Skip to content

Một cách nhìn khác về văn thư của Phạm Văn Đồng

22.05.2011

ĐÔNG DUY

Hội nghị Fontaine Bleau khai mạc ngày 6-7-1946 đè nặng tâm tư phái đoàn Việt Nam, với những tin buồn vừa nhận được từ quê nhà, việc ông cao ủy tu xuất D’Argenlieu công bố thành lập Nam Kỳ quốc tự trị, trong đó có việc thành lập một liên bang Đông Dương với năm nước Nam Việt, Trung Việt, Bắc Việt, Cao Miên, Ai Lao, ngay cả dự trù cao nguyên Mọi cũng tách riêng thành một khu tư trị.
Điện cho Trưởng phái đoàn Pháp tại hội nghị là Max Andre’, D’Argenlieu đe dọa: “Đừng để họ lên giọng, tôi khẳng định một lần nữa là những quyền lực mà chúng ta đã tái lập được ở Đông Dương đủ vững mạnh để có thể tuỳ nghi sử dụng và mang lại thắng lợi cho chính sách tự do và sáng suốt của chính phủ Cộng Hòa Pháp ở Đông Duơng”.
Không khí lạnh lẽo bao trùm Hội nghị ngay từ phút đầu, sau diễn văn chào mừng của phái đoàn Pháp, khi trưởng phái đoàn Việt Nam, Phạm Văn Đồng, lên đáp từ. Bằng những lời lẽ hùng hồn, và những ngôn từ dữ dội, lên án âm mưu chia cắt đất nước của ông, để thành lập một Nam Kỳ tự trị với chính phủ Nguyễn Văn Thinh, Phạm Văn Đồng nói: “Chúng tôi quyết tâm phản đối đến tận cùng, bằng tất cả sức mạnh của một dân tộc 20 triệu người, đứng lên bằng một hành động tự vệ cuối cùng, chống lại sự chia cắt đất nước chúng tôi, chống lại sự thành lập một quốc gia tự trị Nam Kỳ”ø.
Đã trên nửa thế kỷ qua, trên đất nước của kẻ thù, không võ khí trong tay, không bạn bè, con người đã nói được những lời lẽ như trên, và sau đó dành trọn một đời mình đi làm cách mạng, có lẽ nào, nỡ lòng nào, ở cuối đời lại muốn đi vào lịch sử với việc cắt thân thể của tổ quốc ra dâng đất cho ngoại bang.
Tôi không tin một điều như vậy, mặc dù hiện nay, ở hải ngoại, người ta tiếp tục chụp lên đầu ông Phạm Văn Đồng nhãn hiệu Việt gian đã ký giấy dâng cho Trung Cộng những đảo trong vùng biển Nam Hải, đặc biệt là Hoàng Sa và Trường Sa, từ năm 1958.
Đây là một lời cáo buộc nghiêm trọng, không những chỉ liên quan tới vai trò lịch sử của cá nhân ông Phạm Văn Đồng, mà nó còn mang lại những hậu quả chính trị tai hại cho nỗ lực của nước Việt Nam nói chung, trong việc bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ của tổ quốc.
Trước khi đi sâu hơn vào nọâi dung những nỗ lực đấu tranh từ âm thầm qua ngả ngoại giao hoặc xương máu bằng quân sự những yếu tố pháp lý hoặc những đòi hỏi và hành động áp chế của Trung Hoa Lục Địa, hoặc những tài liệu đã được nói đến thật nhiều về bằng chứng chủ quyền của Việt Nam, chúng ta có thể khởi đầu với việc tìm hiểu căn nguyên của những lời cáo buộc này. Vấn đề thật ra không đơn giản như việc vu vơ tố cáo  cựu Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng là bán nước dâng đất cho ngoại bang, trái lại nó liên quan đến nhiều yếu tố thuộc phạm vi chiến lược quốc tế mà thái độ chống Cộng xuẩn động của một số người ở hải ngoại, mang hại nhiều hơn lợi.
Luận điểm cáo buộc ông Phạm Văn Đồng như nêu trên dựa vào một văn thư ngoại giao, mang chữ ký của ông Phạm Văn Đồng, trong cương vị Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, để trả lời một bản “tuyên bố” của Trung Hoa về việc nới rộng hải phận 12 hải lý.
