Skip to content

Lịch sử cờ vàng

22.05.2011

NGUYỄN MẠNH QUANG

Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có quốc kỳ và quốc ca. Quốc kỳ và quốc ca gần như là một cặp song sinh hay bóng với hình. Nhìn thấy quốc kỳ là người ta nhớ đến quốc ca, và nghe thấy quốc ca là người ta hình dung đến lá quốc kỳ. Thông thường quốc kỳ có trước rồi mới có quốc ca.
Có người đã đặt ra câu hỏi tại sao quốc kỳ phải có trước quốc ca?
Người viết không biết phải trả lời thế nào cho nó đúng với câu hỏi trên đây. Có thể các nhà ái quốc khi tham gia vào các phong trào chiến đấu đánh đuổi quân xâm lăng vì xúc động trước lòng nhiệt huyệt quyết tâm liều chết cho đại cuộc cứu nước nên đã sáng tác ra được bài quốc ca có giá trị thích hợp với hoàn cảnh lịch sử và trở thành linh hồn cho lá quốc kỳ mà tác giả thực sự là một thành phần đang chiến đấu cho cái lý tưởng họ đang theo đuổi. Đây là trường hợp quốc kỳ và quốc ca của nước Pháp nước Mỹ và nước Việt Nam hiện nay. Người viết đem những trường hợp này làm tiêu biểu vì là những lá cờ quen thuộc với dân Việt Nam từ thời Pháp thuộc cho đến nay.
Về trường hợp quốc kỳ và quốc ca của nước Pháp hiện nay, lá cờ hiện nay của nước Pháp đã có từ ngày sau khi Cách Mạng Pháp bùng nổ và ngày 14/7/1789. Nói về sự xuất hiện là cờ tam tài của Pháp hiện nay, sách “Cách Mạng và Hành Động” viết:

“Sau khi nghe ngục Bastille thất thủ, nhiều người trong hoàng tộc bỏ Vua Louis XVI để xuất ngoại. Bị cô lập trong điện Versailles, Louis XVI đành chịu đầu hàng. Ngày 15/7 vua ra mắt Quốc Hội chính thức báo tin rằng sẽ giải tán những quân đội tập trung gần điện Versailles. Tới ngày 17/7 (1789), vua ngự giá tới Ba Lê, và chấp nhận lá cờ cách mạng; cờ này gồm ba mầu, xanh và đỏ là màu của Ba Lê, và mầu trắng tượng trưng cho nhà vua.” Nghiêm Xuân Hồng, Cách Mạng và Hàng Động (Sàigòn: Quan Điểm, 1964), tr. 34.
Một nguồn tài liệu khác cũng ghi nhận như vậy:
“The colours are those of Paris (blue and red) combined with the Royal white (the dispossession and execution of the King still lay in the future when the tricolore was first used). http://www.languedoc-france.info/06141201_tricolore.htm
Cho tới khi nước Pháp bị Liên Minh Thánh Phổ – Áo – Vatican tràn vào lãnh thổ vào năm 1792 với dã tâm đập tan chính quyền Cách Mạng để tái lập vương quyền cho vua Louis XVI và phục hồi quyền lực và quyền lợi cho Vatican thì bản quốc ca Pháp mới ra đời khi đoàn dân quân cách mạng vừa tiến về Paris vừa ca bản Marseillaise. Cụ Nghiêm Xuân Hồng ghi lại sự kiện này như sau:
“Chưa bao giờ cuộc khởi loạn lại được chuẩn bị một cách công khai như thế. Dân chúng đều gần như biết trước nhật kỳ khởi loạn. Trong thời gian đó, một số tình nguyện quân của các tỉnh đã tới Ba-lê. Khi đí đường đám quân tình nguyện Marseillais đã đặt một bản hành khúc lấy tên là “La Marsaillaise” để cổ võ dân chúng đầu quân chống xâm lăng. Khi các tình nguyện quân tới Ba-lê, Robespierre yêu cầu họ ký kiến nghị truất phế nhà vua. Tới đêm 9/8/(1792), 48 khu phố Ba-lê bầu cử những đại diện mới tới tòa Thị Chính để thay thế nhân viên của của Ba Lê Công Xã mà họ cho là thiếu cương quyết. Nhóm Ba Lê Công Xã Mới được mệnh danh là Công Xã Khởi Nghĩa.” Nghiêm Xuân Hồng, Sđ d., tr. 49.
Wikipedia, the free encyclopedia, viết:
“Bản nhạc La Marseillaise do Claude Joseph Rouget de Lisle thuộc phe bảo hoàng ở Strasbourg sáng tác vào ngày 25/4/1972. Nguyên thủy, tên của bản nhạc này là “Khúc Ca Quân Hành” của đạo quân Rhin”. Tác giả viết bài ca chiến tranh của quân đội xứ Rhin để tặng Thống Chế Nicolas, vị tướng lãnh Pháp gốc ở Cham sinh tại Bavarian. Bài ca này là tiếng gọi dân Pháp vùng lên theo Cách Mạng Pháp và trở thành quốc ca vì được quân lính cách mạng hát lên trên đường từ Marseille tiến tới Kinh Thành Paris.” Nguyên văn: “La Marseillaise” is a song written and composed by the Royalist citation needed Strasbourg on April 25, 1792. Its original name was “Chant de guerre de l’Armée du Rhin”, “Marching Song of the Rhine Army” and it was dedicated to Marshal Nicolas Luckner a Bavarian born French officer from Cham. It became the rallying call of the French Revolution and received its name because it was first sung on the streets by troops (fédérés) from Marseille upon their arrival in Paris
”Quốc Ước Hội Nghị chấp thuận bài ca này làm bài quốc ca bằng một quyết định vào ngày kỷ niệm phá ngục Bastille năm 1795, nhưng sau đó bị cấm trong thời các chính quyền của Hoàng Đế Napoléon I, Vua Louis XVIII và Hoàng Đế Napoléon III, chỉ được sử dụng lại trong thời kỳ Cách Mạng tháng 7/1830, rồi tới năm 1879 mới được sử dụng liên tục cho đến ngàn nay.” Nguyên Văn: The Conventiion accepted it as the French national anthem in a decree passed on Bastiile Day 1795, but it was then banned successively by Napoléon I, Louis XVIII, and Napoléon III, only being reinstated briefly after the July Revolution of 1830 and then permanently in 1879.”
Về trường hợp quốc kỳ và quốc ca của nước Mỹ hiện nay, giống như trường hợp quốc kỳ và quốc ca của Pháp, lá quốc kỳ của nước Mỹ đã có từ thời chiến tranh Cách Mạng 1776-1783, nhưng mãi tới khi đang tiến hành cuộc chiến Anh – Mỹ 1812, bản quốc ca Hoa Kỳ mới ra đời do một sĩ quan Hải Quân Mỹ sáng tác và sau đó được Quốc Hội Mỹ chấp thuận. Về lá cờ Mỹ hiện nay, The Intenet Archive viết:

“Lá cờ sao sọc được Hội Nghị Đại Lục chính thức công nhận là quốc kỳ vào ngày 14/6/1777, một năm sau khi Hoa Kỳ tuyên bố độc lập.” Nguyên văn: “Well, the Stars and Stripes came to be regarded as the national flag with the official recognition of the Continental Congress on June 14, 1777. This was the year following our nation’s independence.”)
“Năm 1818, có thêm 5 tiểu bang mới được thâu nhận vào Liên Bang Hoa Kỳ. Năm đó Quốc Hội ban hành luật quy định số sọc vẫn là 13 sọc, số sao là số của số của các tiểu bang trong Liên Bang. Luật này cũng quy định rằng khi Liên Bang có thêm một tiểu bang mới, thì quốc kỳ sẽ có thêm một ngôi sao nữa và ngôi sao mới này sẽ được thêm vào quốc kỳ vào ngày lễ Độc Lập 4/7 kế tiếp của ngày tiểu bang đó được thâu nhận vào Liên Bang. Kể từ đó cứ theo quy luật này.” Nguyên văn: “In 1818, with five more states being admitted, the Congress enacted legislation. This stated that henceforth the stripes should remain 13, whereas the number of stars should always match the number of states. It was also decided that any new star should be added on the July 4 following a state’s admission. This has been the system ever since.”
Về bản quốc ca Hoa Kỳ, Wikipedia, the free encyclopedia viết:
“Bài hát the Star Spangled Banner là quốc ca của Hoa Kỳ, với bài thơ tình cảm do Francis Scott Key sáng tác vào năm 1814. Tác giả vốn là một luật sư, lúc đó ở vào tuổi 35 và là một thi sĩ tài tử (không chuyên nghiệp). Ông viết bài ca này như một bài thơ vào sau khi ông nhìn thấy cảnh Đồn McHenry ở Baltimore, Maryland bị các chiến tàu Anh từ Vịnh Chesapeake trong cuộc Chiến 1812 bắn phá dữ dội. Bài thơ này có tựa đề là “Bảo Vệ Đồn McHenry” và được hát theo giọng của bài dân ca uống rượu có tên là “The Anacreontic Song” của người Anh , dòng thơ đầu tiên “Cho Anacreon ở Thiên Đường” được nhiều người biết và trở thành bài ca yêu nước nổi tiếng của người Hoa Kỳ. Với âm giai một và một rưỡi rất khó hát. Bài ca này được chính thức công nhận là Hải Quân Hành Khúc của Hải Quân Hoa Kỳ vào năm 1889, năm 1916 được Tổng Thống (Woodrow Wilson) [đề nghị Quốc Hội chấp nhận] và vào ngày 3/3/1931 được Quốc Hội quyết định chọn làm quốc ca. Mặc dầu bài ca này có 4 đoạn, những chỉ có đoạn thứ nhất là thường được hát với đoạn thư 4 ( “O thus be it ever when free men shall stand …”) được hát thêm vào những trường hợp trang trọng.”. Nguyên văn: “The Star-Spangled Banner” is the national anthem of the Unité States, with lyrics written in 1814 by Francis Scott Key. Key, a 35-year-old lawyer and amateur poet, wrote them as a poem after seeing the bombardment of Fort McHenry in Baltimore, Maryland, by Britishships in Chesapeake Bay during the War of 1812.The poem, titled “Defense of Fort McHenry,” was set to the tune of the popular British drinking song “The Anacreontic Song”, more commonly known by its first line, “To Anacreon in Heaven”, and became a well-known American patrotic song. With a range of one and a half octaves, it is known for being difficult to sing. It was recognized for official use by the Navy in 1889 and the President in 1916, and was made the national anthem by a Congressional resolution on 3 March 1931 (46 Stat. 1508, codified at 36 USC §301). Although the song has four stanzas, only the first is commonly sung today, with the fourth (“O thus be it ever when free men shall stand …”) added on more formal occasions.”
Về quốc kỳ và quốc ca Việt Nam hiện nay.- Tương tự như quốc kỳ và quốc ca của nước Pháp và nước Mỹ, quốc kỳ Việt Nam hiện nay cũng ra đời trước, rồi sau đó bản quốc ca mới xuất hiện và mới được quốc hội chấp thuận. Nói về lịch sử quốc kỳ và quốc ca Việt Nam hiện nay, Báo Nhân Dân Việt Nam số ra ngày 27/6/06 trình bày khá đầy đủ với nhiều chi tiết. Nếu ghi lại toàn bộ bài viết này sẽ làm cho chương sách này quá dài. Chúng tôi chỉ ghi lại một vài đoạn để độc giả nhìn rõ cái điều quan trọng ở đây là quốc kỳ có trước quốc ca. Dưới đây là mấy đoạn quan trọng nói về quốc kỳ Việt Nam hiện nay:

“Lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện lần đầu tiên trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chống thực dân Pháp (23/11/1940). Tác giả sáng tạo ra lá cờ nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh này là đồng chí Nguyễn Hữu Tiến (sinh ngày 5/3/1901 tại Hà Nam, hy sinh ngày 28/8/1941). Tâm huyết của tác giả khi sáng tạo ra lá cờ tổ quốc được khắc họa rõ nét trong bài thơ của ông:
Hỡi những ai máu đỏ da vàng
Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc
Nền cờ thắm máu đào vì nước
Sao vàng tươi, da của giống nòi
Đứng lên mau hồn nước gọi ta rồi
Hỡi sỹ nông công thương binh
Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh.
Tháng 5/1941 tại Khui Nậm, Cao Bằng, Lãnh tụ Hồ Chí Minh chủ trì hội nghị Trung ương VIII quyết định thành lập tổ chức Việt Nam Độc Lập đồng minh – đoạn mở đầu chương trình Việt Minh ghi rõ: “Sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp, Nhật, sẽ lập nên Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, lấy cờ đỏ sao vàng 5 cánh làm Quốc kỳ”. Đây là văn bản đầu tiên, chính thức quy định Quốc kỳ của nước Việt Nam là cờ đỏ sao vàng.
Ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào, Tuyên Quang đã quyết định Quốc kỳ Việt Nam là nền đỏ. ở giữa có một sao vàng năm cánh.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Quốc hội khóa đầu tiên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa năm 1946 đã ghi vào Hiến pháp: “Quốc kỳ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh”.
Bài hát “Tiến quân ca” được nhạc sỹ Văn Cao (1923-1995) sáng tác vào cuối năm 1944. Ngay sau khi ra đời, bài hát đã được các chiến sỹ cách mạng tiếp nhận và trở thành bài hát chính thức của Mặt trận Việt Minh. Quốc hội khóa đầu cuả nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã quyết định lấy bài “Tiến Quân Ca” làm quốc ca Việt Nam.
(Theo Nhân Dân hàng tháng, số 4/8 – 1997)
Trích NDVN, ngày 27/6/06

VỀ QUỐC KỲ VÀ QUỐC CA
CỦA CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM

Như đã trình bày ở trên, quốc kỳ và quốc ca của chính quyền Quốc Gia Việt Nam thoát thai từ Giải Pháp Bảo Đại do Liên Minh Thánh Pháp – Vatican cho ra đời vào ngày 5/6/1948. Sư ra đời của lá cờ này có một tính cách nghịch thường vì nó được cho ra đời sau bài quốc ca tới hơn sáu năm. Điều này cũng giống như tính cách nghịch thường của các chính quyền Bảo Đại cũng như chính quyền Ngô Đình Diệm và các chính quyền khác ở miền Nam cho đến ngày 30/4/1975. Nghịch thường vì rằng những thành phần lãnh đạo, các viên chức cao cấp và nhân viên thừa hành, các bộ, quân đội và các tổ chức phụ thuộc của các chính quyền này đều do các thế lực ngoại bang nặn ra, nuôi dưỡng, trả lương và trang bị bằng đồng tiền của người ngoại bang, được bảo vệ bằng quân đội của người ngoại bang để thi hành những lệnh truyền của người ngoại bang với mục đích phục vụ cho quyền lợi của người ngoại bang.
Ấy thế mà chính quyền này lại được gọi là “chính quyền quốc gia”!
Những người lãnh đạo chính quyền này là những tên Da-tô Việt gian mang quốc tịch Vatican “tuyệt đối tin tưởng vào Vatican” đã “đem nước Việt Nam dâng cho Vatican trong một buổi lễ được tổ chức hết sức long trọng vào tháng 2/1959. Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr 126-127. ”[i] mà lại được chúng gọi là “các nhà chí sĩ yêu nước” là “các nhà ái quốc” . Rồi tới khi thế lực nặn ra cái chính quyền quốc gia này triệt thoái, rút ra khỏi đất nước thì toàn bộ các nhà lãnh đạo và nhân viên cao cấp của cái chính quyền nghịch thường này cũng cuốn gói ra đi chạy theo chân quan thày ra nước ngoài sống lưu vong nuối tiếc cái thời oanh liệt và hè nhau mưu đồ bơi ngược dòng lịch sử “rước con voi Vatican về giầy mả tổ Việt Nam” như ông cha họ đã làm hồi thế kỷ 19.

A.- VỀ BÀI HÁT TIẾNG GỌI THANH NIÊN
Quốc ca của chính quyền quốc gia do Lỉên Minh Thánh Pháp – Vatican cho ra đời là bài Tiếng gọi Thanh Niên của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sáng tác vào đầu năm 1942. Về bài hát này, ông Nguyễn Ngọc Huy ghi nhận như sau:
“Bản quốc ca của chúng ta hiện nay có một lịch sử đặc biệt. Người sáng tác bản nhạc là Lưu Hữu Phước, một cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký và cựu sinh viên Viện Ðại Học Hà Nội. Nếu tôi không lầm thì bản nhạc này đã được soạn ra lúc Lưu Hữu Phước còn học ở trường Pétrus Ký. Năm 1942, anh ta là sinh viên của Viện Ðại Học Hà Nội. Thời Thế Chiến II, Viện Ðại Học này là Viện Ðại Học duy nhứt của các nước Ðông Dương. Nó có khoảng 800 sinh viên trong đó phân nửa là người Việt Nam, còn lại là người Khmer, người Lào, người Pháp và ngay cả người một số nước láng giềng như Trung Quốc và các nước Ðông Nam Á Châu.
Vì là Viện Ðại Học duy nhứt của Ðông Dương nên Viện Ðại Học Hà Nội đã họp tập tất cả sinh viên Việt Nam thời đó. Các sinh viên ái quốc gia nhập các chánh đảng cách mạng tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam đã tổ chức những tổ bí mật tại đó. Ðặc biệt Ðại Việt Quốc Dân Ðảng có đảng trưởng Trương Tử Anh và một cán bộ nồng cốt là Anh Nguyễn Tôn Hoàn học tại Viện Ðại Học Hà Nội thời Thế Chiến II. Anh Nguyễn Tôn Hoàn là người giỏi về nhạc nên được bầu làm Trưởng Ban Âm Nhạc của Tổng Hội Sinh Viên Ðông Dương (Association Générale des Eùtudiants Indochinois) và anh đã lãnh nhiệm vụ bí mật hướng dẫn các sinh viên hoạt động về văn hóa theo chiều hướng tranh đấu chống thực dân.
Chiều ngày 15 tháng 3 năm 1942, Tổng Hội Sinh Viên Ðông Dương (THSVÐD) đã tổ chức tại Ðại Giảng Ðường của Viện Ðại Học Hà Nội một buổi hát để lấy tiền giúp các bịnh nhơn nghèo của các bịnh viện được dùng làm nơi thực tập cho các sinh viên Khoa Y Dược. Các sinh viên Việt Nam đóng vai tuồng chủ động trong Tổng Hội đã quyết định nhơn cơ hội này tung ra một bản nhạc đặc biệt là Sinh Viên Hành Khúc, tên Pháp là Marche des Étudiants. Anh Nguyễn Tôn Hoàn được ủy nhiệm chọn bản nhạc dùng vào công việc đó. Lúc ấy, Lưu Hữu Phước đã đưa cho anh một số bài nhạc do anh ta soạn. Anh Nguyễn Tôn Hoàn nhận thấy rằng trong tất cả các dự thảo của Lưu Hữu Phước, bản nhạc mà chúng ta hiện dùng làm quốc thiều có tánh cách khích động tinh thần tranh đau hơn hết nên đã chọn nó làm nhạc cho Sinh Viên Hành Khúc. Sau đó, một ủy ban soạn lời ca cho bản nhạc này đã được thành lập với Ðặng Ngọc Tốt, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng, Phan Thanh Hòa, Hoàng Xuân Nhị.
“Buổi hát chiều ngày 15 tháng 3 năm 1942 đã đưa đến những kết quả mỹ mãn và bản Sinh Viên Hành Khúc tên Pháp là Marche des Étudiants đã được chánh thức công nhận là bản nhạc của THSVÐD. Mùa hè năm đó, Tổng Hội này lại tổ chức một buổi lễ mãn khoá tại Nhà Hát Lớn Hà Nội. Lần này, có Toàn Quyền Ðông Dương và nhiều viên chức cao cấp Pháp khác đến dự. Bản Sinh Viên Hành Khúc được dàn nhạc của Hải Quân Pháp trình tấu. Âm điệu hùng hồn của nó đã làm mọi người khích động và khi nó được trổi lên, tất cả mọi người tham dự lễ mãn khoá năm 1942 của Viện Ðại Học Hà Nội, kể cả các viên chức cao cấp Pháp, đều đã nghiêm chỉnh đứng dậy để chào nó. Sau đó, nó được phổ biến khắp nơi. Các sinh viên Pháp, Khmer và Lào dĩ nhiên là theo lời ca Pháp. Về phía Việt Nam thì các sinh viên chỉ lo đi học chớ không có nhiệt tâm tranh đấu chánh trị cũng chỉ biết có lời ca Pháp. Phần các sinh viên Việt Nam có nhiệt tâm tranh đấu cho nền độc lập của dân tộc thì đem ra phổ biến ở khắp cả ba kỳ trong kỳ nghỉ hè năm đó với lời ca tiếng Việt, nhứt là đoạn I nói trên đây. Vì thế, từ năm 1943, bài Sinh Viên Hành Khúc đã được người Việt Nam ở cả ba kỳ biết.” http://www.yahoo.com. “Tiếng Gọi Thanh Niên[ii]
Nói về bài hát Tiếng Gọi Thanh Niên này, ông Nguyễn Quang Minh nói rằng:
“Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước làm bài hát này là để đánh Tây, đuổi Mỹ, chớ đâu để cho người miền Nam hát như con vẹt.” Nguyễn Quang Minh. “Chuyện Lá Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ.” .NGUYENQUANGMINH1@aol.com, ngày Thứ Ba 9/8/2005 phổ biến rộng rãi trên các thư nhóm -mail groups[iii] .

B.- VỀ LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ
Nói về tác giả hay thế lực nào đã hoạ kiểu hay chế ra lá cờ vàng ba sọc đỏ, chúng tôi xin ghi lại một tài liệu nói về lá cờ này trong cuốn Tâm Thư của cụ Đỗ Mậu với nguyên văn như sau:
“Ai là tác giả lá cờ vàng ba sọc đỏ?
Đọc trong cuốn Việt Nam Nhân Chứng của Tướng Trần Văn Đôn, ở trang 74, ông có cho biết ông đã đề nghị thay lá cờ chữ Ly của chính phủ Trần Trọng Kim ra lá cờ vàng ba sọc đỏ.
Nhưng ai đã vẽ ra lá cờ đó?
Tình cờ tôi đọc được trong quyển: Giải Phóng: The Fall and Liberation of Saigon của Tiziano Terzani (St. Martin’s Press, New York, 1976), viết như sau:
With LeMaitre gone, relations improved between the new authorities and the Church, even the official one. Archbishop Nguyen Van Binh gave his support to Father Thi’s group and to the magazine Cong Giao va Dan Toc (“Catholics and People”), and participated along with 250 other prelates in a meeting organized at Doc Lap where members of the PRG explained their policy and reassured the Catholics.
Binh tried to bring Monseigneur Thuan along to the meeting, but the palace told him that his presence was not needed. When I left Saigon, Thuan was rumored to be negotiating his resignation in exchange for permission to leave Vietnam.
As a first concession to the new authorities the Church agreed to participate in a joint committee that quietly began studying the possibility of changing the wording of prayers.
“I don’t see what there is to change. Thousands of Vietnamese have gone to heaven with those prayers,” Father Tran Huu Thanh said acidly. Father Thanh had stayed in Saigon. He had not placed himself at the head of an armed band of Catholic resisters and he had not been imprisoned by the bo doi, as it was rumored after the liberation. Even he, one of the symbols of the most deepseated Catholic anti-Communism, was able to carry on with his life in the Redemptorist church on Ky Dong street. When I went to see him one Sunday in June he had just finished saying mass. The sacristy was full of people coming to confess or to ask advice, and in front of the gaudy Madonna there was the usual crowd of women praying and beggars holding out their hands.
Of all the parish priests who had fled from the North in 1954, he had been one of the most influential. An ideologue and adviser to Diem, it was who designed the “three banded” flag that flew over Saigon until the Liberation.
“The three red stripes represent the three regions of Vietnam – Tonkin, Annam, and Cochin-China – but also the Trinity,” he once explained to me. (tr, 261).”
Tạm dịch: Với sự ra đi của Khâm-sứ LeMaitre, sự liên hệ giữa chính quyền mới và Nhà Thờ sẽ tốt hơn ngay cả với giới lãnh đạo. Được sự hậu thuẫn của nhóm Linh-mục Thi và tờ báo Công Giáo và Dân Tộc, Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình cùng với 250 tu sĩ cao cấp khác đến tham dự buổi họp với các thành viên của Ủy Ban Quân Quản Sàigon tại Dinh Độc Lập để họ giải thích chính sách của họ và để trấn an những người Thiên Chúa giáo.
Đức Cha Bình cố gắng đưa Đức Cha Thuận đi theo tới chỗ họp, nhưng Ủy Ban Quân Quản Sàigon bảo rằng sự hiện diện của Đức Cha Thuận là không cần thiết. Khi tôi rời Sàigon, có tin đồn rằng Đức Cha Thuận đã thương lượng xin từ chức để đổi lấy sự ra đi khỏi Việt Nam.
Sự nhượng bộ đầu tiên với chính quyền mới là Nhà Thờ đã đồng ý cộng tác với chính quyền để xem chỗ nào có thể thay đổi được trong những lời cầu nguyện.
Linh-mục Trần Hữu Thanh chua chát nói: “Tôi không thấy cần phải thay đổi điều gì. Hàng ngàn người Việt Nam đã lên thiên đường với những lời cầu nguyện đó.”
Linh-mục Thanh ở lại Sàigon. Ông ta không chịu làm lãnh tụ nhóm Da-tô vũ trang chống chính phủ, và ông cũng không bị bộ đội bắt bỏ tù như tin đồn sau Giải Phóng. Ngay cả ông ta, một trong những biểu tượng của Da-tô giáo chống Cộng mãnh liệt nhất, vẫn có thể tiếp tục cuộc sống trong Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng.
Tôi đến gặp Linh-mục Thanh vào một ngày Chủ Nhật trong Tháng 6 (1975) khi ông vừa làm lễ xong. Nhà thờ đầy người tới xưng tội hay xin ý kiến, và ở trước tượng Đức Mẹ là đám đông đàn bà thường hay đến đó cầu nguyện và có những người ăn mày chìa tay ra xin.
Trong số các linh mục di cư từ Bắc vào Nam năm 1954, Linh-mục Thanh là một trong số những linh mục có nhiều ảnh hưởng nhất. Vừa là một người có ý thức hệ cực đoan vừa là cố vấn cho ông Diệm, chính ông là người vẽ ra lá cờ “ba sọc” bay phất phới tại Sàigon cho đến ngày Giải Phóng. Ba sọc đó tượng trưng cho ba miền của Việt Nam: Bắc, Trung, Nam – nhưng cũng là “Ba Ngôi” (Trinity, tam vị nhất thể, chúa cha, chúa con và Thánh thần), ông đã có lần giải nghĩa cho tôi nghe như vậy.”[iv]
Dưới đây là lời nhận xét của cụ Đỗ Mậu:
“Một linh mục đã nói ra tôi tin ông không nói dối và trong giai đoạn đó nói dối được cái gì. Linh-mục Thanh còn sống. Tác giả Terzani còn sống, chúng ta có thể kiểm chứng được. Như vậy, người vẽ ra lá cờ vàng ba sọc đỏ là Linh-mục dòng Tên Trần Hữu Thanh, người chấp nhận là Quốc Trưởng Bảo Đại, ông ta là con nuôi của Khâm-sứ Jean Charles. Bảo Đại sang Pháp đi học đã ở nhà bố nuôi từ năm 1922 đến năm 1932 (Bảo Đại còn sống có thể kiểm chứng). Người ký “Pháp Qui Tạm Thời” cho thi hành treo Quốc Kỳ vàng ba sọc đỏ và bài Quốc Ca của Lưu Hữu Phước vào ngày 1/6/1948 tức là ngày 24/4 năm Mậu Tý là Thủ Tướng dân Tây Nguyễn Văn Xuân có vợ đầm, có Đổng Lý Văn Phòng Phủ Thủ Tướng là ông Tây André Bauvais – Người đề nghị lấy lá cờ vàng ba sọc đỏ thay cho cờ quẻ Ly là André Trần Văn Đôn, từng xách cặp, tức “Aide de camp” của ông Xuân.
(Lại có tin ông Nguyễn Văn Tâm, Hùm Xám Cai Lậy, cũng tự nhận là tác giả lá cờ vàng ba sọc đỏ. Lịch sự hình thành lá cờ vàng ba sọc đỏ là như thế.).” [v]
Phần trình bày trên đây cho chúng ta thấy rõ “lá cờ vàng ba soc” do chính Giáo Hội La Mã chủ động họa kiểu đưa ra với mục đích làm biểu tượng cho quyền lực của Vatican và được ngụy tạo làm biểu tượng cho “chính nghĩa quốc gia” của “những người Việt quốc gia”. Việc chế ra là cờ này có mục đích là để vừa làm bức bình phong che đậy cái bản chất làm tay sai cho Pháp và Vatican của cái chính quyền quốc gia này, vừa giúp cho những tên Việt gian trong hàng ngũ quan lại trong thời “trăm năm nô lệ giặc Tây” bấu víu lấy nó để trút được cái gánh nặng mặc cảm tội ác làm Việt gian của họ. Đồng thời, trong việc chế ra cờ này, Giáo Hội La Mã cũng lthâm ý là để vừa lạc dẫn (đánh lừa) những thị dân tiểu tư sản hay các thành phần phú hào sống trong vùng “tạm chiếm” nhằm lôi cuốn họ theo phe Liên Minh Thánh Xâm Lược Pháp – Vatican mà họ lầm tưởng rằng sẽ không sợ bị mang tiếng là Việt gian phản quốc, nhất là đối với những thị dân ngây thơ và ít học, không bao giờ được học lịch sử thế giới và cũng chẳng bao giờ được học những bài học lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại một cách trung thực. Do đó, họ không biết gì về vai trò đạo diễn của Giáo Hội La Mã trong chủ trương tấn chiếm thống trị Việt Nam từ hồi thế kỷ 19 cũng như trong mưu đồ tái chiếm Việt Nam vào giữa năm 1945.

Gửi bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: