Skip to content

BÍ MẬT CỦA MỘT CHIẾN DỊCH PHẢN GIÁN (IV)

30.05.2011

Nguyễn Khắc Đức

Do phạm vi, đối tượng đấu tranh của CM-12 đã vượt tầm cỡ một “chuyên án”, mặt khác, do các đối tượng đấu tranh lại không đơn thuần là gián điệp biệt kích mà còn mang tính chính trị hết sức nhạy cảm, nên đến đầu tháng 6/1981, đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng gọi đây là “Kế hoạch CM-12”.

Lê Quốc Túy – Mai Văn Hạnh

Trong phiên liên lạc đầu tiên với trung tâm địch dưới danh nghĩa là “Tổ đặc biệt” vào lúc 21giờ ngày 25/5/1981, ta chỉ gửi một bức điện ngắn có nội dung như sau: “Tất cả đều an toàn và công tác đang xúc tiến. Vũ khí đã chôn giấu xong. Cần thêm cán bộ thành và tiền bạc. Hẹn 20 giờ ngày 28/5/1981 lên máy”. Trung tâm của địch cũng chuyển cho “Tổ đặc biệt” một bức điện: “Tàu đã về tới B. vô sự. Ngày giờ khởi hành chuyến thứ nhì sẽ cho biết sau. Tổng đài sẽ trực máy theo giờ quy định”.

 

Phiên liên lạc đầu tiên thành công.

 

Đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm rất vui, khen ngợi các cán bộ, chiến sĩ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ đặc biệt này. Đêm hôm đó tất cả cùng được thưởng thức một nồi cháo gà thật ngon lành. Anh em cảm thấy sung sướng vì công việc bước đầu đã thành công.

 

Sau khi anh em về nghỉ, đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm và đồng chí Nguyễn Phước Tân bàn bạc về những công việc sắp tới. Đồng chí gợi ý là ta phải thiết kế một kế hoạch, chọn bãi đổ, làm “mật cứ” giả… Rồi cần phải đấu tranh với các mảng của địch trong nội địa như thế nào, làm sao cho địch bộc lộ hết những cơ sở của chúng ở trong nước…

 

* * *

 

Sau thắng lợi ban đầu là thực hiện việc liên lạc giữa CM-12 và “Tổng hành dinh” đã được “nối”, cơ quan an ninh bàn kế hoạch đón chuyến xâm nhập mới của địch. Kế hoạch được vạch ra rất khẩn trương và được báo cáo lên đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng. Sau đó vài hôm, ngày 29/5, Bộ trưởng có ý kiến chỉ đạo và nêu rõ 4 điểm cần chú ý nghiên cứu kỹ và bố trí kế hoạch thực hiện cho chu đáo. Đồng chí Bộ trưởng còn chỉ đạo cụ thể về cách tổ chức đón bắt địch xâm nhập.

 

Do phạm vi, đối tượng đấu tranh của CM-12 đã vượt tầm cỡ một “chuyên án”, mặt khác, do các đối tượng đấu tranh lại không đơn thuần là gián điệp biệt kích mà còn mang tính chính trị hết sức nhạy cảm, nên đến đầu tháng 6/1981, đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng gọi đây là “Kế hoạch CM-12”.

 

Lãnh đạo Bộ Nội vụ nêu yêu cầu của Kế hoạch CM-12 là: Thu hút, đánh bắt hết các lực lượng xâm nhập theo kế hoạch của ta.  Thông qua bọn Túy – Hạnh để bóc gỡ lực lượng bí mật của chúng ở trong nội địa. Từ công tác đấu tranh phản gián trong Kế hoạch CM-12 ta cần nắm cho được  toàn bộ âm mưu của các thế lực thù địch với cách mạng nước ta. Bảo đảm an toàn tuyệt đối an ninh của đất nước, kiên quyết không để cho địch phá hoại. Nâng cao trình độ năng lực chiến đấu của lực lượng an ninh. Từng bước rút kinh nghiệm về tổ chức công tác an ninh trong quá trình đấu tranh.

Trong thời gian này, một mặt ta vẫn tiếp tục chuẩn bị về việc đón nhận chuyến xâm nhập tiếp theo của bọn gián điệp biệt kích, đồng thời tiến hành các biện pháp điều tra đối với các mảng khác trong nội địa có liên quan đến CM-12 như cụm Lê Quốc Quân,  cụm Lê Chơn Tình và cụm Hồ Tấn Khoa trong đạo Cao Đài. Tổ An ninh K4/2 được giao nhiệm vụ chỉ đạo và phối hợp với các đơn vị, công an các địa phương liên quan như thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, An Giang… đấu tranh với các chuyên án có liên quan. Yêu cầu bảo đảm bí mật đối với công tác đấu tranh với CM-12 rất cao, nhưng ta lại phải đấu tranh với nhiều chuyên án có liên quan, phạm vi khá rộng, có nhiều đối tượng, vì vậy nhiệm vụ lại càng khó khăn gấp bội.

 

* * *

 

Trong khi đó, các yêu cầu của “chủ tịch” Lê Quốc Túy đều được “tổ công tác đặc biệt” thi hành một cách “nghiêm chỉnh” nhưng cũng làm cho Túy hiểu là không phải hoàn toàn dễ dàng.

 

Để có lực lượng trực tiếp tham gia đấu tranh trong chuyên án này,  đồng chí Trần Phương Thế, tức Tám Thậm, Trưởng phòng Bảo vệ chính trị của Công an Minh Hải được chọn vào vai NK-A1, nghĩa là “Kinh Kha số 1” ở trong nước. Để tránh lộ bí mật, ta thường gọi NK-A1 là A1, tên thường dùng khi hoạt động của anh Tám Thậm là Hai Tài, còn bọn biệt kích thường gọi là Hai Râu vì anh Tám Thậm vốn có bộ râu quai nón rất đẹp.

 

Đồng chí Tám Thậm lúc đó mới ngoài ba mươi tuổi, tính điềm đạm, cẩn thận và chắc chắn. Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng chí làm hiệu thính viên, chữ viết rất đẹp. Địa bàn Cà Mau thì anh rất thông thuộc. Nếu có các tình huống xuất hiện ngoài dự kiến của Ban lãnh đạo kế hoạch anh cũng có đủ khả năng để xử lý khi cần thiết. Tuy nhiên, đồng chí Tám Thậm chưa hoạt động trong lòng địch, kinh nghiệm hoạt động bí mật chưa nhiều, chưa sử dụng ngôn ngữ trong chế độ cũ thường dùng trước đây.

 

Mặt khác, ở Minh Hải, rất nhiều người biết mặt đồng chí Tám Thậm, ta không loại trừ một số người vượt biên hoặc bọn biệt kích có thể nhận biết, nhất là trong trường hợp Túy, Hạnh yêu cầu ra nước ngoài để huấn luyện, hội họp… Nhưng đồng chí Tám Thậm có ngoại hình phù hợp với “vai” được giao, nhất là khi anh để râu quai nón, rất dễ ngụy trang và có thể khắc phục những “nhược điểm” ấy. Đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng và đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm tỏ ý hài lòng về sự lựa chọn này.

 

Người đóng vai NK-A2 là đồng chí Hồ Việt Lắm (hiện nay là Thiếu tướng, Cục trưởng Cục An ninh Tây Nam Bộ), lúc đó là Phó Công an huyện phụ trách An ninh của Công an huyện Trần Văn Thời.

 

Đồng chí Mười Lắm cũng là người địa phương này, am hiểu ngọn nguồn sông lạch và là người đã được đào tạo về nghiệp vụ trinh sát. Một số cán bộ của Tổ An ninh K4/2 như Nguyễn Khánh Toàn, Vũ Thành Hà, Trần Tôn Thất, Trần Lương Tư…, khi cần có thể thực hiện các vai được phân công. Đồng chí Nguyễn Văn Xíu, tức Ba Tài cũng được chọn đưa vào kế hoạch với vai phụ tá điện đài và lo cơm nước, bảo vệ…

 

Các đồng chí này đều phải làm việc trong điều kiện giữ bí mật tuyệt đối. Thậm chí, họ hàng và người ngoài không biết các đồng chí này còn làm việc cho công an nữa…

 

* * *

 

Trong các bức điện gửi cho “Tổ đặc biệt”, Lê Quốc Túy cho biết ý đồ của y là định đưa vào 3 chuyến trong tháng 9/1981 với khối lượng vũ khí khoảng 40-50 tấn. Ngày 25/8/1981, trung tâm địch gửi một bức điện hỏi “Tổ đặc biệt” là “trong đêm có thể đổ hai bãi cùng một lúc được không, khoảng 15 tấn 2 tàu”. Cũng trong bức điện này chúng còn yêu cầu K64 chuẩn bị một địa điểm an toàn tạm trú cho “6 cán bộ thành”.

 

Như vậy là có thêm tình huống địch sẽ cho một toán gián điệp biệt kích xâm nhập trong chuyến này. Công việc chuẩn bị của ta không chỉ đón “hàng” mà còn bắt bọn gián điệp biệt kích, tổ chức khai thác để phục vụ công tác nghiệp vụ tiếp theo.

 

Trong phiên liên lạc vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 31/8/1981, trung tâm địch thông báo cho “Tổ đặc biệt” 2 tàu xâm nhập sẽ khởi hành vào ngày 6/9/1981. Qua biện pháp trinh sát khác, chúng ta cũng nắm được quá trình chuẩn bị, tên tuổi cụ thể số “cán bộ thành” sắp xâm nhập  và chỉ huy chuyến xâm nhập này là T.N.C, có ám danh là K19.

 

Trong những ngày hạ tuần tháng 8/1981, công việc chuẩn bị rất khẩn trương. Sau khi nghiên cứu kỹ, ta quyết định chọn các bãi đổ cho Kế hoạch CM-12 ở vùng phía tây mũi Cà Mau chứ không ở phía đông. Vùng biển phía tây vừa có nhiều luồng lạch và thường lặng sóng. Bãi đổ ở khu vực này không sình lầy nhiều như vùng phía đông.

 

Kế hoạch được báo cáo lên đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng và được đồng chí Bộ trưởng phê duyệt.

 

Chiều 7/9/1981, đồng chí Cao Đăng Chiếm và đồng chí Nguyễn Phước Tân từ TP Hồ Chí Minh đi xuống Minh Hải. Các đồng chí Sáu Phương, Ba Dũng, Sáu Sáu, Tám Phú, Hoài Việt, Năm Xinh, Hai Minh từ công an các tỉnh đã có mặt tại trại Cây Gừa. Đồng chí Nguyễn Phước Tân thông báo tình hình và phân công từng đồng chí chuẩn bị khai thác đối tượng khi chúng bị bắt

 

Đúng như ta dự đoán, “Tổ đặc biệt” nhận được điện của trung tâm địch gửi, cho biết khoảng 20 giờ ngày 9/9 tàu sẽ đến bãi đổ.

 

Lực lượng của ta đã triển khai theo phương án chiến đấu thứ nhất. “Tổ đặc biệt” chuẩn bị ra bãi biển. Các đồng chí Thi Văn Tám, Trần Phương Thế, Hồ Việt Lắm và một số chiến sĩ Công an Minh Hải đã chuẩn bị đủ vỏ lãi để “nhận” người và không quên mang theo 6 chiếc khóa số 8.

 

Biển tốt. Gió nhè nhẹ. Đúng 19 giờ 10 phút ngày 9/9/1981, hai chiếc tàu đã vào đến bờ biển Minh Hải. So với thời gian dự định, chúng vào sớm gần một tiếng đồng hồ. T.N.C  (K19) quyết định cho hai chiếc tàu neo cách cửa sông ông Đốc khoảng 2.000 mét chờ các “chiến hữu” ra đón. Sau khi phát và nhận tín hiệu, hai bên gặp nhau và trao đổi những điều cần thiết. K19 ra lệnh cho bọn ở trên tàu ném “hàng” xuống biển. Phải mất hơn 3 tiếng mới thả “hàng” xong. K19 bàn giao thư và quà của Lê Quốc Túy gửi cho “Tổ đặc biệt”. Việc vớt vũ khí tương đối vất vả, mãi tới tối 10/9/1981 mới xong và chất lên ba chiếc tàu.

 

Trong lúc đó, 6 tên “cán bộ thành” đi theo người của “Tổ đặc biệt”. Cả toán đi được khoảng 4km thì đến một con kinh. Ở đây đồng chí Mười Lắm chỉ huy 12 chiến sĩ an ninh của ta đã mai phục bắt gọn 6 tên biệt kích. Diễn biến trận đánh rất nhanh, gọn, không một tiếng súng nổ.

 

Chiến công này có ý nghĩa rất quan trọng và quyết định đối với kế hoạch CM-12 sau này. Có thể gọi đây là chiến công đầu trong Kế hoạch CM-12. Lãnh đạo Bộ đánh giá cao thành tích của lực lượng tham gia đấu tranh với chuyên án. Thắng lợi này nâng cao tinh thần và càng củng cố niềm tin vào kế hoạch đánh địch tiếp theo.

 

Bộ trưởng Phạm Hùng đã báo cáo về Kế hoạch CM-12 cho các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước như đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn, đồng chí Trường Chinh, đồng chí Phạm Văn Đồng và đồng chí Lê Đức Thọ. Bộ Chính trị rất phấn khởi và căn dặn cần phải thận trọng, kiên quyết làm thất bại âm mưu của địch, nhưng đồng thời không để địch phá hoại ta trong quá trình thực hiện Kế hoạch CM-12.

 

* * *

 

Kế hoạch CM-12 tiếp tục giành được những thắng lợi quan trọng. Tháng 3/1982, Mai Văn Hạnh có ý định xâm nhập Việt Nam và thông báo cho “Tổ đặc biệt” biết qua bức thư của y, trong đó có yêu cầu liên lạc với Huỳnh Vĩnh Sanh và một số đầu mối khác, bố trí cho họ xuống gặp Hạnh tại Minh Hải.

 

Người của ta tiếp cận được với Huỳnh Vĩnh Sanh và  Lê Quốc Quân, thông báo ý kiến của Hạnh. Cả hai rất phấn khởi và nhận lời sẽ đi “căn cứ” gặp Hạnh. Đồng chí Lê Tiền chỉ đạo thực hiện kế hoạch đưa Huỳnh Vĩnh Sanh và Lê Quốc Quân xuống gặp Mai Văn Hạnh trong chuyến xâm nhập tới. Chúng ta cũng có kế hoạch  khéo léo khai thác thật kỹ Huỳnh Vĩnh Sanh để nắm được nội dung mà ông ta sẽ trao đổi khi gặp Mai Văn Hạnh.

 

Ban chỉ đạo Kế hoạch CM-12 lập kế hoạch đón, đưa, bố trí Mai Văn Hạnh vào nội địa và đặt ra yêu cầu đối phó với việc kiểm tra của Mai Văn Hạnh làm sao để Hạnh tin tưởng vào “Tổ đặc biệt” và các “cơ sở”,  qua đó, buộc chúng bộc lộ lực lượng ngầm, âm mưu, kế hoạch hành động sắp tới của chúng. Đồng chí Phạm Hùng thấy báo cáo hợp lý và phê duyệt kế hoạch của Ban chỉ đạo CM-12.

 

Lãnh đạo Bộ Nội vụ nhận định rằng, việc tổ chức thực hiện kế hoạch đón Mai Văn Hạnh vào kiểm tra thành công sẽ có ý nghĩa rất quan trọng, có tính chất quyết định Kế hoạch CM-12 tiếp tục hay không. Bởi vì nếu Hạnh vào thấy tình hình khả quan thì sẽ báo cáo lại cho Túy tiếp tục hành động. Mặc dù tính cách của Túy và Hạnh xung khắc với nhau nhưng Túy lại rất tin Hạnh và cần Hạnh.

 

Đúng như kế hoạch của Túy – Hạnh và ta đã khéo léo “tương kế tựu kế”, Mai Văn Hạnh xâm nhập Việt Nam trong một chuyến tàu mà ta đã biết trước và tổ chức “đón tiếp” khá chu đáo. Trong thời gian Mai Văn Hạnh ở Minh Hải, ta bố trí cho Huỳnh Vĩnh Sanh, Lê Quốc Quân gặp y.

 

Do chuẩn bị chu đáo và các cán bộ, chiến sĩ an ninh cũng như người của ta thực hiện tốt kế hoạch nên Mai Văn Hạnh và đồng bọn rất phấn khởi, tin tưởng vào “Tổ đặc biệt” và “các lực lượng ngầm” ở trong nước. Mặc dù Mai Văn Hạnh tỏ ra rất xảo quyệt, dùng thủ đoạn kiểm tra chéo, hỏi riêng từng người về một sự việc, nhưng do ta đã có kế hoạch đối phó rất bài bản nên y không nghi ngờ gì. Trái lại, y rất tin vào “Tổ đặc biệt”.

 

Lúc Huỳnh Vĩnh Sanh gặp Mai Văn Hạnh ở Minh Hải, Sanh phấn khởi nói với Hạnh:

 

– Tôi không thể tưởng tượng được là chúng mình lại được gặp nhau ở đây. Tôi nói thiệt, gặp anh ở đây là thắng lợi rồi. Trên thế giới không có tổ chức nào làm được điều này – ý của Huỳnh Vĩnh Sanh là nói đến các tổ chức phản động người Việt lưu vong hoạt động chống phá cách mạng nước ta không có được đám nào làm nổi việc này.

 

Do tàu của địch bị sự cố và phải khởi hành chuyến tiếp theo chậm hơn một ngày, nên ta để Hạnh ở thêm một ngày nữa ở trong nước. Sáng hôm sau, Mai Văn Hạnh và anh em mình “từ giã” ông bà Sáu Tiệm cơ sở của ta bố trí cho Hạnh ở trong thời gian ở “quốc nội”. Lại xuống ghe đi theo đường Kinh Xáng Bạc Liêu, qua Cà Mau rồi đến Rạch Ruộng. Đến Rạch Ruộng thì có các đồng chí Bảy Thất, Ba Tài ra đón. Các đồng chí này trong vai là cơ sở  “Tổ  đặc biệt”. Một cái chòi được dựng trong rừng là của ông bà Năm Tài.

 

Cái chòi này được giao cho đồng chí Mười Lắm chịu trách nhiệm chuẩn bị và đảm bảo an ninh trong thời gian diễn ra các hoạt động của kế hoạch. Đến gần 4 giờ chiều thì ghe tới rừng lá. Sau khi cơm nước xong cả toán ngủ lại một đêm ở trong chòi. Hôm sau khoảng 4 giờ chiều mới lên đường ra bãi biển.

 

Sau khi biết Mai Văn Hạnh vào trong nước an toàn, ngày 16/4, Lê Quốc Túy điện cho Mai Văn Hạnh yêu cầu Hạnh chỉ đạo “Các K trong quốc nội phải trực lo sẵn sàng đón rước C4 trong vòng tháng tới. C4 sẽ đón C5 khi trở về để bàn gấp chuyện này”. Như vậy là Túy cũng nóng lòng được vào Việt Nam như Hạnh.

 

Đến khoảng 20 giờ ngày 19/4/1982 thì tàu đón Hạnh do Trần Văn Bá chỉ huy xâm nhập vào bờ biển Minh Hải. Khi thấy tín hiệu của tàu xuất hiện, Mai Văn Hạnh mừng ra mặt. Phía ta có hai tàu ra đón, trong đó có một chiếc chở Mai Văn Hạnh. Chuyến này, địch đem gần 10 tấn vũ khí gồm đạn AK và B40. Do đồng chí Thi Văn Tám có sáng kiến dùng ống khóa lớn móc vào hai khoeo ở cột buộc dây neo của hai con tàu nên việc nhận “hàng” gọn gàng và đỡ nguy hiểm hơn trước rất nhiều.

 

Kế hoạch đưa đón Mai Văn Hạnh được thực hiện thắng lợi. Đây là một thành công quan trọng, tạo được niềm tin cho bọn đầu sỏ để tiếp tục duy trì Kế hoạch CM-12 theo chủ trương của lãnh đạo Bộ Nội vụ.(còn tiếp)

Đã đóng bình luận.

%d bloggers like this: