông Thiệu đã phải đi thỉnh ý một Linh mục (xem “Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập”).

    Năm người cố vấn các lãnh vực Quân sự, Chính trị, Kinh tài, Kinh tế và Tình báo quay quanh và ảnh hưởng ông Thiệu mạnh nhất, tuy xuất thân từ những môi trường khác nhau, sinh hoạt trong những lãnh vực khác nhau, tiến thân từ những trình độ khác nhau, nhưng lại có một yếu tố chung rất nổi bật, đó là tôn giáo của họ, đó là cái liên hệ ruột thịt và “đức vâng lời” vào Giáo hội Công giáo Việt Nam, mà nhờ đó họ đã bước lên được vị trí gần nhất chung quanh ông Tổng thống Công giáo thứ nhì của nước Việt Nam Cộng Hòa.
    Nói tóm lại, MƯỜI nhân vật Công giáo kể trên (mà đến bốn đã là giám mục và linh mục) đã thực sự là những người quần tụ chung quanh vị Tổng thống cũng Công giáo để tạo ra cái đầu não nắm lấy vận mệnh miền Nam. Họ bám lấy ông Thiệu mà sống và phát triển cũng như ông Thiệu bám lấy họ mà tồn tại và thi thố quyền lực.

    Ngoài ra, Bộ trưởng Đặc Trách Liên Lạc Quốc Hội nằm trong tay ông Cao Văn Tường, một người trung thành với nhà Ngô đã từng được ông Ngô Đình Nhu cho làm Đệ Nhất Phó Chủ tịch Quốc Hội thời Đệ Nhất Cộng Hòa.

    Bộ Ngoại Giao thì do các ông Trần Chánh Thành, Trần Văn Lắm hay Vương Văn Bắc thay phiên nhau cầm đầu mà ông Thành và ông Lắm ai cũng biết là thuộc hạ nhà Ngô cũ.

  316. concun permalink

    CỐ VẤN HÀNH PHÁP … Trong dinh Độc Lập có Cố vấn An ninh Tình báo kiêm Cố vấn Quân sự là ông Đặng Văn Quang, người con nuôi tinh thần của Bà Ấm, chị ruột Tổng thống Diệm và là thân mẫu của Giám mục Nguyễn Văn Thuận. Ngoài những chức vụ chính thức ông Quang còn có những nhiệm vụ bí mật là thiết lập kế hoạch và phối hợp công tác của các cơ quan chính quyền để triệt phá các thành phần đối lập với chế độ mà đối tượng số một là Phật giáo. Ông Quang cũng là người điều động một hệ thống tổ chức buôn thuốc phiện lậu để chia lời với ông Thiệu (như ông Nhu trước kia buôn thuốc phiện lậu) để làm giàu mà Tiến sĩ Alfred McCoy đã nói rõ trong The Politics of Heroine in Southeast Asia.
    Cố vấn phụ trách Kinh tài là dược sĩ Nguyễn Cao Thăng, Giám đốc hàng thuốc O.P.V., người Công giáo Phú Cam, từng làm Dân biểu gia nô và Kinh tài cho anh em ông Diệm. Nhiệm vụ chính trị của ông Thăng là xây dựng cho ông Thiệu một Quốc hội bù nhìn mà đa số phải là người Công giáo. Chính ông Thăng thay ông Thiệu để giao thiệp, mua chuộc, hướng dẫn và kiểm soát Quốc hội để điều hướng định chế gọi là “dân cử” này ủng hộ đường lối của ông Thiệu. Khi ông Thăng bất thình lình chết vì bệnh ung thư thì phụ tá của ông Thăng trong dinh Độc Lập là ông Nguyễn Văn Ngân lên thay thế. Ông Ngân là người Công giáo Nghệ Tĩnh, bà con của Linh mục Cao Văn Luận. Đúng như giáo sư Nguyễn Khắc Ngữ đã nói trong tác phẩm Những Ngày Cuối Cùng của VNCH, hết Thăng rồi đến Ngân, họ chính là những người nắm giữ tay hòm chìa khóa của quỹ chi tiền cho các Dân biểu, Nghị sĩ và các lực lượng thân chính

  317. concun permalink

    Vị Giám mục cố vấn thứ nhì là Giám mục Francois-Xavier Nguyễn Văn Thuận (gọi Tổng thống Diệm bằng cậu ruột và cai quản giáo phận Nha Trang). Ông là vị giám mục trẻ tuổi nhất trong hàng giáo phẩm cao cấp của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Sự sụp đổ của chế độ và cái chết của ba người cậu ruột đã làm cho ông trở nên cứng rắn, quyết liệt hơn trong tham vọng xây dựng khối Công giáo trở thành một lực lượng chính trị để nắm lấy chính quyền tại miền Nam và biến miền Nam thành một người con gái hiếu thảo của Giáo hội La Mã tại Á châu (fille ainée de l’Église en Asie) hầu một mặt trả mối thù gia tộc, và mặt khác thì hoàn tất sách lược của các ông cậu trước kia. Những tổ chức Công giáo quốc tế còn tiếc thương gia đình họ Ngô đã ngầm giúp Giám mục Thuận sớm trở thành nhân vật quan trọng của Giáo hội Việt Nam để ông có uy thế và phương tiện hoạt động chính trị. Vì thế, dù là một Giám mục còn trẻ tuổi, ông vẫn được giao phó trọng trách phụ tá Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình. Ông còn được Công giáo quốc tế giao chức Tổng thủ quỹ Caritas, một tổ chức từ thiện tiền rừng bạc biển của Công giáo Hoa Kỳ.
    Hầu như Giám mục Thuận không vào Dinh Tổng thống bao giờ nhưng thông qua những chức sắc và tín đồ Công giáo trong chính quyền, ông đã ảnh hưởng nhiều lên các quyết định chính trị quan trọng đến nỗi năm 1974, đích thân ông Thiệu, với tư cách Tổng thống một quốc gia, đã vận động với Vatican để cha Thuận làm Tổng Giám mục điạ phận Sài Gòn vào giữa lúc tình hình miền Nam đang thật sự khủng hoảng (nhưng vận động không thành vì đi ngược với khuynh hướng chủ hòa thân Hà Nội của Đức Giáo hoàng Phaolô VI đang muốn “Phải chấm dứt các cuộc oanh tạc trên lãnh thổ Bắc Việt và đồng thời cũng phải chấm dứt những cuộc xâm nhập vũ khí và vật liệu chiến tranh vào miền Nam.”)
    Ngoài ra còn có Linh mục Nhuận và nhóm Nguyễn Đức Xích phụ trách việc theo dõi, dò xét các đảng phái, tôn giáo và những thành phần đối lập rồi báo cáo thẳng cho Tướng Đặng Văn Quang. Linh mục Nhuận là Cha sở thuộc họ đạo Phú Nhuận, sau đó được hai ông Thiệu và Quang đền bù công lao bằng cách giúp tiền bạc để xây cất một giáo đường đồ sộ tân kỳ tại Phú Nhuận, đối diện với ngôi chùa Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ của Cao Đài gần cổng số 4 Bộ Tổng Tham Mưu. Còn Thiếu tá con chiên Nguyễn Đức Xích được hai ông Thiệu và Quang can thiệp cho giữ chức “giám sát” trong cơ quan Giám Sát Viện, phụ tá bí mật cho ông Ngô Xuân Tích là bà con của ông Thiệu giữ chức Chủ tịch Viện giám sát. Người phụ tá phụ trách miền Trung cho linh mục Nhuận có tên là Huỳnh Bút vốn là một cán bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng từng được ông Ngô Đình Cẩn mua chuộc trước kia.
    Cuối cùng, một linh mục khác mà bà con Nguyễn Phước tộc hầu như ai cũng biết là Linh mục Bửu Dưỡng, vị cố vấn bí mật đặc trách Văn hóa Giáo dục cho chính quyền Thiệu. Bửu Dưỡng là người đã từng cùng với ông Ngô Đình Nhu khai sinh ra cái quái thai “Chủ Nghĩa Nhân Vị Duy Linh” và yểm trợ cho chế độ Diệm tiến hành sách lược “Công giáo hóa miền Nam”. Linh mục Bửu Dưỡng đã tự nguyện đến hợp tác với con chiên Nguyễn Văn Thiệu chỉ một ý đồ là phục hồi lại các nhân sự của chế độ cũ để nắm lấy guồng máy chính quyền mà trả thù Phật giáo. Linh mục Bửu Dưỡng đã được ông Thiệu và Hoa Kỳ giúp đỡ thiết lập Viện Đại Học Minh Đức để cùng với trường Đại học Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt của ông Ngô Đình Thục trước kia làm công việc “trồng người” cho chế độ Công giáo trị mới.

  318. concun permalink

    CỐ VẤN CHIẾN LƯỢC – Trong một chế độ mà các quyết định sinh tử liên hệ đến vận mệnh quốc gia đều tập trung vào một người chứ không phải vào những Hội Đồng An Ninh, Hội Đồng Nội Các hay Quốc hội, thì vai trò Cố vấn trong những buổi họp kín giới hạn mới là vai trò mấu chốt.
    Cố vấn Chính trị và là vị Quân sư Tối cao của ông Thiệu một cách không chính thức trong dinh Độc Lập là Linh mục Cao Văn Luận, nguyên là một công thần của nhà Ngô. Linh mục Luận, dù chỉ mới có bằng cữ nhân tại Pháp, được anh em ông Diệm cho làm Viện trưởng Viện Đại học Huế nhưng đến năm 1963, trước cao trào đấu tranh dũng mãnh và đầy chính nghĩa của Phật giáo, sinh viên và trí thức miền Nam, LM Luận đã phải miễn cưỡng gia nhập theo và ủng hộ Phật giáo nên sau đó bị ông Diệm cất chức Viện trưởng. Mấy năm sau, khi thế lực Công giáo được phục hồi, ông Cao Văn Luận đã bị khối Công giáo chỉ trích thái độ chống chính quyền Diệm trước kia nên bèn tìm cách liên hệ để tiến thân với ông Thiệu và cuối cùng được ông Thiệu tín nhiệm. Với tư cách cựu Viện trưởng Viện Đại học cũ, lại nhờ đi ngoại quốc nhiều nên ông LM Luận được ông Thiệu giao cho nhiệm vụ đặc biệt là giao thiệp, liên lạc và lobby các chính khách Hoa Kỳ, và đặc biệt với Tòa Thánh La Mã. Đã thất bại vì trong quá khứ không được ông Diệm mời làm cố vấn (vì ông Cha Ngô Đình Thục quyền huynh thế phụ chặn đường tiến thân), ông cha Luận nhiều tham vọng nầy (xem « Đầu hàng» của Hồ Sỹ Khuê), từ nay, thõa sức “cố vấn” cho ông Tổng Thống con chiên ngoan đạo của nền Đệ nhị Cọng hòa.

  319. concun permalink

    Trong ba năm sau đó, chính trường miền Nam xáo trộn vì nhiều lý do. Nhưng chủ yếu là vì (i) Như một quy luật lịch sử, chế độ trước càng độc tài áp bức thì chế độ thừa kế phải mất một thời gian rất lâu mới xây dựng và ổn định được sinh hoạt chính trị; (ii) Các tướng lãnh, chính trị gia và các lực xã hội dân sự sau ông Diệm đã phải đối mặt với và tỏ ra bất lực trước một nền dân chủ hỗn loạn vì phôi thai; (iii) Chính phủ Mỹ và Hà Nội quyết định can dự mạnh mẽ hơn cả trong chính trường lẫn trên chiến trường miền Nam. Vì thế mà xáo trộn.

    Cũng trong ba năm sau đó, cho đến năm 1966, lực lượng tàn dư của chế độ Diệm đã lợi dụng tình trạng xáo trộn của miền Nam để trở lại chính trường với hai đặc trưng: Lấy Giáo hội Công giáo Việt Nam làm hậu thuẫn và dùng nhóm tàn dư Cần Lao cũ làm lực lượng thao túng chính quyền và xã hội mà cao điểm là sự ra đời của Đệ nhị Cọng hòa. Và họ đã thành công: Hiến pháp 4/1967 tạo cơ sở hình thành chính phủ dân sự đầu tiên để thành lập Đệ nhị Cọng hòa do con chiên Martino Nguyễn Văn Thiệu làm Tổng thống ngày 1-11-1967.

    Vậy thì chính nền Đệ nhị Cọng hòa với bản chất Cần lao Công giáo đó, mang hỗn danh là “Diệm không Diệm”, đã tồn tại và chịu trách nhiệm về sự sụp đổ của miền Nam vào mùa Xuân năm 1975 ! Nhóm Công giáo hoài Ngô, tàn dư của “Cần Lao ác ôn” ở hải ngoại, đang nỗ lực đánh tráo sự thật nầy để chạy tội là chuyện đương nhiên. Nhưng ai viết lịch sử lương thiện thì xin hãy nhớ điều nầy: Chế độ Nguyễn Văn Thiệu đích thực là một chế độ “Diệm không Diệm”.

  320. concun permalink

    Để tháo gở và vượt thoát được cơn khủng hoảng vừa đối nội vừa đối ngoại đó, anh em ông Diệm đã chủ quan tính sai một nước cờ nên đã lấy một quyết định liều lĩnh, dại dột và phản quốc nhất trong cuộc đời chính trị của họ: Tìm cách thỏa hiệp với Hà Nội để giải tỏa áp lực của Mỹ và của đối lập chính trị tại miền Nam. Quyết định nầy liều lĩnh và dại dột vì ba lý do:

    1. Mỹ đã “nặn” ra ông Diệm ở Washington, rồi “bồng” ông về nước. Sau đó, lại đổ kinh viện, quân viện và uy tín quốc gia để khai sinh và nuôi dưỡng nền Đệ Nhất Cọng hòa trong chiến lược xây dựng một tiền đồn chống Cọng cho Thế giới Tự do, thì làm sao họ để cho ông thỏa hiệp với Cọng sản, phá vở vai trò “tiền đồn” trong cuộc chiến tranh lạnh được. Sau nầy, khi ông bị giết, nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã kết luận thật đầy đủ: “Bảo là người Mỹ đã giết Diệm. Không! Diệm đã chết trong lòng dân tộc từ lâu. Mỹ chỉ đến lượm xác sống của y.” [Người Việt Đáng Yêu, (Lời Mở Đầu) Nhà xuất bản Sáng Tạo, Sài Gòn, 1965].

    2. Ông Hồ Chí Minh và Đảng Cọng sản Việt Nam đã nằm gai nếm mật, hy sinh bao nhiêu xương máu trong gần 30 năm để làm hai nhiệm vụ đan bện với nhau: Dành độc lập cho dân tộc, và thiết lập chế độ Cọng sản tại Việt Nam cho Quốc tế Cọng sản. Năm 1954, họ đã thành công được một nữa: Đuổi thực dân Tây ra khỏi nước (cho dân tộc) và quản lý miền Bắc (cho Cọng sản Quốc tế). Vậy thì làm sao họ có thể thỏa hiệp với kẻ thù “Mỹ-Diệm” được. Cọng sản quốc tế có cho họ làm không ? Làm sao họ biện minh được với Quân dân và Đảng viên ở miền Bắc ? Họ biết ông Diệm đang mâu thuẫn với Mỹ và đang bị nhân dân miền Nam chống đối nên chỉ mưu mẹo lợi dụng động thái xin thỏa hiệp của chính phủ Diệm để làm suy yếu thế đồng minh Mỹ-Việt mà thôi (Đọc thêm War of the Vanquished của Mieczilaw Maneli)

    3. Nhưng quan trọng hơn hết là khi thỏa hiệp với Hà Nội, hai ông Diệm-Nhu đã phản bội lại Hiến pháp VNCH 1956 (Theo Điều 7 thì “những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với nguyên tắc ghi trong Hiến pháp”), đã vi phạm luật 10/59 (ban hành tháng 5/1959) mà ông Diệm đã dựa vào đó để đàn áp những chiến sĩ quốc gia cũng chống Cọng nhưng đối lập với ông. Thỏa hiệp với chính phủ Hồ Chí Minh, hai anh em ông Diệm-Nhu còn phản bội gần 800 ngàn đồng bào Công giáo di cư từ miền Bắc vào Nam để trốn Cọng sản, và bao nhiêu chiến sĩ Quân lực VNCH đã hy sinh xương máu để bảo vệ miền Nam.

    Tưởng Mỹ không bao giờ dám từ bỏ mình vì đã can dự quá sâu vào miền Nam, tưởng chính phủ Hà Nội đánh giá cao động thái thỏa hiệp, tưởng đã khuất phục được quân dân miền Nam sau 9 năm bạo trị, …. Gia đình ông Diệm (đúng ra lúc đó ông Diệm chỉ là một bù nhìn bất lực, chính hai “tổng thống” Ngô Đình Nhu và Trần Lệ Xuân mới là kiến trúc sư để thiết kế và) đi “canh bạc chính trị” nguy hiểm và ngu dại nhất đời mình. Nhưng “canh bạc” đó không lừa được kẻ thù, không dấu được đồng minh, và không đánh giá đúng được phản ứng của quân dân miền Nam nên, cuối cùng, anh em ông đã phải đền tội trước lịch sữ và dân tộc. Ngày 1-11-1963, chế độ Đệ nhất Cọng hòa cáo chung.

  321. concun permalink

    Đệ nhị Cọng hòa thực chất là một chế độ “Diệm Không Diệm” (cụm từ do Robert Shaplen đặt ra), hàm ý ông Diệm đã “đi rồi” nhưng bầy tôi của ông và lực lượng Cần lao Công giáo “ác ôn” (chữ của đồng bào miền Trung) đã thành công trong việc trở lại khuynh loát và khống chế để lãnh đạo chính trường miền Nam từ năm 1966-1975.

    Vì vậy mà khi gọi “miền Nam được lãnh đạo bởi 2 ông Tổng thống Công giáo” là không sai. Và “miền Nam mất vào tay Cọng sản vì Cần Lao Công giáo” là cũng đúng luôn, vì chính trường và chiến trường miền Nam trong 7 năm cuối cùng, kể từ năm 1966, là do thủ hạ Công giáo cũ của ông Diệm ở “thượng tầng lãnh đạo” thao túng.

    Trong một chế độ quân phiệt, lại đang thời chiến, quyền hành đương nhiên tập trung vào vị nguyên thủ áo kaki, vì vậy mà căn cước của chế độ Đệ nhị Cọng hòa thật sự nằm ở Dinh Tổng thống (báo chí gọi là “Phủ Đầu Rồng” để đối với “Dinh Thái Thú” là Tòa Đại sứ Mỹ) chứ không phải trên bản Hiến Pháp hoặc các định chế dân cử.

    Ai ngồi ở Dinh Tổng thống ? Ai là cận thần đầy quyền lực ra vào Dinh Tổng thống ? Ngoài ông Tổng thống Công giáo “đạo theo” Nguyễn văn Thiệu, bài viết nầy nhằm điểm mặt 8 nhân vật Công giáo khác trong Thượng tầng lãnh đạo của Đệ nhị Cọng hòa, đồng thời cũng nhận diện những cấp chỉ huy quân đội Công giáo cao cấp nào đã thao túng Quân lực VNCH.

    Miền Nam kiệt sức vì độc tài, băng hoại vì tham nhũng, khủng hoãng vì mất chính nghĩa, và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời ngày 20-12-1960 tại Tây Ninh… Thế mà ông Diệm lại đẩy cao chính sách kỳ thị Phật giáo, đàn áp các đảng phái Quốc gia, chia rẽ Quân đội thành Cần lao và phi-Cần lao, dung dưởng cho gia đình và thủ hạ tham nhũng … đến nỗi 18 nhân sĩ (mà hầu hết là cựu đồng chí và/hoặc đã từng hợp tác với ông Diệm) phải lên tiếng cảnh cáo ông về tình trạng nguy ngập của miền Nam (Tuyên Ngôn “Caravelle” của tập hợp Tự Do Tiến Bộ ngày 26/4/1960). Cho nên chỉ không đến 10 tháng sau khi Việt Cọng ra đời, ngày 10-10-1961, tình hình an ninh quốc gia đã nguy ngập đến nỗi chính ông Diệm chứ không ai khác đã phải tuyên bố tình trạng khẩn cấp trên toàn lãnh thổ VNCH (sắc lệnh 209-TTP). Rồi năm tháng sau đó, ngày 31-3-1962, không cứu vãn được tình hình nguy khốn, cũng chính ông Diệm chứ không phải ai khác đã phải gửi thông điệp cho 92 quốc gia trên thế giới yêu cầu ủng hộ Việt Nam Cộng Hòa chống xâm lăng Cộng Sản [Đoàn Thêm, Những ngày chưa quên, Đại Nam 1969]. Rõ ràng ông Diệm đã hoàn toàn thất bại trong việc đoàn kết dân tộc để cùng Mỹ chống Cọng.

  322. concun permalink

    Sự thật rõ ràng là như vậy, mà cả ông Da-tô Tú Gàn, tức Lữ Giang, tức cựu thẩm phán Nguyễn Cần lại không nhìn ra. Phải chăng vì thiếu thông minh hay vì không học quốc sử và không học lich sử thế giới, cho nên ông ta mới không nhìn ra vấn đề này? Dù là ở vào trường hợp nào đi nữa, trong thực tế, ông Tú Gàn cũng ở vào tình trạng chậm hiều về cái thân phận của ông Da-tô Ngô Đình Diệm, và chính ông Da-tô Ngô Đình Diệm cũng thiếu thông minh, cho nên mới không nhìn ra cái thân phận của ông trong những năm 1954-1963 không khác gì thân phận của Lê Chiêu Thống vào cuối năm Mậu Thân 1788. Hậu quả là anh em ông đã phải đền tội trước nhân dân Sàigòn vào sáng ngày 2/11/1963.Nếu năm 1889, người Pháp có thể đưa Thành Thái lên làm vua bù nhìn tại triều đình Huế để làm cảnh trang tri cho nền thống trị của họ ở Việt Nam, thì năm 1907 họ cũng có thể phế bỏ ông ta khi thấy rằng ông ta trở mòi nghe lời xúi giục của thằng Việt gian Ca-tô Ngô Đình Khả ngã theo Vatican chống lại người Pháp trong mưu đồ giành thế thượng phong trong bộ máy cai trị tại Việt Nam. Tương tự như vậy, nếu năm 1954, người Mỹ đã có thể đưa tên phản thần tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm lên cầm quyền ở miền Nam để làm tay sai cho họ trong nhu cầu biến miền Nam thành tiền đồn chống Cộng ở Đông Nam Á, thì năm 1963, họ cũng có thế lôi ông xuống hay khử diệt ông khi họ thấy rằng ông đã tỏ ra khăng khăng chỉ biết phục vụ cho quyền lợi của Vatican mà bất cần đến uy tín và quyền lợi của họ, đúng như lời Giáo-sư Lý Chánh Trung ghi nhận: “ông đã tưởng mình có thể nhẩy vào vòng tay người Mỹ trong một giai đoạn ngặt nghèo rồi thoát khỏi vòng tay đó khi tình hình sáng sủa hơn, ông đã tưởng có thể chấp nhận làm con cờ trong một ván cờ rồi ngay trong ván cờ đó, có thể tự động đi một nước cờ riêng của ông.Khi ông nhìn thấy đó chỉ là ảo tưởng thì đã quá trễ: Ông đã chết vì ảo tưởng đó. Và cái chết bi thảm của ông cho thấy một sự thật hết sức tầm thường: Không một con cờ nào có thể tự động đi một nước cờ cho riêng nó, dầu con cờ đó mang tên Ngô Đình Diệm, và không một nước nhỏ nào có thể lợi dụng một nước lớn, nhất là nước đó mang tên Hoa Kỳ.” [xi]

  323. concun permalink

    Bây giờ chúng ta gặp một người Pháp nữa, giống như Rock Francisci, đã sống gần như suốt đời ở Đông Nam Á. Người này la Matthew Franchini. Bề ngòai ông ta được mô tả như một thương gia trọng nguyên tắc và là chủ khách sạn đáng kính (ông ta sở hữu khách sạn Continental nổi tiếng ở Sàigòn). Tuy nhiên, sự thực thì Franchini là bộ não đằng sau các chuyến hàng thuốc phiện của Rock Francisci từ Sàigòn sang các lò bạch phiến ở Marseille. Tại sao điều này quan trọng thế? Vì Franchini là một khâu vô giá trong đường dây chỉ huy của thế giới ngầm Marseille, nếu không muốn nói là đương dây chỉ huy tập đoàn bạch phiến toàn cầu. Franchini cung cấp cho Marseille sản phẩm morphine vốn được Rock Francisci chở thoải mái về Sàigòn (những chuyến này do Nhu bảo kê).”

    Ngoai ra, lại cón có Tòa Đại Sứ Việt Nam tại Lào, Trần Kim Tuyến và bọn Cần Lao tin cẩn, người phụ trách chuyển vận thuốc phiện từ Lào về Sàigòn nữa.

    Theo sự hiểu biết của người viết, tất cả những tên đầu sỏ của hệ thống tổ chức tội ác quốc tế này đều là những người thấm nhuần triệt để Ki-tô giáo.

    Có thể do việc làm ăn bất lương này, anh em ông Ngô Đình Diệm mới bắt đầu kết thân sống chết với tên Mã Tuyên, một tên đầu nậu khét tiếng trong bang Triều Châu ở Chợ Lớn. Xin nhắc lại, cũng vì ma túy có tác dụng làm suy yếu sức khỏe của con người, làm cho gia đình những người nghiện khốn đốn điêu linh, và làm cho các quốc gia có nhiều người nghiện trở nên suy nhược, cho nên hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới đều nghiêm cấm bán sản phẩm này cho quảng đại quần chúng, và chỉ cho phép được sử dụng trong phạm vi y khoa mà thôi. Cũng vì thế mà tác giả Alfred W. McCoy mới gọi chế độ đạo phiệt gia đình trị Ngô Đình Diệm là “Triều Đại Ngô Đình Diệm và Băng Đảng Ăn Cướp Ngô Đình Nhu = Diem’s Dynasty and the Nhu Bandits.” Alfred W. McCoy, Ibid., p. 159.

    Phạm Trọng Luật, USA

  324. concun permalink

    Đồng thời, chính quyền Ngô Đình Diệm còn biến miền Nam thành một trung tâm cung cấp thuốc phiện sống cho tổ chức Mafia quốc tế tại Marseille chuyên biến thuốc phiện sống thành bạch phiến rổi chuyển vận sản phẩm này sang Bắc Mỹ để phấn phối cho khác hàng tiêu thụ ở Hoa Kỳ. Đây là một hệ thống tội ác quốc tế tay ba: (1) Nguồn thuốc phiện sống phát xuất từ miền Nam Việt Nam do anh em Ngô Đình Diệm cung cấp, (2) trung tâm biến chế thuốc phiện sống thành bạch phiến đặt cơ sở tại Marseille (Pháp) do anh em Antoine Guerini nguời Pháp điều khiển, và (3) trung tâm phân phố bạch phiến tại Bắc Mỹ dưới quyền điểu khiển của các tay trùm Carlos Marcello, Sam Giancana và Santos Traficante Sự kiện này được hai tác giả Bradley S. O’ Leary và Edward Lee ghi nhận trong csách Vụ Ám Sát Ngô Đình Diệm (Tựa đề Anh ngữ : The deaths of the Cold War Kings, the assassinations of Diem & JFK) như sau.

    “Và năm 1958, khi Diệm – Nhu tái lập lưu thông thuốc phiện về Sàigòn, Francisci khó có thể hoan hỉ hơn vì nó đã làm sống lại nghề cũ của ông ta là vận chuyển thuốc phiện từ gốc sản xuất ở Lào đi thẳng về Nam Việt Nam bằng một phi đội máy may riêng của hắn. Nhưng thậm chí có thể kiếm được nhiều tiền hơn từ việc bán thuốc phiện trực tiếp cho hàng trăm ổ hút và hàng ngàn con nghiện ở Sàigòn. Việc sản xuất thuốc phiện ở các nơi khác trên thế giới – đặc biệt là Thổ Nhĩ Kỳ và Mexico – ngày càng thất thường và không chắc chắn vì liên tục bị pháp luật ngăn trở. Tình hình này chỉ làm lợi thêm cho Guerini bởi vì nó gia tăng thị phân ma túy của y. Chuyện này xẩy ra như thế nào?

    Nhu và Rock Francisici đã thực hiện một hợp đồng phân phối cơ bản. Francisci sẽ vận chuyển thuốc phiện đến Sàigòn cho các ổ hút của Nhu nhưng hắn còn chở nhiều thuốc phiện cho các điểm thả dù ở Sàigòn. Tại đây, thuốc phiện sẽ được máy bay vận tải chở sang các xưởng chế biến ở Marseille. Tại Marseille, thuốc phiện sẽ được chế biến thành bạch phiến có chất lượng cao để bán cho các trùm ma túy ở Mỹ như Santos Trafficante, Carlos Marcello, và Sam Giancana. Tất cả đều làm giầu trong chuyện này, và ai cũng thấy được rằng đó là chuyện làm ăn rất an toàn, bởi vì Nhu có thể được coi như một thứ Bộ TRưởng Tư Pháp của Nam Việt Nam, ông không phải ưu tư hay trả lời trước bất cứ một cơ quan thi hành pháp luật nào. Ông ta là luật pháp, và ông ta sử dụng sức mạnh này để đảm bảo cho Francisci và khách hàng của ông ở Marseille một nguồn cung cấp thuốc phiện ổn định để sản xuất bạch phiến. Một vụ làm ăn ngon lành.

    Với vị trí quyền lực trong chính phủ Nam Việt Nam, Nhu có thể đảm bảo rằng các máy bay chở đầy thuốc phiện của Francisci (đội lốt vận tải “ngoại giao”) có thể bay từ Lào đáp xuống Sàigòn và chuyển hàng xong hết mà không gặp nhiểu kiểm tra phiền toái. Thậm chí Nhu còn tăng năng suất đều đặn trong hai năm 1961 và 1962 bằng cách huy động Phi Đội Vận Tải số 1 của riêng ông (chuyên hoạt động tình báo trên không [thỉnh thoảng bay phối hợp với CIA]) vào việc đó. Giữa năm 1958 và 1963, Sàigòn thực sự trở thành kho hàng chứa thuốc phiện thô mà phần lớn sẽ chuyển tới Marseille để cuối cùng thỏa mãn nhu cầu của con nghiện bạch phiến Mỹ.

    Tuy nhiên, Nhu còn có những khuyến khích khác cho hợp đồng béo bở này. Trong lúc các máy bay vận tải thuê riêng của Francisci – thường gọi là Hàng Không Thương Mại Lào – hàng ngày chở thuốc phiện tới Sàigòn mà không bị luật pháp gây rắc rối, thì những tay cung cấp nhỏ hơn không được an toàn như vậy. Lực lượng cảnh sát của Nhu sẽ lập tức hỏi thăm họ vì đã dám lấn sấn (tới phạm vi hoạt động) của Francisci.

    Anh em Guerini không thể nào phấn chấn hơn trước hợp đồng của Francisci, và cũng không thể hài lòng hơn về Nhu vì ông đã giúp thực hiện được hợp đồng đó. Hợp đồng này giúp cho anh em Guerini trở thành những ông trùm ma túy toàn cầu vào cuối thập niên 1950 đầu thập niên 1960, đồng thời nó tạo ra một liên minh tội phạm vững như bàn thạch giữa Nhu và tập đoàn Marseille. Nhu, Diệm và toàn bộ dòng họ Ngô Đình ai cũng nổi lên giầu có khác thường nhờ vào liên minh này (trong khi vẫn kiếm được nguồn tài chính bất minh cần thiết cho cảnh sát và tình báo). Quan trọng hơn thế, anh em tội phạm Guerini thậm chí còn tích lũy được nhiều của cải hơn, và những khách hàng chủ yếu của họ – Mafia Mỹ cũng vậy.

    Cho nên, về căn bản, tập đoàn Marseille, Mafia Mỹ, và chính quyền Ngô Đình Diệm đã biến thành nững đối tác làm ăn của nhau trong mạng lưới ma túy toàn cầu. Có nghĩa là tiền tỉ, tiền tấn chảy vào túi người nào có dinh dáng, dĩ nhiên là thế. Và nguồn suối mạnh mẽ không ngừng phát sinh ra tiền bạc và sức mạnh này chính là Ngô Đình Nhu.”

  325. concun permalink

    Chế độ Ngô Đình Diệm và vấn đề buôn bán nha phiến
    Phạm Trọng Luật
    đăng ngày 15/04/2013

    Như đã nói ở trên, việc buôn bán ma túy ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 là do chính quyền miền Nam chủ mưu: điều khiển việc nhập cảng, bảo trợ việc biến chế, gói thành gói, mở mang các tiệm hút và phân phối cho khách hàng tiêu thụ.

    Sách sử cho biết, tại miền Nam Việt Nam, từ năm 1950 cho đến tháng 4 năm 1975, việc buôn bán ma túy đều do các chính quyền Bảo Đại, chế độ cha cố Ngô Đình Diệm, chính quyền của Tướng Nguyễn Cao Kỳ và chính quyền quân phiệt Da-tô Nguyễn Văn Thiệu chủ trương bất kể gì là sản phẩm này có tác dụng làm nguy hại cho nòi giống, dân tộc và tiền đồ của đất nước.

    Với những hành động vừa phi pháp, vừa bất nhân và dã man, vừa hại nước hại dân, vừa phản dân tộc, các chính quyền miền Nam đã trở thành những tổ chức tội ác đối với dân tộc Việt Nam và đối với nhân dân thế giới. Chính vì vậy mà sử gia Alfred McCoy mới gọi chế độ cha cố Ngô Đình Diệm là“Triều Đại Diệm và Băng Đảng Ăn Cướp Ngô Đình Nhu” (Diem Dynasty and the Nhu Bandits” (Alfred McCoy, The Politics of Heroin in Southeast Asia (New York: Harper & Row Publishers, 1972), p. 159). Phần trình bày dưới đây sẽ giúp cho độc giả có cái nhìn thấu đáo về vấn đề này.

    Hơn một năm sau khi được Liên Mỹ – Vatican đưa về Việt Nam cầm quyền với cuơng vị là thủ tướng vào ngày 7/7/1954, Ngô Đình Diệm tổ chức cuộc trưng cầu dân ý gian lận vào ngày 23/10/1955 với dã tâm truất phế QuốcTrưởng Bảo Đại để tiếm quyền. Làm xong việc làm phản trắc này, ngày 26/10/1955, Ngô Đình Diệm tuyên bố miền Nam Việt Nam là nước Cộng Hòa Việt Nam và tự phong là Tổng Thống, rồi cho mở chiến dịch tuyên tuyền rầm rộ bài trừ các tệ đoan xã hội, trong đó có việc cấm hút thuốc phiện để làm bức bình phong che đậy việc thiết lập chế độ đạo phiệt Da-tô và gia đình trị đang được tiến hành.

    Năm 1958, sau khi đã củng cố xong quyền lực, anh em nhà Ngô cho tái lập kỹ nghệ buôn lậu thuốc phiện sống, thiết lập các cơ sở biến chế và khuếch trương kỹ nghệ này bằng cách cấu kết với các tên đầu nậu Ba Tầu (trong đó có tên Mã Tuyên) ở Chợ Lớn để mở mang các tiệm hút và các tiệm bán sỉ bán lẻ sản phẩm này ở Sàigòn Chợ Lớn một cách công khai. Vào