Có hai điểm chính cần được nói đến ngay, đó là công hàm ngoại giao này chỉ là một “trao đổi quan điểm” giữa hai nước “không có giá trị như một hiệp ước”, hoặc chỉ là một thỏa thuận “giới hạn trong thời gian”. (Nói khác đi phút này đồng ý phút sau đổi ý, tùy nhu cầu và mối tương quan giữa hai nước).
Nếu đọc kỹ bản văn trên, người ta còn thấy sự khôn khéo trong cách hành văn ngoại giao, trong đó phía Việt Nam chỉ nói: “Chúng tôi ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-56 của chính phủ Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.”
Có lẽ cần lưu ý đặc biệt những từ ngữ quan trọng nhất trong câu này đó là: ghi  nhận, tán thành và… bản tuyên bố.
Câu văn này có nghĩa là phía Việt Nam ghi nhận ý muốn của Trung quốc muốn nới rộng hải phận qua một tuyên bố đơn phương của mình, và tán đồng ý muốn này.
Và đoạn văn kế đó có thể hiểu ngầm là trong tình trạng giao hảo “lúc đó” giữa hai nước, phía Việt Nam sẽ tôn trọng ý muốn 12 hải lý hải phận của Trung quốc.
Vấn đề “tự ý công bố” về hải phận quốc tế và chủ quyền tài nguyên hàng hải không phải là chuyện mới lạ gì trên thế giới, vì biên cương của các quốc gia vốn không phải là một bờ biển thẳng băng, hay là những hải đảo cô lập ngoài biển khơi, vì thế từ lâu rồi vẫn thường có những tranh chấp quanh vấn đề này, vì hầu như mọi quốc gia đều có những khu vực bờ biển chồng lên nhau, nếu dựa vào ấn định độ xa từ bờ của vùng hải phận quốc gia.
Từ thế kỷ 16, khi các quốc gia Âu châu phát triển những thuyền buồn viễn duyên trang bị súng đại bác, việc xâm lăng được đẩy mạnh nhiều hơn bằng đường biển, nên hải phận quốc gia khởi đầu được ấn định chỉ có 3 hải lý, (dựa vào tầm bắn xa nhất của súng đại bác và tốc độ di chuyển của các tầu đổ bộ). Hải phận này được tăng cường rộng hơn, thành 5 hải lý và 12 hải lý dựa vào khả năng tân tiến của võ khí và hạm đội thù nghịch. Không những thế, về hải phận đánh cá và kinh tế người ta còn chấp nhận vùng hải phận quốc gia mở rộng tới 200 hải lý.
Hiện nay, 12 hải lý hải phận quốc gia hầu như đã được nhiều quốc gia thừa nhận, (trong đó có cả hai anh khổng lồ Hoa Kỳ và Nga), và ấn định này có khuynh hướng càng ngày càng được nới rộng hơn, vì có liên quan tới việc khai thác tài nguyên dưới đáy biển của những quốc gia chung nhau những đại dương.
Bên ngoài 12 hải lý hải phận quốc gia là khu vực thêm “12 hải lý giao thoa”, nới rộng ra thêm là 200 hải lý gọi là vùng “exclusive economic zone”.
Chữ “exclusive” này thật khó diễn tả vì nó không hẳn được hiểu là “đặc quyền kinh tế”, nhưng nó cũng hàm ý là một thứ quyền lợi mà người ngoài không được xía vào. Nói khác đi, phải hiểu đặc quyền (exclusive) khai thác kinh tế này, thuộc về nhiều quốc gia có lãnh thổ đất liền tiếp xúc với biển cả.
Vì những ấn định này nên mới có chuyện “khôi hài mà có thật”, đó là vài năm trước đây, trong một vùng biển giữa Thái Bình Dương mênh mông, bên ngoài lãnh thổ Nhật Bản, có một ngọn núi lửa ngầm đột nhiên hoạt động phun nham thạch lên tạo thành một đảo nhỏ. Hòn đảo này, cũng không khác gì tình trạng của phần lớn những tiểu đảo san hô nửa chìm nửa nổi ở Hoàng Sa hay Trường Sa, chỉ trồi lên trên mặt biển khi thủy triều xuống thấp, nhưng chính phủ Nhật Bản vì nghĩ đến “200 hải lý đặc quyền kinh tế” đã tìm cách xác nhận chủ quyền trên đảo này. Hàng trăm tầu vận tải được vận dụng chở đá và cát  tới khu vực để bồi đắp hải đảo tý hon này cao lên trên mặt biển (khi thủy  triều lên cao).
Sau đó, để ăn chắc chuyện xác nhân chủ quyền lãnh thổ một hải đảo chưa ai tranh giành giữa biển, người Nhật cho xây dựng ngay một hải đăng trên vùng đất bồi.
Vụ hải đảo ngầm này cho thấy một sự giao thoa quan trọng cần phải suy ngẫm về “chủ quyền lãnh thổ” và sự đòi hỏi quyền khai thác tài nguyên biển cả. Hai yếu tố này tuy hai mà một.
Càng mở rộng ý niệm về hải phận, vùng quyền lợi giao thoa (overlap) giữa hai quốc gia, hay nhiều quốc gia càng trở nên phức tạp, mà nếu một quốc gia nào đó ỷ có sức mạnh quân sự lấn lướt, rất dễ tạo nên chiến tranh từ cục bộ tới chiến tranh toàn vùng.
Hiện nay, trải qua không biết bao hội nghị quốc tế về luật biển, nhưng vẫn chưa đâu vào đâu vì ý niệm về an ninh lãnh thổ, hoặc quyền lợi của những quốc gia ven biển vẫn thay đổi không ngừng, theo sự tiến triển của khoa học, kỹ thuật.
Trên 100 năm trước, các chúa Nguyễn lập ra Đội Hoàng Sa chỉ để khai thác những báu vật, kho tàng của các tầu bè trôi dạt, người ta chưa biết đến việc khai thác chất máu đen dầu hỏa từ đáy biển.
Ngành đánh cá cũng chỉ lẩn quẩn cận duyên vì không có phương tiện ướp lạnh. Hiện nay, trong lòng biển đến đáy biển đã trở thành những kho tài nguyên vô tận và miễn phí cho các quốc gia ven biển. Những tranh chấp cũng khơi lên từ đó.
Trong nhiều trường hợp, để tránh đổ vỡ nguy hiểm đưa tới chiến tranh, các quốc gia có vùng hải phận giao thoa, phải tìm cách tương nhượng để đạt “lợi nhuận hợp lý” cho phía mình mà không cần chiến tranh.
Một vài thí dụ điển hình như vùng biên giới cực bắc Hoa Kỳ, tiểu bang Alaska và biên giới Nga, vùng eo biển Bering, vùng vịnh Bengale giữa Ấn Độ và Sri Lanka. Nhiều lắm, khắp nơi trên thế giới đều gặp những khó khăn về hải phận, và những đường biên giới vô hình được “tạm chấp nhận” này, luôn luôn là những quả bom nổ chậm khi phát hiện những nguồn tài nguyên dầu khí dưới lòng biển. Vì thế, đối với một số quốc gia, khám phá được nguồn tài nguyên dưới đáy biển, đôi khi lại trở thành một lời nguyền rủa của thần chết và dấu  hiệu của thống khổ chiến tranh.
Hiện nay, nỗ lực giành dựt lãnh hải của Trung Hoa và qua ngả ngoại giao, được yểm trợ bằng những đe doạ quân sự để đạt tham vọng của mình, đã làm toàn thể các quốc gia trong vùng Đông Nam Á và Á Châu Thái Bình Dương cau mày khó chịu.
Mục đích của Bắc Kinh ngoài việc tranh giành nguồn lợi thiên nhiên, còn được sử dụng như một chất kích thích tố, một chiêu bài để đẩy mạnh việc thống nhất nước Tầu, không chỉ về ngôn ngữ mà cả về phương diện chủng tộc và lành thổ nữa. Nước Tầu cho đến nay gượng ép gọi là một quốc gia, nhưng ở nội dung là cả một đại lục tiềm ẩn nhiều xung khắc nội tại. Người ta không cần có bằng tiến sỹ sử học vẫn có thể nhận ra điều này trong lá cờ đỏ của Trung Cộng với năm ngôi sao tượng trưng cho 5 sắc dân Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng.
Bắc Kinh hiểu rõ yếu huyệt của mình nên một mặt đe doạ, hống hách, nhưng mặt khác vẫn phải tìm cách ve vuốt các quốc gia Đông Nam Á. Từ năm 2002 đến nay, đã liên tục ký kết một loạt các thỏa ước cộng tác và hứa hẹn hòa bình, nhưng cho đến nay, vấn đề chủ quyền lãnh thổ và hải phận trong khu vực biển Nam Hải vẫn chưa thể giải quyết ổn thỏa, nhất là những tranh chấp quyền lợi “vĩ đại” về nguyên liệu trong vùng vịnh Bắc Việt và khu Nam Thái Bình Dương, trong đó có hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Các nhà địa chất học cho rằng, nguyên khu vực vịnh Bắc Việt, có thể là một trong những mỏ dầu lớn nhất thế giới mà dung lựơng lên tới nhiều tỷ thùng dầu. Không những thế, khu vực này lại là nơi có sự giao thoa hải phận của hai đối thủ chính Trung Hoa và Việt Nam.
Trong quá khứ và cho đến hiện nay, nhà cầm quyền Việt Nam ngay từ trước 1975, đã phải và đã từng liên tục tranh thủ khó khăn với ông bạn láng giềng khổng lồ. Đó là điều phải được ghi nhận qua nhiều hội nghị quốc tế kể cả va chạm quân sự.
Trở lại bản văn ủng hộ “12 hải lý” của Trung Cộng, như đã nói hoàn toàn vô giá trị vì không phải là một hiệp ước. Hơn nữa, quy định 12 hải lý hải phận quốc gia không phải là một chuyện mới lạ, và chính Trung Hoa chỉ là người đi theo đuôi nhiều quyết định quốc tế về vấn đề này.
Hơn nữa, một trong những nguyên tắc căn bản quy định về hải phận quốc gia gọi là “khoảng cách tương đồng”, (equal distance) hiện được coi là một mẫu mực quốc tế, có nghĩa là người ta phải hoạch định một con đường ranh, trong đó mọi điểm trên con đường này phải cách đồng đều lãnh thổ đất liền của cả hai nước.
Nói khác đi, nếu một quốc gia đòi 12 hải lý hải phận, quốc gia liên hệ thứ nhì cũng đòi được quyền lợi tương tự.
Tuy nhiên, còn có những yếu tố khác liên hệ đến lãnh thổ biển cả, thí dụ như vấn đề chủ quyền lãnh thổ đã được thiết lập theo lịch sử, hải lộ thông hành v.v… vì thế cần phải phân biệt việc ấn định hải phận và chủ quyền lãnh thổ. Hai yếu tố này phải được cân nhắc đồng loạt.
Thu gọn trong văn bản ủng hộ 12 hải lý hải phận của Phạm Văn Đồng, người ta thấy không vì bất cứ lý do nào ảnh hưởng đến vụ tranh giành Truờng Sa và Hoàng Sa. Do đó, tranh chấp trong khu vực này hoàn toàn chỉ giới hạn trong vấn đề chủ quyền lãnh thổ, dựa vào những xác nhận lịch sử mà mỗi bên sẽ đưa ra.
Nội vụ có thể được giải quyết ổn thỏa qua những vận động chính trị quốc tế, nhưng cũng có thể đổ máu và còn đổ máu nhiều. Những người thực sự có lòng yêïu nước, sẽ còn nhiều cơ hội để thực sự hi sinh xương máu .
Những lời cáo buộc vu vơ của một bọn ngườixuẩn động như hiện nay, cứ cố gắng buộc tội vô lối là nhà nước Việt Nam đã dâng đất cho Trung Cộng, chính là một hành động nối giáo cho giặc vì nó chính là sự xác nhận chính danh của Trung Cộng trong các đòi hỏi lãnh hải Trường Sa và Hoàng Sa.
Cuộc đấu tranh để tồn tại lý lịch Việt Nam bên cạnh anh khổng lồ Trung Hoa, xin được lập lại lời tuyên bố của Phạm Văn Đồng tại Hội nghị Fonetain Bleau trên nửa thế kỷ qua, nhưng xin đổi một vài chữ cho hợp với trường hợp của Hoàng Sa:
“Chúng tôi quyết tâm phản đối đến tận cùng, bằng tất cả sức mạnh của một dân tộc 90 triệu người, (kể cả hai triệu người Việt khắp bốn bể năm châu) đứng lên bằng một hành động tự vệ cuối cùng, chống lại sự chia cắt đất nước chúng tôi, chống lại sự cướp giựt hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của đế quốc Trung Hoa.”

From → Bình Luận

Gửi bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: