Skip to content

NGÔN NGỮ CỜ VÀNG

Xichloviet

Các anh cờ vàng luôn lải nhải rằng CSVN là tay sai Tàu cộng, luồn cúi bọn Tàu để giữ đảng , ai cũng thấy rằng đó chỉ là những luận điệu vu vạ tầm thường nhằm  phản pháo trả đũa vụng về gỡ gạc cái nhục  làm  tay sai đế quốc của các anh.

Lịch sử cho thấy đâu có ai vu oan cho các anh, các anh làm là tay sai, làm lính đánh thuê cho đế quốc là thực tế quá rõ ràng không cần bàn cãi vì chẳng có ai chụp cái  mũ lên đầu các anh mà chính các tướng lãnh cao cấp của các anh và ngay cả tổng thống và phó tổng thống các anh đều đã thừa nhận rồi.

Các anh lãnh lương của ai? Tổng thống các anh tuyên bố xanh dờn rằng Bu bóp hầu bao thì không phải đến 3 năm hay ba tháng mà chỉ cần 3 ngày là ông ta tẩu khỏi đinh Độc lập. Các anh nghĩ sao?   Các anh đánh đấm tùy thuộc vào cái hầu bao của Bu thì không gọi là đánh thuê thì gọi là cái gì đây?  Bu các anh cũng thừa nhận rồi, ai cũng biết rồi chỉ có các anh bịt tai bịt mắt cố tình lờ đi mà thôi.

Việc  CSVN có  làm tay sai cho Tàu hay không thì chẳng bõ công tranh cãi với các anh làm gì,  tốt nhất xin mời các anh hãy hỏi BU các anh thì rõ trắng đen ngay. Các anh cứ nhìn Bu các anh đang o bế CSVN như thế nào để các anh mở mắt ra chứ có khó gì đâu. Chỉ riêng việc bắt tay với CSVN để trở thành “quan hệ đối tác toàn diện” thì các anh có dám cho rằng Bu quá ngu bắt tay và hỗ trợ với thằng tay sai Tàu cộng không? Hai mươi tỷ đô la BU trao đổi thương mại với VN và còn tăng lên nữa, làm lợi cho CS đến thế lại là thằng CS tay sai Tàu thì các anh nghĩ sao đây ? Bu ngu hay các anh ngu?

Trong khi đa số dân Mỹ được hỏi trả lời rằng kẻ thù số 1 của Mỹ không phải là Iran không Phải là Bắc Hàn mà chính là Tàu thì chính phủ Mỹ ăn nói làm sao khi bắt tay thân thiết với thằng tay sai Tàu ?  Quả là ngu và liều thật các anh nhỉ !

Các anh tố cộng cho nó bõ ghét, chửi cho sướng mồm  thôi chứ các anh bới gần  bốn chục năm rồi cũng chẳng tìm đâu ra được cái lý để thuyết phục người dân tin theo các anh.

Thế nhưng nếu người ta bảo chính các anh mới là những kẻ  ái mộ Tàu thì sao nhỉ ? Chắc chắn  các sẽ nhảy dựng lên mà phản đối rồi. Khoan nói đến chuyện các anh mừng húm hả hê  khi Tàu nó đánh VN năm 79 và lập đàn cầu cho nó đánh chiếm Hà Nội vì điều đó chưa cho thấy rõ là các anh khoái Tàu. Trước năm 75 , ở ngay thủ đô các anh , các anh đã giang rộng vòng tay ưu ái cho Tàu nó chiếm gọn 90% xuất nhập cảng, 80% bán buôn và 50% bán lẻ, ưu ái để cho Tàu nó  nắm gọn trong tay nền kinh tế, thao túng lũng đoạn hoàn toàn  thị trường, làm chủ giá cả,  thì rõ là các anh thương nó quá rồi còn gì.

Cũng chính vì quá  ái mộ Tàu nên các anh bị Tàu hóa rất nặng nề  thể hiện rõ nhất trong ngôn ngữ các anh dùng mà tôi xin được gọi là ngôn ngữ cờ vàng. Anh cờ vàng nào cũng ra sức chêm vào những bài viết hay  những câu nói của mình  từ ngũ  Hán Việt càng nhiều càng tốt, càng khó hiểu càng tốt, như thế các anh mới cho là có học, là sang, là trí thức,  không gọi các anh quá  ái mộ Tàu là gì?. Tiếng mẹ   đẻ có sẵn các anh không dùng các anh dùng cái tiếng lai căng Tàu phù mà các anh cứ ngoác mồm ra chửi CS các anh tưởng mọi người mù hết rồi sao?

Bỏ chạy thì các anh giọi là giải tán nhiệm sở tác chiến

Vũ khí hư hại các anh nói nó bất khiển dụng

Tuột quần tháo chạy các anh nói hành quân triệt thoái

Tụ tập nhau lại để chạy các anh gọi là tái phối trí lực lượng

Bỏ chạy mất hết  súng ống  các anh gọi là tản thất quân dụng

Súng bắn không nổ các anh gọi là trở ngại tác xạ

Người  ta đặt tên cho tờ báo trùng với một cái tên ờ vàng các anh bảo tiếm danh

Nhà máy nước các anh gọi là Saigon thủy cục

Trường đại học khoa học các anh gọi khoa học đại học đường

Làm cho sáng tỏ thì các anh gọi là bạch hóa

Sao thế nhỉ?  tiếng ta có không xài cứ lấy tiếng lai Tàu phù ra mà khoe lại còn hãnh diện khoác lác nữa thì chống Tàu cái nỗi gì?

Thời gian đầu khi CS tiếp quản Saigon các anh mỉa mai chê người miền Bắc là “lúa” là “rừng “ khi gọi thủy quân lục chiến của các anh là lính thủy đánh bộ, gọi trực thăng là máy bay lên thẳng. Người CS  họ nói kế hoạch 5 năm chứ không nói “ngũ niên kế họach như các anh. Họ nói hạm đội số 7 chứ không nói đệ thất hạm đội. Họ nói tòa nhà trắng chứ không nói tòa bạch ốc, họ nói lầu năm góc chứ không nói ngũ giác đài. Họ nói năm thứ hai chứ không nói đệ nhị chu niên.

Các anh chê bai khinh miệt cho rằng người CS  đốt nát rừng rú mà không biết rằng họ đang cố gắng Việt hóa tất cả những từ ngữ Hán Việt có thể được, chính họ đang cố thanh lọc những tàn dư văn hóa  Tàu bị tiêm nhiễm từ cả ngàn năm, chính họ mới là những người có lòng tự tôn dân tộc, chính họ đang nỗ lực phát huy nền văn hóa bản sắc Việt, sàng lọc những tàn dư phong kiến của Tàu còn sót lại, chính các anh mới là những người  vọng ngoại, chính các anh mới ưu ái cái văn hóa Tàu để cho nó ngự trị, lại còn khinh miệt văn hóa Việt. Anh và họ ai là người yêu nước ai là người  ái mộ Tàu phù?

Cho đến nay các anh vẫn duy trì ngôn ngữ cờ vàng rất riêng của các anh cho nên nếu đọc một bài viết  của các anh sẽ không lẫn vào đâu được, những từ ngữ các anh dùng đặc sệt Tàu phù thế mà các anh cứ lên giọng dạy đời chống Tàu cứu nước,  thối không chịu được.

Có thể nói cộng đồng cờ vàng của các anh đã hình thành một loại văn hóa cờ vàng rất đăc trưng, mà các anh cờ vàng vừa là chủ thể vừa là sản phẩm của văn hóa đó. Vì thế cho nên các anh nói láo y như nhau, bịp bợm giống hệt nhau và thô lỗ chẳng khác gì nhau.

Cờ vàng luôn xem mình là một “thế lực” đối trọng với CS. Cái “lực”ấy chỉ là  món võ  nói láo và chửi. Thoạt đầu khi truyền thông còn hạn chế thì nó cũng gây được hiệu ứng nhưng dần dà nó trở nên quá hài hước và trẻ con đến nỗi trên các diễn đàn nhiều người cố chọc cho cờ vàng chửi để nghe chơi cho vui. Thưở niên thiếu dường như nhiều người còn nhớ  đến thú vui chọc chó cho nó sủa , nó không sủa thì lấy đá ném nó, chủ nó ra thì bỏ chạy,  chọc cho nó không còn sủa được mới thôi,  nghiệm lại sao nó giống với hoàn cảnh cờ vàng ngày nay trên các diễn đàn quá xá.

Dưới đây tôi xin mời quý độc giả bỏ chút thời giờ tham dự một buổi họp cờ vàng để thấy cái ngôn ngữ cờ vàng nó đặc sệt mùi xì dầu như thế nào. Những từ tô đậm là ngôn ngữ đặc sệt Tàu phù họ thường xuyên sử dụng hoặc là ngôn ngữ đặc  sản cờ vàng. Nếu quý vị chép  những từ ngữ này để tìm kiếm trên google thì tôi bảo đảm rằng nó sẽ dẫn quý vị đến đúng ngay môt ổ cờ vàng thứ thiệt bởi vì chỉ có cờ vàng mới dùng đến nó.

Một ngày tháng tư, tại một hội trường ở “thủ đô tị nạn” người ta thấy cờ vàng treo rợp từ ngoài đường vào trong, cờ nhiều hơn người, người hiếu kỳ mới sực nhớ ra rằng thì ra các cụ lại sắp kỷ niệm “tháng tư đen”.

Đã từ rất lâu lá cờ vàng gắn liền với những sự kiện của cộng đồng những người chống cộng  ở hải ngoại. Bất cứ cuộc tụ tập nào đều phải cắm lá cờ này, đó là một thứ luật bất thành văn để xác định lập trường chống cộng và xác định “lằn ranh quốc cộng”  của những người tham dự. Lá cờ vàng là biểu tượng không thể thiếu của băng nhóm họ. Dù bản chất của lá cờ vàng  chỉ là biểu tượng của một hội đoàn hay  một câu lạc bộ,  không khác gì những hội, câu lạc bộ chơi chó chơi chim, nhưng điều rất  khác biệt ở đây là nó được “chào “ và “mặc niệm” .

Để giải thích cho lý do nó được “chào”,  họ gán cho nó cái nhãn hiệu “hồn thiêng sông núi” Bất kỳ cuộc tụ tập nào của họ cũng đều có nó. Họ cắm nó  ở bất cứ nơi đâu, sơn nó lên xe, vẽ nó lên áo lên mũ, treo nó trên cây… và cho dù nó được cắm ở ven đường,  ở khu chợ Tàu hay ở trước tiệm phở họ vẫn nổ rằng hồn thiêng sông núi của họ đang  “ngạo nghễ tung bay”.

Không biết họ hiểu như thế nào về ngạo nghễ tung bay nhưng có vẻ họ sướng thật, Thế nên ta có thể hình dung họ tức giận như thế nào khi lá cờ “ngạo nghễ “của họ bị nhân viên bảo vệ của một buổi trình diễn văn nghệ ném vào thùng rác,  nhưng đau nhất là nó ngạo nghễ trong  cái nhậu rửa chân của báo Người Việt. Thế là họ phản ứng quyết liệt để vớt nó lên , dĩ nhiên chỉ có một chiêu cổ điển là biểu tình, để rồi hôm nay nó lại  tiếp tục ngạo nghễ trong cuộc họp cờ vàng

Trong hội trường các cụ đang bắt tay nhau hỏi han tíu tít, cụ thì khoe thằng cháu mới đõ đại học, cụ thì khoe đứa con dâu có chửa sắp đẻ cho cụ  thằng cháu trai, cụ thì khoe con chó cái chihuahua đang rượng đực, những câu chuyện quá tương phản với bộ quần áo lính si đa thẳng nếp, lủng lẳng các huy chương mà  các cụ đang mặc trên người.

Ở cuối phòng,  vài cụ đang đỏ mặt tía tai lớn tiếng phản đối về việc ban tổ chức để cho mấy thằng việt gian vào phòng với điệu bộ hung hăng như muốn ăn tươi nuốt sống đối thủ để rồi sau đó móc túi lấy ra ực vài viên thuốc.

Góc phòng họp một phụ nữ khoảng 6 bó  đang vung tay tố cộng,  tố khổ Việt gian sùi bọt mép cho làm cho nàng đã xấu lại còn xấu thêm.

Gần  bón chục năm rồi,  dù cho các cuộc tụ tập cờ vàng bàn bạc bất cứ đề tài người ta cũng vẫn đoán ra được kết luận rằng “ cộng sản vẫn còn ta chưa chết” và nhiệm vụ sắp tới là tiếp tục đấu tranh “giải thể CS” Chỉ có thế.

Có tiếng micro gõ lộp bộp tiếp theo là một tiếng tằng hắng rõ to.  Người ta có thể nghe rõ tiếng rè của đờm trong họng một cụ ông  rồi có tiếng người cất lên :

Kính thưa các bậc trưởng thượng

Kính thưa quý huynh trưởng

Kính thưa quý đồng hương

Kính thưa các vị thức giả

Kính thưa các vị trong hội đồng liên tôn

Tôi là một sĩ quan không trợ  biệt phái của quân lực VNCH, anh dũng bội tinh với nhành dương liễu . Cũng như quý vị ở đây, chúng ta chưa hề có lệnh giải ngũ, tôi cũng vậy, cho nên chúng ta vẫn là quân nhân của quân lực VNCH ( vỗ tay)

Sắp đến ngày quốc hận, hôm nay gặp mặt nơi này chúng ta cùng ôn lại những tháng năm lịch sử và củng cố tinh thần quốc gia chống cộng. Tôi xin thay mặt các chiến hữu để  điều hợp cuộc hội thảo về đề tài  “Những phương thúc giải thể cộng sản ở VN trong tình hình mới” xin mạo muội đạo đạt đến các bậc trưởng thượng quý huynh trưởng và đồng hương những ý kiến mong được quý vị nhiệt thành đóng góp để chúng tôi được lãm tường.

Nhớ lại từ những tháng năm chúng ta phải giải tán nhiệm sở tác chiến,  rút lui trong danh dự để bảo toàn quân số đến nay đã gần bốn chục năm. Quân lực của chúng ta là quân lực hùng mạnh hạng tư thế giới tuy nhiên chúng ta không giữ được đất nước không phải vì chúng ta hèn nhát,  không phải chúng ta bất tài mà chính là bởi  sự phản bội của đồng minh chúng  ta với việc nhẫn tâm cắt viện trợ làm cho những vũ khí của ta trở nên bất khiển dụng dẫn đến những đơn vị của quân lực chúng ta buộc phải giải tán nhiệm sở tác chiến.

Không có quân viện buộc chúng ta phài tái phối trí lực lượng Việc rút lui chiến thuật với quy mô lớn của chúng ta cũng  đã làm tản thất quân dụng  rất nhiều, đó cũng là lý do chúng ta phải tổn  thất dẫn đến Saigon rơi vào tay CS. Chúng ta không có lỗi trong việc làm mất nước, quân đội chúng ta chiến đấu rất anh dũng nhưng bất lực, chúng ta mất nước vì chính đồng minh của chúng ta đã phản bội bỏ rơi chúng ta không làm gì khi CS xé bỏ hiệp định Paris. ( vỗ tay)

Việc cộng quân tấn công Ban Mê Thuột là một bất ngờ lớn cho chúng ta khiến chúng ta phải di tản chiến thuật. Tuy nhiên chúng ta cũng đã gây bất ngờ lớn cho chúng đó là chúng ta đã  dùng con đường số 7 để  ….rút chạy khiến cho  cộng quân hoang mang phải mất mấy ngày mới phát hiện ra ta thì ta đã cao bay xa chạy rồi, những người bị cộng quân truy kích chỉ toàn là thường dân vô tội.  Đường số 7 là con đường bỏ hoang từ thời pháp thuộc, hiểm trở và nhỏ hẹp. Tuy nhiên ta đã đánh lừa được địch bằng cách dùng chính con  đường chiến lược này để rút lui chiến thuật khiến địch hoang mang không kịp trở tay. Đây là nghệ thuật quân sự của quân lực VNCH mà ngay cả cố vấn Mỹ cũng nghĩ không ra.

Trên đường di tản chiến thuật quân ta đã có sáng kiến cởi quần áo, vứt đi những gì bất khả dụng để cho gọn nhẹ, giúp chúng ta cơ động trong việc tái phối trí lực lượng.  Việc mặc quần tà lỏn hành quân  là kế sách dĩ độc trị độc rất sáng tạo của quân lực VNCH.  Bọn  đặc công CS cũng chỉ mặc trên mình cái quần tà lỏn để xâm nhập đánh phá ta, cho nên  chúng không ngờ được rằng ta cũng không hề thua kém, Ta rũ bỏ xiêm y để hành quân tà lỏn . Chiến thuật này đã gây bất ngờ lớn cho đối phương làm đối phương không biết đâu mà lần, không biết đâu là quan là lính không biết đâu là dân là quân nên chúng vô cùng hoang mang.

 Trút bỏ quần áo cho gọn nhẹ chỉ giữ lại một  thứ khả dụng duy nhất là cái quần tà lỏn  là binh pháp đã được áp dụng sáng tạo trong cuộc hành quân tái phói trí lực lượng của quân lực VNCH.  Tuy nhiên cái sáng suốt của chúng ta là cho vợcon ta cùng di tản chiến thuật cho nên quân CS không thể lấy vợ con chúng ta làm con tin, không còn biết  đâu là dân đâu là lính làm cho tình báo của chúng sa vào mê hồn trận. Đây cũng là sáng tạo của quân lực chúng ta đã được ghi vào  quân sử.

Chúng ta những người có mặt hôm nay là những quân nhân quân lực VNCH  phục vụ cho chế độ tự do trải qua hai nền đệ nhất và đệ nhị cộng hòa, phục vụ cho một chính thể dân chủ pháp trị có quốc hội lưỡng viện , có tam quyền phân lập, có chính nghĩa quốc gia, để đương đầu với thảm họa CS âm mưu cưỡng chiếm nhuộm đỏ miền Nam. Do đó mục tiêu của chúng ta hôm nay và sau này vẫn là là phục hoạt chính thể quốc gia tiêu diệt CS.

 Gần bốn chục năm qua dù mất nước chúng ta vẫn luôn luôn mang bên mình trọng trách “tổ quốc, danh dự, trách nhiệm” và truyền thống huynh đệ chi binh. Là những người quốc gia chân chính không chấp nhận cộng sản, những năm qua chúng  ta đã đạt dược những thành quả khích lệ làm cho bọn việt gian nằm vùng, bọn bưng bô, hôn đít bạo quyền  phải hoảng sợ và thất điên bát đảo.

Cờ vàng lá cờ của chính nghĩa quốc gia đang ngạo nghễ tung bay khắp nơi trên thế giới nơi có người Việt sinh sống chứng minh rằng người Việt quốc gia chúng ta luôn nuôi ý chí quang phục quê hương, quang phục lá cờ vàng chính nghĩa gầnbốn chục năm qua không hề thay đổi. Chúng ta đã làm đầy đủ trách nhiệm quốc tế vận tố cáo vi phạm nhân quyền ở VN trên các diễn đàn quốc tế làm cho CSVN vô cùng khiếp sợ,  không làm gì được chúng ta, để trả đũa chúng đã đàn áp dã man người dân trong nước để trả thù.

Cuộc vận động kiện CSVN ra tòa án quốc tế về những tội ác của chúng được đồng hương nhiệt liệt hưởng ứng , cuộc vận động kiện CSVN xé bỏ hiệp định Paris gây được tiếng vang lớn, cuộc vận động thỉnh nguyện thư  được hàng trăm ngàn  đồng hương ký tên  là cuộc diễn tập lịch sử của chúng ta như một hội nghị Diên Hông thể kỷ 21 chứng tỏ sức mạnh của chính nghĩa quốc gia . Cuộc vận động thỉnh nguyện thư đã di vào lịch sử đấu tranh hào hùng của chúng ta     ( vỗ tay)

 

Thưa quý đồng hương

Thưa quý vị tôn trưởng

CSVN đang giẫy chết, cho nên chúng đang ra sức tiêu diệt phong trào dân chủ trong nước.  Biết  bao nhiêu nhà dân chủ, blogger, bao nhiêu anh thư đang bị CS giam hãm tù đày,  quốc nội đang ngùn ngụt căm hờn, quằn quại trong cái nhà tù vĩ đại, chỉ cần một mồi lửa nhỏ sẽ bùng lên thành ngọn lửa cách mạng lật đổ bè lũ CS mà chính chúng ta là những người có trách  nhiệm thắp lên ngọn lủa ấy. ( vỗ tay)

Hơn bao giờ hết , lúc này là lúc chúng ta phải đoàn kết lại để phục hoạt sức mạnh từ tinh thần chống cộng để lật đổ CS, trước hết là vạch mặt bọn Việt Gian bưng bô hôn đít bạo quyền đang nỗ lực đánh phá cộng đồng . Kế đến là tiếp tục vận động đồng hương không gửi tiền về VN không mua hàng VN không du lịch  về VN. Nếu chúng ta thực thi những điều thượng dẫn  CSVN sẽ mất đi mười hai tỷ đô la kiều hối và chắc chắn rằng chúng sẽ sụp đổ ( vỗ tay)

Sau đây mời quý vị phát biểu ý kiến và chúng tôi cũng thông báo luôn là quý vị hãy bày tỏ tấm lòng ủng hộ chính nghĩa quốc gia bằng cách đóng góp tùy lòng hảo tâm vào quỹ mua cờ để tạo khí thế duyệt binhh nhân dịp ngày quốc hận sắp tới.  Tiện đây chúng  tôi cũng  thông báo là khi tham dự lễ duyệt binh ngày quốc hận các chiến hữu quân lực VNCH cần mặc quân phục chỉnh tề, các binh chủng hải lục không quân  liên lạc với binh chủng của mình để được hướng dẫn. Ai có huy chương thì đeo huy chương  ai có xe jeep cũ thì ủng hộ,  ai có súng nhựa của các cháu thì đóng góp dùng xong các cụ hứa sẽ trả lại các cháu.

TỰ SỰ CỦA CON CHIÊN CỜ VÀNG

Xichloviet

Tin GS Trần chung Ngọc qua đời đến với tôi khiến tôi bàng hoàng. Một nỗi buồn khó tả ập đến. Một cảm giác mất mát ùa về. Tôi muốn viết một cái gì đó về ông, để ca tụng ông, để tưởng nhớ ông , để tri ân ông,  nhưng dường như người ta đã nói hết hộ tôi rồi.

Bỗng dưng tôi chợt nghiệm ra rằng, ông mất đi mang đến nỗi buồn cho biết bao nhiêu người, tuy nhiên cũng có không ít người hả hê về sự ra đi của ông mà hầu hết là những con chiên cờ vàng, điều này đã gợi ý cho tôi viết vài dòng tưởng nhớ ông.

Sở dĩ tôi phân biệt con chiên bình thường và con chiên cờ vàng là bởi vì chỉ những con chiên cờ vàng mới thực sự bị cảm thấy sốc nặng bởi những bài viết của ông, trong đó  những bằng chứng khoa học và  lịch sử xác thực mà ông trưng ra cho thấy họ chính là những người luôn đi ngược với lợi ích dân tộc. Chính những con chiên cờ vàng đã nối giáo cho giặc gây nên những thảm họa đất nước. Các con chiên cờ vàng chưa bao giờ từ bỏ ý định “phục quốc”  cái tổ quốc mà họ đã dâng cho “đức mẹ vô nhiễm”. Chính cái đặc thù phản dân tộc của các con chiên cờ vàng đã làm nên những  tác phẩm mang dấu ấn Trần Chung Ngọc.

Ông đã vạch trần những mâu thuẫn vô  lý trong thánh kinh,  những gì bị bưng bít trong giáo hội La Mã, và những âm mưu toan tính của họ suốt cả ngàn năm qua nhằm thống trị thế giới. Hơn nửa đời người sống và làm việc trong chế độ cờ vàng VNCH, chế độ vẫn tự xưng là tự do và đấu tranh cho tự do, nhưng ông vẫn mù tịt thông tin về giáo hội này, rất mơ hồ về kinh thánh mà ông ngờ ngợ rằng có gì đó bịp bợm, xảo quyệt nhưng chưa có tư liệu  tham khảo và kiểm chứng. Hơn nữa, dù có muốn ông cũng không thể bày tỏ chính kiến của mình trong một chế độ mà đạo Thiên chúa  đang thống trị. Chỉ đến khi sinh sống ở nước ngoài tiếp cận với vô số nguồn thông tin phong phú khoa học và xác thực ông mới có những bài viết sắc như dao về những gì đạo này gây ra cho đất nước và dân tộc VN.

Những con chiên cờ vàng bấy lâu nay xem ông như cái gai khó nhổ trong con mắt họ. Những người tự xưng là trí thức Ca Tô cũng bó tay trước những bài viết quá chính xác của ông mà không hề thấy một phản biện nào khả dĩ gọi là phản biện. Những cái  gọi là phản biện của họ chỉ là những luận điệu biện bạch cho cái gọi là  “đức tin” rất vớ vẩn, những  lời tố khổ rất hàm hồ và chỉ quanh quẩn với trò  moi móc đời tư, bắt bẻ câu chữ, đả kích cá nhân, chứ không hề thấy một phản biện nào có giá trị cả. Tức tối mà không phản biện được họ chỉ còn biết amen.

Con chiên cờ vàng khai thác triệt để tất cả những sự kiện bất ổn trong nước, kích động và yểm trợ các hành động gây bất ổn mà các con chiên trong nước được xúi giục bởi các chủ chăn lợi dụng “đức tin” của con chiên để chống cộng. Có thể nói không có sự kích động yểm trợ của các con chiên cờ vàng sẽ không có những vụ nổi lọan của các con chiên trong nước. Tất cả những sự kiện như thế đều có những bài viết của ông vạch ra những âm mưu sau lưng của đám chủ chăn bằng những lập luận sắc bén và vững chắc.

Là một nhà khoa học thực nghiệm ông luôn xác định dùng khoa học và lý trí  để giải mã “đức tin”,  nhất là những loại “đức tin mù”, “đức tin cuồng”. Ông  phân tích sâu sắc những độc tính của các loại đức tin này để độc giả tự có thái độ. Những bài viết của ông vì vậy làm cho những con chiên cờ vàng lồng lộn nhưng họ chỉ biết chửi mà  không thể phản bác dù rằng họ có đầy đủ các phương tiện truyền thông là cả trăm trang web ca tô đang tiếp tục sứ mạng lừa bịp của Giáo hội và  các chủ chăn.

Bí quá họ bàn nhau kiện ông ra tòa.

Có lẽ lịch sử tố tụng trên thế giới cổ kim chưa hề có chuyện người bị kiện rất vui vẻ hồ hởi cung cấp tài liệu cho nguyên đơn để giúp họ bổ sung hồ sơ kiện tụng  tại tòa. Thế nhưng sự  việc tưởng chừng như hoang đường ấy lại có thật và  rơi vào trường hợp GS Trần Chung Ngọc.

Những con chiên chủ trương kiện GS Ngọc ra tòa về tội phỉ báng đức tin của họ  đã được ông cung cấp  hàng loạt những tài liệu tham khảo về chúa mà ông trích dẫn  để họ làm tài liệu. (1) Nhìn qua có thể thấy hầu hết là những tài liệu viết bởi những tác giả nước ngoài có cả những tác giả là chủ chăn.

Sự kiện này  rõ ràng cho thấy họ rất cay cú ông nhưng vô cùng bế tắc cho nên nên mới đưa ra một giải pháp rất trẻ con như thế. Đây một thí dụ điển hình về loại “đức tin” mù quáng che lấp cả lý trí,  làm lu mờ cả kiến thức và làm cho người ta trở nên  u mê như bị ngộ độc. Lạ lùng là những kẻ ấy không phải là những con chiên ngu dốt mà lại là những trí thức ca tô có bằng cấp được các con chiên ủy thác để bảo vệ “đức tin”.

Những bài viết của GS hầu hết đều trích dẫn từ những tài liệu của Bu nhưng chẳng thấy con chiên cờ vàng nào dám kiện BU là bởi không những họ sợ dây với BU mà  đơn giản là vì họ lo sợ những bài viết của ông tạo ra sức lan tỏa quá lớn trong cộng đồng người Việt trong và ngoài nước  làm cho mảnh đất bịp bợm của họ càng ngày càng teo tóp lại.

Trong bài CHUNG QUANH MỘT CUỘC TRANH LUẬN HÀO HỨNG đăng trên sachhiem.net (2) ông viết:về sự kiện  2500 người đã mua vé để vào nghe cuộc tranh luận về chúa tại đại sảnh Methodist ở Westminster, Luân Đôn,.

Trước cuộc tranh luận

Số phiếu “against” :1102

Số phiếu “for”: 678

Số phiếu “không có ý kiến”: 346

Sau cuộc tranh luận:

Số phiếu “against” : 1876 (tăng 774 phiếu)

Số phiếu “for” : 268 ( giảm 410 phiếu )

Số phiếu không ý kiến : 34 (giảm 312 phiếu )

Ở một nước mà đạo thờ chúa chiếm đa số như vương quốc Anh, sự kiện trên là một thí dụ rất điển hình  cho thấy một điều rằng khi người ta có đủ thông tin thì lý trí sẽ giúp người ta thấy được đâu là sự thật dù sự bịp bợm có được che đậy tinh vi đến đâu đi nữa, ngoại trừ những kẻ bị đức tin mù che lấp lý trí.

Khoa học phát triển, truyền thông phát triển chắc chắn sẽ đẩy lùi các loại đức tin mù quáng vào bóng tối. Qua những nghiên cứu và thống kê, văn phòng nghiên cứu Christian Research ở  Anh cho biết : số người đi xem lễ ngày chủ nhật tại nhà thờ Anh giáo ở Anh quốc vào năm 2050 sẽ giảm chỉ còn 1/10, tức là chỉ còn 88000. Con số này nói lên điều gì các con chiên chúa hãy để lý trí phán xét.

Bao năm qua GS Trần Chung Ngọc đã miệt mài làm công việc góp nhặt thông tin để vạch trần những trò xảo trá bịp bợm của Ca tô giáo,  khai sáng cho những người bị cám dỗ bởi những thủ đoạn khai thác tâm linh của các chủ chăn ca tô. Sức lan tỏa từ những bài viết của ông được sự hỗ trợ bởi sự bùng nổ thông tin toàn cầu đã làm làm cho các con chiên cờ vàng đứng ngồi không yên, thất điên bát đảo bởi vì họ cũng hình dung và cảm nhận  được rằng sau khi đọc những bài viết của ông con số bỏ phiếu “against” sẽ càng ngày càng nhiều và chắc chắn sẽ  rất lớn trong số 7 triệu tín đồ  Ca tô người Việt.

Thế nên sự ra đi của GS Trần Chung Ngọc là niềm hân hoan của các con chiên cờ vàng là vì thế.  Niềm hân hoan ấy đã được thể hiện  trên rất nhiều trang web đang tôn thờ “đức vâng lời” mà tôi chỉ biết lượm lặt  lại làm thành bài thơ gửi  ông nơi suối vàng để ông đọc chơi như ông đã từng đọc những gì các con chiên viết về ông lúc sanh tiền.

TỰ SỰ CỦA CON CHIÊN CỜ VÀNG

Nó đã chết đi chết thật rồi

Ơn chúa quan phòng mẹ mân côi

Bao năm con khấn nay đã toại

Ôi chúa nhiệm mầu lạy chúa tôi

 

Nó chết đi con nhẹ cả người

Từ nay có giấc ngủ yên rồi

Bao năm nó phá không ngủ được

Cũng  vì bênh vực chúa mà thôi

 

Mà con bênh chúa có được đâu

Nó viết nghênh ngang xóc lên đầu

Toàn lấy sách bu mà dẫn chứng

Nên con chỉ biết chửi tào lao.

 

Nó nói  tổ  tiên chúa có đuôi (3)

Vợ con chúa cũng đã có rồi(4)

Chúa bị cởi truồng rồi mới chết (5)

Chúa chết cũng thành đất mà thôi

 

Chúa hãy nói đi hỡi chúa tôi

Mở cho con mắt chúng thành người

Là chúa phục sinh từ cõi chết

Là chúa toàn năng của muôn loài

 

Là chúa toàn năng của muôn loài

Nên chúa hiển linh khắp nơi nơi

Trừng phạt đứa nào không tin chúa

Hỗn hào bảo chúa có cái đuôi

 

Nó bảo : con chiên chúa rất ngu

Suốt đời chỉ có đức tin mù

Nó bảo đức cha cùng  giáo hội

Cổ kim  chỉ rặt lũ ngụy tu

 

Các cha đang dẫn dắt chúng con

Đại diện ngôi cao ở dương trần

Nó bảo các ngài chơi con nít

Nhồi sọ con chiên đến ngu đần

 

Chúa có nghe không chúa biết chăng

Bao con chiên chúa dưới đương trần

Bấy lâu uất ức mà cam chịu

Có mồm mà vẫn cứ như không

 

Lời nó rêu rao khắp năm châu

Người ta nghe nó khắp địa cầu

Con chiên chúa cũng  hồn dao động

Chẳng biết chúa trời có hay không

 

Đức mẹ Mân Côi mẹ chúng con

Nó chẳng buông tha cũng viết càn

Nó bảo “đồng trinh sao biết đẻ

Đã có ai từng khám bà không

 

Không khám làm sao biết còn trinh

Còn trinh sao cái bụng chình ình

Con trinh sao đẻ hai ba lứa

Rõ là chỉ tại cái “đức tin” “

 

Dân chúa ai nghe cũng sôi gan

Nghe qua con cũng bật chửi càn

Khổ nỗi nó trưng nguồn khoa học

Nên đành cam chịu tím tâm can

 

Chẳng lẽ để cho chúng nói bừa

Cho nên dân chúa quyết đi thưa

Hợp quần cả tỷ con chiên chúa

Chắc chắn tên này sẽ phải thua

 

Năm trước con chiên Nguyễn thị Thanh

Định rằng sẽ kiện nó banh chành

Có chúa ngôi cao ban phép thánh

Hàng tỷ tín đồ sẽ hoan nghênh

 

Định rằng nó sẽ run vì sợ

Định rằng sợ nó sẽ  phải câm

Thế nhưng nó cứ trơ như phỗng

Vẫn cứ rung đùi tỉnh như không.

 

Nó còn khuyến khích chúng con thưa

Sách vở của BU nó có thừa

Nếu cần nó sẽ dâng cho mượn

Chúa xem như thế có đểu chưa

 

Con bảo chúng rằng chúa vị tha

Vì thương nhân loại phải băng hà

Bị đóng đinh vào cây thập giá

Cứu rỗi loài người cứu rỗi ta

 

Nó bảo:

Chúa xúi người ta bỏ vợ chồng

Bỏ cha bỏ bẹ bỏ bà, ông (6)

Đưa đầu cho chúa ngồi ngự trị

Ai không tin chúa phải mạng vong (7)

 

Cứu rỗi kiểu này giống du côn

Giống xã hội đen bến Vân Đồn

Giống bọn giang hồ Cầu ÔngLãnh

Thế mà dân chúa cứ “tạ ơn”

 

Con thề tin chúa suốt cuộc đời,

Cho dù chúng nó nói ngược xuôi

Hồn con vẫn  nguyện dâng cho chúa

Thiên chúa trong con mãi rạng ngời

 

Mấy chục năm qua sống lưu vong

Nhưng con chiên chúa vẫn một lòng

Vẫn tin rằng chúa luôn soi sáng

Để một ngày kia phất cờ vàng

Chúng nó hỏi:

Chúa của con chiên chúa toàn năng

Sao không vặn cổ lũ vô thần

Chỉ cần họp lại xin ơn chúa

Quá dễ cần chi phải biểu  tình

 

Những con chiên chúa ở bên nhà

Vác búa vác kìm vác ống loa

Đập phá tường rào đòi đất chúa

Chúa sao chẳng giúp để ra tòa

 

Đất đai của chúa con chiên đòi

Toàn năng sao chúa biệt tăm hơi

Khi thấy con chiên vào nhà đá

Chúa  chẳng thèm chia sẻ một lời

 

Chúng nó vô thần có biết đâu

Quyền năng của chúa rất nhiêm mầu

Chẳng qua đức chúa đang thử thách

Chúng hãy chờ xem chẳng lâu đâu

 

Thiên chúa hiển linh khắp hành tinh

Hiển linh đâu dễ  để ta nhìn

Vô thần muôn kiếp không hiểu được

“Phúc cho ai chẳng thấy mà tin”

 

Nó chết đi do chúa hiển linh

Trừng phạt răn đe kẻ vô thần

Năm nay nó tám mươi tư tuổi

Không phạt nó còn sống cả trăm

 

Phúc quá – Đội ơn chúa – amen

Thưa GS, với tội lỗi của ông, theo các con chiên chúa thì ông hiện đang phải nằm dưới 9 tầng hỏa ngục rồi,  tôi xin được cầu an và chúc lành cho ông . amen.

(1)   http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=5602

(2)http://sachhiem.net/TCN/TCNdt/TCNdt042.php

(3)Các nhà khoa học đã chứng minh con người là sản phẩm tiến hóa của         loài linh trưởng do vậy chúa cũng không ngoại lệ.

(4) http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=5401

(5 )Thời của Jesus những người bị án tử hình bằng cách đóng đinh trên thập giá phải bị cởi bỏ quần áo hoàn toàn không có ưu tiên được khuyến mãi cái khố như tượng và hình vẽ các con chiên đang tôn thờ

(6) Luke 14, 26Nếu  kẻ nào đến với  ta mà  không “căm ghét” cha mẹ, vợ con, anh chị em, và ngay cả đời sống của hắn, thì hắn không thể là môn đồ của Ta. (If anyone who comes to me and does not hate his father and mother, wife and children, brothers and sisters, yes, and his life also, he cannot be My disciples.)

(7)Luke 19:27Hãy  mang  những  kẻ  thù  của  Ta  ra  đây, những  người không muốn Ta  ngự  trị trên họ, và giết chúng ngay trước mặt Ta. [Công giáo đã theo sát lời dạy này, tàn sát những người mà giáo hội cho là “lạc đạo”]

 

CỜ VÀNG VÀ QUẦN TÀ LỎN

Xichloviet

Có vẻ như quần  tà lỏn và cờ vàng là hai vật không có gì liên quan đến nhau. Thế nhưng đối với các anh cờ vàng cực đoan hùng hổ chống cộng trường kỳ  nó lại là những vật lên quan rất  mật thiết. Nhưng ta phải  nghe họ  tâm sự thì mới biết nó liên quan ra làm sao.

Mọi người trong chúng ta, ai đã qua tuổi học trò,  cũng từng biết tới nhà văn Thanh Tịnh với bài văn giáo khoa nổi tiếng :” Ngày tựu trường”. Đọc bài này mỗi người đều  có cảm xúc khác nhau, vì ai cũng có ký ức riêng về ngày tựu trường của mình. Và ai trong chúng ta có lẽ cũng đã hơn một lần từng đọc thơ của  Thế Lữ có tác phẩm “Hổ nhớ rừng “ nổi tiếng,  diễn tả tâm sự một con hổ bị cầm tù.

Có lẽ ảnh hưởng bởi cách hành văn của Thanh Tịnh , có lẽ trong một phút ngẫu hứng cảm thấy ta như hổ nhớ rừng, với cảm xúc rất riêng, một anh  cờ vàng đã ôn lại ký ức của mình bằng bài viết mang hơi hám của Thanh Tịnh và Thế Lữ như sau :

Hằng năm, cứ vào đầu hè, phượng ngoài đường nở nhiều và trên cao có những đám mây bàng bạc,  lòng ta lại  trào dâng ký ức đắng cay của cái ngày phải tháo chạy tuột quần.

to-lich-30-4-1975

Ta không thể nào quên được cái cảm giác run sợ ấy xuất hiện trong ta làm cái quần ta ướt sũng, cái hiện tượng này  chỉ xảy ra khi ta còn được mẹ ẵm trên tay.

Ký ức này ta  chưa một  lần ghi lên giấy vì hồi ấy ta  không dám ghi,  và ngày nay ta không nhớ hết.

Nhưng mỗi độ hè về lại gợi cho ta nỗi niềm không tả xiết, nó cắn xé lòng ta,  nó trào dâng niềm căm hận và nó bắt ta phải bật thành lời.

Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy hoang mang và lo sợ, tiếng súng cộng quân nổ khắp nơi,  lòng ta  nôn nao kinh hãi khiến ta đi đến  quyết định phải tuột quần, quyết định  lịch sử của đời mình.

image001

Tuột quần là vứt  bỏ quân phục, là đào ngũ, là hèn, là nhục, thế nhưng điều đó có sá chi, có gì  quan trọng cho bằng bảo toàn mấy chục kí lô thịt mà bố mẹ ta dầy công  tạo dựng nuôi dưỡng mấy chục năm qua.

Tuột quần để Việt cộng chẳng nhận ra ta, chẳng biết ai là dân là lính, thật may cho ta vẫn còn tà lỏn trên người. Thế nên ta vẫn giữ hoài quần tà lỏn, nếu không có nó ta chẳng khác đười ươi.

Đi trong cái nóng mùa hè oi ả nhưng ta vẫn toát mồ hôi,   Ta lạnh run lên vì khiếp sợ. Cộng quân truy đuổi phía sau còn phía trước ta là đoàn quân tan rã đang cướp bóc mọi thứ trên đường  tháo chạy. Ta lo sợ VC một phần nhưng cũng  lo sợ không kém , rằng cái tà lỏn cỏn con trên người ta chẳng biết có  bảo toàn được hay không, ai biết được trên đường tháo chạy có những rủi ro gì.

Con đường quốc lộ thênh thang giờ đây nhỏ hẹp vì quân phục quân trang vứt ngổn ngang đầy đường. Con đường này ta đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên ta thấy lạ. Cảnh vật xung quanh ta  thay đổi quá , chính vì chính lòng ta đang có sự thay đổi lớn : Hôm nay ta tháo chạy tuột quần.

1

 

Sài gòn mênh mông, ta lạc lõng , tìm hoài mà chẳng thấy chốn dung thân.

Bạn bè chiến hữu đâu chẳng thấy, chắc chẳng hơn ta:  cũng tồng ngồng.

Địa chỉ cuối cùng chiến hữu ta hội ngộ là trại cải tạo. Ngày ba bữa cơm hẩm trộn  bo bo đêm nằm co ro mà  gãi háng .

Ký ức năm xưa tràn về ngao ngán, tiếc  những tháng ngày ăn cơm Mỹ nhởn nhơ vui.

Thế nên ta :

Gặm một nỗi căm hờn quân cộng sản,

Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua.

Khinh lũ cộng kia ngạo mạn ngẩn ngơ,

Giương mắt bé coi khinh cường quốc  Mỹ.

Nay sa cơ bị nhục nhằn tù hãm,

Thôi hết rồi những năm tháng ăn chơi.

Nay ngang hàng với bọn lính dở hơi,

Phải tuân lệnh cúi đầu mà  cuốc đất.

 

Ôi nhục nhã biết bao nhiêu, đội quân hùng mạnh.

Bỗng chốc tự  tan hàng chứ có phải cộng sản thắng ta đâu.

Ta kiểm soát bầu trời vùng biển,

Một con chuột chạy qua ta đều phát hiện,

Nhưng  ai ngờ cộng sản bỏ túi  được  cả xe tăng.

 

Chúng mang vào thả khắp tây nguyên, 

Chúng bỏ túi được cả pháo binh, xe vận tải.

Nửa triệu quân BU còn phải cuốn cờ tháo chạy,

Thì sá gì ta:  ô hợp đám quân tàn.

Nhờ chúa hiển linh trừng phạt bọn vô thần, 

Nên bọn cộng kia phải cúi đầu run sợ,

Chúng phải  thả ta về vì chúa  chở che ta.

Để ta tươi cười  vui hát khúc hát ô ,

Và đoàn tụ Bu ta nơi  đất  Mỹ.

Nay ta  hưởng eo phe nhưng vẫn có đủ cà phê,  chơi đĩ,

Vẫn còn gân còn đủ sức  biểu tình.

Tuy  không còn những tháng ngày hoàng kim cũ,

Nhưng đời cũng còn thấy màu xanh.

Nhưng:

CS nó ranh ma,

Ta sang đây mà nó cũng chẳng buông  tha,

Nó nằm vùng trong sợi dây thắt lưng,  nó nằm vùng trong vai nghệ sĩ,

Nó nằm vùng trong báo chí,  nó lấy  chậu rửa chân nó đựng lá cờ vàng.

Nhưng dù cho chúng quỷ quyệt ranh ma ta đâu dễ đầu hàng,

Thế là ta phải đấu tranh, phải  cởi quần lần nữa.

Ta cởi quần vạch cu đái tràn cửa hàng chúng nó.

Ta cởi quần lấy cứt trét  khắp nơi.

Với bọn cộng nô không thể nói bằng lời.

Phải  lấy cứt lấy cu làm vũ khí.

Nhưng mấy chục năm qua :

 

Ta vẫn sống trong tình thương nỗi nhớ,
Thủa tung hoành, hống hách những ngày xưa.

Nên mỗi năm đến độ cuối tháng tư

Là ta lại nhớ lôi ra: quần tà lỏn.

Nhìn  nó để nhớ  cái  tháng tư uất hận

Nhớ cái ngày  vãi  đái  chạy năm xưa.

Mấy chục năm rồi ta vẫn giữ nó bên ta

Bên cạnh nó là  lá cờ vàng ba sọc.

Để nhắc lại mối hận xưa, hằng năm  ta có ngày quốc hận,

Khuyên cháu con ta phải nhớ mãi đến ngày này.

Ta chưa phục hận được thì con cháu ta thay,

Ta không còn sức thì ngồi gãi háng nhổ râu mà  tham  mưu cho bọn trẻ.

Cái quần tà lỏn của ta, 

Chứng tích lịch sử của  những ngày gian khổ,

Ta giữ nó  bên mình để nung nấu mối hờn căm.

Mối thù  đeo đẳng theo ta đã bao năm,

Mối thù  mà các cha cố của ta hằng nhắc nhở.

 

Lá cờ  nhắc cho ta tổ quốc cờ vàng  đã mất,

Cái quần tà lỏn nhắc ta niềm ô nhục năm xưa .

Nó sẽ song hành  đến khi cuộc đời ta kết thúc.

Và,

Nó vẫn mãi theo ta : tà lỏn – cờ vàng.

Chúa có biết chăng trong những ngày ngao ngán
Con đang theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn con phảng phất được gần người .

Để chúa ban cho con sự sống đời đời.

Để đòi lại món nợ đã mấy mươi năm: cờ vàng, quần tà lỏn.

Trên đây  là tâm sự cờ vàng làm cho chúng ta thấy rõ hơn  mối lên quan mật thiết cờ vàng – quần tà lỏn.

Cho nên , cứ đến ngày 30.4 hằng năm là các anh cờ vàng  lại ôm nhau mà trách cứ thở than.

Các anh  đập đầu tức tối,  rên la tiếc nuối, trách móc giận hờn.

Các anh  lôi miếng vải vàng ba sọc ra để mân mê khóc hận, để  hồi tưởng mà dâng trào căm thù.

Hỡi các anh,  hãy cứ ôm nhau mà than thở,

Chó có sủa thêm vài  muơi năm nữa thì đoàn lữ hành vẫn tiến bước thênh thang.

Dù cho các anh có tức tối cuồng điên,

Có khóc lóc thở  than,  thì cũng chẳng ai thèm  thương hại.

Cứ vật vã đi, cứ hận đi,  cứ thét gào lên để mong có ngày chúa thương giúp các anh  phục hận.

Giúp các anh ru giâc mộng cờ vàng .

“MA” CỘNG SẢN VÀ “CƠM” QUỐC GIA

Xichloviet

“Ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”

Đó  là câu nói từ cái thưở còn oanh oanh liệt liệt của cờ vàng dùng để  tố khổ những người lãnh lương, hay bổng lộc của  VNCH nhưng lại có cảm tình hay hoạt động hẳn cho “phía bên kia”.

Cơm ở đây được hiểu là bổng lộc quyền lợi.   Thế nhưng bổng lộc quyền lợi cũng không phải là của  “quốc gia” các anh làm ra. Nó chẳng thể có nếu không có cái hầu bao của bu. Cờ vàng  làm gì có “cơm” mà bảo rằng “cơm quốc gia”?  Cơm của các anh hoàn toàn là của bu cả thế thì các anh phải nói rằng ăn cơm bu mới chính xác chứ ?

Thế nhưng thừa biết rằng  nói “ ăn cơm quốc gia thờ ma CS”  để cho nó có vần chứ các anh ai cũng biết tỏng ra là người ta thờ Phật thờ thần thờ thánh chẳng ai lại đi thờ ma bao giờ, vả lại nói cho đúng mà có vần  thì nó phải  là “ ăn cơm bu thờ …. CS , nhét chữ gì vào bây giờ cho nó có vần đây , khó nói quá phải không các anh ?

Các anh cũng biết rất rõ là CS cũng không phải là ma mà là kẻ thù các anh, là  một thế lực làm cho các anh  và cả bu các anh cũng  phải run sợ. Nếu có thể gọi là ma thì họ là cái bóng ma xuất quỷ nhập thần  làm cho các anh mất ăn mất ngủ.  CS nó làm cho bu các anh thất điên bát đảo ngay khi vướng vào cuộc chiến VN, tiến thối lưỡng nan đến nỗi cuối cùng  chỉ mong thực hiện được điều tưởng chừng là rất đơn giản là  “rút lui trong danh dự” cũng không xong,  rút mãi cũng không ra. Năm đời tổng thống Mỹ nuôi cơm các anh  làm các anh ỷ lại cũng phải. Nhưng bu nuôi các anh  không phải để các anh ăn báo cô mà  để các anh tồn tại và cũng chính là để nuôi cái danh dự của chính mình, chứ cơm bu đâu phải đào được ở dưới đất, vớt được dưới biển đâu  mà không tiếc.

Nhưng rồi cứ như là định mệnh, danh dự bu vớt  mãi mà không cũng  được đến nỗi dù không bao giờ muốn nhưng bu bị buộc  không thể dùng  từ ngữ nào khác là “ thua cuộc” để cuốn cờ khỏi VN. Hệ lụy là  cơm bu của các anh cũng phải bớt dần khẩu phần vì các anh tệ quá bu không còn kỳ vọng được gì nữa.

Cờ vàng các anh thường  hay bắt chước nhau nói như con vẹt những câu nói chống cộng dễ thuộc dễ nhớ, dễ phát tán,  để tự khích lệ mình, khích lệ nhau . Giống như câu nói “Đừng nghe những gì CS nói hãy nhìn những gì CS làm” của Nguyễn Văn Thiệu.   Câu nói “ăn cơm quốc gia thờ ma CS” các anh truyền miệng nhau nhão nhoét đến nỗi gần như anh cờ vàng nào cũng thuộc để chụp mũ kẻ khác . Nói như con vẹt thôi nhưng không một anh nào hiểu được tại sao chuyện “thờ ma cộng sản “ nó cứ lan tràn như dịch .

Phát biểu như vậy nhưng các anh cờ vàng có  bao giờ tự đặt câu hỏi một cách nghiêm túc rằng tại sao các chiến hữu của các anh làm cái việc  ”thờ ma cộng sản”  có vẻ như nghịch thường như thế để phân tích mà đối phó không ?  Không hề có, các anh  chỉ xem đó là sự “phản bội” của người quốc gia, đơn giản giống  như là sự “nghỉ chơi” với nhau của trẻ con, giống như  vô vàn những hành động  bất  mãn đời thường khác.

Lịch sử cho thấy có vô số người “Ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” đúng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nhiều người trở thành nhân vật huyền thoại như Phạm Xuân Ẩn, Nguyễn Thành Trung, Phạm ngọc Thảo v.v…. Mà mãi đến khi chấm dứt chiến tranh các anh  mới biết những nhân vật” thờ ma cộng sản này” không phải chỉ thờ suông mà  chính họ “ăn cơm quốc gia “ thật sự  nhưng lại đứng hẳn về phía đối nghịch của các anh chống lại các anh,  là đối thủ vô cùng nguy hiểm góp phần làm cho chế độ của các anh sớm tiêu tan, giúp cho “quân lực” của các anh ghi tên vào kỷ lục chiến tranh thế giới là thua mà phải cởi quần. Để lộ ra rằng  “quân lực “ hạng tư thế giới nhưng lại hạng nhất thế giới về tốc độ bỏ chạy.

Như thế thì con “ma cộng sản” phải có cái ma lực ghê gớm mới có nhiều người quốc gia các anh phải “thờ” để rồi khiến  “người quốc gia” các anh phải điêu đứng vì họ ?  Đúng thế, các anh ca cẩm nhưng chưa có anh nào có thể lý giải được cái thực tế phũ phàng này,  vì lý giải được thì chắc chắn các anh sẽ có cái nhìn khác về cộng sản và  không thể khinh địch được, không thể nghĩ rằng cái gì CS cũng tồi,  chắc rằng các anh không thua nhanh đến thế. Sau khi VNCH các anh tan hàng một cách nhục nhã,  nhiều anh mới đặt câu hỏi “tại sao” thì đã quá muộn rồi.

Bắt chước bu cho nên hệ thống tâm lý chiến VNCH của các anh  nói láo vô tội vạ chỉ cần đạt mục tiêu trước mắt là hướng căm thù người dân về phía đối phương. Những điều khốn nạn tồi tệ của chế độ các anh  bị các anh  bưng bít tối đa và bất cứ gì có thể  xuyên tạc về đối phương được các anh khai thác triệt để. Các anh nói láo để người dân tránh xa CS, nhưng dần dà các anh lại tin vào chính những lời nói láo của mình, cứ tưởng nó là sự thật và các anh sợ chính cái bóng ma CS do các anh tưởng tượng ra.

Bu các anh dùng “cơm”  để mua sự nô lệ của các anh, Chế độ VNCH các anh  sử dụng “cơm bu”  để mua sự trung thành của quân cán chính, cho nên các anh  luôn đề cao cơm quốc gia, cho rằng “cơm quốc gia” được bu đài thọ chắc chắn sẽ ngon hơn cơm cộng sản và  đủ sức giữ chân những quân nhân viên chức không phản bội theo phía bên kia được. Các anh biết chắc rằng “cơm” CS không thể bằng cơm bu của các anh cho nên các anh cho rằng  lý do thờ ma CS vì “cơm” chắc chắn không thể xảy ra.

Các anh luôn lấy “cơm quốc gia” làm thước đo để so sánh với “cơm” cộng sản, các anh hãnh diện vì thứ cơm được cho không này và nghĩ rằng nó sẽ không bao giờ cạn vì các anh là con đẻ của bu, chẳng thể nào bu cắt cơm các anh được. Các anh nghĩ rằng đã là “tiền đồn” của bu thì bu phải có bổn phận bón cơm cho các anh đầy đủ . Thế mà có kẻ lại ăn cơm bu mà lại “thờ” CS thế mới cay, thế mới lạ, thế mới khó hiểu nếu không muốn nói là “huyền bí” đối với các anh.

Tất cả những gì các anh gán cho người CS là vô cùng tồi tệ không có điểu gì tốt đẹp, cho nên nếu bảo rằng người quốc gia phản bội vì CS nó tốt hơn người quốc gia  thì chắc chắn các anh sẽ giẫy nẩy lên mà phản đối. Chính cái não trạng được lập trình như vậy đã làm u mê các anh và cho đến lúc vắt giò lên cổ chạy vẫn chưa thể lý giải được con ma CS nó mê hoặc người quốc gia bằng cái gì.

Thực tế người CS không ràng buộc người lính hay cán bộ của họ vào tập thểbằng “cơm” mà bằng lý trí tình cảm, bằng lý tưởng, bằng lòng căm thù giặc. Một trong những lý do các anh phải tụt quần là các anh không thể hiểu nổi thế nào là chiến tranh nhân dân, các anh cho rằng đó chỉ là luận điệu tuyên tuyền mị dân của CS mà không thể hiểu được đó là sức mạnh vô song  chỉ những người CS mới tận dụng được.

Người dân theo CS cũng không phải vì miếng cơm mà còn dành cả cơm của họ cho CS. Cơm CS không đủ ăn, người lính cũng chẳng có lương, vậy mà chẳng biết làm thế nào họ lại hình thành được cái ma lực để  những người quốc gia phải “thờ” mới lạ. Đằng sau sức mạnh giúp hai triệu dân công hy sinh mọi thứ  phục vụ cho chiến dịch Điện Biên Phủ bằng cơm nắm là cái gì các anh không cần biết thì làm sao các anh hiểu được những người quốc gia các anh tự nguyện “thờ ma CS”?

Được bu bú mớm các anh rất hãnh diện, hình ảnh của bu là hình ảnh của sức mạnh, là hình ảnh của sự giàu có. Cho nên hưởng được một tí cơm bu các anh đã vội sung sướng tự hào nhận mình là “hòn ngọc viễn đông” là quân dội hạng tư thế giới,  xem đối phương là loại thổ phỉ “răng đen mã tấu” chiến đấu chỉ vì gọng kềm thép của kỷ luật, khi lâm trận phải buộc mình vào súng để tử thủ thì đánh đấm gì. Có bu bảo trợ cho nên các anh xem thường đối thủ, các anh khinh địch. Các anh tin một cách mãnh liệt rằng  bu cần các anh làm tiền đồn chống cộng cho nên các anh không bao giờ chết vì đói. Thế nhưng đau đớn thay điều bất ngờ khủng khiếp nhất chưa bao giờ các anh nghĩ đến đó đã thật sự xảy ra. Các anh bị bu bỏ đói đúng theo nghĩa đen và lúc ấy các anh mới bắt đầu nhận ra sự nguy hiểm khi cơm bu bị cắt khẩu phần.

Thời VNCH , nền kinh tế các anh hoàn toàn dựa vào bầu vú bu, hầu hết vùng nông thôn nằm trong vùng VC kiểm soát “cơm quốc gia” hoàn toàn do bu bú mớm. Những kẻ hưởng lợi từ “cơm quốc gia” đều nằm trong bộ máy cai trị của các anh, Cơm bu có ý nghĩa quyết định đến sự tồn vong của cờ vàng. Khi bu cắt cơm ngay lập tức cờ vàng các anh hoảng loạn. Nền kinh tế các anh không có gì để tự nuôi mình, đói quá các anh phải  rao  cầm cố con vịt trời thì đã đến lúc các anh đã đến bước đường  cùng. (1) Các anh hốt hoảng lo sợ nhưng chẳng biết bấu víu vào đâu, xung quanh, cả thế giới này chẳng có ai đoái hoài đến cái “tiền đồn “  VNCH của các anh cả,  rốt cuộc các anh cũng lại phải nắm lấy cái váy bu mà kêu gào  lạy lục.(3) Lần đầu tiên các anh nhận thấy miếng “cơm quốc gia” chan đầy uất hận, hận nhưng vẫn chưa biết nhục.  Lần đầu tiên các anh thấm thía cái thân phận nô lệ nó ê chề như thế nào. Thế nhưng sở dĩ cho đến nay các anh vẫn còn phất lá cờ vàng kêu gào cũng chỉ vì các anh chẳng bao giờ  giờ biết nhục là gì,  bời vì các anh vẫn cảm thấy hãnh diện  dưới lớp váy bu. (xem bài  “cái thế của quốc tịch Mỹ”  http://kbchn.net/news/Vui-Cuoi/The-Cua-Quoc-Tich-My-14115/ )

Một bài tự sướng mang đậm chất nô lệ và ngu không đụng hàng rất đặc trưng cờ vàng . Nó rất điển hình cho hầu hết các não trạng cực đoan đặc sệt ngu xuẩn .  Dưới trướng bu các anh đã hơn một lần ngậm đắng nuốt cay nhưng các anh không bao giờ có thể mở mắt ra nhìn thế giới cũng chỉ vì bầu trời của các anh  là cái váy bu,  cả thế giới của các anh nằm gọn trong cái váy đó. Tất cả những gì của bu đều là chuẩn mực không tì vết. Các giá trị của bu là khuôn mẫu cho toàn cầu không cần bàn cãi, các anh hãnh diện được ở trong cái váy bu. Các anh  không cảm thấy an toàn khi ra khỏi cái váy đó cho nên  không thể làm gì một cách tự tin khi không có hơi hám của cái váy này. Các anh làm gì cũng luôn phất lá cờ bu cùng lá cờ vàng cũng là vì thế.

Sang định cư ở xứ bu mà các anh còn dùng câu “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản “ thì các anh đã vạch  cho thiên hạ thấy các anh là con vẹt ngu không còn chỗ nói, dù rằng những người các anh chỉ trích chỉ nói những sự thật tốt đẹp của CS. Cơm quốc gia ở xứ bu không được bu ban phát hào phóng để các anh nuôi bộ máy cờ vàng nữa chỉ đủ cho mỗi anh sống để rửng mỡ biểu tình. Nhưng cái lưỡi các anh thật là dẻo, các anh mô tả  tả ngụy biện rằng  “cơm quốc gia “  là lợi ích do cộng đồng Mỹ gốc việt mang lại. Một tờ báo bán chạy được xem là nhờ sự ủng hộ của cộng đồng, do đó đang hưởng lợi từ cộng đồng, đó là cộng đồng “người quốc gia” cho nên  các nhà báo bán được báo là đã  “ăn cơm quốc gia” không thể “thờ ma cộng sản”.

Các anh vơ  tất cả những dịch vụ phục vụ cho người Việt vào chung cái mối “cơm quốc gia” của các anh, thế là các anh cho rằng bất cứ ai cung cấp dịch vụ và hưởng lợi từ công sức của chính mình cũng phải biết ơn cộng đồng đã nuối dưỡng mình, đã mang cho mình miếng “cơm quốc gia”.

Các anh đã bỏ bao công sức suốt 53 ngày chỉ  để biểu tình “cắt cơm” cho bằng được ông Trần Trường vì ông này “thờ ma cộng sản”. Các anh đã thắng lợi và vô cùng hãnh diện và mừng rỡ khi đập được nồi cơm của ông Trần Trường dù ông ta chẳng liếm láp miếng cơm quốc gia nào, các anh  xem đó là đòn răn đe đối với bất cứ thằng nào dám bước ra khỏi lằn ranh “chó đái “ (2) của các anh.

Ma cộng sản không có thực, nó chỉ có trong nỗi ám cờ vàng. Nhưng chính các anh đang thờ một con ma đúng nghĩa là con ma cờ vàng. Con ma này đã chết quá lâu rồi. Cái ngu của các anh là khấn vái suốt mấy chục năm tin rằng nó  sẽ sống lại để các anh lại có cơm bu mà rung đùi phe phẩy. Nhớ nó quá các anh năm nào cũng phải “quốc hận” để nhắc nhở nhau,  kể lể đủ điều rồi cuối cùng bao giờ tụ tập nhau cũng phải  vẫy cái lá cờ vàng làm cho nó không thể siêu thoát được

Ngày nào các anh không còn thờ con ma cờ vàng thì ngày ấy các anh mới bớt ngu muội. Ngày nào các anh đủ khôn và can đảm vén váy bu nhìn ra thế giới ngày ấy con mắt các anh mới được sáng ra,  con ma CS mới thôi ám các anh. Các anh hãy để cho lá cờ vàng siêu thoát và chắc chắn rằng điều này sẽ làm cho các anh thanh thản, không còn trăn trở ray rứt vì cay cú để  dọn đường cho mình  đi vào cõi vĩnh hằng với những giấc mơ và kỷ niệm cờ vàng đẹp bên bu ngày nào.

(1)   Nguyễn Văn Thiệu Tổng thống VNCH đề nghị thế chấp mỏ dầu Bạch Hổ  để vay tiền dù nó mới ở giai đoạn thăm dò.

(2)   Loài chó hoang lấy nước đái để đánh dấu  để tạo lằn ranh lãnh thổ. Điều này giống hệt cờ vàng dùng lá cờ vàng để thể hiện lập trường quốc gia  đánh dấu “lằn ranh quốc cộng” .

(3) Xem “Khi đồng minh tháo chạy “  xuất bản năm 2005 của Nguyễn Tiến Hưng Tổng Trưởng kế hoạch  của    VNCH

“QUỐC HẬN” – LÀM SAO CHO BU HIỂU

Xichloviet

Tự điển tiếng Việt chú giải  rằng hận là giận, là oán hờn đối với kẻ đã hại mình.

Hận thường dẫn đến những hành động tiêu cực để  vơi bớt nỗi hận, cam chịu  và thường không có động cơ trả thù mạnh mẽ. Kẻ hận tình thì lang thang buồn bã có khi quẫn trí tự tử, kẻ hận đời thì sống buông thả không cần đến ngày mai.

Vậy thì tại sao các anh cờ vàng lại dùng chữ “hận” để diễn tả nỗi niềm của mình mà không phải là “thù” ? . Tại sao các anh đặt ngày 30.4 là “quốc hận”  mà không phải là “quốc thù”?  Kẻ nung nấu ý định trả thù thường sẽ nung nấu quyết tâm cao hơn kẻ chỉ mong rửa hận chứ?  Phải chăng các anh không có ý định trả thù?

Không phải như vậy, các anh  rất cay cú CS,  luôn nung nấu ý định trả thù, các anh từng thề không đội trời chung với CS, nhưng hơn ai hết các anh  biết rằng  không thể làm được. Cờ vàng rất yếu ớt khi không có BU cho nên cờ vàng chỉ biết kích động trả thù mà không thể làm gì khác. Vì yếu đuối và bất tài cho nên bất cứ ai, bất cứ hành động nào, bất kể phe nhóm nào đối lập với CS là được cờ vàng ủng hộ, kích động và tiếp tay dù đó là kẻ thù của dân tộc.

Người CS nói họ “căm thù giặc” chứ không bao giờ nói “hận giặc” cả. Cũng chính vì lòng căm thù giặc mà họ dễ dàng truyền lửa cho người dân và  biến nó thành sức mạnh vô biên. Kẻ thù chính của họ được xác định từ đầu và xuyên suốt cuộc chiến tranh giành độc lập là  quân xâm lược. Quân xâm lược họ phải đối đầu là đế quốc Pháp rồi đến Mỹ. Các chế độ cờ vàng của các anh  phục vụ cho hai đế quốc này chỉ là một bộ phận của quân xâm lược,  các anh chỉ là mục tiêu thứ yếu, đánh đuổi được quân xâm lược thì những kẻ phục vụ chúng cũng phải chết theo và lịch sử đã chứng minh đúng như thế.

Cờ vàng rất muốn nhưng không thể sử dụng lòng căm thù CS của mình để kích động người dân cho mục tiêu lật đổ chế độ vì người dân không hề căm thù CS như các anh tưởng tượng. Những gì các anh  nói về sự căm phẫn của người dân đối với CS chỉ là sự tưởng tượng giúp các anh  vuốt ve nhau mà thôi. Thế nên mấy chục năm qua các anh vãn  chỉ biết “hận” với nhau năm này qua năm khác.

“Hận” trong cộng đồng cờ vàng  bao hàm nghĩa cam chịu  như số phận nghiệt ngã đã an bài nhưng phải khơi dậy hâm nóng nó thường xuyên để mong thế hệ sau rửa hận cho mình. Hàng năm nỗi hận của cờ vàng  được nâng lên hàng “đại lễ” để cùng hận với nhau và cùng nhau gợi lại những nỗi niềm cay cú.

Ba mươi tháng tư

Ngày này ba mươi tám năm về trước Các anh cờ vàng ai cũng chung tâm trạng là phải chọn con đường vi thượng sách là  tẩu thật nhanh đừng để lọt vào tay CS. Những anh không có cơ hội để tẩu thì đành phải mướt mồ hôi ngồi ôm canh cánh bên lòng nỗi lo sẽ bị Việt cộng trả thù.

Ngày ấy các anh vẫn chưa hận, các anh chỉ lo, vì nỗi lo nó to hơn nỗi hận. Các anh mất ăn mất ngủ chỉ cầu mong có phép mầu làm cho Việt Cộng nó gia ơn tha mạng.

Làm sao không mất ăn mất ngủ cho được khi còn quyền lực, VC lọt vào tay các anh, không một ai toàn vẹn hình hài. Các anh dùng đủ nhục hình để hành hạ họ. Các anh vặn răng người ta, đập gẫy chân người ta đập nát các ngón tay người ta. Các anh nung sắt đỏ dí vào người, cắt vú xẻo thịt người ta thì thử hỏi  khi họ tóm được các họ anh phải làm gì để lấy lại công bằng đây. Chỉ cần nghĩ đến đó thôi các anh đủ vãi ra quần.

Các anh lại còn được tâm lý chiến tuyên truyền rằng  rằng Việt Cộng vô cùng dã man tàn ác, uống máu dân lành.  Như thế thì phen này làm sao nó tha cho các anh được, số phận cá trên thớt của các anh mười phần hết chín phần  toi . Cái sợ nó làm cho các anh teo cả gan mật thì làm gì còn chỗ đâu cho cái hận. Ngoài những anh may mắn bỏ chạy được, anh nào còn kẹt lại thì không còn chỗ mà  ẩn náu vì đâu đâu cũng có Việt Cộng,  vả lại khi còn đương quyền các anh càng to càng phách lối khoe khoang, vợ con các anh coi bà con lối xóm bằng nửa con mắt thì ai chẳng biết về các anh,  giấu đi đàng nào, du kích địa phương thuộc lòng thành tích của các anh thì  trốn vào cái lỗ nào bây giờ. Các anh đành cắn răng bó gối  ngồi chờ số phận.

Các anh đeo lon quan càng to  thì càng run càng  sợ. Cái hào khí VNCH của các anh nó biến đâu mất cả, nó teo tóp lại một cách thảm hại, nó  mất tích chẳng  còn thấy dấu vết hình hài gì. Những anh Hắc Báo Trâu điên Mãnh Hổ bấy giờ như những con mèo ướt run lên lập cập chỉ biết than thân trách phận và trách BU. Cái “tổ quốc – danh dự – Tránh nhiệm “ của các anh cũng vứt hết vào bãi rác ven đường miễn là làm sao giữ được cái thân xác vẹn toàn.  Anh nào cũng cố gắng giấu được điều gì tốt điều nấy. Có anh lỡ xăm chữ “sát cộng” trên tay chẳng biết làm sao phải lấy bùn đất trét lên, lấy  băng quấn lại mắt láo liên, quần ướt sũng. Cứ như thế, ngày ba mươi tháng tư, các anh SỢ , LO  và ĐỢI . Các anh phải cởi quần vứt ba lô giày dép súng đạn cũng là để xóa đi cái dấu vết người lính cộng hòa hạng tư thế giới – Ôi chẳng nỗi khổ nhục nào bằng.

Ba mươi tháng tư.

Hai triệu tàn quân và công chức phải ra trình diện trong đó có 70 ngàn sĩ quan từ thiếu úy đến trung tướng cứ răm rắp không một ai dám tỏ thái độ  “hận” . Khi bị gọi trình diện anh nào cũng lấm la lấm lét xem thử anh trình diện trước bị cư xử ra sao, anh nào cũng né bàn cán bộ địa phương vì khó giấu thân phận. Gặp cán bộ các anh lễ phép hơn cả lễ phép với ông bà. Một trung tá lữ đoàn trưởng thủy quân lục chiến các anh tâm sự rằng đã nghe ngóng mấy ngày nếu thấy tiếng la hét do bị tra tấn sẽ bỏ trốn,  nếu không trốn được sẽ tự sát, chứng tỏ  sự căng thẳng tột cùng của các anh. Cũng may anh này nhận ra được sự nhân đạo của chính quyền quân quản nếu không thì lại trở thành “anh hùng tuẫn tiết của các anh rồi”

image001

Một điểm đăng ký trình diện  sau ngày 30-4-1975. Ảnh tư liệu của Cục Dân vận

Cái lo sợ của các anh chẳng ai giống ai nhưng tựu trung bất cứ ai từng gây tội ác trong các anh cũng  hình dung và ám ảnh cái ngày Việt Cộng nó cho đi mò tôm nó như thế nào. Bản án tử hình tự các anh phán xét và treo lên đầu mình, treo lên đầu nhau  khủng khiếp như thế thì có anh nào dám hận, còn tâm can lòng phèo đâu mà hận.  Nhiều anh trăn trối với gia đình rằng nếu Việt Cộng nó bắt đi thì hãy lấy ngày ấy làm đám giỗ hàng năm. Khổ nhất là những anh tướng tá gây ra  nợ máu lấy việc hành hạ tù binh VC làm thú vui thì luôn ám ảnh về cái ngày lên thiên đàng bằng mã tấu. Thế nên một số anh chọn cách tự xử tại nhà để khỏi phải rơi vào tay CS và  để có thời giờ xin chúa ban phước lành xin  lấy cái vé vớt mà  yên ổn về nước chúa. Những anh này về sau đã trở thành những “anh hùng tuẫn tiết”  của các anh đấy. Ở thế giới bên kia có lẽ các anh này đấm ngực thình thịch mà  trách mình rằng sao ta  dại quá vì chúng nó có thằng nào chết đâu,  lại được BU cưu mang mà chống cộng.

Vào trại cải tạo các anh mới  thở phào nhẹ nhõm như trút đi được gánh nặng ngàn cân. Chưa biết nó giam bao lâu nhưng chắc là  được sống rồi, và sẽ  không có trò “mò tôm” như các anh  từng tưởng tượng. Mừng lắm cho nên các anh bắt đầu có nụ cười, có giấc ngủ ngon và các anh bắt đầu mơ. Khi biết chắc rằng CS nó không trừng trị các anh như tưởng tượng thì lúc ấy các anh mới bắt đầu yên tâm và cũng bắt đầu  từ đó các anh mới cảm thấy  hận chúng nó.

Gác tay lên trán trong tù các anh không thể hiểu nổi tại sao quân đội “hạng tư thế giới” của các anh lại có thể  tan hàng thảm bại nhanh đến thế. Các anh không tưởng tượng được là tại sao BU lại bỏ rơi các anh đột ngột như thế khi các anh đang vô cùng trung thành  bảo vệ cái chính nghĩa VNCH mà Bu giao cho như là một nghĩa vụ cao cả được BU bảo trợ. Các anh đang  trừ gian diệt bạo bảo vệ thế giới tự do cho BU. Các anh đang bảo vệ chính nghĩa cờ vàng  mà BU giao trọng trách và đổ biết bao tiền của nuôi nấng cơ mà.

Tại sao BU bỏ chạy bỏ lại các anh như thế . Một siêu cường như BU lẽ nào lại bị bọn thổ phỉ ốm đói  như thế đánh bại thảm hại  tống cổ về nước cấp tốc thế  hay sao? Tai sao? Tại sao ? Đầu óc nô lệ của các anh không bao giờ hiểu được.

Có rất nhiều cuộc hội luận của các anh về lý do tại sao “mất nước”. Cho đến ngày nay tài liệu tham khảo về cuộc chiến VN dẫy đầy nhưng không không anh nào nhìn ra được thân phận nô lệ của mình. Các anh vẫn cho rằng các anh là tiền đồn của thế giới tự do chiến đấu để bảo vệ nó ngăn chận sự bành trướng của CS. BU chỉ là đồng minh giúp các anh thực hiện sứ mạng của mình. Các anh lờ đi cái thực tế rằng quyền lực của BU có thể sai khiến các anh và có quyền bắt các anh phải chết. Tiền bạc của BU phát cho các anh không phải vô điều kiện mà là để phục vụ cái lợi ích của BU, khi không đạt được mục đích các anh không còn giá trị. Các anh luôn mồm than vãn rằng “BU bỏ rơi” mà không ý thức được rằng BU các anh đã vứt đi một món đồ không còn sử dụng được

Cái lý tưởng các anh nó vô cùng đơn giản . Các anh được mô tả như những anh hùng trừ gian diệt bạo, các anh được nhồi sọ rằng CS theo chủ nghĩa ”tam vô” nghĩa là vô gia đình, vô tổ quốc vô tôn giáo. Thế nên nghĩa vụ tiêu  diệt chúng là cao cả  không có gì phải lăn tăn cả. Các anh được nhồi sọ rằng Việt cộng là bọn rừng rú răng đen mã tấu, sa vào tay Việt cộng thì chỉ có chết. Cảnh tâm lý chiến chiếu đi chiếu lại  cho các anh xem địa chủ mà còn bị chúng chôn sống thì các anh thoát làm sao được. Thế nên khi không thấy bị chúng cho đi “mò tôm” các anh mừng vô kể  như được sinh ra là lần thứ hai.  Không còn lo sợ mò tôm nên các anh mới có dịp gác tay lên trán mà  hận.

Thế nhưng nếu nói  rằng các anh hận vì nó bỏ tù mình, hận nó đánh mình chạy như vịt, hận nó tước đoạt hết quyền lợi BU ban  thì hèn quá cho nên các anh phải hô hào nâng nó lên thành “quốc hận” cho nó sang. Như thế mới chứng tỏ mình không hận vì ích kỷ nhỏ nhen mà hận vì nước mất nhà tan, vì chính nghĩa.

Nước mất nhà tan là cái thực thể đau lòng của các anh thật. Các anh chẳng cần biết cái nước VNCH của các anh nó được đẻ ra từ đâu, nó là con của  ai các anh cũng chẳng cần biết,. Các anh chỉ cần biết nhờ nó mà các anh được ngồi trên đầu thiên hạ, nó mất đi các anh mất tất cả thì  ai mà chả hận. Thế là các anh đã có ngày “quốc hận” đến hôm nay.

Trong ngôn ngữ Việt  chữ  “quốc” sẽ được dùng như  tính từ khi đi sau nó là một danh từ như quốc tang, quốc hồn, quốc lộ, quốc kỳ, quốc hoa, quốc ngữ, quốc ca v.v… Như thế một khi chữ “quốc” được sử dụng  làm tính từ thì không thể dùng động từ theo sau nó. Ở đây các anh dùng động  từ “hận” để muốn diễn tả nghĩa “ cả nước hận” là sai bét và về ngữ nghĩa. Chữ “hận” chưa bao giờ được dùng như một danh từ trong tiếng Việt. Nói như thế thì từ “quốc hận” của các anh sẽ được người Việt  hiểu là “hận quốc gia’ . Thế thì bao năm rồi các anh “hận quốc gia VNCH” à ?  Cũng chỉ vì muốn phát ngôn  “hận “ cho  thật kêu  mà các anh đã tự vả vào họng mình rồi đấy.

Thực ra nhìn vào  những hành động của các anh bao năm qua nếu nói chính xác phải nói rằng các anh “cay cú” nó mới đúng bản chất . Cay cú chỉ giới hạn hành động là thổ lộ cho nhau kích động nhau để rủa xả đối phương. Cho nên gần bốn chục năm hận của các anh vẫn chỉ làm được có thế .

Như thế có thể khẳng định rằng ba mươi tháng tư năm xưa dù tổng thống các anh đầu hàng, dù các anh phải lũ lượt  tụt quần rã đám, ngày ấy  các anh cũng chưa hề hận, ngày ấy các chỉ anh sợ và lo, các anh chưa đủ bình tĩnh để hận.  Khi các anh được an toàn không bị VC nó cho lên thiên đàng với chúa thì các anh mới bắt đầu nghĩ đến cái hận.

Sang đến sứ BU lái lá gan của các anh bắt đầu tươi trở lại. Bao giờ cũng thế, các anh chỉ cảm thấy bình an và  to mồm khi có BU bên cạnh. Nhờ thế mà các anh bắt đầu tụ nhau lại để nhân lên cái “hận”. Các anh mua quần áo si đa mặc vào cho nó đỡ nhớ cái ngày nhục nhã năm xưa. Ngày xưa cởi quần chạy các anh khấn vái đừng cho ai nhận ra mình. Quan thì chỉ nhận là lính, lính thì chỉ nhận là dân.  Ngày nay trên xứ BU anh nào cũng rủng rỉnh lon lá,  lính biến tất tần tật thành quan hết, chẳng thấy anh lính nào . Các anh biện hộ rằng các anh chưa từng có giấy giải ngũ cho nên ba mươi mấy năm một anh hạ sĩ lên đại tá là bình thường chẳng có gì lạ. Cứ như thế  “quân lực” có quan không có lính của các anh   lâu lâu lại kéo nhau ra phố hò hét mà “hận” với nhau.

Các anh có thói quen là cái gì có BU để ý thì các anh thích lắm cho nên các anh làm đủ cách để gây chú ý cho BU. Các anh xin công nhận cờ vàng chỗ này chỗ nọ, cắm nó khắp mọi nơi để nhắc cho BU sự hiện diện của các anh nhưng chẳng được BU đoái hoài. Thế nhưng cái “quốc hận “ của các thì không thể dịch ra cho BU hiểu được nỗi lòng. Trên thế giới này chỉ các anh là có món này,  ngôn ngữ nhân loại chẳng có nước nào có  được nên chẳng có ai hiểu cho nỗi lòng các anh.

Thù   thì phải trả thù, hận thì phải rửa hận Có thể nói ngay rằng không có điều gì đau bằng hận mà phải bó tay không làm sao rửa hận được. Muốn rửa hận các anh phải có cách để làm cho đối thủ phải đau như chính nó làm cho mình. Vậy mà ba mươi tám năm rồi các anh mỗi ngày mỗi đau thêm mà kẻ thù thì càng ngày càng trêu ngươi các anh xem các anh như cỏ rác.

Rửa hận bằng cách nào? Đó là bài toán vô cùng khó cho các anh. Hầu hết các bộ óc ưu tú nhất của cờ vàng đã hiến kế ba mươi tám năm qua mà chưa có kế sách nào để các anh làm một việc tưởng chừng như đơn giản là “rửa hận”. Và hệ quả là khi không “rửa” được hận thì sẽ bị nỗi hận nó ám suốt đời.

Con gì đau bằng thù không trả được mà hận không rửa được phải không các anh. Dân ta có lòng bao dung độ lượng, ai cũng thông cảm cho cái sự cay cú của các anh nhưng chỉ trách các anh sao ma u mê lâu đến thế. Đã 38 năm rồi chứ có ít đâu, chưa anh nào ra được phương sách rửa hận để các anh thanh thản mà cứ ôm nó vào lòng rên rỉ.

Thông thường trên thế gian này cái gì người ta không rửa được thì người ta còn có cách khác là “chùi” nhưng đối với cái “hận” của các anh  thì bó tay, chẳng thể nào chùi cho nó bớt hận được. Rõ khổ.

NỖI ÁM MANG TÊN CỜ VÀNG

Xichloviet

Gần đây, một sự kiện gây nhiều chú ý trong cộng đồng người Việt ở Mỹ là việc nghị viên khu vực F TP Houston Hoàng Duy Hùng (HDH) về VN làm việc. Sự việc sẽ không mấy ồn ào nếu ông này không phải là thành phần từng có số má cờ vàng thuộc loại cực đoan  hăng tiết vịt, nhưng  nay lại quay ngoẳt lập trường để “làm lợi cho CS”. Đây là  điều tối kỵ đối với cộng đồng cờ vàng hải ngoại  nhất là  trong thời điểm cờ vàng đang ốm o gầy mòn,  tiêu hao lực lượng sống nay chết mai .

Thành tích chống cộng của HDH khá  ấn tượng trong cộng đồng chống cộng cờ vàng vì những hành động  mang tính  giang hồ hảo hán.  Ông ta khoe thành tích với vẻ hãnh diện rằng đã nhiều lần xâm nhập VN âm mưu đặt bom tượng đài lãnh tụ HCM và từng bị chính quyền  VN cầm tù 16 tháng.

Bản chất của cờ vàng là chết nhát, chỉ biết xúi trẻ ăn cứt gà để mơ mộng cho nên những hành động như vậy luôn được  khuyến khích,  đề cao và ca ngợi như là anh hùng. Có một thời ở hải ngoại nổi lên những nhân vật  cờ vàng tìm mọi cách  hành động gây tiếng vang tương tự để nổi tiếng và cũng để kiếm cơm. Tuy nhiên hầu hết đều được bóc lịch trong nhà đá CS. Thời VNCH những hành động chống lại nhà cầm quyền như thế thì ra tù không què cũng ngớ ngẩn, không bao giờ còn nguyên vẹn hình hài. Thế nhưng những “anh hùng cờ vàng “ như Lý Tống, tay chân của Nuyễn Hữu Chánh, tay chân của băng đảng Việt Tân, băng đảng Vì Dân … và rất nhiều người khác vẫn bình an béo tốt  khi mãn hạn tù, cho thấy tính răn đe của luật pháp VN vẫn còn nhẹ hều cho nên có nhiều tội phạm loại này có cơ hội  tái phạm trong đó có HDH.

HDH cho rằng máu hảo hớn cờ vàng của mình như thế thì quá đủ để chứng minh mình đã dấn thân rất nhiều cho cờ vàng và chứng minh mình  là dân cờ vàng thứ thiệt  .  Nay sở dĩ HDH  thay đổi lập trường đấu tranh vì BU BẢO chứ không phải  phản bội cờ vàng. Đề cập đến BU là một vũ khí hiệu quả đặc biệt có tác dụng làm câm họng những kẻ chống đối. Nó  được nhiều người sử dụng từ khi còn chế độ VNCH. Một khi BU BẢO thì cấm có thằng nào dám trái lời.

HDH lập lại rất nhiều lần rằng những lần manh động có tính khủng bố ở VN ông đều được BU BẢO là cần phải chấm dứt. Nay ông phải nghe lời BU để đấu tranh kiểu khác nhưng  ông không hề từ bỏ lập trường cờ vàng. Thực ra Bu không bảo thì HDH cũng phải chấm dứt hành động mang tính khủng bố tương tự vì HDH hành động mang tính bột phát, anh hùng rơm không có được một tổ chức ra hồn để hỗ trợ và việc thoát khỏi bị bắt  vào nhà đá chỉ là cánh cửa vô cùng hẹp, chỉ biết trông chờ vào chúa mà thôi. Nguyễn Hữu Chánh có hẳn một tổ chức “chính phủ VN tự do” hoạt động trong quốc nội mà vẫn  bị CAVN lượm vào nhà đá gần 200 em (báo cand) gần như sạch sành sanh thì dù BU BẢO HDH cũng đố dám ho he. Tất cả những âm mưu đánh bom khủng bố của cờ vàng 38 năm qua đều bị CAVN dập tan từ trứng nước. Cái thiếu lớn nhất của cờ vàng dẫn đến thất bại là thiếu người dám đánh bom liều chết.

Thử tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra  khi cờ vàng có một tinh thần thánh chiến như Al Quaeda,  có những chiến  binh cờ vàng sẵn sàng mang bom liều chết  để gây bất ổn cho kẻ thù? Vĩnh viễn không bao giờ có được bởi vì cờ vàng rất ích kỷ không bao giời muốn  chết cho kẻ khác sống và  lá gan của cộng đồng cờ vàng không đủ lớn để làm những việc như thế,  duy chỉ có cái mồm vẫn đủ lớn để nói láo suốt ba mươi tám năm qua.

Là một thành viên cờ vàng chống cộng có số má được ghi vào sổ bìa đen của Công An VN,  cánh của trở về của  HDH rất hẹp. Nhiệm kỳ làm nghị viên TP Houston là cơ hội hiếm hoi để HDH toan tính cho cuộc hành hương về nguồn của mình danh chính ngôn thuận . Đây chính là thời điểm để HDH toan tính thế nào vừa thênh thang đường về vừa không làm nổi giận băng nhóm cờ vàng. Đây là bài toán nhức óc. Điều dễ dàng nhất để vừa lòng cờ vàng là HDH phải có phát ngôn tố cộng  cứng rắn, phải nói láo, phải hứa hẹn kiên định lập trường cờ vàng và xác định lằn ranh quốc cộng. Thế nhưng về VN làm nhiệm vụ của một viên chức  Mỹ ,  nhập gia  người ta mà cứ moi móc hoạnh họe gia chủ theo luận điệu cờ vàng thì quá khó cho một người có chút liêm sỉ. HDH chọn thái độ vẫn khẳng định lập trường cờ vàng nhưng tuyên bố  chuyến hướng sang …. đấu tranh ôn hòa trực diện, Thế nhưng nào có được yên thân, lập tức HDH bị biểu tình phản đối và đặt bom khủng bố.

Cờ vàng chẳng bao giờ tin ai,  ngay cả những “anh hùng ” của mình. Cờ vàng quen nói láo và nghĩ rằng ai cũng có thể nói láo như mình. Thế nên một anh cờ vàng khi tuyên bố điều gì lập tức có hàng chục anh khác cật vấn vì cho rằng anh kia đang nói láo. HDH cũng nằm trong trường hợp đó. Khi công bố rằng anh ta chỉ làm cầu nối để cờ vàng “đấu tranh trực diện” với thứ truởng ngoại giao VN  Nguyễn Thanh Sơn thì lập túc có hàng chục thành viên cờ vàng khác chất vấn đủ điều, nào là bảo không bên nào có phóng viên tại sao có hình đang trên báo trong nước, nào là tại sao buổi họp tuyên bố là công khai mà lại  ru rú họp kín với nhau.v.v… Tóm lại họ cho rằng HDH đang nói láo. Nói láo là loại vũ khí thuộc loại bẩn thỉu  nhất nằm trong danh mục đặc sản cờ vàng không anh nào là không tận dụng,  trong đó có việc tố nhau là Việt Gian, moi móc tố khổ đời tư của nhau mà chính HDH cũng từng là nạn nhân. Ngay sau khi thay đổi lập trường chống cộng HDH lập bị tố khổ là Việt Gian, là đứa con bất hiếu từng  khiến thân phụ của mình uất ức phải lao đầu vào xe tự tử. Làm vừa lòng được cờ vàng bằng lý lẽ là chuyện xưa nay hiếm vì đối với họ không có lý lẽ nào biện hộ được cho việc xóa bỏ “lằn ranh quốc cộng”.

Biết rằng không thể làm vừa lòng cờ vàng, biết rằng kiểu cực đoan cờ vàng 38 năm qua của những băng nhóm chất chứa đầy hận thù và vị kỷ chỉ là làm trò hề cho thiên hạ nhưng HDH không thể đủ can đảm và bản lĩnh để giũ bỏ nó đi, ngược lại cố bó nó vào người để tìm sự an toàn, đó là sai lầm mà HDH sẽ phải đeo đẳng mãi bên mình nỗi ám mang tên cờ vàng.

HDH là thế hệ cờ vàng thứ hai được đào tạo bởi nền giáo dục BU cho nên cái hận thù trong giòng máu không khốc liệt như thế hệ trước và thật may cũng nhờ thế nên HDH không bị nhiễm cái NGU của cờ vàng cực đoan, nhất là sợi thần kinh xấu hổ không bị liệt giúp cho HDH nhận ra  sự thật lịch sử để chấp nhận nó và ít ra  không bị nhiễm thói điêu ngoa  nói láo rất ghê tởm của cha chú mình. Thế nhưng kiểu tuyên truyền nhồi sọ của cha chú cũng làm cho HDH thấm đậm chất cờ vàng. HDH lập lại như con vẹt rằng “CS vô thần” và ngạc nhiên thấy ông Nguyễn Thanh Sơn thờ phật.  Lập lại như con vẹt rằng Saigon là “hòn ngọc Viễn Đông” phát triển hơn hẳn Thái Lan và Nam Dương để so sánh với Saigon ngày nay chứng tỏ rằng cái não trạng cờ vàng đã được ngấm sâu tư tưởng đã được nhồi sọ như thế nào.  Dù rằng không cần gặp ông Nguyễn Thanh Sơn, hay dù rằng chưa về đến Sai gon đi nữa  với phương tiện truyền thông hiện nay HDH cũng có thể biết được sự thật nó như thế nào.

HDH vẫn như con vẹt tự nhận mình là người “quốc gia tị nan CS”.  Người quốc gia cái nỗi gì khi qua Mỹ chưa đầy 13 tuổi. Thằng cu 13 tuổi thì gặp NẠN gì của CS mà phải TỴ? Xem ra vẫn còn tồn tại thế hệ cờ vàng con cứ cứ múa môi như cái máy được lập trình software mang tên cờ vàng.

Sự thực phát triển ở VN làm cho những nhân vật cờ vàng có số má như HDH cũng phải công nhận và ca ngợi không thể nói khác đi được. Trong chuyến về làm việc tại VN,  HDH nhận xét sự phát triển ở VN bằng những lời có cánh. Chưa hẳn  HDH muốn  nịnh chính quyền VN bởi vì bất cứ ai từng đến VN đều có nhận xét như thế. Tuy nhiên nhận xét “có lợi cho CS” xuất phát từ một hậu duệ cờ vàng cực đoan như HDH thì chắc chắn nó tạo ra một cú sốc rất mạnh cho cộng đồng cờ vàng cho dù đó là sự thực.

Trên các diễn đàn HDH nhận được nhiều lời khen, động viên khích lệ về việc dũng cảm tự nhận con đường cực đoan mình theo đuổi vô ích và từ bỏ nó, nhưng cũng có không ít những giọng điệu chửi bới cay cú đặc sệt ngôn ngữ cờ vàng. Những chống đối chỉ xoay quanh những luận điểm rất cũ là HDH hạ mình thỏa hiệp với CS, bị CS mua chuộc, hòa hợp hòa giải với CS, toàn những điều  được xem là điều tối kỵ trong lập trường cờ vàng. Trước khi về VN, HDH đã rào đón rất kỹ  để thăm dò nghe ngóng phản ứng,  về lại Mỹ,  dù bị tẩy chay HDH vẫn tổ chức họp báo để “báo cáo” sau chuyến đi của mình với điểm nhấn là  lá cờ vàng to đùng  sau lưng cho thấy HDH vẫn còn sợ hãi thế lực đen cờ vàng lắm, HDH thiếu hẳn bản lĩnh và sự quyết đoán cần có của một trí thức muốn dấn thân  làm chính trị.

Hở một tí là lấy lá cờ vàng phất lên để chứng minh sự trung thành với “quốc gia” Trò hề độc nhất vô nhị trên thế giới này chỉ thấy xuất hiện trong cộng đồng cờ vàng với nhau. Thế nhưng nó cũng không phải là lá bùa vạn năng có thể hóa giải những lời chửi bới, tố khổ Việt gian. Và không phải ai cũng tin vào cái “lập trường quốc gia” qua hành động ấu trĩ đó. Thế nhưng một trí thức như HDH cũng vẫn phải  áp dụng cái hình thức “thay lời muốn nói” này để phân bua với cờ vàng như một nghi thức bất thành văn đủ thấy cái văn hóa cờ vàng nó hề đến độ nào.

Cũng vì quá quen với “nghi thức’ như thế cho nên cờ vàng rất dị ứng với anh nào đứng đưới lá cờ đỏ vì cho rằng  anh ta đã bị CS nhuộm đỏ rồi. Quả là nếu so với con bò không biết ai ngu hơn.

Mấy chục năm qua trường hợp như HDH quay về VN hợp tác với chế độ không ít xảy ra và đã nhận rất nhiều hình thức chống đối, tẩy chay của cờ vàng nhưng cờ vàng vẫn bất lực không thể ngăn chận được.

Về VN, trở về quê hương của chính mình là một việc tưởng như vô cùng bình thường đối với bất cứ người Việt nào, nhất là trong giai đoạn nhà nước VN đang rộng cửa mời gọi kiều bào về đóng góp cho đất nước. Thế nhưng việc về lại quê hương lại là bài toán khó giải đối với những người từng đứng trong hàng ngũ cờ vàng như HDH. Thế nên trước khi về VN HDH đã tung hứng làm một loạt những hành động thăm dò phản ứng cờ vàng. Dù bị hăm dọa và đặt bom, nhưng nhận thấy  liều lượng chống đối quen thuộc quá yếu ớt  không còn mạnh mẽ như ngày nào  thế là HDH quyết định về VN. Dù khó khăn nhưng HDH đã đạt mục tiêu là …. về thăm quê hương. Ôi thật là không nghịch lý nào bằng..

Không riêng gì HDH, cái con ngáo ộp thế lực đen cờ vàng vẫn còn ám những kẻ từng tung hô cờ vàng nhưng nay giở trò “phản bội”.  Tuy nhiên nó chẳng ảnh hưởng tí gì  đến bất cứ  người dân Việt bình thường nào ở hải ngoại, bằng chứng là hàng triệu lượt người vẫn về thăm quê nhà và đóng góp số tiền khổng lồ cho đất nước. Có thể nói hầu hết các nghệ sĩ hải ngoại có tiếng tăm đã chọn con đường trở về VN chấp nhận đối đầu với những chống  đối du côn của băng đảng cờ vàng. Trước đây trên các sân khấu ca nhạc hải ngoại, muốn sống được họ bị buôc phải ca ngợi và phục tùng  lá cờ vàng. Thời thế đã đổi thay, quê hương luôn có sức hấp dẫn kỳ diệu và băng nhóm cờ vàng đang trên đà suy thoái nghiêm trọng, khuynh hướng quay lưng lại với cờ vàng đang  lan tỏa vô cùng  mạnh mẽ, đó cũng là một trong những  nguyên nhân tác động để HDH đủ sáng suốt  từ bỏ lập trường cực đoan ngu xuẩn.

Tuy nhiên, HDH luôn cho rằng mình chuyển hướng  “đấu tranh” ôn hòa và vẫn đứng về phía hàng ngũ quốc gia, vẫn giữ căn cước tị nạn và vẫn trung thành với cờ vàng.

Xưa nay cờ vàng vẫn kiên định lập trường không thỏa hiệp với CS, không hòa hợp hòa giải với CS và luôn giữ vững lằn ranh “quốc cộng”,  lập trường của HDH không thể chấp nhận được. Cho nên dù HDH đi công vụ cho BU nhưng công vụ này “có lợi cho CS” việc HDH  bị “CS mua chuộc” là điều có thể thấy trước. Lo sợ ấy của cờ vàng không thừa bởi vì hàng trăm ngàn người về VN đều bị mê hoặc bởi cội nguồn của mình,  ở đó có người thân,  ở đó có đồng bào nói cùng ngôn ngữ, ở đó có cuộc sống thanh bình có tình tự dân tộc, cuộc sống vươn lên khắp nơi thay đổi đầy  kinh ngạc khác xa một trời một vực với những điều nói láo của cờ vàng.

Người  CSVN  có một loại vũ khí tấn công cờ vàng rất lợi hại là dùng tình tự dân tộc lòng yêu quê hương đồng bào để hòa giải hòa hợp dân tộc, huy động  tài vật lực cho đất nước và có tác dụng cô lập cờ vàng. Chính vì thế cho nên cờ vàng mới cuống cả lên khi nghị quyết 36 ra đời. Đừng ngộ nhận rằng chính quyền VN chủ trương hòa giải dân tộc là hòa giải với cờ vàng. CSVN phân định rất rõ những người chưa hiểu về VN và những kẻ chống đối VN. Không hề có  chủ trương hòa giải với kẻ có âm mưu  lật đổ chính quyền như cờ vàng, nhất là cờ vàng chưa bao giờ là một thế lực khả dĩ nhà cầm quyền VN cần phải hòa giải. Sự hoang tưởng mình là một thế lực ở hải ngoại làm cho cờ vàng càng ngày càng u mê và càng đau đớn hơn khi càng ngày càng  có  thêm những người đồng hội đồng thuyền giũ áo quay lưng với mình.

HDH tự cho mình đang đấu tranh cho dân chủ ở VN. Nhưng đấu tranh cho dân chủ ở VN không nhất thiết phải “đứng trong hàng ngũ quốc gia”  không nhất thiết phải cố nép  sau lá cờ vàng. Việc màu mè dựng lá cờ vàng trong cuộc họp báo chứng tỏ HDH muốn  bắt cá hai tay, những phát ngôn cho thấy HDH vừa muốn được lòng chính quyền trong nước  nhưng mặt khác vẫn không muốn gây phật lòng cờ vàng. Tính toán của  HDH là một sai lầm lớn. HDH tính toán rằng  tự trói mình vào lá cờ vàng để yên thân, nhưng không những bị băng đảng này xem là đạo đức giả, mà cũng không thoát được sự tẩy chay. Cái mất lớn nhất là bị đồng hương hải ngoại và người dân trong nước  nhìn mình bằng con mắt ngờ vực về cái tâm trong sáng.

Có cần phải lấy lòng cờ  vàng không khi nó chống cộng chỉ vì lợi ích băng đảng vì hận thù triền miên?  Không thể có lòng yêu nước trong một băng nhóm luôn kêu gọi tẩy chay lợi ích dân tộc và hí hửng cầu mong  nước nhà bị xâm lăng dù viện dẫn bất cứ lý do gì. Có thể có lòng yêu nước trong băng nhóm bất cần lợi ích dân tộc miễn là làm khó được cho kẻ thù là nhà nhà cầm quyền hiện tại?  Có thể có lòng yêu nước không trong cái băng nhóm xem BU là tối thượng sẵn sàng đứng sau lưng ngoại bang thậm chí là kẻ thù của dân tộc để phục hận cho dù phải đổ máu đồng bào?

HDH cho rằng việc chống cộng của cờ vàng hiện nay là vì lòng yêu nước là ngụy biện. Cờ vàng  chỉ yêu cái nước VNCH yêu cuộc sống có BU bú mớm và tiếc thay cho nó yểu số, hận thay cho nó bị CS khai tử. Không thể tưởng tượng được có ai yêu nước mà cầu cho Tàu nó đánh VN để tiêu diệt CS cho cờ vàng rửa hận.

Còn nhớ năm 1979 khi tàu xua quân tấn công biên giới phia Bắc, băng đảng cờ vàng vui như mở hội,  lập đàn cầu cho nó đánh Hà nội. Yêu nước như thế sao ?

Có thể nói dù có muốn nhưng những người tùng hoạt động trong các băng nhóm cờ vàng phải dũng cảm lắm mới quyết định giũ bỏ nó mà không bị nó ám. HDH từng thanh minh rằng phải mang vợ về cùng  vì sợ cờ vàng nó đồn là về VN để gái gú. Thật khổ cho cái  nỗi ám mang tên cờ vàng. Thông cảm cho HDH nhưng cũng tiếc cho một con người có kiến thức nhưng yếm thế,  thiếu quyết đoán  và bản lãnh. HDH rất muốn gỡ ra khỏi cơ thể cái mớ bùng nhùng cờ vàng đã lỡ khoác trên người bao năm qua nhưng cứ loay hoay như gà mắc tóc và không biết phải bắt đầu như thế nào. Mới đây HDH biện hộ cho việc đặt lá cờ vàng trong cuộc họp báo rồi huênh hoang về ý nghĩa và giá trị của nó, ba hoa  rằng chính thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã từng  đứng dưới lá cờ vàng tại văn phòng nghị sĩ John McCain.  Không biết HDH muốn truyền tải điều gì về sự tưởng tượng đó, thủ tướng Dũng chấp nhận lá cờ vàng chăng? Thật là quá ấu trĩ. (1) HDH  không thoát khỏi căn bệnh cố hữu của cờ vàng là lấy những điều mà các thế hệ cờ vàng trước nói láo để dẫn chứng. (2) Xem ra một tiến sĩ luật được đào tạo tại Mỹ, được trang bị những xảo thuật chữ nghĩa để biện luận mà vẫn phải dùng ngón nghề nói láo ra để biện minh cho một sự kiện bố láo khác chứng tỏ rằng thoát ra khỏi cái u mê cờ vàng không phải dễ.

HDH đã về VN đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của đất nước mà có muốn nói láo cũng không thể được. HDH chứng kiến sự phát triển kỳ diệu của Đã Nẵng đến nỗi phải lập lại nhiều lần rằng đây sẽ là Singapor thứ hai ở Đông Nam Á. HDH được chứng kiến cơ sở chế biến rác của ông David Dương một trong vô số Việt kiều có đóng góp thiết thực cho đất nước và đồng bào. Những thực tế ấy chắc hẳn sẽ có tác động vào niềm tin của HDH rằng một nước VN hùng mạnh do đảng CSVN lãnh đạo sẽ là hiện thực rất gần . Một trí thức trẻ như HDH chắc chắn sẽ nhận ra điều đó . Đúng là quá muộn màng nhưng muộn còn hơn không.

Dù sao cũng đáng ghi nhận thiện chí của HDH với đất nước. Nếu bỏ qua những chi tiết hành động để lấy lòng cờ vàng vẫn  có thể thấy ở HDH  có cái tâm với đất nước và  có cảm xúc với sự phát triển của quê hương,  không còn thấy con người cực đoan trong HDH. Dù chuyến về thăm quê hương được sắp xếp theo một kịch bản được chuẩn bị trước  thì kịch bản và diễn xuất khá hoàn hảo dù rằng áp lực sợ mất lòng cờ vàng làm cho HDH chưa bộc lộ hết nỗi lòng.

Đúng là là một nghị viên gốc việt sống trong hang ổ cờ vàng  HDH đang gặp khó. Dân ta có câu “trong cái khó ló cái khôn” cái khôn ở đây không phải là toan tính sẽ lấy lòng cờ vàng kiểu nào mà ở chỗ quyết tâm  giũ bỏ nó như thế nào. Giũ bỏ nó là giũ bỏ tư tưởng cực đoan vị kỷ, quên đi cái dĩ vãng hoàng kim khi còn có BU bảo trợ, giũ bỏ đi cái nỗi niềm canh cánh hận thù. Giũ bỏ nó là xa rời cái băng đảng bát nháo du côn đang khư khư bám vào cái “lằn ranh quốc cộng” để nuôi khát vọng trả thù.

Hãy can đảm lên để chấm dứt tham gia vào những trò lố bịch của cái sân khấu cờ vàng. Còn lá cờ vàng hãy cất nó vào tủ như một vật kỷ niệm, vì  cho dù nó có được phất lên ở  bất cứ nơi đâu,  dù có vinh danh nó như thế nào , dù có gán cho nó bao danh xưng mỹ miều, dù bỏ bao công sức để vận động cho nó được công nhận nơi này nơi khác trên xứ BU  thì nó vẫn chỉ  là biểu tượng về  sự hoài niệm của một thiểu số, không hề có tí giá trị nào để phải “chào” nó cả. Cả thế giới này đã nhìn nhận rằng nó đã chấm dứt vai trò của nó và đi vào lịch sử, không có quốc gia nào công nhận nó là  “quốc kỳ” như dân cờ vàng xưng  tụng . Đó là sự thật,  nó đã chết đã 38 năm rồi.

(1) http://kbchn.net/news/Tin-nguoi-Viet-Hai-Ngoai/Hoang-Duy-hung-chuyen-can-khong-noi-noi-chuyen-khong-can-14685/

(2) http://kbchn.net/news/Tin-Quoc-Te/Co-tieu-bang-Arizona-da-bi-cong-dong-nguoi-Viet-nhin-ga-hoa-quoc-thanh-VNCH-14701/

MÁCH NƯỚC CHO CỜ VÀNG

Xichloviet

Cổ nhân đã dạy rằng “hợp quần nên sức mạnh”. Chắc hẳn các anh cờ vàng cũng biết như thế nhưng lực bất tòng tâm.

Tập thể nào cũng muốn có sức mạnh, tập thể cờ vàng cũng không ngoại lệ, nhưng không phải cứ “hợp quần “ là có ngay được sức mạnh.  Muốn có sức mạnh là phải hợp quần nhưng điều tiên quyết phải có tổ chức. Điều này ngay cả những băng đảng xã hội đen hay những băng đảng bảo kê cho các em đứng đường cũng ý thức được.

Một tổ chức bao giờ cũng  phải có  nội quy, có kỷ luật ,cùng  chí hướng và quan trọng nhất là phải có một  thủ lĩnh thì mới  thống nhất được hành động và mới mạnh được. Đã hơn 37 năm qua thời gian quá dài, các anh cờ vàng có dư  điều kiện để hình thành một tổ chức có sức mạnh nhắm tới mục tiêu là lật đổ CS. Thế nhưng các anh vẫn loay hoay, ngay đến  việc   tìm chỗ  cắm cái lá cờ vàng  cũng mãi chưa xong trong khi đối thủ của các anh ngày càng mạnh lên càng được nể trọng trên thế giới. Chỉ có việc  cắm một lá cờ ở xứ BU các anh  cũng phải xin xỏ, phải  “đấu tranh” thì việc các anh đòi giải thể CS cắm cờ vàng ở VN xem ra xa vời quá. Các anh chưa nhổ được cọng lông nào của CS cũng chỉ vì  chưa bao giờ các anh có được một tổ chức hoàn chỉnh thống nhất và một thủ lĩnh cờ vàng.

Yếu tố tạo nên sức mạnh cần thiết  là có cùng chí hướng và lòng thù hận  thì cộng đồng cờ vàng  các anh đã có sẵn. Chí hướng của các anh là tiêu diệt CS, căm thù của các anh là căm thù CS, bởi vì CS nó tống cổ  BU các anh về nước, nó đá văng cái chế độ VNCH của các anh  đồng nghĩa với việc đá bể nồi cơm các anh.  Vấn đề còn lại là làm thế nào để tập hợp được những sức mạnh tiềm tàng ấy vào  trong một tổ chức hoàn hảo và có một thủ lĩnh ưu việt là có thể hình thành một lực lượng để các anh tha hồ mà tung hoành chống cộng, thế  nhưng các anh cứ loay hoay như gà mác tóc quá lâu rồi. Chẳng phải các anh ngu đến nỗi không biết đến điều  đó mà là  bởi vì anh nào cũng muốn làm cha thiên hạ,  nhiều cha quá, lắm thầy thối ma cha nào cũng xem mình là số một nên cha này chửi cha kia tập thể cờ vàng của các anh biến thành hũ mắm thúi bốc mùi không ngửi được .

Các anh thường nói đến “chính nghĩa quốc gia” để mị dân và để tuyên truyền tập hợp lực lượng, thực ra cái khẩu hiệu đó không hề có tác dụng. Ngày xưa các anh có cả một bộ máy  chính quyền để tuyên truyền về nó,  có cả BU chống lưng  và  từng lải nhải hết công suất  về cái “chính nghĩa” này nhưng bu con các anh cũng phải ôm nhục tuột quần mà  chạy.

Tuột quần mà chạy theo đúng nghĩa đen chỉ có ở “quân lực” các anh mà thôi, từ cổ chí kim chưa có “quân lực “  nào trên thế giới  khi đầu hàng rồi mà phải cởi quần cả. Các anh cởi quần vì sợ CS nó thấy cái quần lính nó không tha dù đã vứt cái áo đi rồi. Cái này là do chính các anh hù dọa nhau mà ra cả, các anh hù CS tàn ác dã man nên quan  lính các anh sợ quá phải tuột quần tạo thành hiệu ứng domino quần áo ba lô súng đạn vứt đầy đường, tan hàng xẻ nghé sang đến xứ BU vẫn chưa hoàn hồn.

                              Hình ảnh “quân lực VNCH” trong “tháng tư đen”

                                       Tất cả đều lột sạch chỉ chừa cái quần tà lỏn

Cái các anh gọi là chính nghĩa được định nghĩa rất  tương đối, nó không thể tự biến thành sức mạnh được. Một tổ chức như Al Qaeda thế giới gọi nó là khủng bố nhưng nó vẫn nói nó là chính nghĩa nó đã làm cho Bu các anh  thất điên bát đảo hao tài tốn của mà các anh nằm mơ cũng không có được một tổ chức như thế chính vì các anh không có tổ chức và không có  thủ lĩnh.

Các anh có hàng trăm tổ chức chống cộng nhưng chưa hề có một tổ chức nào có thực chất, chưa bao giờ các anh có tiếng nói chung và chưa bao giờ có được một lãnh tụ, đơn giản là vì anh nào cũng có lý lịch là  bỏ của chạy lấy người núp váy BU chẳng anh nào đủ tư cách khả năng và bản lĩnh của một lãnh tụ.  Chưa tính đến chuyện khi có được một tổ chức đủ mạnh, có tiếng nói chung  có một thủ lĩnh kiệt xuất các anh cũng cần phải có kế hoạch hành động, cần có phương án, phương tiện  đấu tranh, cần lộ trình rõ rệt. Điều này có vẻ  khó với các anh vì xưa nay các anh chống cộng theo kiểu mì ăn liền, chống cho bõ tức, chống cộng kiếm cơm, chống cho bớt hận.

CS đối đầu với BU của các anh trên bất cứ phương diện nào đều tuân thủ sách lược  5 bước đấu tranh cách mạng là:  điều nghiên – tuyên truyền -  tổ chức – huấn luyện – đấu tranh. Chỉ riêng bước điều nghiên đã họ đã phải  tung cả một mạng lưới tình báo để rình rập các anh mà cho đến khi sang đến xứ BU ngoái đầu nhìn lại các anh mới biết họ là ai.

Trong một cuộc đối đầu bao giờ người ta cũng bắt đầu bằng bước “điều nghiên”.  Binh pháp Tôn Tử dạy “Tri kỷ tri bỉ bách chiến bách thắng”, tức là, “Biết ta biết người trăm trận trăm thắng” cho thấy điều nghiên đối thủ nó quan trọng thế nào. Các anh cờ vàng chống cộng nhưng không cần điều nghiên và cũng không có khả năng điều nghiên, chẳng hiểu tí gì về CS, cứ hô hào như con vẹt, ra sức moi móc hạ thấp hình ảnh đối phương dấu nhẹm những điểm mạnh của đối thủ, không dám nhìn nhận sự thật,  tuyên truyền tâng bốc nhau nói xấu chửi bới đối thủ cho hả dạ.

Ngày xưa các anh hoàn toàn ỉ lại vào tin tức tình báo của BU, không cần tìm hiểu đối phương.  Các anh chỉ biết chăm bẵm cho việc bắt lính  nhiều càng nhiều càng tốt. Kế hoạch hành quân nào của các anh cũng bị đối phương  biết trước từ …chợ Bến Thành thì đủ thấy cái tổ chức của các anh nó thua cả tổ chức bảo kê của mấy mụ tú bà. Thử hỏi làm sao các anh thắng cho được.

Các anh tạo ra hình ảnh một đối phương hèn kém, dốt nát,  nhìn đối phương bằng con mắt ngạo mạn xem nhẹ đối phương  nhìn đối phương từ  vòng tay che chở của BU  quen tâng bốc vuốt ve nhau, vuốt ve cái chính nghĩa cờ vàng cho nên không thể thấy được sức mạnh của đối phương đến đâu,  đến khi lũ lượt kéo nhau bỏ  chạy các anh vẫn không hiểu nổi. Mười năm sau các anh cũng vẫn ngơ ngác không hiểu tại sao. (lời tự sự của đại tá không quân VNCH Phạm Đình Cương ). Ngay bước thứ nhất này các anh đã thua xa đối thủ và  đã hé lộ sự thất bại của các anh rồi.

Tuyên truyền: Về mặt này ngay chính các anh từng tự nhận là thua xa CS. Các anh cho rằng trong thắng lợi của CS có đóng góp phần lớn của việc tuyên truyền. CS giỏi tuyên truyền nên mới dụ được dân theo họ. Hệ thống chiến tranh chính trị với bao tiền của BU cung cấp cho  các anh ở đâu mà các anh đấu không lại hệ thống  tuyên truyền nghèo nàn của CS? Các anh nên nhớ rằng các anh thua chính  là vì  nhận thức về tuyên truyền của các anh  sai lầm trầm trọng. Người CS  xem tuyên truyền là quảng bá sự thật còn các anh cho rằng  tuyên truyền là thủ đoạn lừa bịp. Trong các giáo trình tuyên huấn của CS họ đều định nghĩa rằng tuyên truyền là phổ biến sự thật nhằm giác ngộ quần chúng. Dĩ nhiên những sự thật bất lợi sẽ không phải là nội dung tuyên truyền. Trong các chỉ thị của họ các anh thường đọc thấy cụm từ “ Đẩy mạnh công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức người dân về …….”  Đối với họ sự thật bao giờ cũng có sức thuyết phục cao, bóp méo sự thật để tuyền truyền là hạ sách.

Các anh thì ngược lại, các anh xem  tuyên truyền đồng nghĩa với nói láo. Hệ thống tâm lý chiến của các anh ra sức bôi nhọ đối thủ để chứng minh mình vượt trội, ra sức đánh bóng quân đội VN cộng hòa để mị dân dụ lính.  Chính vì vậy khi người dân biết được sự thật thì luận điệu tâm lý chiến của các anh phá sản.  Thế nhưng cho đến bây giờ những luận điệu đó vẫn không hề thay đổi.

Sai lầm lớn trong chiến tranh tâm lý của các anh là các anh lấy nói láo làm sách lược tuyên truyền, luôn chú trọng cái bề ngoài, tôn vinh cái mã bóng bẩy của chế độ được bọc bởi đô la của BU để chiêu dụ người dân. Các anh tô vẽ cho chế độ các anh về sự phồn vinh vật chất, là hòn ngọc Viễn Đông là quân đội hạng tư thế giới để chứng tỏ mình phồn vinh hùng mạnh để so sánh với xã hội miền Bắc nghèo đói yếu kém để đổ lỗi cho chế độ CS độc tài. Các anh đánh bóng cho hình ảnh người lính cộng hòa ngang tàng khí phách hào hoa phong nhã, so sánh với người lính Bắc Việt nhếch nhác luộm thuộm để chứng minh cho sự vượt trội của chế độ Cộng Hòa.  Các anh tự nhận là đồng minh của BU để giấu đi thân phận tay sai, nô lệ. Tất cả những điều tráo trở nói láo của các anh đều nhắm đến việc gây ảo giác cho người dân và cho chính các anh rằng các anh tự do trù phú  phồn vinh còn CS thì nghèo đói, hèn kém, dã man, không chính nghĩa.

Các anh rất sợ sự thật lịch sử nhất là sự thật lịch sử đó có lợi cho CS. Nếu không thể dấu diếm thì các anh bóp méo nó đi xuyên tạc lịch sử cho phù hợp với sách lược chiến tranh tâm lý của các anh. Các anh nói rằng chiến thắng Điện Biên Phủ là công của … Tàu, hiệp định Geneve là do CS ký với Pháp để “chia đôi đất nước”. Các anh ra rả tuyên truyền gán cho miền Bắc là tay sai của CS quốc tế  “xâm lược” miền Nam,  các anh chỉ nhờ Mỹ bảo vệ các anh mà thôi. Các anh  không rước voi về dày mả tổ các anh không phải lính  đánh thuê các anh không phải nô lệ. Các anh đã thành công đánh lừa được rất nhiều người nhất là các thị dân ở miền Nam. Chỉ đến khi cuộc cách mạng thông tin bùng nổ bộ mặt nói láo các anh mới lộ ra.

 Một tập thể có tổ chức tốt, có thủ lĩnh giỏi dù nhỏ nhưng có thực chất vẫn có sức mạnh gấp trăm lần cái tập thể cờ vàng các anh.   Ngày nay  cuộc biểu  tình nào của các anh cũng nhất thiết phải cờ xí rợp, trời âm thanh ầm ĩ  để thiên hạ hoa mắt mà tưởng rằng các anh đông lắm, các anh mạnh lắm. Truyền thông các anh thì phóng đại không biết xấu hổ số lượng người biểu tình để làm tăng thêm ảo giác với nhau. Các anh xem chuyện nói láo là bình thường, là kỹ năng, là thủ đoạn đấu tranh, là vũ khí tuyên truyền. Một câu chửi CS nào các anh nghe khoái lỗ tai là các anh truyền bá cho nhau nhanh như tên lửa dù nó có tục tĩu mất dạy đến đâu. Các anh cho rằng chửi như thế CS mới thấm đòn. Chưa hết, các anh lôi lãnh tụ của CS ra để phỉ báng nghĩ rằng cho CS nó tức và các anh đỡ tức. Đó là nét rất đặc trưng của văn hóa cờ vàng.

 Các anh quơ vào tất cả mọi thành phần từ kỳ nhông đến các ké từ chí thiện đến chí phèo từ lý tống đến lý toét từ đứng đường đến du côn,  chỉ cần  phất lá cờ vàng hay chửi CS là có chính nghĩa cờ vàng, các anh vơ vào tuốt tuồn tuột không cần biết gì khác. Ở quốc nội bất cứ ai “bất đồng chính kiến” với CS là các anh tung hê và gom bi hết  vào phe ta.

Các anh tôn vinh những quái thai, dị nhân làm anh hùng, các anh vái lạy kẻ giết hại bao đồng bào mình rồi xin nó phù hộ giải trừ CS, các anh lập đàn cúng tế cầu trời cho Trung Cộng nó làm cỏ VN . Chính những trò mất dạy này làm cho đồng hương các anh ngao ngán mà càng ngày trở thành “việt gian “càng nhiều. Những trò nhố nhăng đó các anh gọi là chống cộng, nó xảy ra chính vì các anh không có lãnh tụ, không có lãnh đạo, không thể thống nhât hành động,  mạnh ai nấy làm, không có tổ chức và tiếng nói chung.

Cờ vàng làm lễ  “Tạ Ơn”  những kẻ giết hàng triệu đồng bào mình ngày 26-12-2011 tại khu “Tượng đài Chiến Sĩ Việt Mỹ”

Trần Khải Thanh Thủy được tôn vinh là anh hùng chấp nhận đứng vào hàng ngũ cờ vàng đang đối thoại với đàn em trong nước đang lập đàn cầu cho Tàu đánh VN.

Không có được một tổ chức không có được một thủ lĩnh cho nên  mới xảy ra cho tập thể cờ vàng các anh  cái nông nỗi hỗn quân hỗn quan, giành ăn cắn xé, cực đoan ngu xuẩn, phát ngôn tục tĩu chửi bới lẫn nhau giành nhau chống cộng góp phần làm banh chành cái chính nghĩa cờ vàng. Chưa bao giờ các anh tạo được cho các anh “sức mạnh cờ vàng” thực sự.

Tổ chức:  Tổ chức ở đây được hiểu như một động từ tập hợp lực lượng vào một tập thể có kỷ luật. Đây là bước đi kế tiếp khi bước  tuyên truyền đã đạt được sự đồng thuận cao nhất. Khi đã đồng thuận người ta sẽ sẵn sàng hy sinh sức người sức của để đạt được mục tiêu.  CS tập hợp quần chúng trong một tổ chức có quy mô chặt chẽ và khoa học. Mọi hành động đều phải có sự  đồng thuận và  nhất trí cao của tập thể cho nên họ tạo ra sức mạnh to lớn vô cùng . Những cuộc biểu tình do họ phát động  luôn luôn gây được tiếng vang rộng lớn và gây áp lực mạnh cho giới cầm quyền các anh, Dù biết CS kích động nhưng các anh vẫn phải  bó tay vì họ tổ chức quá hoàn hảo. Những cuộc biểu tinh do họ phát động lan sang tận xứ BU các anh tạo nên làn sóng phản chiến  khắp nơi làm cho Bu con các anh mất ăn mất ngủ.  Đó chính là kết quả của công tác điều nghiên và tổ chức quần chúng đấu tranh của họ. Đối với quân đội, người lính Bắc Việt không có lương như lính các anh,  lương thực, trang bị đêu thiếu thốn hơn các anh rất nhiều nhưng họ chiến đấu bằng cả trái tim rực lửa. Các anh từng tuyên truyền rằng người lính Bắc Việt bị ép buộc phải cầm súng không thể cưỡng lại. Nhưng các anh không thể giải thích được tại sao những cán binh CS bị các anh bắt dù bị các anh  tra tấn chết đi sống lại vẫn không hé răng để bảo vệ tổ chức của mình. Các anh chưa bao giờ hiểu được đối thủ của mình. Các anh thua là điều tất yếu

Người biểu tình tại Berkeley, California tuần hành phản đối cuộc chiến tại Việt Nam vào tháng 12/1965. Ảnh: AP

Huấn luyện : Những thành công thất bại trong các cuộc đấu tranh đều được đối phương các anh rút kinh nghiệm triệt để đưa vào bước huấn luyện phát động phong trào. Những nhân tố nồng cốt được huấn luyện rất kỹ để làm hạt nhân lãnh đạo phong trào và dĩ nhiên họ hiểu rõ các anh như lòng bàn tay.  Huấn luyện phải dựa trên kế hoạch hành động được hoạch định kỹ càng và có sự nhất trí cao.  Về mặt này các anh toàn là đấu tranh tự phát mạnh ai nấy làm, tức lên là làm, anh này làm anh kia chửi. Anh nào cũng cho là mình giỏi ai làm khác mình là bưng bô cho CS v.v… Xưa nay các anh không có kinh nghiệm và dốt nát trong đấu tranh chính trị. Hiệp định Paris cũng do BU các anh soạn sẵn và  các anh  chỉ có việc ký vào. Trong hội nghị,  phái đoàn các anh bị xếp vào chiếu dưới và chỉ là bù nhìn mà thôi mọi việc đều được Bu các anh và CS Bắc Việt quyết định.

Đấu tranh : Lịch sử cho thấy đấu tranh trên mọi mặt trận quân sự chính trị và ngoại giao, người CS có bề dầy kinh nghiệm và vượt trội, các anh so với họ chỉ là trẻ con. Mọi thứ các anh đều cần BU cố vấn và chỉ đạo, các anh không biết cách tự lực cánh sinh, các anh hoàn toàn ỉ lại vào sự chở che của BU cho nên các anh vô cùng yếu ớt khi không có BU bên cạnh. Chỉ cần 55 ngày vắng BU đối phương đã quét sạch các anh đủ thấy điều đó.

Đồng bào Sài Gòn biểu tình tại chợ Bến Thành phản đối chính sách đàn áp của chế độ Mỹ – Diệm (1-5-1960)

 

                                 Nhân dân Củ Chi đồng khởi phá ấp chiến lược – 1960

Các anh hãy nhìn những cuộc biểu tình do CS phát động mà học hỏi. Nó là cú đấm thực sự vào chế độ cầm quyền của các anh không phải biểu tình để khoe cờ như các anh, chẳng cần phải “quốc ca mặc niệm” vớ vẩn như các anh,  chẳng cần cờ xí  chỉ cần những thông điệp và khí thế mạnh mẽ đủ sức đánh  động toàn thế giới và đủ sức đánh gục một chế độ.

 Tóm lại là các anh đã thua toàn diện trong quá khứ và vẫn không hề rút kinh nghiệm, không có gì sửa đổi trong hiện tại trái lại càng ngày các anh càng cực đoan nếu không muốn nói càng ngày càng ngu tệ hại. Vẫn phải ôm bầu vú của BU, vẫn huyênh hoang tự cao tự đại nhưng rỗng tuếch. Vẫn giành ăn cấu xé nhau vẫn xem thường quần chúng vẫn ấu trĩ về chính trị và chẳng biết gì về đối phương.

Muốn thắng CS các anh phải thắng chính mình trước khi xây dựng một tổ chức mạnh nếu không thì dù có thêm 10 lần 37 năm các anh vẫn là trẻ con đối với CS. Sau đây là một số mách nước cho các anh, các anh cần khắc phục những điểm yếu kém của mình trước khi nói đến việc đối đầu với CS :

Chết nhát : Đây là điều các anh cần khắc phục đầu tiên nếu muốn đối đầu với CS. (Chẳng là các anh từng tuyên bố không muốn đối thoại chỉ muốn đối đầu hay sao? ) Tuy nhiên cái lá gan quá nhỏ bé của các anh vẫn chưa lớn lên được kể từ ngày bỏ chạy sang ôm bầu vú BU. Hễ thấy cái gì giống cờ đỏ sao vàng là các anh bấn loạn cả lên hò hét biểu tình phất lá cờ vàng loạn xạ cho bớt run. Anh ca sĩ  các anh cũng sợ, thầy tu các anh cũng teo gan. Cán bộ CS thì khỏi nói,  thấy bóng dáng họ là các anh như bầy ong vỡ tổ kêu gọi nhau chí chóe loạn xà ngầu. Muốn đối đầu với đối phương nếu không bồi dưỡng cho lá gan nó to lên và bớt cái mồm lại thì muôn đời các anh vẫn là con nít so với đối phương và muôn đời ôm hận.

Sĩ diện, bảo thủ : Các anh đến giờ  vẫn cho mình là giỏi hơn CS. Chưa thấy các anh khen CS bao giờ, hễ ai có khen thì lập tức các anh chụp ngay cái mũ Việt gian. Các anh sĩ diện đến mức ngu muội, các anh vẫn cho rằng các anh không hề thua CS trong khi BU các anh thừa nhận thật bại nhục nhã, cả thế giới thừa nhận chiến thắng được xem là kỳ diệu của họ.  Các anh vẫn xem CS là dốt hơn các anh và BU ta mới là vĩ  đại. Các anh có thể khen mùi xú uế của BU thải ra là thơm tho nhưng tuyệt nhiên các anh không bao giờ ngợi khen CS. Sự bảo thủ của hầu hết các anh cờ vàng làm cho các anh lạc hậu với thời đại chỉ biết bám vào những bằng cấp thời xa xưa để đong đếm kiến thức. Vô số các anh trí thức không thành thạo computer, chỉ biết quanh quẩn đọc báo mạng và gửi email, không tận dụng được sức mạnh công nghệ để đấu tranh. Cái sĩ diện và bảo thủ làm cho các anh bộc lộ những hành vi ngu xuẩn mà ngay đến dân bản địa cũng ngửi  không nổi mà phải thốt lên là “Ignorant” để nói về các anh.

Ảo tưởng : Không có ảo tưởng các anh không phải là dân cờ vàng. Ảo tưởng nuôi dưỡng niềm tin của các anh. Các anh từng ảo tưởng về việc Mỹ  lùi một bước rồi sẽ phục hồi cái chế độ VNCH cho các anh. Khi tắt hy vọng các anh lại nuôi ảo tưởng về một cuộc các mạng nhung, hết cách mạng nhung các anh mong chờ Tàu nó tấn  công VN tiêu diệt CS giúp các anh. Các anh ảo tưởng BU có thể sử  dụng cây gậy nhân quyền để không chế CS vào quỹ đạo BU. Đủ loại ảo tưởng đủ màu sắc nhưng hoàn toàn là ảo tưởng. Sở dĩ các anh nuôi ảo tưởng vì các anh không còn tự tin vào chính mình và hơn thế nữa các anh quá dốt về chính trị. Cái dốt đó nó lại có sức lây lan trong cộng cồng cờ vàng các anh bởi chính  những trí thức cờ vàng. Ảo tưởng làm cho các anh ngu muội dã đành, nó còn làm cho các anh hành xử du côn điên loạn làm cho chính đồng hương các anh phỉ nhổ.

Đạo đức giả : Cờ vàng làm ra vẻ thương nước thương dân ghê lắm, dân chủ nhân quyền ghê lắm, nhưng không thể giấu nổi bộ mặt đạo đức giả rất ghê tởm qua những hiện tượng sau :

-         Không hề mảy may xúc động không hề lên tiếng khi Mỹ giết hại  dân vô tội đồng bào mình.

-         Hệ thống nhà tù hành hạ tù nhân thuộc loại dã man nhất thế giới không hề thua kém đức quốc xã.

-         Cầu nguyện cho giặc ngoại xâm xâm lăng đất nước để trả thù giúp cờ vàng.

-         Khói hương sì sụp vái lạy bức tượng kẻ giết hại đồng bào mình để xin nó phù hộ.

-         Ra sức chống lại tất cả những công việc, những người tiếp tay làm cho đất nước giàu mạnh

-         Khủng bố sát hại đồng hương khi họ không cùng quan điểm với mình, không chống cộng giống như mình

-         Hân hoan mở cờ trong bụng khi Tàu tấn công VN cầu nguyện cho nó tiến vào Hà nội.

Dù có miệng lưỡi đến đâu các anh cũng không thể che đậy được bộ mặt giả nhân giả nghĩa, và cách hành xử của kẻ quen làm nô lệ. Hở nột tí là các anh “thỉnh nguyên thư” BU nói gì các anh cũng vỗ tay theo, Bu chửi lên đầu các anh cũng câm nín,  đồng hương bị cảnh sát bu sát hại các anh ngậm bồ hòn không hề dám hé răng phản kháng, các anh chỉ biết to mồm hò hét trong xó bếp để hù dọa đồng hương. Thế mà các anh luôn lải nhải về tự do nhân quyền, thương nước thương dân. Ai tin các anh được ngoài các anh với nhau?

Có lời khuyên cho các anh rằng, muốn tập thể cờ vàng các anh mạnh khả dĩ có thể trở thành một thế lức đối trọng ở hải ngoại mà CSVN phải chú ý đến, các anh cần học ở chính đối thủ của mình về các bược đấu tranh cách mạng. Điều trước tiên các anh cần là có một lãnh tụ cờ vàng để tập hợp sức mạnh tập thể của các anh. Điều tiếp theo là các anh hãy thay đổi bản chất,  phát huy tinh thần dân tộc còn sót lại trong dòng máu các anh, thải loại cái máu vọng ngoại nô lệ.  Nhưng có lẽ đó là nhiệm vụ bất khả thi vì anh nào cũng muốn làm lãnh tụ, hơn nữa  cái não trạng nô lệ nó đã đóng vôi trong đầu các anh quá lâu rồi các anh không thể làm gì mà không có BU chống lưng đỡ đầu. Có phải thế không các anh?

“DI LỤY CỜ VÀNG”

XICHLOVIET: Một độc giả gửi cho tôi link  bài viết “Di Lụy cờ vàng”của Như Ba  được đăng tải trên DVC online. Nội dung bài viết phân tích những hệ lụy cộng đồng phải vạ lây khi các băng đảng cờ vàng  phất lá cờ vàng bừa bãi, nhất là lá cờ này được họ xem là “biểu tượng quốc gia”.

Góc  nhìn và cảm nhận  của tác giả là góc  nhìn và cảm nhận của người trong cuộc đứng trên quan điểm của dân cờ vàng,  diễn đạt bằng những đại từ “chúng ta” để phê phán gay gắt những trò nhố nhăng của dân chống cộng cờ vàng . Dù những suy diễn và đánh giá  của tác giả như thế nào, thì đây cũng  là một tiếng nói của nội bộ cờ vàng  bày tỏ sự bất bình  đối với những kẻ phất lá cờ  vô tội vạ làm cho hình ảnh người Mỹ gốc Việt bị xấu đi thậm tệ dưới con mắt người bản xứ. Đó là một thực tế.

Những suy nghĩ mà tác giả diễn đạt cũng là suy nghĩ của rất nhiều người Mỹ gốc Việt thầm lặng khác,  rằng có sự lợi dụng lá cờ này phục vụ lợi ích riêng làm người bản xứ khó chịu, minh chứng bằng những bài báo khá gay gắt và khinh miệt của các tờ báo ở Orange County. Tuy nhiên tác giả đã tưởng tượng quá đáng khi cho rằng chương trình MIA tìm người Mỹ mất tích là đòn chơi đểu nhỏ nhen của người Mỹ để trả thù người VN hoặc cho rằng  rê lá cờ vàng trên đất Mỹ là “ca tụng CS” . Tác giả còn tưởng tượng ra rằng  vì ghét lá cờ vàng mới có việc 1 người đàn bà Việt bị 1 tên Mỹ hiếp dâm.  v.v…. Chính những suy diễn tưởng tượng kiểu tiểu thuyết như thế đã làm giảm đi rất nhiều giá trị bài viết.

Cái “di lụy” chính yếu tác giả muốn nêu ra là hành động của những kẻ đem lá cờ vàng rê đầy trên đường phố Mỹ đã làm làm cho xấu mặt cả cộng đồng Việt và làm xấu lây cả những người từng tôn thờ nó. Tác giả cho rằng họ rê lá cờ vàng khắp nơi để “sinh họat đãi bôi, để gợi nhớ dĩ vãng, để thỏa mãn cho cái ta,” và vì thế nó tạo nên cái “di lụy”.  Thế nhưng tác giả vẫn không phân tích được tại sao họ lại làm như thế suốt mấy chục năm.

Bài viết đã bị cộng đồng cờ vàng ném đá với nhữ bình luận lạc đề  hằn học rất quen thuộc mang đặc trưng cờ vàng, nhưng  không tìm đâu thấy những phản biện có giá trị để biện minh cho lý do họ rê lá cờ này khắp nơi mấy chục năm rồi. Họ vẫn tự hào rằng hiệu quả của việc rê lá cờ vàng khắp nơi là nhằm ngăn lá cờ đỏ. Ngăn được lá cờ đỏ nghĩa  là ngăn được CS xuất hiện. Suy nghĩ của họ chỉ đơn giản và tầm thường như thế thôi, không phải chỉ của giới bình dân mà ngay cả trong suy nghĩ của trí thức cờ vàng.  Suy nghĩ như thế nên mới có việc cả  ngàn cờ vàng xuống đường quây lấy lá cờ đỏ sao vàng của ông Trần Trường treo trong nhà, xem việc áp lực gỡ lá cờ đó xuống là triệt hạ được CS. Suy nghĩ như thế nên mới có việc biểu tình chống cái sợi dây thắt lưng của nghệ sĩ vì nó giống lá cờ đỏ sao vàng ( mặc dù nó có ngôi sao trắng )

Có thể nhận thấy họ rất hãnh diện vì cho rằng có càng nhiều cờ vàng” hiên ngang” và  “tung bay phất phới” càng răn đe được CS. Nào là “Cờ vàng ngạo nghễ tung bay khắp bốn phương trời” nào là “bóng cờ vàng tung bay rợp trời mỗi khi có dịp trên các vùng trời mà người tỵ nan Việt có mặt  làm cho lá cờ máu không còn chỗ chen chân” v.v… mà không nghĩ rằng một miếng giẻ rách cắm ngoài đường nó cũng “ hiên ngang “ “phất phới “ như ai chẳng kém chi cờ vàng. Họ thiển cận và u mê đến nỗi cho rằng CSVN cũng muốn cắm rê loạn xạ lá cờ đỏ sao vàng ngoài đường để “chen chân”  với họ cho nên họ phải thực hiện như kế hoạch mà  Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh sau khi ký hiệp định Paris là : “giành dân lấn đất bành trướng lãnh thổ” .

Xâu chuỗi những sự kiện liên quan đến cờ vàng ta có thể thấy rằng băng đảng cờ  vàng muốn dùng lá cờ này chỉ là để đánh dấu cái “lằn ranh quốc cộng” từ đó gây áp lực cho những ai không chịu đứng về phía cờ vàng. Sau khi ký hiệp định Paris, chính quyền SG đã ra lệnh cho các tỉnh trưởng, tiểu khu trưởng bắt tất cả  nhà cửa vùng nông thôn đều phải sơn lá cờ vàng, sơn cả lên mái nhà để đánh dấu vùng lãnh thổ họ kiểm soát  dù là chỉ kiểm soát được ban ngày,   dù rằng dưới những mái nhà kia toàn Việt Cộng.  Việc đánh dấu lãnh thổ bằng lá cờ vàng ngày xưa không có gì đáng nói vì khi ấy họ còn chính quyền và nhất là ít ra cũng cùng có “lãnh thổ” để mà đánh dấu. Tuy nhiên khi nó được thực hiện ở xứ BU xa xôi này nó mới trở nên lố bịch nhố nhăng chưa từng thấy. Ngày nay, dù cờ vàng họ ra sức cắm đầy trên đường phố nhưng “lãnh thổ” vẫn là của BU.  Chẳng thấy lá cờ đỏ nào nhưng  “Việt gian” cứ sinh sôi nảy nở ngày một nhiều, cộng sản  thì nghênh ngang treo cờ đỏ trên truyền hình cho cả triệu người chiêm ngưỡng.

Dân cờ vàng học ở bản năng các loài thú hoang dã cái kiểu  đánh dấu lãnh thổ bằng … nước đái. Các con thú này đái vào các gốc cây, đái càng nhiều càng tốt  tạo ra vùng lãnh thổ bất khả xâm phạm để các đối thủ khác nhận biết mùi mà không được mò vào. Bước qua lằn ranh nước đái là lập tức có đối đầu và trừng phạt. Nếu so sánh việc đánh dấu lãnh thổ của cờ vàng và loài thú hoang ta thấy không hề khác nhau tí nào. Cái “lằn ranh nước đái” và “lằn ranh quốc cộng” cùng một mục đích.  Khác  chăng là nước đái loài thú có hiệu quả rất rõ trong việc ngăn chận kẻ thù xâm nhập lãnh thổ còn cờ vàng thì không. Hơn nữa cái lằn ranh  “lãnh thổ” của loài thú có ranh giới rất rõ ràng cụ thể không hề mở hồ như cái “lằn ranh quốc cộng” của cờ vàng.

Dân chống cộng cờ vàng  không hiểu nối rằng giá trị lá cờ nó nằm ở ý nghĩa biểu tượng được thế giới chấp nhận chứ không phải nằm ở chỗ nó được phất ngoài đường nhiều hay ít.  Không phải cứ ra sức cắm cờ vàng, phất cho nhiều là đánh dấu được cái lằn ranh  “lãnh thổ” cờ vàng.

Chính cái sự ngu xuẩn đó là lý do chính yếu nhất, từ đó sinh ra những trò nhố nhăng chỉ có trong cộng đồng cờ vàng Mỹ gốc Việt mà thôi.

Di lụy cờ vàng

Như Ba

Chuyện chống cộng làm dáng và để gợi nhớ, để thỏa mãn cho cái ta, nó không tai hại cho cộng đồng; nếu nó có, dù sôi nổi, cũng chỉ giới hạn trong các building [cao ốc - DCVOnline], nhưng nó trở nên di căn tai hại, kể từ khi nó tràn lan ra đường phố; và cờ vàng càng lộng gió thì dân địa phương càng khó chịu. Sự khó chịu này đã được thể hiện vài lần trên các tờ báo tại Orange County lời lẽ rất gay gắt, nhưng người chống cộng cứ lờ tịt coi như không có.

Nước Mỹ tuy là một nước xiển dương những nguyên tắc về dân chủ, và bình đẳng nhưng cũng không ít những kẻ có đầu óc kỳ thị hẹp hòi; việc làm phô trương như xin treo cờ tại City Hall, rước cờ trên các đường phố, cắm đầy cờ những dịp Tết, lễ 30/4, sẽ dễ làm người bản xứ khó chịu và như thế sẽ đẩy số người trung dung, ôn hòa sang phía những người mất cảm tình; như vậy số người khó chịu vì sự hiện diện của ta trong những sinh hoạt đặc thù này ngày càng đông hơn, và tình trạng này sẽ chẳng thỏai mái cho đời sống của người Việt trên đất Mỹ.

Những năm gần đây, việc bạo hành vô cớ đối với dân Việt có tăng sự tàn bạo, và gần đây nhất là chỉ sau có vài ngày việc trình thỉnh nguyện thư tại trước White House, thay vì đạt được vài thành qủa nào đó thì 150 ngàn chữ ký chỉ nhận được sự hững hờ, thể hiện sự xem thường từ một công chức cấp thấp! Tai hại chưa dừng lại và chỉ vài ngày sau vụ thỉnh nguyện thư với cờ vàng lộng gió, một chủ tiệm Spa của một người đàn bà trung niên bị một tên da trắng vào cướp và rape [cưỡng hiếp - DCVOnline] bà chủ; thủ phạm dẫu còn tại đào, nhưng nạn nhân chủ tiệm đã nhận được lệnh thu hồi giấy phép hành nghề, nghĩa là đóng cửa! Và chủ tiệm còn phải ra hầu tòa nữa.

Có cần những bộc óc của chiến lược gia, chính trị gia để tìm hiểu và phân tách vụ này không? Không cần đâu, thông điệp đã qúa rõ ràng: Cộng đồng các người không là cái đinh gì cả đâu, biết khiêm nhường thì sống yên ổn, còn không thì trông đấy; khi các người làm cho người Mỹ ta khó chịu thì các người sẽ nhận lại sự khó chịu hơn nhiều lần; việc mau mắn tụ tập được 150 ngàn chữ ký, mà các người xem như là power [sức mạnh - DCVOnline] của người Việt các người, thì người Mỹ ta xem như giấy đi cầu được giựt trôi đi trong cầu tiêu như thế này thôi. Đó là chưa tính đến những đánh gía tiêu cực của người Mỹ về cái thời cay đắng của việc lợi dụng tiền viện trợ để tham nhũng, thời gian của lính ma, lính kiểng, xăng dầu chia chác một tập hợp cờ vàng lô nhô trước mắt họ, có cần liệt kê thêm không? Hỡi những bộ óc chiến lược Nam Lộc, Trúc Hồ, Việt Dũng có đọc bài này không? Hy vọng bạn đọc và tôi sẽ được nghe họ phản hồi.

Tôi đã nói nhiều lần là việc rê rê rước cờ trên đất Mỹ là ca tụng cộng sản Bắc Việt và nếu lá cờ đó nó ở trong tay những người mệnh danh là chống cộng thì lẽ đương nhiên nó biến những người này thành những ngố cộng, hề cộng trong con mắt người Mỹ; vậy nên Mỹ nó khinh khi, xem thường ngố cộng là điều dễ hiểu như đã thấy. Tại sao rước cờ vàng trên đất Mỹ lại là ca tụng Việt Công (VC)? Để tôi phân tách cho chư vị thấy.

Sau khi Mỹ rút quân và chấm dứt hoạt động quân sự hoàn toàn tại Đông Dương (1973), những chiến binh tham dự trở về thay vì được đón tiếp thì lại bị dư luận phỉ nhổ, khinh ghét, giới chính trị gia vỗ về an ủi lẫn nhau trong cay đắng và tìm cách hàn gắn bằng thời gian chứ chẳng còn biết làm sao hơn trước vết nội thương còn qúa mới, và qúa choáng váng. Nhưng dư luận quốc tế rất mẫn cảm đã đánh hơi và cảm nhận được nỗi đau này của chú Sam, nên khắp nơi trên thế giới mỗi lần muốn dọa Mỹ đều dẫn vụ Việt Nam ra làm bằng – El Savardor, Nicaragua – Mỹ hãy coi chừng vụ Việt Nam tái diễn, dùng Việt Nam để hù dọa tâm lý, cân não Mỹ. Thập niên 90 cha con Sadam Hussen cũng dọa Mỹ bằng Việt Nam, Khomeini lãnh tụ của Iran cũng dùng Việt Nam để dọa Mỹ.

Như thế ta không ngoa khi nói rằng dưới con mắt của dư luận quốc tế, và đối với cả giới bình luận quốc nội, giới elite [ưu tú] của Mỹ, thì kết qủa của chiến tranh Việt Nam là một thất bại lần đầu tiên trong lịch sử Mỹ, dẫu muốn biện luận, chống chế ngược xuôi cách nào đi nữa thì cũng là thất bại; sự nhận định này đến từ những nhà làm chính sách, từ những học giả, và ngay cả từ những cựu sỹ quan hàng tướng lãnh cao cấp nữa. Vậy mà ta cứ day day cái chứng tích thất bại vào mắt họ thì tức là ta đang tôn vinh, ca tụng kẻ cựu thù của họ là VC. Mà chứng tích ấy không có gì đặc trưng hơn là lá cờ vàng ba sọc đỏ cả! Người Mỹ gọi kẻ thù của họ là ViCi, ta trưng cái (được người Mỹ đỡ đầu) mà ViCi đã đánh cho tan tành thì là ta ca tụng kẻ thù của họ chứ còn gì nữa? Vậy nên người Mỹ họ gọi những người cầm cờ vàng phe ta là ngố cộng chứ họ đâu có mất thì giờ để gọi ta là chiến sĩ cựu đồng minh làm chi. Vì những liên hệ chua chát, cay đắng của những ngày tháng còn ngồi chung trên một chuyến tầu định mệnh, mà người Mỹ là hoa tiêu, chủ tầu, còn chính phủ, quân đội Việt Nam chỉ là phụ tá loong toong. Còn xăng, nhớt, súng, đạn thì còn quyền hành chức tước, vênh vang, chi li tính toán. Những thứ này mất đi thì ông nọ, ông kia cũng mất theo và thành tị nạn, thành người di tản buồn.

Đấy là chưa tính đến những đứa trẻ lúc cha, anh chúng cúi mặt trở về lúc chúng lên năm lên bảy; nay chúng là những người trung niên, là những người làm ngân sách, là những cảnh sát, những người của hội đồng thành phố; thử hỏi chúng có thể có thiện cảm với những cái họ Trần, họ Nguyễn đang ngơ ngáo, rụt rè trước mặt họ, khi những thóang hiện chua chát, cay đắng của dĩ vãng vụt qua đầu họ? Tại sao ta cứ nghĩ người Mỹ là những hình nhân chỉ có lòng cao thượng bao la chứ không nghĩ họ cũng ích kỷ, nhỏ nhen, ganh ghét, tầm thường như tất cả các giống dân khác vậy, mà sao ta cứ bắt họ phải chứng kiến cái chứng tích thất bại của họ năm này qua năm khác? Rước cờ trên phố còn chưa hài lòng, lại còn phải ra tận city [(hall) - tòa thị chính – DCVOnline] treo ngày đêm nữa và tai hại hơn là làm di căn những sân hận lại cho thế hệ con cháu bằng cách thổi vào tai chúng những từ như bất khuất, hào hùng để chúng cứ thế nhắm mắt rước cái hệ lụy cờ vàng trên đường phố Mỹ và sân hận di căn cứ thế mà đó đây xảy ra; đám trẻ được rót vào tai những mỹ từ cứ thế vô tư cười cười đi rước cờ, có biết đâu là bị dụ khị cho ngậm cứt dê tai hại mà không biết; vì đám trẻ đang tự tách mình ra xa hẳn cái cộng đồng hằm bà lằng hiệp chủng này mà mình không biết! Vì sao mà sự bạo hành rất ít khi xảy ra với các cộng đồng Nhật, Tầu hay Đại Hàn? Nhưng tại sao lại xảy ra với ta thường xuyên hơn so với những cộng đồng (CĐ) nầy? Tại sao những lời miệt thị (như gọi là gook – năm 2010 bởi 1 tên dân biểu tại Texas) lại dành cho cộng đồng Việt Nam sau 35 năm nhập cư? Câu trả lời là, tại ta làm những hành động thừa thãi và ngớ ngẩn nhiều hơn những CĐ khác, như việc treo cờ ở City Hall là một, trong khi đó ta lại rời rạc, thiếu đoàn kết, thiếu lực hơn hẳn họ.

Di lụy bắt đầu là từ khi Liên Hội Người Việt Bắc CaLi (LHNVBCL) đã khởi xướng việc treo cờ tại San Jose City Hall trước tiên, sau đó lan ra các vùng phụ cận rồi khắp cả nước Mỹ. Nên câu hỏi dành cho các người chủ chốt việc treo cờ, rước cờTại sao sinh họat chính trị mà lại không dự trù được những tình huống bị xem là backfire [tác giả có thể muốn dùng từ backlash: phản ứng ngược - DCVOnline] này để càng ngày càng đem đến sự chán ghét cho dân bản xứ. Làm ơn trả lời đi các ông Vũ Văn Lộc, Lại Đức Hùng, Nguyễn văn Vĩnh. Và cả cái đám [xx xxxx - DCVOnline] Việt Tân nữa. Làm thế nào mà các bộ óc chính trị của các ông để việc chống cộng trở thành ngố cộng như phân tách ở trên, nên nhớ việc cắm cờ, rước cờ cũng có sự tham dự năng nổ của Việt Tân nữa. Mới ngày nào người ta còn thấy những [...] Việt Tân, những dịp tết hoặc 30/4 mặc đồng phục quần nâu áo nâu, đi từng cơ sở thương mại tại San Jose yêu cầu treo cờ vàng 3 sọc đỏ với thái độ gần như là cưỡng ép.

Vậy yêu cầu tất cả hãy trả lời cho dư luận người Việt tại Mỹ, và cả khắp thế giới biết với. Tai sao việc treo cờ, rước cờ thành một tai họa cho người Việt và cho sự chán ghét của người Mỹ mà những bộ óc chính trị lại không hề hay biết? Ta giành giật treo cờ vàng với cờ đỏ sao vàng với những viên chức trí thức của trường đại học; ta tụ tập hò hét vào mặt viện trưởng, bắt họ phải làm theo ý ta, bằng không thì thắp nến, biểu tình. Và người Mỹ có lẽ muốn giữ cái khung cảnh trí thức cho khuôn viên của mình nên đã phải làm theo ý ta. Nhưng ta thử tự hỏi xem ta có tránh được sự khinh ghét không? Khi ta chỉ là kẻ ăn nhờ ở đậu mà ta lại đi ra lệnh cho chủ nhân, kẻ đang giữ quyền lực, phải làm theo ý ta? Và cũng có lẽ người Mỹ không muốn có một mặt trận tiền phương trở về trên đất của họ, một mặt trận mà họ đã nhận định là deathly wrong [quá sai lầm - DCVOnline]. Nhưng làm sao mà ta có thể derail [làm trật bánh] cái tính toán của người Mỹ, khi họ chỉ muốn bắt tay với kẻ cựu thù để làm thầy, làm boss [chủ] cái kẻ cựu thù này? Để đưa kẻ cựu thù ấy vào ảnh hưởng, tính tóan của họ.

Ta hãy trông cái hình vợ của Bush “mặc đồ như con ở”, khi người Mỹ đón vợ chồng Nguyễn Tấn Dũng tại WH [White House, Nhà Trắng - DCVOnline] năm 2006? Và cái hình bố trí cho Phan Văn khải (PVK), tay ôm chạm lên giầy của một cái tượng của Dr. Harvard được đóng khung chỉ còn bàn tay chạm lên chiếc giầy với khuôn mặt của PVK cười gượng gạo, hai bức hình này người Mỹ đã xác định vị trí rõ rệt và thông điệp cho cả 2 phía người Việt mà phân tách ra thì chẳng có gì hay cả. Đúng như Sigmund Freud nhận định: Ý thức làm tăng thêm sự đau khổ, là vậy!

Người Mỹ cho phép VC được cắm cờ, nhằm bình thường hoá, nâng cấp ngọai giao để buôn bán, để đưa VC vào toan tính, ảnh hưởng của họ, một phần khác cũng là để xóa mờ cái lỗi lầm đau thương cho chính họ. Ta nhào đến giựt nó xuống và trợn mắt lên lý luận với vị viện trưởng khả kính (chủ nhà) rằng đó là lá cờ gây tang tóc đau thương cho chúng tôi v.v… Còn người Mỹ các ông thì cứ việc làm theo ý chúng tôi là được rồi, các ông đừng nên quên vết thương đau của các ông, cứ giữ lấy nó và để cùng đau với chúng tôi cho có bạn; và ta quên (hay thiếu thông minh, thiếu tế nhị, thiếu sự cận nhân tình?) là người Mỹ cũng có nhu cầu khép lại qúa khứ cho chính họ. Dĩ nhiên, đối với họ nó quan trọng cho họ hơn nhu cầu của ta; điều cũng quan trọng là họ mới là chủ nhà, là người quyết định lá cờ nào đó được cắm hay đừng. Ta la hét, khóc lóc yêu cầu họ dẹp lá cờ đó đi, có vì nhân đạo mà họ làm theo ý ta, nhưng họ có khinh ghét và khó chịu ta không? Nên có nhẹ nhất thì họ cũng gọi ta là ngố cộng mà thôi. Ta đòi họ dẹp cờ VC, bảo rằng lá cờ đó làm ta đau khổ, và đưa ra lá cờ vàng ba sọc ra thay thế, than ôi! Lá cờ mà ta cho rằng chính nghĩa đó còn làm họ đau đớn hơn, mà không nói lên được (vô thanh), vì gợi nhớ lại những chia rẽ kinh hoàng, tốn kém kinh hoàng, và những buổi đi nhận xác, phủ cờ dài dằng dặc cũng rất kinh hoàng; và nay thì ta đem nó đi ngọai giao, năn nỉ để được treo vào chỗ uy nghi, trang trọng nhất thành phố, nơi mà những công dân ưu tú muốn đươc vào ngồi; vậy thì ta khôn chăng khi ta cứ day day lá cờ đó vào mặt họ? Đã trăn trở trong phân tách này và tôi đã nhiều lần ngẩn ngơ tự hỏi là làm sao mà những người một thời đã là những đại tá, trung tá oai phong, thông minh, giỏi giang như giời và đã từng giữ những chức vụ “tham miu chưởng” “ tham miu phó” lại làm những sự việc thiếu tế nhị, thiếu sâu xa, thiếu tìm hiểu, nghĩa là thiếu nhiều thứ nữa như thế này? Các công trình sư, sáng tạo việc treo cờ trên cácCity Hall tại bắc Cali xin cho ý kiến.

Và nhóm cờ vàng la hét, reo hò còn được phép đứng trước WH khi nó còn đồng qui với ý đồ của Chính Phủ Mỹ muốn nhân dân Mỹ xem cái cảnh họ đón thằng ở, với con sen HN như thế nào (đây là tôi phân tách theo não trạng của họ); còn khi không ở trong toan tính trùng hợp với họ thì dầu có 150 ngàn chữ ký, hay 2 triệu chữ ký thì họ cũng chỉ xem như giấy bổn khi mà họ không cần đến nó, khi mà ta cứ cư xử thiển cận như trên. Và hoa trái nào mà những người di tản đơn lẻ gặt hái được? Hy vọng là không phải như người phụ nữ nạn nhân (nói ở trên) kia chứ? Tư duy của ta như vậy, thì giá trị ta chỉ vậy, và 3 hoặc 5 năm nữa cách chống cộng của ta vẫn vậy thì thân phận, gía trị CĐ ta cũng chỉ thế vậy!

Ba mươi bảy năm cái công thức chống cộng cũ rích cứ thế mà tồn tại, để cứ thế mà mai vàng ngắm nghiá mai bạc, mai bạc rổn rảng thưa thỉnh với sao, với trăng, để sao và mai còn dường như giữ được những hình bóng sao mai, bạc, vàng lộng lẫy của ngày xưa! Và tất cả chỉ là vậy! Bạn đọc có thấy đúng vậy không?

Và các người còn muốn gì nữa? Tôi muốn nhắc đến một câu hỏi chán ngán gần như rơi lệ của một cây viết người Mỹ (mà tôi quên tên), và tôi cũng muốn đặt câu hỏi tương tự cho những người cứ thích rê rê cờ vàng trên các đường phố Mỹ. Vậy các ông còn muốn gì nữa đây? Ngày sụp đổ niềm Nam thì 3 trại tị nạn được dựng lên trong nước Mỹ. Thời gian đầu thì cũng vài trăm ngàn người, không gì thì chí ít cũng được tươm tất đầy đủ. Rồi khi nước Mỹ bốc, xốc, ăn nên làm ra thì người Việt chồng tếch, vợ lỳ, nhà mới, xe mới vi vu. Rồi từ HO I cho đến HO 42, hết những đợt này, lại đến đợt con lai con ghép, rồi ì sèo bảo lãnh, di dân, khi nước Mỹ trì trệ thì người Việt vẫn vợ nêu (nail), chồng tóc. Như vậy chưa đủ hay sao mà cứ gợi nhắc cái dĩ vãng chẳng có gì là của mình cả.

Thật vậy, người Mỹ đã cung ứng cho ta từng thước vải kaki, từng đôi giày, từng lít xăng, và tất cả khí tài theo sau và rồi lon lá cũng theo đó mà phồng lên thành mai, thành sao lấp láy. Đến khi người Mỹ hết kham nổi chi phí thì họ cắt, họ cúp những thứ đó thì tất cả lại xẹp xuống như qủa bóng bị xì hơi, vậy thì những mất mát, và niềm đau của ta đáng là gì so với cảnh dân Do Thái xếp hàng vào lò hơi ngạt? Dân Đen lên tầu đi làm nô lệ cho dân Trắng? Chẳng phải trong cái họa của ta vẫn còn ít nhiều hồng phước hơn những cảnh đời đó hay sao? Và sau cùng là sao các ông không quay nhìn cuộc chiến Afghanistan, Iraq cũng tang hoang ngút ngàn và thử hỏi có trại tị nạn nào được dựng trên nước Mỹ không?

Mới đây nhất, tin cho biết chính quyền Việt Nam đã đồng ý theo yêu cầu của BT Quốc Phòng Hoa Kỳ để mở thêm 3 vùng phục vụ cho nhu cầu tìm người mỹ mất tích trong chiến tranh, với cái tin nhỏ này các Chính Trị Gia chống cộng tại hải ngoại nghĩ gì? Đương không sao lại đề cập đến vấn đề (v/đ) tìm người Mỹ mất tích trong chiến tranh? Giữa lúc toàn những v/đ sôi bỏng trong vùng? Chính phủ Mỹ thương qúy sinh mạng của cựu chiến binh (CCB) của họ như vậy sao? Muốn biết họ có qúy không thì hãy đếm số CCB về từ chiến trường Việt Nam, Afghanistan, Iraq đang là những homeless, sống vất vưởng trên các đường phố, vậy tại sao 40 năm rồi mà họ vẩn đòi tìm MIA, họ đang đánh trả thù Việt Nam đấy; đúng vậy

họ vin vào v/đ nhân đạo để được đào bới trên đất nước Việt Nam, và sau đó thâu vào ống kính những hình ảnh của những cái đầu đen, những chiếc mũ cối, những chiếc nón lá chạy tới chạy lui đưa những mẩu nho nhỏ chưa xác định cho một người da trắng, đứng trong bóng mát, tay cầm lon coca, rồi hắn đưa lên ngắm nghiá, rồi gật gật, lắc lắc cái đầu và để truyền đến những màn ảnh tivi của dân Mỹ để chính phủ có thể báo cáo cho toàn dân rằng:

Đó, cái bọn thấp kém đã phải trả gía cho hành động giết hại người Mỹ bằng cách phải đào bới lui cui, đi tìm ngay trên đất nó để trả về cho nhân dân ta những hình hài của một chủng tộc cao qúy mà bọn chúng đã dám chống cự và giết hại, đồng bào cứ yên trí ngồi chứng kiến, chúng ta sẽ bắt chúng tìm đến người Mỹ mất tích cuối cùng. Và chính phủ Mỹ đã phải trả tiền (chứ làm sao mà free được với Hà Nội), đã phải đi hàng chục ngàn dặm để trả thù người Việt, hầu xoa dịu phần nào cho mối hận thua trận năm xưa! Ẩn nấp sau cụm từ nhân đạo, tìm kiếm người mất tích sau chiến tranh (MIA). Xem ra người Mỹ cũng vụn vặt, trả thù chứ họ chẳng cao thượng như nhóm cờ vàng ngây ngô nghĩ đâu!

Chúng ta làm đau Mỹ bằng cách day day cái chứng tích thất bại của họ vào mặt họ, ngay trên đất của họ mà kẻ cựu thù của họ (cộng sản Bắc Việt, CSBV) chẳng trả cho ta một đồng nào cả! Vậy thì dưới mắt của người Mỹ ta sẽ là gì? Tôi chẳng tìm được chữ nào chính xác hơn chữ ngố cộng mà thôi!

Bị làm đau đớn tinh thần (gợi nhớ hình ảnh những hàng dài quan tài phủ cờ Mỹ) ngay trên đất nước mình bởi cái bọn ngố cộng, vậy nên giới trí thức, học giả, những người thông minh, những người nhậy cảm, giới chính quyền Mỹ không điên người lên mới là lạ.
Đã chẳng biết người (McNamara cựu TTQP Mỹ đã gọi vụ Việt Nam là một deathly wrong cho nước Mỹ) niềm đau của người, mà cờ vàng là thuộc tính biểu tượng của v/đ, mà ta cũng lại chẳng biết ta (cái mà ta gọi là Việt Nam Cộng Hòa đệ nhất, đệ nhị ta luôn luôn quên là nhờ bàn tay chăm bẵm của người Mỹ mà có; nhưng trong vai của người được giúp ta đã chẳng lương thiện chu toàn. Tôi ám chỉ những chóp bu tham nhũng, hèn kém và bỏ ra tất cả những người lính các cấp chiến đấu, những người Quốc Gia trong sạch không ở trong ám chỉ này). Ta cứ rên la, lèng èng vác cái chứng tích thất bại của họ day day vào mặt họ, đòi họ thỏa mãn cho ta này nọ ngay tại headquarter [bộ chỉ huy – DCVOnline] quyền lực của họ, vậy nếu họ có giáng cho ta vài cái bạt tai thẳng cánh cò bay như trên thì theo tôi họ cũng đã tự chế, cũng đã cố nhường nhịn lắm rồi.

Và đã nói thì nói cho hết, tôi xin mượn vài dòng để thưa chuyện với nạn dân (của cái di lụy cờ vàng, vã lại theo tôi chị cũng là 1 phần của toàn thể v/đ).

Thưa chị, nếu tình cờ mà chị có đọc được bài này của tôi, và đọc kỹ thì chị sẽ thấy chẳng qua chị là một nạn nhân chọn lựa một cách tình cờ. Vụ việc này của chị nếu xảy ra ở Việt Nam, thì người ta không cần tìm hiểu nhiều cũng có ngay kết luận: Chính quyền dùng xã hội đen để trừng phạt, cảnh cáo CĐ ở cấp độ 1, nếu còn ngoan cố, không chịu giác ngộ thì cấp 2 cấp 3 tiếp theo sau, và như thế nào thì cứ chờ đấy khắc biết. Còn ở Mỹ, chính quyền có dùng xã hội đen, du đãng để dấu mặt trong một số v/đ nào không? Vẫn có đấy nhưng nó kín đáo hơn, tinh vi hơn, còn trong cái vụ của chị, có phải tên du đãng da trắng đó đã được lệnh của ai đó mà hành động hay không? Tôi không dám vội kết luận thế, nhưng cách handle [giải quyết - DCVOnline] vụ việc của cảnh sát thì ta không thể nhầm lẫn được: Một cái tát vào mặt, để hạ nhiệt khí thế CĐ cờ vàng: Rằng, các anh đừng tưởng CĐ các anh powerfull [hùng mạnh - DCVOnline] lắm đâu; 150 ngàn chữ ký hả? Nhìn bài học này mà ngẫm nghĩ, thân phận các anh thế đó, các anh không biết các anh là gì sao? Sao dám đến chốn uy nghi này mà day day cái chứng tích thất bại vào mặt chúng ông? Và cũng chính vì cái message [thông điệp - DCVOnline] này nên tôi mới thấy một chút thấp thoáng liên hệ, ráp một puzzle [tác giả có lẽ muốn dùng từ “jigsaw puzzle”, trò chơi ráp hình nhiều mảnh – DCVOnline] đôi khi ta chắng cần gắn đến những miếng cuối cùng mới hiểu (nhận) ra đó là hình gì.

Các bộ óc phân tách chiến lược, chiến sự của nhóm cờ vàng có cao kiến gì thì xin chỉ bảo, nếu các ngài đúng thì tôi rút lại sự phân tách và sẽ nhận sai ngay thôi.

Còn nếu tôi đúng, (ít ra, với phần đầu đã được ráp), thì sáng suốt nhất là chị không có cách nào hay hơn là chấp nhận nuốt nước mắt mà vác thánh giá cho CĐ, xem đây là hình phạt (qua chị) để cảnh cáo (của thế lực bề trên) dành cho những thiên tài cờ vàng, một đoạn lecture [bài lên lớp - DCVOnline] vô thanh, vô văn tự để có thể nhận biết mình là ai, giá trị như thế nào, nhưng đối với chị thì nó quá khủng khiếp, quá nặng nề và cái gánh của chị cũng là cái vale [valve, tiếng Việt là “van” - DCVOnline] xì bớt những đau đớn cũng vô thanh, vô văn tự của giới ưu tú Mỹ những khi nhìn thấy cờ vàng. Suy nghĩ kỹ, theo chiều hướng phân tích thô thiển của tôi, thì chị và cộng đồng Falls Church giữ được nguyên trạng là tốt đấy, nghĩa là tránh được việc kết tội, đóng cửa tiệm, là coi như thắng rồi đó. Trở về đời sống thường nhật, xem chuyện khủng khiếp này như một chuyện xui xẻo xảy ra trong đời, khi không rơi xuống đầu mình; tỉ như chuyện chị mua vé xe, về quê, chẳng may gặp phải tên tài xế cẩu thả, trong lúc lái xe lại vô ý thức trửng dỡn với nữ hành khách ngồi kế bên, kết qủa là xe lao xuống hố và chị là một trong những người bị thương, chị bị một vết cắt không sâu ở gò má, BS nói vết thương nếu săn sóc đúng sẽ không có sẹo. Chị thấy đó, thí dụ này nó cũng giống như cái vụ việc mà chị gặp phải, thời gian nó sẽ lành và thời gian sẽ xóa mờ ngay cả trong ký ức nữa. Tên tài bị trục xuất về Mễ, chủ hãng xe trốn mất vì không bảo hiểm, chị chẳng được bồi thường gì, nhưng chị nghĩ mình vẫn tồn tại, thế là xem như vẫn còn may mắn rồi.

Còn ngược lại, chị và CĐ Falls Church muốn làm lớn chuyện, như thưa cảnh sát, đòi bồi thường, điều trần đòi công lý, đốt nến và nhất là rước cờ (lại cờ) thì như tôi phân tách ở trên, vết thương của chị sẽ bị khoét sâu hơn, mệt mỏi, cay đắng vì công lý và chính quyền đang ở trong tay của kẻ mạnh và kẻ đó đánh giá mình thế nào thì nhìn cách ứng xử vụ việc của nó. Chị không nên găng đến cùng với những kẻ có chức quyền trong tay, tôi nghe phong phanh là chị sẽ tự thiêu nếu không được xử công bằng đừng nên làm vậy chị ạ, vì tự thiêu nếu không chết, thi nỗi buồn sẽ ghi đậm thiên thu trong cái thân tàn phế, thì lúc đó tình trạng sẽ trở thành tệ hơn cách thứ 1 nhiều, còn nếu chị đền nợ nước thì có được lãnh lương tử suốt đời thì cũng bằng không mà thôi, hy vọng khi chị đọc được bài này thì vụ này của chị được xét xử tốt nhất cho chị.

Viết đến đây, tôi lại nhớ đến chuyện một thanh niên Việt Nam ở Texas, có mâu thuẫn với người chị khiến cô này gọi 911; ba ông bạn dân đến, sau khi hỏi vài câu qua quít, bất ngờ đổi tông, ba ông bạn dân đè dân xuống và phang hết công xuất bằng những cú dùi cui rất chuẩn! Chưa hết, trước khi rút lui những nhân viên “hành pháp mẫn cán” và “công bằng” này còn ưu ái tặng người di tản buồn và khốn khổ này một cái ticket phải ra tòa đóng phạt một số tiền nữa! Anh này lấy giấy chứng thương, mướn luật sư, ra tòa hy vọng tìm công lý. Than ôi, công lý đâu không thấy, chỉ thấy cuộc đời từ đó tối tăm! Lên tòa xuống tòa nghe đâu sơ sơ mới có 15 lần và dường như là vẫn chưa chấm dứt, đến nay tôi vẫn không biết người thanh niên xấu số này đã qua khỏi vận sui của mình chưa và kết qủa vụ này ngã ngũ ra sao? Có ai đó ở Texas biết kết qủa vụ này, xin chia xẻ với bạn đọc để học hỏi kinh nghiệm với.

Hai câu chuyện này ta thấy nó giống nhau phải không? Nó tình cờ và tự phát hay có gốc gác từ lời nhắn nhủ nào? Chuyện sau thì ta không biết, nhưng chuyện ở Falls Church thì rõ ràng hơn, vì nó xảy liền sau vụ tụ tập trình thỉnh nguyện thư (TNT) 200 ngàn chữ ký có vài ngày. Điều thất vọng lớn nhất là ta không thấy một bài nhận định, buổi họp nào từ ban Đ/D TNT cả, duy nhất có lẽ lời tuyên bố vớt vát từ nghệ sĩ Việt Dũng là: White House cư xử với ban đại diện TNT thật là vô lễ. Lời tuyên bố này rõ ràng là không biết người và cũng chẳng biết ta nốt, thật cũng còn may, Việt Dũng chưa dọa là sẽ đưa Obama ra khỏi WH trong kỳ bầu cử tới đây. Và cùng với lời tuyên bố huề vốn của Nam Lộc: “Cộng đồng đừng nên trông đợi nhiều qúa vào kết qủa của thỉnh nguyện thư!” Ông này không nhớ câu: “Nhìn kết qủa, biết khả năng” của người Mỹ! Và những người Việt thầm lặng thì nghĩ rằng: Nhìn cách đối xử của người Mỹ với vụ việc, thì biết họ xem thường cách thức người Việt chống cộng và cờ vàng như thế nào!

Nội dung của bài này không dính dáng gì đến v/đ Quốc Cộng, mà chỉ hoàn toàn nhắm vào cách ứng xử công cộng sai lạc, thiếu hằn cận nhân tình, mang tính show up [tác giả có thể muốn dùng từ “show-off”: khoe khoang - DCVOnline], ồn ào, thiếu chiều sâu của CĐ Việt Nam đã kéo dài nhiều năm trên nước Mỹ trong những sinh hoạt đặc thù như rê rê rước cờ trên phố, treo rợp cờ vàng những dịp 30/04, lễ Tết, và việc làm thiếu ngoại giao hơn cả là xin cắm cờ trên các City Hall, mà bắt đầu là từ LHNVBCL tại San Jose với những tên tuổi nêu trên; trước khi chấm dứt bài viết đã quá dài, tôi muốn trở lại câu hỏi cho những người làm chính trị CĐ, làm sao mà sinh hoạt chính trị mà không thấy được vết thương hiển nhiên, sâu đậm của nước Mỹ mà liên can biểu tượng là lá cờ vàng?

Làm thế nào mà qúy vị không giải mã được những nhắn nhủ qúa rõ ràng như lời miệt thị của một tên dân biểu tiểu bang Texas gọi người Việt Nam là gook (hạ cấp) [gook, tiếng lóng bắt nguồn từ cách Thủy quân Lục chiến Mỹ gọi dân Phi Luật Tân một cách miệt thị từ đầu thế kỷ XX; Lính Mỹ tiếp tục dùng từ lóng này để gọi dân địa phương khắp nơi và trở thành từ ngữ mang tính kỳ thị này trở thành phổ quát trong chiến tranh Việt Nam; nghĩa thường là người da nâu hay da vàng - DCVOnline] hay việc cảnh sát bạo hành tàn bạo một thanh niên vô hại kể trên. Cảnh sát cũng hai lần phong tỏa, lục soát CĐ tại khu thương mại Eden/DC với cáo buộc sai sự thật và gần đây nhất là vụ kết tội nạn nhân, đóng cửa tiệm và đưa ra tòa kết tội ngay khi chưa bắt được thủ phạm.

Tất cả những tai ương này chưa bao giờ được nhận định, đánh gía để tìm một road map [lộ trình - DCVOnline] cho v/đ mà đó đây chỉ hành động tùy hứng, nên ta chẳng ngạc nhiên khi với nỗ lực ta tưởng như vĩ đại mà thành qủa chỉ là một cái râu kiến! Và người phụ nữ nạn nhân này chắc chắn chưa phải là người cuối cùng, nếu bao lâu từ phía ta không thay đổi cách ứng xử với xã hội mà ta đang sống với, và cứ tiếp tục thản nhiên trương cờ, rước cờ cách chẳng bao xa cái nấm mồ vĩ đại của họ là Washington Monument nơi 58 ngàn sinh mạng thân nhân của họ nằm xuống. Và ngày hôm nay, 28/05/2012, ngày lễ chiến sĩ trận vong, TT Obama còn tuyên bố là: “Cuộc chiến Việt Nam là một trang sử đau buồn nhất củVậy có phải ý tôi mong là chúng ta ngưng những sinh hoạt này; xin xác định là không bao giờ, và tôi nghĩ là cũng chẳng ai đủ quyền lực và tư cách làm điều này cả, vì lá cờ này đã và đang là biểu tượng (dẫu nó không toàn hảo) của người tị nạn, của những cựu tù nhân chính trị, của những nạn nhân của cộng sản nên nó phải được tôn trọng đúng mức trên những phần còn lại của nó dẫu ở trong khuôn viên, trong giới hạn CĐ; nhưng mượn nó để sinh họat đãi bôi, để gợi nhớ dĩ vãng, để thỏa mãn cho cái ta, thì những việc làm vô bổ này sẽ được nhận diện và xem nhẹ và nhất là tránh việc khiêu khích vô thanh với dân bản xứ địa phương, bằng cách treo lá cờ có nhiều liên hệ cay đắng trong dĩ vãng với họ, trên chốn tượng trưng quyền lực là City Hall của họ. Một hay hai người có thể thông cảm nhưng những người khác sẽ cảm thấy bị xúc phạm, do vậy, đó đây xảy ra những bạo hành đến tóe máu, trên thân thể của những người di tản buồn.

Và xử dụng nó như thế nào để nó được tôn trọng và đạt được mục đích là tùy ở bản lãnh, cái tâm và tầm của CĐ. Và sau cùng nếu việc chống cộng chỉ để đạt được đến mức này thì tốt nhất nó chỉ nên thực hiện ở bên trong building [cao ốc - DCVOnline] với những ca sĩ Đan Nguyên, Trường Vũ mặc áo rằn ri hát những cái giọng (tone) nũng nịu, nhễ nhại thế mà lại vui, lại đỡ gây tổn thất cho cộng đồng.

Như Ba tôi cũng là một người di tản 75, không thích VC, trình độ Đại Học trước khi di tản. Sẽ xin lỗi với tất cả sự đụng chạm sai sự thật, và sẽ không phản hồi những coms [góp ý] ngoài chủ đề.

Tin giờ chót, vào lúc bài này chưa được gởi đi thì một người tâm thần Việt Nam tại El Monte / Nam Cali hôm 18/06 lại bị cảnh sát đập chết bằng đèn pill [đèn pile (tiếng Pháp, tiếng Việt là “pin” - DCVOnline]. Theo lời kể thì anh này đã qùy xuống và nói cảnh sát ngừng tay đánh đập. Đúng như sự tiên đoán của tôi ở trên là người đàn bà chủ tiệm spa chưa phải là nạn nhân sau cùng!

NGHỊ QUYẾT 36 – NỖI ÁM ẢNH CỦA CỜ VÀNG

xichloviet

Cũng như những nghị quyết khác của Đảng CSVN, nghị quyết 36/NQ-TW là một văn kiện có tính định hướng chiến lược, một chủ truơng chính sách lâu dài về công tác người Việt ở nước ngoài. Chủ trương đó có gì ghê gớm mà nó  lại tạo ra sự run sợ đối với dân chống cộng cờ vàng bấy lâu nay kể từ khi nó ra đời? Tại sao từ khi văn kiện này được phổ biến, cộng đồng cờ vàng cứ như ngồi trên chảo lửa, hô hào cảnh giác loạn cả lên thành lập đủ thứ ủy ban để chống cái nghị quyết này?

Ai cũng có thể rất dễ để tìm đọc toàn văn nghị quyết 36/NQ-TW trên internet – mà dân cờ vàng gọi là nghị quyết 36,  cho rằng đảng CSVN tạo ra để chống họ.

Như tên gọi  của nghị quyết nêu rất rõ là “Nghị quyết của Bộ Chính Trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài “.  Nghị quyết này đánh giá tình hình người Việt đang sinh sống ở các nước trên toàn thế giới và định hướng công tác liên quan đến họ. Đọc toàn văn nghị quyết không có đoạn nào chống lại cộng đồng cờ vàng, duy nhất trong phần  đánh giá tình hình có đoạn “ Một số ít người đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ hợp tác giữa nước sở tại với Việt Nam”. Đây là một thực tế hiển nhiên, đánh giá này không mới và cũng  không sai.

Về đánh giá này, cờ vàng sẽ phản biện rằng họ không đi ngược lại lợi ích dân tộc và phá hoại quan hệ của nước sở tại và VN, họ chỉ chống lại chế độ độ  do đảng CSVN cầm quyền. Vậy thì họ trả lời ra sao khi họ chống lại việc VN gia nhập WTO, chống lại việc VN tham gia vào hội đồng bảo an LHQ? Chống lại hàng hóa VN,  Chống lại việc đầu tư vào đất nước họ, Chống lại việc mở rộng bang giao của VN và Hoa Kỳ v.v…? Tất cả những điều  họ chống không ai phủ nhận được rằng sẽ mang lại lợi ích cho dân tộc VN.  Rõ ràng chống nghị quyết 36  họ đang đi ngược lại lợi ích của dân tộc VN.

Nội dung của nghị quyết 36/NQ-TW tập trung vào việc tạo điều kiện thuận lợi nhất, dễ dàng nhất để hỗ trợ người Việt ở nước ngoài hướng về đất nước, đóng góp sức người sức của cho đất nước, bảo tồn văn hóa Việt ở nước sở tại, tăng cường liên kết cộng đồng để tương trợ nhau. Tất cả chỉ có vậy.

Như thế thì cờ vàng chống nghị quyết 36 là chống cái gì? Chống lại sự phát triển của đất nước mình? Chống lại việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc? Chống lại việc đồng bào góp công của cho đất nước chăng?

Tưởng chừng câu trả lời là không nhưng hỡi ôi nó lại đúng như thế. Cờ vàng không bao giờ muốn đất nước phát triển, cờ vàng không bao giờ muốn kiều bào mình đóng góp gì cho đất nước và hơn cả thế, họ tẩy chay cả hàng hóa dân mình đổ mồ hôi tạo ra. Hành vi này vô cùng khó hiểu đối với cộng đồng các sắc dân khác nhưng nó đang tồn tại trong cộng đồng cờ vàng, bởi vì bất cứ điều gì làm cho hình ảnh chính quyền VN được nâng cao là họ chống, bất kể và bất cần lợi ích của dân tộc miễn là gây khó khăn cho chính quyền VN là họ thỏa mãn.

Nghị quyết 36/NQ-TW với chiến lược rõ ràng và tốt đẹp như thế nhưng lại làm cho cộng đồng cờ vàng lo sợ và ra sức chống đối là bởi họ đánh hơi thấy rằng về lâu dài nó có tác dụng tách những người thực sự yêu quê hương đất nước ở hải ngoại  ra khỏi ảnh hưởng cái cộng đồng cờ vàng, bầy đàn chống cộng sẽ bị thu hẹp và cô lập.

Thời điểm mà dân cờ vàng run sợ lo lắng  cho cái tiền đồ của mình không phải năm 2004, khi nghị quyết 36/NQ-TW ra đời mà từ năm 1994 khi BU bãi bỏ cấm vận VN và thiết lập bình thường hóa  quan hệ ngoại giao năm 1995. Nhưng chẳng lẽ cờ vàng chống BU? Vả lại có bao giờ cờ vàng dám chống BU ? , cho nên khi nghị quyết 36/NQ-TW ra đời cờ vàng bám ngay lấy để có cái cớ mà chống với mong mỏi CS càng suy yếu càng tốt bất chấp lợi ích quốc gia dân tộc.

Nghị quyết 36/NQ-TW nhắm đến đối tượng là 2, 7 triệu người Việt sống trên toàn thế giới và không ngừng tăng thêm ( con số năm 2004 , hiện nay đã là 4,5 triệu người sinh sống trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ). Trực tiếp thực hiện và cụ thể hóa công tác người Việt ở nước ngoài là Bộ Ngoại Giao, không thấy có chủ truơng và hoạt động nào nhắm vào dân cờ vàng cả. Không phải VN không chú ý đến đám này tuy nhiên chống lại hoạt động lật đổ, chống lại những thế lực gây nguy hại cho tiền đồ đảng CSVN không phải là nội dung nghị quyết này và cũng không phải là nhiệm vụ chính của bộ ngoại giao.

Thực hiện nghị quyết 36/NQ-TW  là nhiệm vụ của mọi ban ngành nhưng trực tiếp là bộ ngoại giao, trong đó có Ủy Ban Nhà Nước Về Người Việt Ở Nước Ngoài do một thứ trưởng phụ trách. Chưa thấy cờ vàng có động thái nào chống lại những hoạt động của Ủy ban này trong suốt thời gian qua. Từ những Hội nghị Việt Kiều được tổ chức quy tụ kiều bào khắp thế giới cho đến việc tổ chức những chuyến đi thăm biển đảo , những trại hè cho thanh niên toàn thế giới, những cuộc giao lưu biểu diễn nghệ thuật  được  tổ chức rầm rộ đúng theo tinh thần nghị quyết 36. Không thấy lá cờ vàng nào phất lên mà chống. Đơn giản là họ không thể chống được việc thi hành nghị quyết 36 của đảng CSVN như họ hô hào. Chống lại một chính sách không ai khác hơn phải  là chính người dân trong nước lên tiếng mới có kết quả, cho rằng chỉ cần phất lá cờ vàng ở bên kia đại dương là có thể làm phá sản một chủ trương lớn của đảng CSVN là điều hoang tưởng .

Dân chống cộng cờ vàng cường điệu lên về sự đe dọa của nghị quyết 36 đối với tiền đồ cờ vàng vì lẽ rằng họ thấy được nghị quyết này hợp với lòng dân, chắc chắn sẽ thu hút được kiều bào hải ngoại về nước càng ngày càng nhiều,  sẽ giúp Việt kiều nhìn thấy đúng thực tế đất nước, bẻ gãy những xuyên tạc vu khống của họ, nâng cao hình ảnh của chính quyền VN và dĩ nhiên điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần chống cộng,  phương hại đến quyền lợi của đám chống cộng cờ vàng. Chính sách của chính quyền VN đối với người Việt ở nước ngoài sẽ tạo điều kiện huy động nguồn lực người Việt khắp nơi trên thế giới đóng góp cho sự phát triển của VN. Điều này sẽ  làm giàu cho đất nước nhưng lại nâng cao uy tín và hình ảnh của chính quyền VN là điều cờ vàng không bao giờ chấp nhận.

Cờ vàng lập ra đủ thứ Ủy Ban để chống lại nghị quyết 36. Chống lại một cái nghị quyết là điều hết sức mơ hồ, không thực tế vì để thực hiện nghị quyết này sẽ có rất nhiều  hoạt động của các bộ ngành  không thể chống hết được. Thế là họ gộp tất cả những hoạt động mà họ cho rằng “có lợi cho CS”,  là “thi hành nghị quyết 36” để phát động chống lại. Thi hành  thì phải có con người, nhưng họ không tìm đâu ra con người thi hành nghị quyết này trừ những người ở sứ quán, lãnh sự được BU bảo vệ. Thế nên họ chỉ biết cáo buộc lẫn nhau, chụp mũ cho nhau là thi hành nghị quyết 36, chụp cả lên đầu những ca sĩ ca hát kiếm ăn để có cái cớ mà chống.

Tầm nhìn của họ không qua khỏi cái cột điện Bolsa cho nên họ ra sức chống lại những cái nhỏ nhen không hề đe dọa đến lá cờ vàng nhưng lại họ không hề thấy và không thể chống lại được những hiểm họa to lớn sẽ làm cho cộng đồng cờ vàng trở nên lố bịch kệch cỡm và bị cô lập vì những trò nói láo bấy lâu nay bởi sự phát triển của truyền thông trong nước ra hải ngoại như vũ bão mà họ chỉ biết bó tay đứng nhìn.

Họ phát động biểu tình thậm chí gỉa gái xịt hơi cay vào một ca sĩ mà họ cho là  anh này đang tuyên truyền thi hành nghị quyết 36 của CS dù anh này chỉ hát vài bản nhạc tình đang  được giới trẻ hát ra rả hàng ngày. Ca sĩ này bị cáo buộc là thi hành nghị quyết 36 của CS chỉ vì  anh ta là Hội Viên hội liên Hiệp Thanh Niên VN một hội đoàn có 8 triệu thành viên, tập hợp thanh niên công tác xã hội.  Một hội viên Liên Hiệp TNVN chắc chắn không thể có vai trò gì trong việc thực hiện nghị quyết 36 của bộ Chính Trị. Lo sợ anh này đang thi hành  “văn hóa vận” là kiểu giải thích vô cùng ngu xuẩn mà chỉ có những cái đầu cờ vàng mới tưởng tượng ra. Lý do cáo buộc một hội viên hội LHTHVN tuyền truyền nghị quyết 36 của bộ chính trị là một cáo buộc lố bịch chưa từng thấy mà bất cứ người dân nào trong nước nghe qua cũng phải bật cười. Dốt nát về hệ thống chính trị của đảng CS đến như thế mà cứ vô tư và tự hào phơi bày cái dốt nát của mình, lại còn hồ hởi khoái  trá khi tấn công ca sĩ này cho rằng đã “tát được vào mặt cộng sản” mới là trò hề bất hủ mang nhãn hiệu cờ vàng.

Thế nhưng đối với  giàn nhạc Giao Hưởng Quốc gia tập trung những đảng viên CS thứ thiệt với lực lượng hùng hậu có thể xem là đội ngũ tuyên truyền văn hóa có tầm cỡ trình diễn tại Carnegie Hall một trong những nhà hát lớn và danh tiếng nhất nước Mỹ thì không thấy có bóng lá cờ vàng nào dám  hó hé biểu tình. Đơn giản là vì  khán giả ở đây có rất nhiều là người da trắng, mà cờ vàng thì bao giờ cũng rất  sợ phật lòng BU.

Chết nhát nhưng ba hoa là bản chất cố hữu của cờ vàng. Ngày xưa chưa đánh đã chạy,  quan càng to càng chạy nhanh, BU ho một tiếng là vãi cả ra quần.  BU hăm he vặn cổ tổng thống cờ vàng thế là tổng thống hoảng hốt ký ngay vào giấy khai tử chế độ.  Khi đánh hơi thấy ngày tàn cờ vàng cận kề, Tổng Thống cờ vàng chạy trước nhất, thủ tướng bám theo sau, tướng tá nối đuôi, chạy nhanh hơn  cả BU đến nỗi BU cũng phải  ngỡ ngàng. Khi bu đang tất bật lo di tản con dân mình thì tướng tá cờ vàng đã tẩu nhanh như có cánh. Quan càng to càng  thấy rõ tiền đồ cờ vàng trước nhất và chạy nhanh nhất, những con vịt  chậm chân đành ngậm đăng nuốt  cay tự động, tự nguyện  chui vào trại cải tạo.  CS chẳng cần phải tốn công bắt anh nào, chẳng anh nào dám trốn, để rồi sau này khi được định cư tại xứ BU trở thành những cái loa to mồm nhất  huênh hoang nhất. Nào là từng ở tù cộng sản, nào là cựu “tù chính trị” rồi tập hợp bầy đàn mặc quần áo lính chợ trời gắn lon lá cho nhau  hùng hồn ba hoa về “quân lực” của mình để chống cộng.  Xưa nay trên thế giới này chưa có anh “tù chính trị” nào lại khăn gói quả mướp tự nguyện chui vào nhà tù của đối phương để trở thành “tù chính trị” mà ba hoa như các anh cờ vàng này cả.

Trong trại cải tạo anh nào cũng phải học tập, phải làm bản thu hoạch kiểm đỉểm không đếm xiết, chẳng thấy anh nào dám ho một tiếng, anh nào cũng vâng dạ nhìn ra cái bản chất lính đánh thuê của mình, chẳng kiếm đâu ra cái khí phách cờ vàng. Nhưng sang Mỹ anh nào cũng to mồm phạch ngực khoe thành tích “tù chính trị”.

Bầy vịt này to mồm nhưng bản chất nhát gan cố hữu không thể nào giấu được. Nếu có anh nào dám xông pha chơi trội dùng nhiều quái chiêu chống cộng sẽ được tung hô làm anh hùng cờ vàng ngay. Chống cộng nhưng hễ thấy có hơi hám CS là cứ loạn cả lên. Cứ thấy có bóng dáng BU dính vào là hãi lắm  cho nên không bao giờ dám vẫy lá cờ vàng ở những nơi BU đang thưởng thức nghệ thuật dù đó là nghệ thuật do Cộng Sản biểu diễn.

Văn công CS tung hoành khắp thế giới chẳng có nơi nào cho rằng đó là tuyên truyền cho CS cả, chỉ nghe thấy những luận điệu này từ cái mồm mấy anh cờ vàng.

Đánh giá tổng kết của  Nguyễn Xuân Vinh được xem là một trong những lãnh tụ cờ vàng trong một bài phỏng vấn mới đây của báo Người Việt đủ cho thấy mấy chục năm qua cờ vàng bỏ bao công sức mà vẫn chưa nhổ được cọng lông  nào của CS làm vốn đối thoại. Chỉ cần nhổ được một cọng lông  CS thôi thì các thợ nổ Bolsa sẽ đưa cờ vàng  lên tầm thế giới nhưng điều tưởng chừng rất đơn giản ấy mà họ vẫn loay hoay gần bốn chục năm rồi. Khí thế lụi tàn, đồng hương rơi rụng, CS nó chẳng cần đánh chẳng cần đến nghị quyết gì mà cơ vàng cũng tổn thất nặng nề.

Các băng nhóm cờ vàng có đặc điểm là  hỗn tạp hổ lốn, chửi bới nhau, chụp mũ nhau, tự làm suy yếu nhau vì trong số này lẫn lộn người có học kẻ thất học, có trí thức, có cu li, có khôn vặt có ngu đần, có cả tâm thần tưng tửng.  Ứng xử thì  tự phát chẳng ai bảo được ai dẫn đến hành động vô văn hóa nếu không muốn nói là mất dạy mà chính họ với nhau cũng phải lắc đầu ngao ngán,  rùng mình bó tay. Nếu ai đó lên tiếng phê phán thì lập tức có ngay cái mũ Việt Gian, hay “thi hành nghị quyết 36” úp lên đầu. Cũng là thành viên chống công như nhau nhưng anh thì thích dùng chữ Việt gian để chụp lên đầu đối thủ, anh thì thích chơi chữ “bưng bô” cho nó đủ trọng lượng, nhưng có anh lại thích dùng chữ ” bú đít cộng sản” mới bõ tức. Có anh cũng cảm thấy xấu hổ với chiến hữu của mình nhưng sợ “bưng bô” đành phải chấp nhận sống chung với xú uế  của bầy đàn.

Kể từ ngày nghị quyết 36/NQ-TW ra đời năm 2004 đến nay kiều hồi gửi về VN từ 3 tỷ USD tăng lên 11 tỷ USD  năm 2011 và chỉ tính 6 tháng đầu năm 2012 đã đạt con số 6 tỷ USD. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), VN đứng hàng thứ 16/30 quốc gia trên thế giới có lượng kiều hối chuyển về nhiều nhất

Đám chống cộng, chống nghị quyết 36 thế nào mà càng chống kiều hối càng ngày càng  tăng vọt như thế? Có bao giờ họ sơ kết cái công việc chống nghị quyết 36 đã làm cho CS tổn thất cái gì chưa?

Thi hành tinh thần  nghị quyết 36 36/NQ-TW, mới đây từ ngày 1-8-2012, kênh VTV4, quảng bá tại Mỹ với thương hiệu VTV America, chính thức được phát sóng trên 3 kênh của Đài Truyền hình MHz Networks có trụ sở tại Falls Church, Virginia. Đặc biệt, 60 phút chương trình tiếng Anh của VTV4 sẽ được phát sóng hằng ngày từ 11AM đến 12AM trên kênh MHz Worldview (MHz 10) tới 30 triệu thuê bao truyền hình số mặt đất, cáp, vệ tinh và telco trên khắp nước Mỹ. Đây mới chính là công cụ tuyên truyền nguy hiểm nhất của CS và là nguy cơ rất lớn  đối với cờ vàng nhưng khổ nỗi nó lại dính đến BU cho nên cờ vàng đành ngậm đắng  cuốn lá cờ vàng mà bó tay nhìn CS tung hoành trên đất BU. Chẳng thấy cái ủy ban cờ vàng nào ló cái đầu ra mà chống .

Có thể thấy cái vũ khí mà cờ vàng  dùng để “chống “ bấy lâu nay  vẫn chỉ là “lên tiếng” và “biểu tình”  . Những vũ khí này đang mất dần tác dụng, thậm chí phản tác dụng. Nó không còn là con ngáo ộp có sức đe dọa cộng đồng như những năm trước đây và hoàn toàn vô tác dụng đối với chính quyền VN mà họ đang ra sức chống. Chống chính quyền VN họ chỉ còn vũ khí nói láo nhưng từ khi truyền thông phát triển vũ bão, vũ khí nói láo đã không còn phát huy tác dụng mà còn bị lãnh những đòn hồi mã thương nặng nề.  Biểu tình và lên tiếng càng ngày càng cho thấy chỉ còn là sự tỏ thái độ giải tỏa uất ức , phản đối vu vơ của một số thành phần rất cực đoan không còn lôi kéo được quần chúng và hoàn toàn không đạt được hiệu quả “chống cộng”.

Cuộc biểu tình chống “cờ máu” nhân ngày quốc khánh VN năm 2012 chỉ còn có 7 ngoe cờ vàng vừa đủ chất lên một chiếc taxi là hình ảnh điêu tàn tiêu biểu nhất cho cái khí thế cờ vàng nó thê thảm như thế nào.

Thế nhưng người ta lấy làm ngạc nhiên rằng ngày 16.9.2012 vừa qua cờ vàng đã huy động được khoảng 300 người biểu tình chống nghệ sĩ Hồng Vân một nghệ sĩ hài từ VN sang biển diễn vở kịch “kỹ nghệ lấy Tây” một tác phẩm văn học lớn của VN mà dân cờ vàng không thể xuyên tạc được . Để tập hợp được con số này các cơ quan truyền thông cờ vàng đã bỏ ra cả tuần lễ để kích động. Nội dung kích động không phân tích được vở kịch “kỹ nghệ lấy Tây” nó nguy hại gì cho cộng đồng cờ vàng do đó phải  đánh vào lòng tự ái cờ vàng, rằng một đảng viên CS công khai “tuyên truyền nghị quyết 36”  giữa lòng “thủ đô tị nạn” là sự thách thức nghiêm trọng mà cờ vàng không thể bỏ qua. Đằng sau âm mưu kích động này còn có thế lực đen cạnh tranh thương mại nhưng những  cái đầu óc cờ vàng cực đoan thậm chí xuẩn ngốc không thấy và không cần biết nội dung và tác động “tuyên truyền nghị quyết 36” nó như thế nào , cờ vàng chỉ cần có cớ hội họp nhau hò hét để thỏa lòng tự ái và ghen tức. Cũng chỉ vì để hò hét thỏa mãn sự tức tối thỏa lòng tự ái hão mà đám đông cờ vàng đã thể hiện đúng bản chất hoang dã chỉ có thể dùng chữ “mất dạy” để mô tả. Một khán giả  mua vé xem kịch khi dược hỏi có sợ đám người đang biểu tình không đã thẳng thừng phát biểu mạnh mẽ rằng: ” Không lẽ thấy đàn chó mà sợ à tôi là người mà, tôi xem tụi nó là đàn chó mà thôi.” Cuộc biểu tình đã cho thấy rõ tính ô hợp, mất phương hướng và cờ vàng tự vả vào mặt mình bởi thái độ du côn man rợ bị kích thích theo phản ứng bầy đàn. Một cuộc tập hợp bầy đàn chỉ để hò hét với nhau phô  trương cái tinh thần mất dạy mà nói là để “chống cộng” như thế thì chắc chắn rằng người Việt chân chính sẽ tránh xa họ như tránh xa hủi khi nghe đến chữ “chống cộng”

Thời  hoàng kim  ngày nào với rừng cờ vàng tấn công áp đảo  Trần Trường một thời là niềm tự hào cờ vàng đã đi vào dĩ vãng. Chỉ có một tên dám treo cờ, ảnh lãnh tụ CS khiêu khích mà đã làm náo loạn cộng đồng cờ vàng, tập hợp được cả ngàn người biểu tình suốt 53 ngày đêm. Đó được xem như là một chiến tích oanh liệt và tự hào nhất về tinh thần đồng tâm chống cộng và đó là cuộc biểu dương lực lượng rầm rộ nhất mà cờ vàng cho rằng đã  răn đe được bọn CS nằm vùng. Sức mạnh ấy tưởng chừng rằng nó được nhân lên gấp bội với sự kế thừa của lớp trẻ tuy nhiên nó lại tuột dốc một cách thê lương như chiếc xe đứt thắng không phanh.

Đến hôm nay, có thể nói thẳng ra rằng hầu hết thế hệ thứ nhất của cờ vàng cực đoan đã tuyệt vọng và không còn trông mong gì thế hệ kế tiếp nối bước mình giải thể CS nữa rồi, nhất là lá cờ vàng nó đang càng ngày càng ngắc ngoải điêu tàn. Nhìn họ mấy  năm qua cứ loay hoay khoắng lá cờ vàng trong chậu rửa chân,  cố còng lưng  vớt nó lên nhưng dù có làm đủ mọi cách nó vẫn  tả tơi rách nát không còn cái uy lực như những ngày đầu sang đây nữa đủ thấy ngày tàn của nó đã cận kề.

Có một thời cờ vàng là biểu tượng của quyền lực người quốc gia chống cộng. Không ai có thể xem thường lá cờ này nếu muốn yên ổn làm ăn. Chỉ cần phất lá cờ này lên là bọn CS, bọn Việt Gian thân cộng co rúm người lại, chỉ cần phất lá cờ này lên là có tiền. Cờ vàng oai như thế cho nên ai cũng phải nịnh và vinh danh cờ vàng. Đám tiệc đám cưới  ma chay, họp hội  người ta cũng treo cờ vàng để khẳng định lập trường quốc gia dù chẳng biết người ta có chấp nhận nó hay không. Ở đâu có cờ vàng là ở đó hừng hực khí thế quốc gia.. Nếu loài  thú hoang đánh dấu lãnh thổ của mình bằng mùi nước tiểu  đái lên gốc cây, thì cờ vàng được phất lên như là một biểu tượng đánh  dấu lãnh thổ xác định lằn ranh quốc cộng. . Bất cứ ai không chấp nhận lá cờ vàng, bất cứ ai miệt thị lá cờ này là phải chống đến cùng .

Thế mà ……

Hãy  gõ vào máy tính để tìm  cụm từ “cờ vàng trong chậu rửa chân” mà xem, có đến 104.000 kết quả của google chỉ đến chỗ chứa lá cờ vàng  là cái chậu rửa chân. Không ai nghĩ được rằng có ngày  lá cờ “biểu tượng Quốc Gia”  kia lại an vị trong cái chỗ dơ dáy   mà chết thê thảm đến  như thế.

Ngày lá cờ vàng bị dìm vào chậu rửa chân nhiều người  đã hình dung được nó đã bắt đầu đi vào giai đoạn chết lâm sàng. Kẻ bị cho là chống đối miệt thị cờ vàng không còn lén lút, không còn giấu mặt, thế lực cờ vàng bị thách thức nghiêm trọng,  dù có là CS hay không thì đây là minh chứng cho thấy bắt đầu có sự công khai chống lại băng đảng cờ vàng. Nó  công khai khiêu khích bằng cách  nhúng cờ vàng  vào chậu rửa chân,  nó công khai ca tụng lãnh tụ CS, hành động khiêu khích gấp trăm lần tên Trần Trường. Nó miệt thì quân dân cán chính VNCH  rồi nó  cúi rạp mình nhận sai lầm. Cờ vàng  biết nó chơi đểu nhưng vẫn phải ngậm bồ hòn vì chúng nó cũng tự nhận là chống cộng vẫn tôn thờ  cờ vàng, và nhất là cờ vàng đã mỏi gối chồn chân sức cùng lực kiệt, chấp nhận giậu đổ bìm bìm leo.

Cờ vàng luôn huênh hoang tự cho mình là một thế lực khả dĩ “đối thoại “ để yêu sách với chính quyền VN. Hơn ai hết, chính quyền VN hiểu rõ cờ vàng họ là ai và cái “thế” và “lực” của họ như thế nào. Chỉ nhìn cái “quân lực “ của họ đủ thấy họ hoang tưởng ra sao. Một quân lực chỉ có quân không có lực. Quân thì chỉ có quan không có lính, chỉ có già không có trẻ. Một quân lực mà vũ khí chỉ có lá cờ vàng cây súng nhựa và . .. cái mồm. Một quân lực óc nhỏ,  gan teo,  chỉ có cái mồm to mà đòi giải  thể chế độ CSVN  đang là bạn bủa BU.

Hành xử phi dân chủ để đòi hỏi dân chủ là cái đặc diểm lố bịch nhất của cộng đồng cờ vàng.  Sử dụng đám đông để cả vú lấp miệng em, dùng cái nhãn hiệu tị nạn CS để buộc mọi người làm theo ý mình, nói có lợi cho mình ngăn chận tư tưởng đối nghịch là cách cờ vàng từng  làm để áp đảo, răn đe và thao túng cộng đồng, và dường như đó là cách duy nhất không thay đổi mấy chục năm qua.

Không phải nghị quyết 36 không phải CS, không phải BU mà chính cờ vàng đang tự giết chết mình. Dù có nghị quyết 36 hay không với tốc độ phát triển truyền thông bùng nổ như hiện nay cái bộ mặt thật cờ vàng đã hiện rõ không còn che đậy được nữa, không còn lừa bịp được, không còn nói láo được.  Chưa cần biết CS tốt hay xấu, khi nhìn thấy được bộ mặt thật cờ vàng  người Việt hải ngoại càng ngày càng xa la lánh họ, vì thế cho nên số lượng “Việt gian” càng ngày càng tăng vọt ở ngay chính tại cái “thủ đô tị nạn “ của cờ vàng là điều không ai ngạc nhiên .

TRẢI NGHIỆM CỜ VÀNG

Xichloviet

Ở cái tuổi cận kề miệng hố  bố cảm nhận rằng đến lúc cần phải truyền cho con tất cả kinh nghiệm thăng trầm cuộc đời mình để con hiểu hơn về sự nghiệp của bố,  cái sự nghiệp mà khi cuộc đời bố đã tiến  sát gần  đến cái  quan tài mà  nó vẫn còn lởm chởm chông gai và ngổn ngang xà bần : Sự nghiệp cờ vàng.

Lá cờ vàng  của chúng ta xưa nay vẫn luôn luôn là biểu tượng để  tập hợp những nạn nhân cộng sản, những người không chấp nhận CS và chống cộng bằng mọi giá. Cũng không ít người là thành phần bị CS bợp tai đá đít tống khứ sang đây tức quá không biết làm gì bèn quơ lấy lá cờ vàng chửi bới trả đũa. Cũng có những thành phần homeless, chẳng có thâm thù gì, ăn no rửng mỡ, phất lá cờ vàng chống cộng làm vui, đi biểu tình cho nó tiêu mỡ lại được tiếng là đấu tranh, là có lập trường.

Bố đã nhân danh lá cờ này bao năm qua để chống cộng,  để thỏa lòng thù hận, để tồn tại trên cái xứ người này, và để còn được vuốt ve sờ mó mân mê  cái hư danh quá khứ.

Sở dĩ cho đến hôm nay vẫn còn rất nhiều kẻ phất lên lá cờ vàng ba sọc đỏ và hô hào chính nghĩa quốc gia chống lại cộng sản vì lá cờ đó  vẫn còn ép phê trong việc gây dựng phong trào, tập hợp bầy đàn. Bởi vì nó vẫn còn giá trị để móc túi những kẻ hoang tưởng u mê,   bởi vì vẫn còn đó những thành phần cực đoan dốt nát lịch sử, không biết cội nguồn cuộc chiến phi nghĩa và còn mơ mộng với ảo tưởng còn cơ hội lật đổ cộng sản. Những thành phần này thiếu đầu óc  nhưng thừa lòng thù hận. Không có bọn này thì lá cờ đã được ngủ yên.

Từ lâu bố đã nhận ra rằng một bộ phận trong cộng đồng người Việt hải ngoại, thành phần hưởng lợi từ cuộc chiến,  xem tư tưởng chống cộng như một sự khẳng định mình, như một món trang sức cho cái nhãn hiệu tị nạn.  Tư tưởng chống cộng phải được xem như một lập trường kiên định hàng đầu, bấu víu vào nó để  tự đánh lừa  mình, để có cảm giác rằng ta đây  đang ở một chiến tuyến khác ngang cơ với cộng sản, quên đi nỗi ô nhục thất trận, quên đi nỗi uất nghẹn bị Mỹ chơi xỏ bỏ rơi không thương tiếc.  Họ rất yếu kém  trong tư duy chính trị, rất nhút nhát và chỉ to mồm dựa vào hội chứng bầy đàn.  Họ chửi rất hăng,  quần tụ được nhiều nhưng cũng chỉ là một bầy đàn ô hợp. Họ hô hào và ứng xử theo đám đông một cách máy móc không suy xét, họ bị cuốn theo đám đông và rất dễ trở thành quá khích, cũng chính vì họ quá cay cú CS,  chỉ chờ có cơ hội để trút bớt lòng hận thù cho được nhẹ nhõm. Cái nỗi niềm  cay cú mà gần bốn chục  năm rồi  nó vẫn chưa có liều thuốc nào có thể tiêu hóa nổi.

Thất bại ô nhục năm 1975 mất hết danh vọng tiền bạc và bị CS nó bắt cuốc đất  trong các trại cải tạo làm họ căm thù CS vô cùng. Qua được bên Mỹ họ dần hoàn hồn, mặt bắt đầu  có máu, lá gan bắt đầu hồi sinh trở lại và nhận ra rằng Mỹ có môi trường tự do để họ trút giận, xả xú bắp lòng hận thù.Thế là họ tập họp nhau lại như ngưu tầm ngưu mã tầm mã để tố cộng và biểu tình. Cội rễ mọi hành động của họ đều xuất phát từ mối thù CS năm xưa đã tước đoạt của họ tất cả những quyền lợi, những ân  ân sủng do đế quốc ban cho.

Những năm đầu tị nạn họ vẫn còn hăng tiết vịt, hăng tiết vịt cộng với cái ngu dốt làm cho họ hoang tưởng trầm trọng. Một số quá khích  được các chiến hữu bốc lên mây khoái chí manh động mộng thành người hùng, hoang tưởng là Mỹ nó ủng hộ vì Mỹ cũng là kẻ chiến bại dưới tay CSVN, định  vác lá cờ vàng về VN kiếm ăn như những tên Mai văn Hạnh  Hoàng Cơ Minh …đã phải trả giá thê thảm. Chưa hết , Võ Văn Đức háo danh định chơi nổi âm mưu đánh bom đại sứ quán VN tại Thái. Không những Mỹ nó không bênh mà còn “ khuyến mãi  “ cho 6 cuốn lịch rồi tống cổ sang Thái xử tiếp. Tòa Thái cũng nhiệt tình đóng góp ủng hộ thêm 12 cuốn lịch nữa để có thêm thời gian gậm nhấm mộng cờ vàng.

Họ ngu  đến độ phải mất mấy chục năm họ mới nhận ra được rằng dù Mỹ thua trong cuộc chiến, CSVN  không còn là kẻ thù của  Mỹ nữa mà còn  là bạn, là đối tác hợp tác phát triển. Cả thế giới  đang bang giao và làm ăn với VN một cách hòa bình không có khe cửa hẹp nào để lá cờ vàng chui  vào  để hy vọng có được một chút  chú ý  của quốc tế.

Thế là những con người ấu trĩ này chỉ còn cách cố bấu víu lấy nhau, bấu víu lá cờ vàng để động viên an ủi  nhau, để làm cái phao, cái điểm tựa cuối cùng chống lại cộng sản, chỉ vì lý do duy nhất họ quá cay cú căm thù cộng sản.  Tuy nhiên hành động của họ càng ngày càng thêm  lố bịch nhố nhăng dẫn đến việc làm mất niềm tin trong giới trẻ,  làm ô uế lá cờ vàng. Chính vì vậy mới có chuyên  một họa sĩ trẻ con cháu cờ vàng vô tư cho lá cờ vàng trôi tuột  vào  tận cái chậu  rửa chân trong một tác phẩm hội họa làm họ cứ như lọan cả lên.

Thế hệ cờ vàng thứ nhất hầu hết đều ăn bám xã hội Mỹ cho nên rất rảnh rỗi để đàn đúm nhau mà đề tài chống cộng vẫn luôn là đề tài hấp dẫn họ.  Nói là chống cộng cho oai chứ thất ra họ biết chẳng thể nào chống được mà chửi cộng mới là đề tài chính. Mấy chục năm qua là thời gian bùng nổ những từ ngữ chửi rất phong phú trong thế giới cờ vàng. Chống cộng không thể không nói đến biểu tình. Nhưng biểu tình với đối tượng nào đây ? Không thấy CS đâu cả họ phải tìm ai đó chụp lên đầu cái nón cối để có cớ mà biểu  tình hâm nóng tinh thần cờ vàng.

Những hình ảnh các con thấy bề ngoài của các  cuộc biểu tình chỉ là bề nổi, hình ảnh dễ thấy nhất là thi nhau hò hét tưởng chừng như ăn tươi nuốt sống đối thủ nhưng chỉ là những vở diễn thôi con ạ. Mặt trái của những cuộc biểu tình mới là động cơ khiến họ tụ tập nhau đó  là lý do thích đàn đúm ham vui. Những dịp này người ta được dịp gặp nhau nói năng thả cửa vì  toàn là đồng hương tha hồ trao đổi tâm sự mọi thứ trên đời bằng tiếng Việt, xả stress những ngày xung quanh toàn mắt xanh mũi lõ chỉ biết nói chuyện bằng tay. Đây là dịp để họ khoe con khoe cháu, hỏi  thăm nhau về thuốc men bệnh tật hỏi han nhau con chó đã động đực chưa. Liền sau đó họ hô đả đảo theo tiếng hô bầy đàn mà chẳng biết đả đảo cái gì.

CS nó có nhiều cái quá giỏi nhưng bố chẳng thể khen chúng được mà ngược lại phải tìm cách để chê, phải bới móc ra cho đuợc cái yếu kém cái khuyết tật của nó để sỉ vả nguyền rủa nó cho nó sướng cái lỗ tai cho nó oai  cái lỗ mồm, cứ gặp  nhau là vạch lá tìm sâu để tố khổ nó để hài tội nó để gật gù với nhau mà  hả hê cái bụng. Thế nhưng mỗi bước đi lên,  mỗi thành công của CS lại là mỗi cú bạt tai  đau điếng mà bố từng phải  hứng chịu.  Mỗi sáng thức dậy, xem tin tức về VN bố lại phải điểm tâm  thêm vài ba cú bạt tai, tráng miệng bằng vài cú đá đít, vài cú hồi mã thương, vài cú bạt rờ que, vài cú đấm  đau nhói tâm can.

Con hãy nhìn xem, những cuộc biểu tình ô hợp chỉ toàn dân ăn không ngồi rồi không việc làm, thiếu kiến thức, nhưng thừa mứa thời gian, toàn là dân già háp khú đế ăn bám xã hội,  lê chân không vững, nhưng cái mồm còn ngoác ra to khỏe vô cùng, và vẫn còn tác dụng khủng bố lợi hại. Mọi thứ đã xuống cấp nhưng cái mồm thì không. Vẫn còn phun được nước thối vẫn chửi vung xích chó, vẫn chụp mũ vẫn lươn lẹo điêu ngoa vẫn lừa bịp xảo trá. Mấy chục năm qua họ đã phát triển trình độ chửi nhau thượng thừa, sáng tác ra đủ ngôn từ hình tượng nhất.

Họ lấy biểu tình làm vui, làm  nơi đàn đúm tán gẫu truyền lửa cho nhau chống cộng. Họ hè nhau nói xấu xuyên tạc CSVN,  cùng nhau gật gù tán đồng nhưng trong bụng họ biết rõ là đang tự lừa dối mình. Họ không dám nói điều gì tốt về CS, họ sợ chính những người cùng hội cùng thuyền với mình tẩy chay và khủng bố. Về VN họ thấy quá nhiều đổi thay diệu kỳ, cuộc sống đang đi lên mạnh mẽ từng ngày,  nhưng họ chẳng dám nói thật với nhau một lời ngợi khen đất nước, sợ bị cho rằng tuyên truyền cho CS.

Cứ như thế gần bốn chục năm rồi vẫn cái trò  bưng tai bịt mắt nhau không có gì thay đổi. Vũ khí của họ chống cộng mấy chục năm cũng vẫn  chẳng có gì ngoài  cái mồm và cái que cờ vàng hết đát.

Để vực dậy tinh thần cho nhau.lâu lâu  họ hè nhau  lủ khủ quần áo rằn ri,  mũ nồi giày bốt,  vài cây súng nhựa trẻ con,  khoác vào chỉ để qua đi lại, đi tới đi lui, đi vòng vòng  ở một góc phố gọi là diễu hành. Khi súng thật có trong tay thì họ  bỏ chạy  vứt bố cả súng, quẳng cả ba lô giày dép, qua đây họ chơi súng nhựa đồ si đa  đeo vào để chụp hình quay phim để mà lấy khí thế chống cộng. Họ tự biên tự diễn những tiểu phẩm hài nhố nhăng trên đường phố một cách vô tư, cũng diễn văn, cũng dậm chân chào nhau, cũng quốc ca quốc kỳ .  Như thế họ ôn lại những năm tháng họ cho là hào hùng và cố quên đi nỗi ám ảnh những tháng ngày phải tuột quần vứt dép  chạy như một bầy vịt.

Tuy họ mặc vào bộ quần áo lính si đa đeo cây súng nhựa nhưng có vẻ như họ rất hãnh diện. Hình như cây súng nhựa cũng phần nào củng cố làm ấm cho lá gan của họ, và cũng không ít  kẻ nghĩ rằng bên kia đại dương, bọn CSVN đang nhìn họ với cặp mắt kiêng nể  dè chừng,  và họ tin rằng cuộc biểu dương đi tới đi lui  là bức thông điệp gửi CSVN  nhắc nhở cho bọn CSVN biết rằng cái quân đội cộng hòa vẫn còn đây , tuy không uýnh lại tụi  mày nhưng vẫn còn dư sức đi tới đi lui khiêu khích chọc quê chúng mày cho bõ ghét. Thế rồi họ ru ngủ nhau tâng bốc nhau, xưng tụng nhau rồi cùng nhau hội họp phán  đoán xem …. ngày cộng sản nó quy tiên  như thế nào.

Cao điểm của sự nhố nhăng là họ hí hửng mừng rỡ tung hô một thằng con nít tự xưng là tướng Hải Quân Hoa kỳ gốc cờ vàng. Một tướng lãnh Hoa Kỳ oai như thế đứng trước họ mà vẫn lễ phép xưng hô con cháu với họ thì không phồng mũi sướng đê mê sao được. Hơn nữa tướng này lại là con cháu giòng dõi cờ vàng nữa  thì quả là niềm hãnh diện lớn lao. Cứ thế cả bầy cờ vàng già đầu bị thằng con nít nó làm xiếc, nó quay mòng mòng  như dế, nó cho vào tròng dễ như móc đồ trong túi.  Thế mà họ vẫn  phồng mũi tự hào, họ xun xoe chào đón nâng bi  nó, họ đê mê hoan hỉ với những lời hứa của thằng bịp,  lòng họ lại dâng trào niềm kiêu hãnh hão huyền và dâng trào niềm tin phục quốc. Cái lòng cay cú  hận thù làm họ u mê như thế đấy. Còn có gì để nói hay không.

Họ luôn luôn thủ sẵn những cái nón cối lợi hại để sẵn sàng chụp lên đầu kẻ nào họ không ưa, Bóng ma CS còn lởn vởn ám ảnh họ đến nỗi họ nhìn đâu cũng thấy CS.  Thế là họ thi nhau chụp nón cối cho nhau xem như hành động “ tiên hạ thủ vi cường “ thà bắn lầm còn hơn bỏ sót .

Nhưng họ lại cực kỳ sợ hãi ảnh hưởng của cộng sản. Họ sợ vu vơ, tự kỷ ám thị, thậm chí đến cái ngày sinh của lãnh tụ CS VN họ cũng sợ nốt, họ chống đối một show diễn ca nhạc cũng chỉ vì nó được trình  diễn vào ngày  19/5, ngày ông Hồ chí Minh ra đời. Họ hăm dọa nhà hàng tổ chức tiệc sinh nhật của một nhà báo chỉ vì nó được tổ chức đúng vào ngày 19.5.

Cái mà họ sợ nhất là những cơ quan truyền thông quốc tế và hải ngoại đưa tin ca tụng thành công của CS. Họ cũng lo sợ ngày nào đó truyền thông CS tràn sang Mỹ sẽ bẻ gãy luận điệu bịp bợm của họ và nguy hại hơn là hình ảnh của Việt Nam hiện đại  hấp dẫn chinh phục được tầng lớp trẻ trưởng thành tại Mỹ. Vì vậy họ vô cùng hốt hoảng khi nghị quyết 36 của CSVN ra đời. Họ cường điệu lên về mối nguy hại của nghị quyết 36, họ báo động cho nhau giống y  như những con thú hoang kêu chí chóe hoảng lọan khi ngửi thấy hơi loài sư tử, và họ bắt đầu thấy bóng ma cộng sản lấp ló nhiều hơn.

Bóng ma CS nó hiện diện trong các cuộc trình diễn văn nghệ có các nghệ sĩ trong nước, nó lù lù ẩn hiện trong tấm thảm đỏ trải chân, nó nhe răng khiêu khích trong cái sợi dây thắt lưng quần của nghệ sĩ. Nó nhảy xổ vào các tờ báo hải ngoại, nó chui tọt vào cả các cơ quan dân cử và rồi nó an tọa trong cái chậu rửa chân để làm nhục lá cờ vàng.

Họ rất nhút nhát và thiếu tự tin. Họ gập mình trước người da trắng nhưng lại hùng hổ thô bạo với đồng bào. Họ chửi rủa thậm tệ những người họ không ưa ngay trên đường phố bằng những lời lẽ của bọn dân chơi cầu ba cẳng, họ nhổ nước bọt thối vào những người họ ghét, họ vạch quần chĩa vòi đái trước cửa tòa soạn báo mà họ đang biểu tính chống đối, họ trét cứt vào cửa hiệu người ta, họ ứng xử như những tên côn đồ hung hãn . Những hành động ấy họ gọi là “chống cộng”.

Nhưng khi biểu tình bao giờ cũng phải có những lá cờ Mỹ  chống lưng để chứng minh lòng trung thành và ước vọng được quy phục.

Những ngày họ mới qua đây, lá cờ vàng đã là phương tiện kiếm ăn vô cùng béo bở cho nhiều tay hoạt đầu,  cơ hội chính trị. Đến nay tuy khó khăn hơn nhưng nó vẫn còn kiếm chác được, vì vậy cho nên những màn hoạt kê cờ vàng vẫn tồn tại.   Thời thế đã  đổi thay, cộng sản đổi thay, thế giới đổi  thay, duy có cộng đồng cờ vàng là  y như cũ, có khác chăng là thành viên của nó càng ngày ít đi, càng già đi, thân xác héo úa,  và càng ngày càng trơ trẽn  lố bịch. Bố theo lá cờ này quá lâu nên da cũng đã vàng úa héo hắt theo lá cờ,  mặt thì hằn lên những sọc thời gian mà công cuộc chống cộng vẫn còn mịt mù xa vời vợi.

Đến lúc này bố cảm thấy cần phải nói cho con biết tường tận về lá cờ của chúng ta để con chọn cách ứng xử có lợi cho mình tùy tình thế. Dù phất lên lá cờ vàng nhưng hầu hết dân cờ vàng đều mù tịt về lịch sử ra đời của nó

Lá  cờ vàng ba sọc đỏ này thoát thai từ giải pháp Bảo Đại do liên minh Vatican – Pháp cho ra đời vào năm 1948. Giải Pháp Bảo Đại là do chủ trương của Vatican được công khai hóa bởi lời tuyên bố vào ngày 28/12/1945 của viên Khám Sứ đại diện của Tòa Thánh Vaican tại Hà Nội là Tổng Giám Mục Antoni Draper. (Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 Tập A: 1939-1946)  Kiểu dáng lá cờ cũng được 1 linh mục sáng tác làm biểu tượng quyền lực của Vatican rồi ngụy tạo thành biểu tượng của chính nghĩa quốc gia và những người quốc gia chống cộng.

Người ký văn bản “Pháp Qui Tạm Thời” cho thi hành treo Quốc Kỳ vàng ba sọc đỏ và bài Quốc Ca của Lưu Hữu Phước vào ngày 1/6/1948 ( nhằm  ngày 24/4 năm Mậu Tý) là một tay Việt gian chính gốc : Thủ Tướng dân Tây có vợ đầm  Nguyễn Văn Xuân ,  Người đề nghị lấy lá cờ vàng ba sọc đỏ thay cho lá  cờ quẻ Ly là André Trần Văn Đôn,  là tà lọt , tức là “Aide de camp” của ông Xuân.

Những chính phủ do ngoại bang đẻ ra từ  Bảo Đại đến Ngô Đình Diệm, và các chính quyền tại vị đến 30/4/1975 đều do ngoại bang nuôi dưỡng,  trang bị và sai khiến.

Việc Vatican chế ra cái cờ này nhằm tạo bức bình phong che đậy cho cái chính quyền quốc gia mà chúng tạo ra, giấu đi cái bản chất nô lệ cho vatican và Pháp,

Phất lá cờ này, chính quyền bù nhìn làm tay sai cho ngoại bang tự tin hơn,  bấu víu lấy nó, họ  trút đi được phần nào mặc cảm việt gian. Và bọn xâm lược ẩn mình tốt hơn để dễ bề sai khiến bầy tôi cờ vàng. Như vậy lá cờ vàng che đậy được cho cả quân xâm lược và chính quyền Việt gian. Thật là cao tay, thật là vẹn cả đôi đường. Lá cờ vàng có nhiệm vụ lịch sử của nó là như thế.

Quốc ca của chúng ta nguyên là bài Sinh Viên Hành Khúc do Lưu Hữu Phước sáng tác năm 1942,  năm 1943 nó được cả 3 kỳ biết đến với cái tên Tiếng Gọi Thanh Niên. Ta chôm bài hát này chế biến lại rồi đặt tên “ tiếng gọi công dân” để làm bài quốc ca mà ta hát như  con vẹt cho đến tận hôm nay. Về tuổi tác, bài Tiếng gọi Thanh Niên được 6 tuổi thì lá cờ vàng của chúng ta mới chào đời.  Thông thường, quốc kỳ của các quốc gia trên thế giới xuất hiện trước bài quốc ca. Lá cờ của chúng ta lại ra đời sau bài hát mà  ta gọi là quốc ca đến 6 năm, đây là sự vá víu vụng về nghịch thường.  

Lá cờ Pháp ra đời trong cuộc cách mạng 1789 thì 3 năm sau, năm 1892 quốc ca pháp mới có mặt.

Cũng như Pháp, lá cờ Mỹ xuất hiện trong cuộc chiến tranh Cách Mạng 1776-1783 nhưng mãi tới  khi  tiến hành cuộc chiến  Anh – Mỹ  1812, bản quốc ca Hoa Kỳ mới ra đời do một sĩ quan Hải Quân Mỹ sáng tác và sau đó được Quốc Hội Mỹ chấp thuận

Bài Kimigayo quốc ca nhật ra đời năm 1893 (Minh Trị 26) Quốc kỳ Nhật hình tròn đỏ trên nền  màu trắng ra đời năm 1854.

Việc quốc kỳ ra đời sau quốc ca đến 6 năm có lẽ đây là lá cờ độc nhất vô nhị không đụng hàng.  Bài hát ta gọi là quốc ca cũng chôm chĩa của Việt Cộng nốt vì đây là bài của Lưu Hữu Phước . Lưu Hữu Phước viết bài này để kêu gọi lòng yêu nước, kêu gọi thanh niên đứng lên chống thực dân Pháp,  tác giả lại  là một tay việt cộng có hạng. Thế mà ta lại chôm  bài này để kích động đồng bào chống việt cộng thì rõ ràng chúng ta đã khập khiễng ngay từ gốc rồi,  lại thêm một nghịch thường nữa. Đến bài quốc ca mà cả một “quốc gia” không ai làm được phải chôm chĩa của Việt Cộng thì còn nói gì đến chống cộng. Việc bị Việt Cộng nó uýnh te tua tơi tả, thầy trò bỏ mặc nhau chạy vắt giò lên cổ là chuyện tất yếu. Thế mà bây giờ lại còn mưu đại sự phất lá cờ vàng để mưu đồ đánh đuổi cộng sản để phục quốc cờ vàng , không gọi là tâm thần óc đậu thì gọi là cái gì đây.?

Cái gọi là quốc kỳ và quốc ca có lịch sử chắp vá khiên cưỡng như vậy, ra đời trong hoàn cảnh như vậy,  thế mà đã có một thời từng là biểu tượng quốc gia, và cho đến hôm nay, ở ngay nước Mỹ này vẫn có kẻ phất nó lên như lá cờ  chính nghĩa. Không gọi là dốt nát cuống tín ngu muội thì gọi là cái gì đây?

Lá cờ đỏ sao vàng của cộng sản nó ra đời trước lá cờ của chúng ta đến 8 năm  và lần đầu tiên nó  xuất hiện lại  chính ở miền Nam của chúng ta ngày 23/11/1940 trong cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa chống thực dân Pháp. Tháng 5/1941 lãnh tụ Hồ Chí Minh ký văn bản quy định quốc kỳ Việt Nam là nền đỏ sao vàng năm cánh.

Bài hát  “Tiến quân ca” được nhạc sỹ Văn Cao (1923-1995) sáng tác vào cuối năm 1944. Ngay sau khi ra đời, bài hát đã được các chiến sỹ cách mạng tiếp nhận và trở thành bài hát chính thức của Mặt trận Việt Minh.

Như thế lá cờ đỏ sao vàng ra đời trước lá cờ vàng,  nó ra đời trong kháng chiến, theo yêu cầu của cuộc kháng chiến chống thực dân. Bài Tiến quân ca Việt Minh sử dụng như lời hiệu triệu kháng chiến sau này trở thành  quốc ca Viêt Nam cho đến nay. Quốc kỳ và quốc ca do CSVN sử dụng có một quá trình hình thành và tồn tại rất logic, rất minh bạch và chính nghĩa. Lá cờ này đã phất lên suốt hai cụộc kháng chiến  giành độc lập và ngày nay nó phất phới bay ngạo nghễ ở trụ sở LHQ cùng gần  hai  trăm lá cờ khác trên thế giới. Trong khi đó cộng đồng cờ vàng  lúc này thì  cứ chống nhau chí chóe  loay hoay cố vớt lấy “quốc kỳ “ của mình  lên từ cái chậu rửa chân.

Những điều này bố biết rất rõ nhưng luôn phải tránh né không dám thừa nhận, vì   nó là vấn đề tế nhị nhạy cảm, nhất là thực tế lịch sử ảnh hưởng đến tiền đồ lá cờ vàng, ảnh hưởng đến niềm tin của người tị nạn,  ảnh hưởng đến tinh thần chống cộng của những người quốc gia và điều  quan trọng nhất là ảnh hưởng đến  thanh danh và sĩ diện của cộng đồng cờ vàng. Nếu con nói điều này ra dù nó là sự thật lịch sử đi nữa, cái nón cối sẽ lập tức bay lên đầu con ngay.

Chúng ta dựa vào chính nghĩa chống cộng, chống lại sự xâm lược của CS miền Bắc, nghĩa là ta cho rằng Việt cộng xâm lược chính đất nước của họ – Đó là  một nghịch lý không thể ngụy biện .  Điều nghịch thường lớn nhất là lấy một lá cờ do ngoại bang tạo ra để chống lại lá cờ xuất thân từ phong trào yêu nước kháng chiến chống thực dân thì dù có che đậy giỏi đến đâu chăng nữa, chắc chắn phải có ngày lá cờ này lòi mặt nạ hiện nguyên hình bản chất và sứ mạng nó đã được thực dân giao phó. Dù ta có ngụy biện đến đâu, có bôi nhọ CS đến đâu, và cho dù CS có xấu xa đến đâu chăng nữa, ta không thể phất lá cờ vàng như là lá cờ chính nghĩa để hiệu triệu đồng bào đứng về phía mình. Nhưng cộng đồng cờ vàng đâu  nhận ra được điều này , vì lòng thù hận đã  làm họ trở nên quá u mê, vì họ không còn cái gì khác  để vịn vào, và vì cái sĩ diện rằng chấp nhận CS là quy phục nó.

Nói thế để con hiểu, cha đẻ của lá cờ vàng ba sọc đỏ chính là   vatican và thực dân Pháp , nó đã mang bản chất phi nghĩa ngay từ cội nguồn của nó. Làm sao có được lòng yêu nước thương dân phía sau một lá cờ như thế? Tuy nhiên, khi nào lá cờ vàng vẫn được người ta xem là biểu tượng của người quốc gia chống cộng, thì nó vẫn còn giá trị  kiếm cháo kiếm cơm của bọn cơ hội  cờ vàng . Dù rằng về khía cạnh lịch sử nó chỉ là món đổ chơi đã lỗi thời của vatican mà thôi.

Tóm lại, lá cờ vàng là chỗ dựa bám víu cuối cùng của những người chống cộng hải ngoại. Không có nó xem như không còn phong trào chống cộng và họ chẳng còn việc gì để làm.  Biểu tình cố vớt lá cờ lên từ cái chậu rửa chân, và có thể phải vớt nó lên từ cái chỗ dơ dáy nào khác nữa, cũng chỉ là cố vớt vát cái sĩ diện  của họ, và vớt lấy cái nồi cơm của kẻ đầu cơ lá cờ vàng.

Bọn trẻ bây giờ chơi khăm mấy ông già đau quá, lấy nghệ thuật làm bia che chắn để công khai hãm hiếp lá cờ vàng mà chẳng ai làm gì được nó cả.  Nếu  công nhận nghệ thuật hay im lặng thì ngậm đắng nuốt cay, tiêu vong sự nghiệp cờ vàng,  Nếu phản kháng thì bị chê là dốt không biết thưởng thức nghệ thuật. Nhưng họ buộc phải chọn một đường và họ  đành phải chấp  nhận dốt để biểu tình  vớt lấy lá cờ, cứu  lấy  sĩ diện. Nhưng cứ cái kiểu chống cộng cờ vàng như bao năm nay thì dù có vớt nó lên khỏi cái chậu này nó cũng sẽ lại  rơi vào cái bồn  khác, họ sẽ phải mãi chạy theo lá cờ vàng để vớt nó lên bởi vì họ  đã lỡ to mồm chống cộng mấy chục năm rồi không tuột xuống được nữa.

Những người muốn nhúng lá cờ vàng vào cái chậu rửa chân dường như muốn lôi  những cái đầu ngu ngốc u mê dìm luôn vào trong cái chậu. Cho nên những tên này mới phản ứng dữ dội, lôi kéo những kẻ có đầu óc vàng khè vào cuộc. Không phải vì lá cờ bị bôi nhọ mà vì những cái đầu này bị chạm nọc. Bởi vì như đã nói,  làm gì có danh dự của một lá cờ do ngoại bang tạo ra làm biểu tượng phục vụ cho ý đồ  xâm lược. Họ buôc phải biểu tình để phản ứng vì nếu không thì ai biết được mai đây chẳng biết cái đầu của họ sẽ còn bị dìm xuống đâu và chắc chắn cái mùi của nó phải nặng hơn cái chậu rửa chân.

Chống cộng mà không có lá cờ vàng thì cũng như là đi buôn mà không có vốn, đi câu mà không có mồi, đi săn mà không có súng. Diễu hành mà không có lá cờ vàng thì  cứ như là đi tập thể dục nhịp điệu thì làm sao gây được tiếng vang,  Phải cứu lá cờ vàng bằng mọi giá là như thế.

LỜI BÀI HÁT TIẾNG GỌI THANH NIÊN

Nhạc: Lưu Hữu Phước
Lời: Huỳnh Văn Tiếng, Lưu Hữu Phước

Này anh em ơi tiến lên đến ngày giải phóng
Đồng lòng cùng nhau ra đi sá gì thân sống
Cùng nhau ta tuốt gươm, cùng nhau ta đứng lên
Thù kia chưa trả xong thì ta luôn cố bền

Lầm than bao năm ta đau khổ biết mấy
Vàng đá gấm vóc loài muông thú cướp lấy
Loài nó, chúng lấy máu đào chúng ta
Làm ta gian nan cửa nhà tan rã
Bầu máu nhắc tới nó càng thêm nóng sôi
Ta quyết thề phá tan quân dã man rồi

Vung gươm lên ta quyết đi tới cùng
Vung gươm lên ta thề đem hết lòng
Tiến lên đồng tiến sá chi đời sống
Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng

Này sinh viên ơi đứng lên đáp lời sông núi
Đồng lòng cùng đi đi đi mở đường khai lối
Kìa non sông nước xưa, truyền muôn năm chớ quên
Nào anh em Bắc Nam cùng nhau ta kết đoàn

Hồn thanh xuân như gương trong sáng
Đừng tiếc máu nóng tài xin ráng
Thời khó thế khó khó làm yếu ta
Dù muôn chông gai vững lòng chi sá
Đường mới kíp phóng mắt nhìn xa bốn phương
Tung cánh hồn thiếu niên ai đó can trường

Sinh viên ơi mau tiến lên dưới cờ
Anh em ơi quật cường nay đến giờ
Tiến lên cùng tiến gió tung nguồn sống
Cháy trong lòng ta ngàn mớ lửa hồng

Này thanh niên ơi, tiến lên đến ngày giải phóng
Đồng lòng cùng đi đi đi sá gì thân sống
Nhìn non sông nát tan thù nung tâm chí cao
Nhìn muôn dân khóc than, hờn sôi trong máu đào

Liều thân xông pha ta tranh đấu
Cờ nghĩa phấp phới vàng pha máu
Cùng tiến quét hết những loài dã man
Hầu đem quê hương thoát vòng u ám
Thề quyết lấy máu nóng mà rửa oán chung
Muôn thuở vì núi sông nêu tiếng anh hùng

Anh em ơi mau tiến lên dưới cờ
Sinh viên ơi quật cường nay đến giờ
Tiến lên cùng tiến gió tung nguồn sống
Cháy trong lòng ta ngàn mớ lửa hồng

Nghe bài tiếng gọi thanh niên :

http://mp3.zing.vn/bai-hat/Tieng-Goi-Thanh-Nien-Top-Ca/IW6I0OFE.html

DÂN CHỦ “ ĐA NGUYÊN BA SỌC “ CỦA ĐỖ THÁI NHIÊN

xichloviet

Tôi chẳng biết Đỗ Thái Nhiên là ai cho đến khi đọc được bài viết về “bất tuân dân sự” của y và tôi có ấn tượng ngay với tay này.

Ấn tượng không phải bởi cái  cái lý luận cùn luôn hướng vào cái đích chống cộng bằng mọi giá của y, ấn tượng không phải vì y có đặc điểm chống cộng nổi bật gì so với những tay tự nhận là trí thức ba sọc khác,  mà ấn  tượng bởi ngạc nhiên vì cái ngu dốt và hoang tưởng  khó hiểu của một tay chống cộng chuyên nghiệp,  là trí thức cờ vàng.

Trong bài viết về bất tuân dân sự, Đỗ Thái Nhiên (ĐTN) dẫn ra ý tưởng của một người Mỹ tên Henry David Thoreau viết ra trong luận án Civil Disobedience từ năm 1849 mô tả việc chống lại chính quyền nhưng trong phạm vi luật pháp, để ca tụng lời kêu gọi “ bất tuân dân sự” của Thích Quảng Độ, một thầy chùa ham hố quyền lực và thích làm chính trị đang bị quản chế tại VN.

Không cần biết bối cảnh và luật pháp VN, không cần biết cái uy tín của “lời kêu gọi “ đến đâu, chỉ cần phát hiện ra  hơi hám tư tưởng của một người Mỹ là Đỗ Thái Nhiên  vồ lấy mặc nhiên xem đó là khuôn vàng thước ngọc và viết một bài đưa Thích Quảng Độ lên trời xanh.

Y viết : “Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ tích cực làm cho lịch sử Việt Nam hạnh thông bằng một chương trình hành động xây dựng trên hai yếu tố: Thế hành động và lực hành động”    “ ….. Bất Tuân Dân Sự là một công trình tim óc tuyệt hảo được Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ mang cống hiến cho dòng sử Việt trong thời kỳ đất nước lâm nguy. “

Lời kêu gọi “bất tuân dân sự “ của Thích Quảng độ cụ thể là : Kêu gọi đồng bào cả nước trong suốt tháng 5/2009 thực hiện như sau :

- Đồng bào Quốc Nội: biểu tình tại gia, công nhân đình công, thương buôn bãi thị, sinh viên, học sinh bãi khóa…
- Đồng bào Quốc Ngoại: ngưng du lịch Việt Nam, ngưng gửi tiền về Việt Nam, ngoại trừ trường hợp khó khăn khẩn cấp.

Nếu thực hiện đúng theo lời kêu gọi của Thích Quảng Độ thì CS sẽ tự sụp đổ trong vòng 1 tháng mà không cần đến  những biện pháp nào.

Đỗ Thái Nhiên  đã vuốt đuôi Thích Quảng Độ  bằng một bài viết dài và khẳng định “bất tuân dân sự sẽ thắng”:

 “ …….Không thể có thắng lợi nếu không có ý chí phản kháng. Ý chí phản kháng là dấu hiệu mạnh mẽ nhất, cao cấp nhất của nhân cách. Ba suy nghĩ vừa trình bày là sự khẳng quyết Bất Tuân Dân Sự sẽ thắng. Bất Tuân Dân Sự là một công trình tim óc tuyệt hảo được Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ mang cống hiến cho dòng sử Việt trong thời kỳ đất nước lâm nguy. (trích bài bất tuân dân sự của ĐTN)

Không hiểu trong đầu  của Đỗ Thái Nhiên, cái lý trí  nó nằm ở đâu để cho  ba cái sọc nó đè vào sợi dây thần kinh suy luận,  cho nên y mới  có thể viết lên được những điều hoang tưởng chính trị để bốc thơm Thích Quảng Độ trơ tráo đến như thế. Ý tưởng này chỉ có thể so sanh với ý tưởng “cách mạng đua xe”  của tên võ biền tâm thần của Lỹ Tống mà thôi.

Hội chứng hoang tưởng cờ vàng không chỉ nằm trong đầu những kẻ mù quáng a dua chống cộng điên cuồng mà nó nhiễm cả vào giới trí thức cờ vàng chuyên nghề kích động như Đỗ Thái Nhiên.

Đọc một số bài biết của Đỗ Thái Nhiên  ai cũng  nhận thấy tay này là tay chống cộng  sa lông có tư tưởng chống cộng chết bỏ,  chống cộng lấy được,  cho nên rất khéo  dùng môi mép và ra sức sưu tầm những liều kích thích  để “thuốc” những người thích khẩu vị cờ vàng.

Mới đây sau buổi họp hạ mình trần tình thành khẩn tha thiết “nhận lỗi”  vô cùng hèn nhát của bộ sậu  báo Người Việt,   trong một cuộc trả lời phỏng vấn của Etcetera, Đỗ Thái Nhiên  đã liên tục cổ vũ cho cái mà y gọi là “dân chủ đa nguyên không chấp nhận CS”  để biện minh cho những thế lực cờ vàng đang áp lực lên tờ báo Người Việt buộc tờ báo này  phải đi đúng lề và  xác định “lằn ranh ba sọc” mà cờ vàng đã vạch ra.

Bài viết dưới đây  ghi lại cuộc phỏng vấn để mọi người nhận xét cái tư tưởng và kiến thức của một “luật sư” cờ  vàng nó như thế nào. Những chữ in nghiêng là bình luận và chú thích của XLV.

Xem video tại đây

Etcetera: Thưa ông Đỗ Thái Nhiên,  ông đến tham gia nhưng ông không nêu ý kiến cá nhân lên cái buổi hội luận rất là đặc biệt ngày hôm nay. Xin ông cho biết sắp tới ông sẽ làm việc gì để bày tỏ suy nghĩ về vấn đề này?

ĐTN: Sắp tới tôi sẽ viết 1 bài vừa thuật lại cái phiên họp hôm nay của báo Người Việt vừa nói lên cảm nghĩ riêng của tôi. Cái cảm nghĩ quan trọng nhất là chúng ta đang đấu tranh cho dân chủ đa nguyên chúng ta phải hiểu biết rạch ròi thế nào là đa nguyên. Đa nguyên ở đây không có nghĩa là trung lập giữa thiện và ác , đa nguyên ở đây không có nghĩa trắng với đen trộn với nhau, đa nguyên ở đây phải là đa nguyên sinh hoạt trên căn bản lương hảo của người dân. Cho nên đa nguyên là đa ý kiến đa tư tưởng nhưng mà những tư tưởng đó phải là ý kiến lương hảo, chứ không phải ý kiến lương hảo pha trộn với tư tưởng trộm cướp trắng đen mà bảo như vậy là đa nguyên.

Đỗ Thái Nhiên muốn dạy cho mọi người hiểu thế nào là  đa nguyên theo tiêu chuẩn cờ vàng. Y có ý  giải thích gán ghép rằng phải đa nguyên mới là dân chủ, theo y,  đa nguyên  là đa tư tưởng đa ý kiến,   nhưng Đỗ Thái Nhiên lại ra điều kiện ý kiến đó  phải ”lương hảo “ theo đúng tiêu chuẩn ba sọc đã đề ra mới được.

Etcetera : Như vậy thì thưa ông ĐTN ông nghĩ sao về ý kiến của ông Nguyễn Gia Kiểng nó có vẻ đối lập lại với ý kiến của ý kiến của Song Hào hai ý kiến nó hoàn toàn trái ngược nhau ông có cho đó là đa nguyên hay không?

ĐTN: (phút 1.54  tỏ ra  lúng túng ấm ớ rõ rệt ) Ô thì nếu… nếu… nếu …nếu… nếu … nếu (cà lăm tới  6 chữ nếu ) đa nguyên về mặt chính trị hiện nay thì rõ ràng đảng CS đã phạm quá nhiều tội ác với dân tộc VN đảng CS đã bị dư luận ghi nhận là tàn ác với quần chúng và thấp hèn với ngoại bang, với giặc,  thì đó CS không thể nào là một nguyên trong sinh hoạt dân chủ đa nguyên.

Câu hỏi độc như nọc rắn hổ của Etcetera làm cho ĐTN ú ớ đến  nghẹn họng phải   cà lăm đến 6 chữ “nếu” mới  phọt ra được ý tưởng nói lên bản chất của y như là một phản xạ hoang dã.  Đối  với y thì   “đa”  nhưng không được phép có “nguyên CS” . Nhưng chắc chắn phải có “nguyên cờ vàng” ( vì cờ vàng “lương hảo” phải không Đỗ Thái Nhiên? . )

Etcetera : Ông là 1 luật sư đồng thời ông có rất nhiều bài viết để phê bình bình luận nói chung. Trên diễn đàn của trang mạng nói chung có rất nhiều ý kiến phổ biến bên này hoặc bên khác . Trong trường hợp báo NV cũng phổ biến ý kiến của ông và ý kiến của người khác thì ông có muốn nghe những ý kiến khác của ông hay không?

ĐTN: Tôi lắng nghe mỗi ý kiến nhưng ý kiến nào bên vực cho tội ác thì tôi nghe và không chấp nhận.

Khỏi nói ai cũng biết y trả lời như thế nào, dân cờ vàng chuyên nghề chống cộng như Đỗ Thái Nhiên thì bất cứ  ý kiến nào “có lợi cho CS” sẽ là “bênh vực tội ác. Mà cứ nói ngược với ý tưởng cờ vàng là có lợi cho CS rồi, thế nên Đỗ Tất Nhiên  “không thể chấp nhận” chẳng có gì lạ .

Etcetera : Và ông phản biện lại?

ĐTN : Dạ

Etcetera : Và ông cần một diễn đàn để mà đăng hai cái đó để ông có cơ hội phản biện lại hay không ?

ĐTN: Tôi… tôi… tôi… tôi ( Lại nuốt nhằm hột bí,  cà lăm  ấp úng đến  4 chữ tôi ) nhắc lại trong diễn đàn của sinh hoạt dân chủ đa nguyên không có chấp nhận những ngôn ngữ. Những truyền bá của tội ác.

Có nghĩa là Đỗ Thái Nhiên  không dám phản biện. Bởi vì có lý lẽ đâu mà phản biện khi trong đầu chỉ có ba sọc in  những bài tố cộng thuộc lòng 37 năm qua thì lấy đâu thực tế và lý lẽ để phản biện. Không phản biện được thì cách dễ nhất để thoát thân là đổ cho nó là CS, là tội ác không thể chấp nhận, không thèm nói chuyện. Thế là xong.

Etcetera : Ai là người có thẩm quyền để đánh giá bài này tốt bài kia không tốt theo cái tiêu chuẩn nào ông có thể cho biết không?

ĐTN : Ồ, ở đây nói về cái tiêu  chuẩn của thiện và ác trong dân chủ đa nguyên thì đây là… là… là …là …là …( lại ấp úng cà lăm đến 5 chữ “là” ) một vấn đề rộng lớn và bao la không thể trả lời một cách vắn tắt nhưng . . . . . một cách vắn tắt thì đảng CS đã gây quá nhiều tội ác đối với lịch sử VN cho nên đảng CS không thể chấp nhận như một nguyên trong sinh hoạt dân chủ đa nguyên.

Bố  Đỗ Thái Nhiên và cả bầy cờ vàng  cũng  không thể giải thích được  câu hỏi này được vì nó khó quá. Không thể giải thích vắn tắt nhưng ….. một cách vắn tắt là CS tàn ác – bó tay với tay này luôn. Ú ớ  giải thích về  cái “tiêu chuẩn” cờ vàng của đa nguyên ba sọc thuộc lòng bao năm qua mà khi bị truy vấn thì cứ rối như gà mắc tóc, cà lăm ấm a ấm ớ tìm đường chạy đạn .

Etcetera : Chúng ta nói về dân chủ đa nguyên và nói về dân chủ tự do rất nhiều nhưng ý tưởng tôi cho rằng nếu ngăn cản một tiếng nói trong một xã hội như thế này thì có  phần nào đi ngươc lại với tự do ngôn luận hay không thưa ông?

ĐTN : Ồ, tất cả các lọai tự do, đều phải có giới hạn của nó, tự do của người này bị giới hạn bởi tự do của những người xung quanh. Tự do truyên bá tư tưởng, nói cụ thể đi, tự do truyền bá tư tưởng cộng sản nó đụng chạm đến quyền tự do sinh sống trong một xã hội tự do của những người nạn nhân của cộng sản.
Cho nên cứ không phải là tự do là mình có thể truyền bá bất kỳ loại tư tưởng nào.

Mọi vấn đề Đỗ Thái Nhiên đều phải vác CS vào mới có trớn trả lời. Đỗ Thái Nhiên  đã  quên phéng đi lời  của chính mình trong bài viết dạy đời  Tú Gàn rằng:  ” Chế độ dân chủ là chế độ đối thoại. Đối thoại giữa người dân với người dân, giữa ngươi dân với cơ quan công quyền và giữa các cơ quan công quyền với nhau. Đối thoại dân chủ không chấp nhận mọi hình thức vu khống hay nhục mạ những người có ý kiến dị biệt. Đối thoại dân chủ có chủ đích giúp cho người dân tìm ra giải pháp tốt đẹp nhất cho từng tình huống xã hội. (Trích bài Tú Gàn tên đặc công truyền thông của ĐTN).  

Kiểu ăn nói lươn lẹo,  bất lương ( không lương hảo như cách nói của ĐTN)  như thế này thì rao giảng về đa nguyên ba sọc thế nào được hả ông ĐTN?

Etcetera : trong trường hợp báo NV là một cơ quan ngôn luận thì họ nói rằng họ có thể tạo ra diễn đàn nhưng họ cũng bị phụ thuộc trong cái chính nghĩa quốc gia và những ý kiến của các hội đoàn chống cộng. Ông có nghĩ rằng họ đang ở trong một cái thế rất khó khăn để chọn lựa một thái độ nào hay theo ông thì có ý kiến báo NV nên chọn thái độ nào ?

ĐTN : Tôi . . .tôi. . . tôi. . .tôi.. ( ấp úng đến 4 cái  tôi mới thành lời ) không nói rằng là, tôi không đặt vấn đề chống cộng hay không chống cộng nhưng tôi đặt vấn đề quyền lợi dân tộc. Trong rất nhiều thập niên vừa qua đảng CS đã có những hành động đi ngược lại với quyền lợi dân tộc vì vậy đảng CS bây giờ không xứng đáng sinh hoạt dân chủ đa nguyên để được truyền bá tư tưởng cộng sản, để được tung hô đảng cộng sản cho đến chừng nào họ quay về với quyền lợi dân tộc.

Lại một câu hỏi khó làm ĐTN né muốn chết, và  trả lời. . . . “trớt quớt”, Câu hỏi làm cho Nhiên té chúi nhũi nhưng cố vịn vào cái “quyền lợi dân tộc” để ngồi dậy cho nó có chính nghĩa. Cứ bị truy vấn là cà lăm là sao vây ông Đỗ Thái Nhiên?  Một cuộc phỏng vấn mà liên tục cà lăm chứng tỏ tay này hoặc là kém cỏi hoặc là tráo trở  thiếu lương thiện.

Etcetera : Về mặt lý thuyết thì rất đúng nhưng trong cộng đồng hiện nay rất là khó  mà có thể phân biệt ai là người cộng sản, ai là người không và chúng ta rằng cái sự giao thoavà HK nó cũng rất là mạnh mẽ. Do đó những vấn đề chụp mũ hay không biệt rõ đôi khi nó lại đi quá giới hạn hoặc là mình không đúng đắn trong việc đánh giá một con người, ông nghĩ sa về  tình trạng cộng đồng?

ĐTN: Ồ cái điều anh nói vừa rồi là đúng tuy nhiên có những lời lẽ, có những hành động quảng  bá tư tưởng CS, ủng hộ chế độ CS như bài viết của anh Sơn Hào là sự kiện hiển nhiên không thể chấp nhận được.

Một câu hỏi mà bất cứ cao thủ cờ vàng nào cũng bó tay đừng nói chi thợ chống cộng sa lông  Đỗ Thái Nhiên. Có thể nói CS và tay sai nó tràn ngập hải ngoại dưới con mắt dân cờ vàng nhưng chẳng có ai chỉ ra được nó là ai và đang ở đâu. Nhưng nó cứ lởn vởn quấy nhiễu làm các bố mất ăn mất ngủ,  biết nó ngồi đó rung đùi cười khểnh chọc tức nhưng không vạch mặt chỉ tên nó được. Chửi vu vơ thì không ăn thua, mà  nói đích danh thì nó kiện tội “không vú”. Đúng là nỗi khổ mang tên cờ vàng.

Etcetera : Và câu hỏi cuối, trong tình hình này ông nghĩ rằng nếu phải góp ý với báo người Việt để rút kinh nghiệm thì ông sẽ đóng góp với họ như thế nào?

ĐTN : Tôi tha thiết muốn đóng góp với bào NV và đóng với tất cả các thành viên của cộng đồng VN tại hải ngoại đặc biệt là cộng đồng VN tại Hoa Kỳ. Chúng ta, những điều khó khăn của người Việt tại Hoa Kỳ  và người Việt hải ngoại tức là chúng ta vừa phải quyết tâm loại trừ điều ác trong sinh hoạt chính trị vừa phải tôn trọng dân chủ đa nguyên, và dĩ nhiên biên giới giữa thiện và ác nó không phải dễ dàng phân biệt cho nên đó là điều mà trường hợp báo người việt và các hội đoàn khác đang gặp phải.

Chuyên gia chống cộng như Đỗ Thái Nhiên  mà còn quá khó để  phân biệt được “thiện ác” có nghĩa là khó xác định được lằn ranh ba sọc  thì làm sao mà những thành viên ba sọc có thể phân biệt được đây?  Báo người Việt cũng “lầm lỡ” không phân biệt được “ thiện ác “ thì trách gì nhau chứ ?

Đề nghị Đỗ Thái Nhiên viết một cuốn tự điển phân biệt “thiện ác” theo chuẩn ISO ba sọc để dân cờ vàng lấy đó là làm chuẩn khỏi tốn sức biểu tình.

Etcetera : Liên quan đến chúng tôi thì có thời gian ông cũng đã từng viết bài phê bình và tham gia việc chống báo vietweekly. Tuy nhiên là những người làm báo có tinh thần độc lập và tự do theo khuynh hướng báo chí của mình Tôi về VN tìm hiểu thông tin chính gốc chính nguồn theo ông cái khuynh hướng đó ông đồng ý hay là phản đối

ĐTN: Thứ nhất tôi không phản đối sự việc người Việt Hải ngoại về VN, họ có thể về VN thăm gia đình, thậm chí họ có thể về VN để du lịch, bởi vì tôi thấy rằng dù gì đi nữa người Việt hải ngoại vẫn còn duy trì cái bản chất văn hóa VN cao cấp hơn là văn hóa người Việt trong nước sau nhiều thập niên thui chột bởi chế độ giáo dục xuống cấp. Giáo dục ở đây là giáo dục học đường và giáo dục xã hội như là báo chí tuyên truyền và để để để nâng cao cái trình độ văn hóa, để nâng cao sinh hoạt văn hóa, để cho văn hóa VN về nguồn đây là một công việc lớn cấn một số người lớn lao và số người lớn lao theo tôi có thể phần nào vực dậy cái văn hóa tốt đẹp của VN xưa chính là người Việt Hải Ngoại.

Chưa thấy tay nào loạn ngôn như tay này. Không hiểu cái “văn hóa cao cấp hơn” của người Việt Hải ngoại theo Đỗ Thái Nhiên   nó như thế nào. Văn hóa lai Mỹ chăng? Hay là văn hóa cờ vàng ? Hay là văn hóa cúi đầu nô lệ? .  Mang về VN cái văn hóa cúi gập mình sì sụp vái lạy bức tượng lính Mỹ thành kính hơn cả lạy bố để cải tạo người dân trong nước chăng?

Làn sóng người Việt về VN ào ạt làm nhức nhối cờ vàng ghê lắm nhưng đúng là đánh không được tha làm phước. Ai cũng đã từng biết những ca sĩ,  văn nghệ sĩ và những nhân vật nổi tiếng về VN bị cờ vàng phản ứng ra sao rồi. Đỗ Thái Nhiên  cho rằng cần  “Để cho văn hóa VN về nguồn” Nhưng cũng chỉ vì tội về nguồn mà ông Nguyễn Cao Kỳ chết cũng không yên. Ông Phạm Duy bị đào mồ cuốc mả cả họ và quá  khiếp sợ cái chốn “gió tanh mưa máu” của cờ vàng.  

Etcetera : Như vậy việc tiếp  cận của các nhà báo, các nhà giáo dục, của tất cả người dân đối với vấn đề VN hiện nay theo ông không có cái gì……

ĐTN : (ngắt lời ) không có vấn đề miễn là trình bày một cách trung thực đâu là tội ác, đâu là tay sai trung quốc đâu là quyền lợi dân tộc đang bị xói mòn.

Khổ nỗi cái “trung thực” nào  nó cũng  chọt ngay vào cái  “nỗi đau cờ vàng”  thì làm sao các ngài ba sọc chịu nổi.  Trung thực mà  nó vượt qua “lằn ranh quốc cộng”  thì làm sao đây hả ông luật sư ba sọc? Cờ vàng có can đảm nhìn nhận cái “trung thực” không?

Etcetera : Cá nhân ông có điều kiện ông có cơ hội ông có thể đối thoại và đi về VN để nhìn mắt thấy tai nghe sau đó trở về  đây ông có cái đánh giá chính xác hơn là chưa từng biết hoặc chưa từng thấy hay không?

ĐTN : (ấp úng ) A…..

Etcetera : (hối thúc )  Có cần không?

ĐTN : Có những trường hợp cần có những trường hợp không cần, cái này là câu chuyện dài . Ví dụ vấn đề luật pháp mình phê bình VN là luật rừng thì mình phải lấy ra từng mảng một luật rừng chỗ nào hoặc là cái guồng máy giáo dục của VN là guồng máy giáo dục thoái hóa thì phải vô từng chương trình, phải vô từng môn học chúng ta mới nói rõ ràng thoái hóa ở điểm nào và làm thế nào để trở nên tiến hóa.

Đối với Đỗ Thái Nhiên mỗi lần bí,  tịt ngòi  thì nó trở thành  “cái chuyện dài “ .  Tố khổ vu vơ thì quá tầm thường hãy để cho Ngô Kỷ và Lý Tống tố đủ rồi.  Xin mời Đỗ Thái Nhiên  phân tích giùm giáo dục VN nó thoái hóa như thế nào và Đỗ Thái Nhiên  biết gì hệ thống về giáo dục VN ?  Có thể nói không sợ sai rằng nếu bê nguyên xi  cái kiến thức cờ vàng trước 1975 của trí thức Đỗ Thái Nhiên  về VN thì chắc chắn cái bằng luật sư của Nhiên cũng  chỉ có nước đi bán vé số mà thôi.  Điều chắc chắn rằng giáo dục VN không bao giờ dạy xem giặc như bố, chẳng có người Việt trong nước nào  mọp người sì sụp vái lạy cầu xin dưới chân tượng  thằng lính đã từng giết hại dân mình.

Etcetera : xin cám ơn LS Đỗ Thái Nhiên

XLV: Đỗ Thái Nhiên  và dân cờ vàng nói chung dư biết rằng còn CS thì chẳng bao giờ có được cái “đa nguyên ba sọc”,  do đó họ phải chống cộng đến cùng, chống cộng cho đến khi khô nước bọt, chống đến chết. Cái “đa nguyên ba sọc không có nguyên cộng sản “ vẫn là giấc mơ cờ vàng bấy lâu nay  không bao giờ từ bỏ. Cờ vàng  luôn mơ rằng:  “ Con không làm được cháu ta thay” . Thế nhưng khốn khổ cho họ là các thế hệ cờ vàng đều “tre tàn măng lụi” mà Việt gian nó cứ càng ngày càng  nhởn nhơ trêu ngươi ngay tại cái thủ đô tỵ nạn của cờ vàng.

BẢN NĂNG PHẢN XẠ CỦA CỜ VÀNG

xichloviet

Khi cần tập hợp nhau thì  biện pháp kích động là bước khởi động không thể thiếu của dân cờ vàng, nhằm  kích thích “phản xạ cờ vàng” –  tập hợp  số đông cùng  hội cùng thuyền – biểu dương lực lượng, để hù dọa trấn áp đối phương bảo vệ bầy đàn. Nó giống y như tiếng tru tiếng hú để thông tin  với nhau của các loài động vật hoang dã nhằm  cảnh báo   mối nguy hiểm đang  xuất hiện đe dọa chúng.

Không kích động nhau cờ vàng chắc chắn sẽ tan rã.

Việc báo động lâm nguy trong thế giới bầy đàn hoang dã từ xa xưa đã là điều rất tự nhiên và cần thiết,  đó là quá trình tiến hóa hàng triệu năm của loài vật. Nó rất hữu ích trong việc bảo vệ sự tồn tại của giống nói, nó là bản năng di truyền, nó ăn vào máu biết bao thế hệ để tạo thành phản xạ nhằm đối phó với những hiểm nguy của thế giới xung quanh.

Khi con người tiến hóa làm bá chủ thiên nhiên, thống trị  thế giới muôn loài,  không còn kẻ thù từ thế giới hoang dã, mối hiểm nguy từ các giống loài khác không còn, phản xạ bầy đàn của con người  đã thoái hóa.  Tàn tích của phản xạ chỉ còn là sự giật mình khi có tiếng động bất thường.

Có một nghịch lý là dân cờ vàng mấy chục năm qua lại ra sức tạo ra những phản xạ bầy đàn đã thoái hóa của con người cho chính bầy đàn của mình để xù lông với đồng loại.

Giống như  thế giới thiên nhiên hoang dã, dân cờ vàng rất lo sợ cho sự tồn tại của bầy đàn mình cho nên mấy chục năm qua họ  đã tạo được sự phản xạ rất đặc biệt, rất nhậy bén,  không giống ai mà ta chỉ có thể đặt tên là “phản xạ cờ vàng “ .

Nếu so sánh với loài vật hoang dã thì nó không khác tí nào cả. Cũng  lo sợ hiểm nguy, cũng ra sức tạo hiệu ứng báo động dây chuyền trong bầy đàn, cũng phát đi những tín hiệu  báo động về “nguy cơ” và  cũng sử dụng đám đông nhe răng xù lông để uy hiếp đối thủ. Nó rất đặc trưng không thể lầm lẫn với bất cứ cộng đồng nào,  nhưng nó khác loài động vật hoang dã một chút ở chỗ  cờ vàng  kích động nhau  không đơn thuần chỉ là  tru lên tiếng báo động hiểm nguy  mà họ luôn  phóng đại cường điệu quá mức sự nguy hiểm.

Cờ vàng nhận thức  rằng  cường điệu phóng đại bóp méo để kích động  sẽ đánh động bầy đàn tốt hơn, quy tụ nhau được nhiều hơn, gia tăng được sức mạnh bầy đàn hơn và cảm thấy bình an, nhẹ nhõm khi quần tụ được đám đông cùng nhau xù lông khoe nanh vuốt.  Họ thừa biết rằng xù lông để trấn áp đối phương thì hiệu quả càng ngày càng ít ỏi nhưng họ vẫn cứ phải làm vì cái cần của họ  là thích được sống trong hơi thở  đồng điệu, sự chở che của bầy đàn và  hơn nữa, nó  trấn áp  nỗi tự kỷ ám thị của chính mình.

Động vật hoang dã dùng tiếng tru, tiếng kêu hay những tín hiệu hình thể trực quan để báo động nhau. Dân cờ vàng không thể tru lên được cho nên nhất thiết phải có những cơ quan truyền thông cờ vàng để làm công việc đó. Những cơ quan truyền thông cờ vàng là nơi để cộng đồng cờ vàng cùng nhau góp tiếng nói  kích động và cảnh giác nhau về những “nguy cơ”.  Những cơ quan này phải xác định rất cụ thể cái mà họ gọi là “lằn ranh quốc cộng” để tác nghiệp. Truyền thông cờ vàng phải biết đâu là “nguy cơ” và phải biết đâu là làm lợi cho CS.

Nguy cơ cộng sản  trong cộng đồng cờ vàng xưa nay vẫn là bóng ma vô hình len lỏi mọi ngóc ngách cuộc sống của họ, và  trở thành nỗi tự kỷ ám thị trầm trọng.  Dường như chẳng có lúc nào họ không cảnh báo nhau về “nguy cơ” đó và hình như ở đâu cũng có thể có nguy cơ Cộng Sản rình rập. Mỗi thành viên cộng đồng cờ vàng đều có những đánh giá về nguy cơ khác hẳn nhau cho nên mấy chục năm qua cứ như thế nguy cơ nó tràn ngập trong cộng đồng cờ vàng và đã đến lúc họ cảm thấy bất lực vì nguy cơ đầy dẫy mà những tiếng kêu tụ tập bầy đàn càng ngày càng yếu ớt, và cái vũ khí nhe răng xù lông hù dọa càng ngày càng mất dần tác dụng.

Chính cờ vàng đang lãnh lấy hậu quả từ những “nguy cơ” được họ tạo ra để hù dọa nhau.  Từ chỗ nó không có thực, phản xạ bầy đàn làm nó thành mối đe dọa có thực và nó trở thành nỗi tự kỷ ám thị có sự truyền nhiễm như một thứ dịch bệnh nặng nề đeo bám họ.

Cộng đồng Việt ở hải ngoại còn nhớ rõ những trò kích động nhau để chống lại cái gọi là “nguy cơ Cộng Sản”, “tuyên truyền làm lợi cho CS”, hay “phỉ báng cờ vàng”  mà chỉ có họ mới nhìn  thấy nó trong sợi dây thắt lưng một ca sĩ,  nhìn thấy nó trong những bức tranh triển lãm nghệ thuật, và ngay cả trong cái chậu rửa chân.  Qua sự kích động thì dân cờ vàng nào cũng thấy đó là “nguy cơ” cần phải dập tắt.  Họ thực sự bị ám ảnh mạnh bởi lá cờ đỏ sao vàng đến nỗi bằng mọi giá họ không để cho nó xuất hiện bất cứ nơi đâu dù là trên sợi dây nịt hay một thoáng  truyền hình. Sự kích động lẫn nhau cũng chỉ đi đến cái đích cuối là tụ tập bầy đàn để tỏ thái độ chống lại những “nguy cơ” họ tự tạo cho mình.

Sự kích động lẫn nhau cũng nhằm nuôi dưỡng hận thù và ra sức  tố cộng với mục đích  hạ thấp hình ảnh của đảng CSVN bằng  những trò nói láo để vuốt ve lừa mị nhau về hình ảnh một đảng CS tàn bạo thối nát đang suy tàn vì mất lòng dân.  Họ cho rằng nhân dân trong nước cũng đang phẫn nộ sẽ có tiếng nói chung với bầy đàn của họ và họ mơ đến việc “giải thể Cộng Sản”. Chính vì đua nhau nói láo để tố cộng cho nên họ rất lo sợ làn sóng người trở về VN và tất cả những thông tin về sự thật mà  họ cho rằng “có lợi cho Cộng Sản”.

Chỉ cần một cái bắt tay của BU MỸ với CS  đã đủ  “làm lợi cho cộng sản “ gấp trăm ngàn lần những lời lẽ vu vơ mà cờ vàng tố khổ. Tuy nhiên chẳng khi nào và chắc chắn là không bao giờ họ có những sự  “lên tiếng” để tỏ thái độ  với bu. Điều này nói lên rằng những cáo buộc nhau “làm lợi cho CS” suy cho cùng chỉ là để  triệt hạ nhau cái tội nói ngược với  tiếng nói chung của bầy đàn mà thôi.

Sự kích động lẫn nhau còn là sự kêu gọi tập trung cờ vàng để tự sướng rằng mình vẫn là một thế lực. Những hình ảnh quen thuộc của  một rừng cờ vàng khi họ tập họp nhau lại có tác dụng nâng đỡ tinh thần nhau và tạo ảo giác rất mạnh, cho họ cái cảm giác rất ấm áp và an toàn khi ở trong bầy đàn.

Gần đây nhất là vụ cờ vàng kích động để thỉnh nguyện BU can thiệp vào nội bộ VN  và xin được hát cho bu nghe bài ca tố cộng. Cờ vàng  được dịp sướng đê mê khi tập họp được hàng trăm ngàn chữ ký  tưởng chừng như chắc chắn bu phải đoái hoài và  được mách bu. Vẫn là sự kích động từ truyền thông cờ vàng, vẫn là trò nói láo phóng đại nổ banh nhà lồng chợ và vẫn là việc tạo ra những bánh vẽ. Thế mà đến thế kỷ 21 rồi mà họ vẫn đưa nhau được lên mây bằng tàu bay giấy.

Cả tuần qua dân cờ vàng lại cùng nhau phát tiếng tru bầy đàn khi phát hiện “nguy cơ” ngay chính trong tờ báo ruột thịt của mình, tờ Người Việt,  tờ nhật báo lớn nhất là nồng cốt của tiếng nói cờ vàng, và ngay lập tức trò kích động phản xạ cờ vàng lại được dùng đến. Lý do được nói đến để kích động là tờ báo này đã dám đăng ý kiến 1 độc giả được cho rằng ca ngợi CS,  phỉ báng cờ vàng mặc dù độc giả này phát biểu với ý cá nhân và chỉ  lập lại ý của cả trăm ngàn ý kiến khác trên internet

Khi bị các chuyên gia kích động lên tiếng, tờ báo này đánh hơi ngay được hậu quả và nghĩ ngay đến nồi cơm.  Tờ Người Việt đã từng nếm mùi gây rối của những anh cờ vàng vô công rỗi nghề ăn vạ cả năm trời trước cửa mà chỉ  đòi được xin lỗi,  làm cho nồi cơm của mình  bị ảnh hưởng nặng nề.  Lần này rút kinh nghiệm, tránh voi không xấu mặt nào,  tờ báo đã chủ động tự xử trước bằng cách đá văng nồi cơm nhân viên của mình  đồng thời nhanh chóng hạ mình “xin lỗi” rất thành khẩn để hạ nhiệt đám đông , để lấy lòng cờ vàng và cứu lấy nồi cơm tờ báo.

Thập niên 80, 90 cờ vàng rất thành công trong việc quy tụ bầy đàn. Sự kích động có hiệu quả rất cao và phản xạ cờ vàng có sức lan tỏa mạnh mẽ. Sự kích động đã dẫn đến những cuộc biểu tình lớn tập họp được số đông và đạt được mục tiêu xù lông trấn áp và triệt hạ  đối phương. Thời gian này những lãnh tụ cờ vàng vẫn còn sức lực và tham vọng biến bầy đàn cờ vàng thành một đảng mafia khống chế cộng đồng. Nếu sự kiện này xảy ra vào thập niên 80, 90 có lẽ phản xạ cờ vàng sẽ rất ghê gớm và chưa biết điều gì xảy ra cho tờ báo Người Việt.

Tuy nhiên có thể thấy trong cuộc họp của báo Người Việt để trần tình thú nhận tội lỗi vừa qua,   cái khí thế cờ vàng đã sa sút trầm trọng. Điều này có phần bởi thái độ của bộ sậu tờ báo này đã chủ động cúi rạp  mình sát đất để “thành khẩn nhận lỗi”, nhưng phần lớn sự xì hơi của cái khí thế là bởi sự kích động phản xạ cờ vàng đã quá nhàm không thể tạo ra hiệu ứng domino như ngày nào, không thể nhân lên cái sự “phẫn nộ”,  và cái “nguy cơ” từ tờ báo cũng nhẹ hều chẳng khác những nguy cơ đang  tràn ngập cộng đồng, không thể xù lông mà giải quyết được nữa rồi.

Một buổi họp để giải quyết mâu thuẫn cờ vàng mà lại có sự hiện diện công khai hai thằng” Việt gian”.   Nó ngồi chình ình trước mặt để quay phim như trêu ngươi mà vẫn phải ngậm bồ hòn đủ thấy cái khí thế cờ vàng nó tuột dốc thê thảm. Hai cái gai “Việt gian” nó rung đùi trước mặt còn đáng “phẫn nộ” gấp trăm lần cái ý kiến của một độc giả ảo ở đâu đâu “phỉ báng cờ vàng” mà cử tọa vẫn lặng thinh, chỉ phản ứng yếu ớt bằng  tràng pháo tay tán thưởng phát biểu của lão già gần xuống lỗ cuối buổi họp cảnh báo về sự có mặt hai thằng Việt Gian. Lão già cũng không quên thòng thêm một câu tự sự không biết ngụ ý gì, rằng đã gần đất xa trời nên không sợ gì nữa.

Cái sự “phỉ báng” nó đang xảy ra như cơm bữa đối với dân cờ vàng, cho nên cái sự “phẫn nộ” nó xẹp dần bởi số lượng càng ngày càng tăng của cái sự “phỉ báng” mà phải bó tay. Giờ đây họ chỉ phản ứng như một phản xạ bầy đàn nhưng rất yếu ớt, họ phải phản ứng vì  tự ái cờ vàng , vì cảm thấy bị sỉ nhục,  nhưng nó chỉ còn tác dụng hù dọa với những kẻ yếm thế hèn nhát mà thôi.

Những  kích động bầy đàn của cờ vàng  luôn khởi đi từ các anh được học hành, xưng là trí thức, có chữ nghĩa, có tài nói láo dẻo như bún. Các  anh  này có rất nhiều kinh nghiệm và thủ thuật để kích động tập hợp bầy đàn  của mình thông qua các hệ thống truyền thông chống cộng.  Có thể nói ngay rằng các anh này có công rất lớn trong việc tạo ra những “phản xạ cờ vàng” .

Nếu anh cờ vàng nào  cho rằng những so sánh trong bài viết này là phỉ báng, là mạ lị xin mời các anh lên tiếng phản biện  về sự khác biệt giữa phản xạ bầy đàn  cờ vàng của các anh và loài động vật hoang dã ra sao.

Xin mời các nhà trí thức, các anh tiến sĩ cờ vàng hãy phản biện cho việc các anh đã dầy công tạo dựng thành công  cho riêng bầy đàn của mình cái bản năng phản xạ bầy đàn mà con người đã thoái hóa từ rất lâu lâu rồi: bản năng thú vật.

TÔI NGHE CUỘC PHỎNG VẤN CÁC NHÀ BÁO CỦA VIETSTAR

Xichloviet

Nghe audio phỏng vấn tại đây

Tuần qua có hai thông tin làm tôi chú ý và chờ đợi : Một là cuộc phỏng vấn của Đoàn Trọng với các nhà báo vừa về từ VN.  Hai là tin Lý Tống vào tù rồi tuyên bố tuyệt thực tuyệt ẩm tới chết để khi tòa tuyên án ngày 22.6 thì tòa tuyên án cho một xác chết nghe. Tôi nóng lòng xem kịch bản của Đoàn Trọng như thế nào cũng như  nóng lòng chờ đến ngày 22.6 xem Lý Tống chết ra sao và dân cờ vàng sẽ sẽ phản ứng gì khi “anh hùng”của họ  bị bu bức tử..

Về thông tin về cuộc phỏng vấn,   tôi nôn nóng chờ đợi được xem hình ảnh một cuộc hỏi cung, một cuộc tra khảo, một  cuộc thẩm vấn do Đoàn Trọng đạo diễn. Chờ đợi một cuốn phim chắc chắn là rất độc đáo có đầy đủ bi hài,  nhưng rất  bất ngờ và quá thất vọng vì  chủ nhân cuộc phỏng vấn  cấm thu hình cấm thu thanh (vì lý do ngoài ý muốn : lời Đòan Trọng)  . Tuy nhiên qua âm thanh mọi người cũng đã hình dung được phần nào hình ảnh của cuộc “phỏng vấn “ này.

Tôi không phải Vũ Hoàng Lân  để có những ngôn ngữ ngoại giao tránh va chạm với Đoàn Trọng, tôi không phải là Etcetera để nói bằng ngôn ngữ của một nhà báo cố  không để cảm xúc chen vào công việc , Tôi không phải Nguyễn Phương Hùng có những hiềm khích cá nhân với Đoàn Trọng. Tôi là xichloviet nhận định bằng quan điểm độc giả của tôi và không bị chi phối bởi bất cứ thế lực nào.

Tôi nhận định rằng Đoàn Trọng là tay chống cộng kiếm cơm, chống cộng bằng cách chụp mũ  xuyên tạc để lấy lòng cờ vàng cho nên ngay từ đầu  tôi không tin được rằng Đoàn Trọng thực tâm và đủ tự tin và bản lĩnh khai thác vấn đề Trường Sa đã được các nhà báo về VN tường thuật rất trung thực và đầy đủ.

Có thể Trọng tự tin về bản lĩnh móc lò chụp mũ của mình như đã thành công với bà Bùi Kim Thành hay những người yếu bóng vía khác mà quên đi sự phán xét của khán thính giả. Có thể Trọng quá dốt nát và nông cạn khi cố tình khai thác  những dữ kiện các nhà báo đem về từ VN không có lợi cho cờ vàng, chỉ có lợi cho CS, cùng với  sự ưu đãi của chính quyền VN làm bằng chứng tố cáo những nhà báo này làm tay sai cho CS.

Có thể Trọng muốn đánh bóng mình dựa vào sự nổi tiếng của VHL và Etcetera Trường mà không nghĩ đến hậu quả của nó khi Trọng  không có khả năng giấu đi được cái tâm đểu cáng cứ để nó lồ lộ ai cũng thấy được.

Điều tôi chờ đợi và tiên đoán cũng giống như sự quan tâm nhiều độc giả khác . Có thể thấy điều này qua phố BolsaTV chỉ một ngày sau đã có gần 5.000 views và gần 300 comments hầu hết đều chửi Đoàn Trọng tơi bời tan tác.

Chủ đề của cuộc tiếp xúc được Đoàn Trọng sắp xếp trước là chuyến đi Trường Sa của các nhà báo quận Cam. Nghe qua những câu hỏi ai cũng có thể thấy Đoàn Trọng có vẻ  tự tin gài bẫy các nhà báo VN bằng những câu hỏi được chuẩn bị rất kỹ từ trước . Tuy nhiên toàn bộ nội dung cái gọi là phỏng vấn của Đoàn Trọng đề cập rất ít về chuyến đi Trường Sa. Suốt cuộc phỏng vấn người nghe vẫn  không biết Trường sa nó ở đâu, nó tròn méo ra sao và có ai ở trên đó hay không, VN đang làm chủ những gì . Mục tiêu của cuộc sắp đặt phỏng vấn ai cũng nhận ra là cố gài bẫy để qua các sơ hở của người trả lời lôi  ra cho được chứng  cớ các nhà báo về VN đã nhận tiền CS, nhận ưu đãi CS,  tuyên truyền cho cộng sản, là công cụ của cộng sản, là việt gian v.v… Lồng vào những câu hỏi là những câu diễn giải cho thính giả và những câu dạy đời về đạo đức lương tâm  cho các nhà báo.

Là một tên háo thắng tự cao tự mãn Trọng đã lường trước được rằng nếu có quay video Trọng sẽ mất điểm vì chính tác phong du côn của mình. Clip video Trọng mày tao chỉ vào mặt Nguyễn Phương Hùng đã mô tả đầy đủ tính du côn trong con người Đoàn Trọng thế nào và có lẽ đó là bài học cho Trọng hôm nay. Thế cho nên Trọng cấm không được thu hình và ghi âm để giành lấy tất cả những ưu thế cho một cuộc tố khổ.

Bước vào cuộc phỏng vấn với thái độ tự tin , các nhà báo VHL và Etcetera đã trả lời rất gãy gọn và đáp trả những thâm ý của Trọng vô cùng ngoạn mục. Ngay phút đầu VHL đã tặng cho Trọng viên đá Trường sa như cảnh cáo  Trọng rằng đặt vấn đề tố cộng dâng đảo dâng biển như cờ vàng rêu rao bấy lâu ở đây là từ chết tới bị thương vì chứng cớ nó có đầy trong túi các nhà báo.

Cố moi móc để quy chụp không xong Trọng cùng Christ Phan đâm ra … nổi cáu, Thái độ và giọng điệu nghe được cho thấy chủ nhà đã bế tắc không những không đạt được mục tiêu mà còn bị bẽ mặt ê chề.

Tôi đồng ý với nhà báo Nguyễn Phương Hùng cho điểm 10.0 cho cuộc đối thoại này nghiêng về phía các nhà báo về VN.

Xưa nay những kẻ chống cộng kiếm cơm như Đoàn Trọng, Ngô Kỷ  vẫn phải dựa vào bầy đàn để trấn áp đồng hương mà kiếm ăn. Thời gian gần đây bầy đàn cờ vàng của Trọng đã dần tan hàng xẻ nghé. Nhưng Trọng vẫn còn hoang tưởng rằng cái mũ Việt gian còn là vũ khí có hiệu lực. Trọng vẫn cho rằng phải lấy lòng cờ vàng mới là lẽ sống. Phóng lao phải theo lao vì không theo thì chẳng biết làm gì để sống. Nhưng Trọng đã sai lầm  nghiêm trọng khi chọn VHL và Etcetera Trường để lấy điểm cờ vàng. Trọng đã mất điểm ngay trong con mắt cờ vàng vì VHL và Etcetera quá vượt trội. Trọng quá ngu lấy cái ảo đối đầu với sự thực. Lấy cái dốt để khai thác cái khôn ngoan, không biết mình biết ta, chủ quan tự mãn.

Tôi chắc rằng xem qua những gì khán giả nói về mình Trọng đã thấm đòn và mất ăn mất ngủ  nhìn lại cái ngu của mình để có đối sách mới. Trọng sẽ  phải căng đầu để đối phó với dư luận và nhất là lo lắng làm thế nào để từ chối những lời mời  đáp lễ  rất văn minh và dân chủ của các nhà bào VHL hay Etcetera mời Trọng đối thoại trên sân khách., lúc này thì chắc chắn  nhà báo NPH cũng  không bỏ qua cơ hội để “đối thoại” với Trọng.

Đưới đây là nguyên văn những câu hỏi “thẩm vấn” các nhà báo về từ VN của đoàn Trọng và Christ Phan, Tôi cố gắng và tốn nhiều công ghi lại đầy đủ nhất không cắt xén để bạn đọc nhận xét.  Tôi không ghi lại phần trả lời vì câu hỏi của Trọng quá ngu ai có lập trường cũng dễ dàng bẻ gãy. Vả lại những câu trả lời rất khôn ngoan của hai nhà báo được phỏng vấn nghe được rất rõ ràng mạch lạc không có gì bình luận. Những từ in nghiêng là bình luận của xichloviet

1.     ĐT: Quý vị đi về VN với tư cách cá nhân hay đại diện báo chí hải ngoại?

( Mở đầu cho cuộc truy vấn tư cách và tính đại diện  của các nhà  báo khi tác nghiệp ở VN)

2.     ĐT: Giới chức VN họ nhìn nhận quý vị đi với tính cách cá nhân hay với với tính cách đại diện báo chí hải ngoại. ( Khi không truy được vì các nhà báo cho rằng họ đại diên cho chính  họ và độc gỉa  của họ Trọng quay sang thăm dò giới chức lãnh đạoVN  có xem các nhà báo này  là đại diện cho báo chí hải ngoại hay không một câu hỏi về suy nghĩ của người khác, hỏi dốt)

3.     ĐT: Nếu trước mặt quý vị họ nói chúng tôi hân hạnh đón tiếp các nhà báo hải ngoại thì quý vị có hành động thế nào?

(Dốt tiếp. Họ không là nhà báo hải ngoại thì là nhà báo âm phủ chăng? Có 20 đoàn nhà báo khắp nơi trên thế giới họ đều là ở  hải ngoại cả, Hải ngoại không phải chỉ là quận Cam. Trọng lẽ nào không biết?)

4.     ĐT: Tôi từng làm với VW 2 năm. Tiêu đề của VW  là trung thực. Xin hỏi anh Etcetera khi người ta nói không đúng sự thật như vậy anh đành chấp nhận hay anh lên tiếng? (Họ nói quá đúng sự thật lên tiếng cái gì, họ nói không đúng sự thật chỗ nào chỉ ra )

5.     ĐT: Câu hỏi chúng tôi đặt ra là rất nhiều báo chí quốc nội họ nêu lên rằng đoàn báo chí hải ngoại rất tiếc rằng anh VHL và anh Trường đã không công khai lên tiếng . … mình phải phát huy cái trung thực của mình. ( Lấy tư cách gì dạy đời đây Trọng?) Có thể quý vị nói với báo chí là chúng tôi về đây với tư cách là phố Bolsatv, với tư cách VW chúng tôi không dại diện cho ai,  Họ lập đi lập lại là phái đoàn báo chí hải ngoại với mục đích gì là quyền của họ nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta chỉ trích những người không nói lên sự thật thì chúng ta lại là những người chấp nhận cái sự không đúng sự thật. Quý vị thấy hai cái nó khác nhau thế nào? (Vũ hoàng Lân đề cập tới việc những người xưng danh cộng đồng đại diện cho 500 ngàn cư dân nam Ca li để so sánh và ngay lập tức  liền bị Trọng chặn lại 

6.     ĐT :Nếu trong tương lai chúng tôi đưa ra được những tài liệu, băng video, những bài báo chính quý vị nói là phái đoàn báo chí hải ngoại thì chúng tôi có được nghe lời xin lỗi của quý vị đối với những người làm báo chúng tôi hay không. ( Etcetera : danh xưng nhà báo hải ngoại để phân biệt với nhà báo trong nước chúng tôi không thể nói chúng tôi từ thế giới khác.)

( Hí hửng vì có bằng chứng Etcetera nói mình là nhà báo hải ngoại Trọng cố quanh quẩn gài độ để có chứng cớ các nhà báo VHL và Etcetera hớ hênh nhận mình là đại diện đoàn báo chí hải ngoại nhưng vẫn không chụp được cái mũ nào vì Etcetera thừa nhận mình nói là nhà báo  hải ngoại để phân biệt với nhà báo trong nước.  Trọng không còn gì để nói)

7.     Chris Phan : Các anh thấy những người lãnh đạo nói chuyện có cùng tần số với hải ngoại mình không? Các anh thấy sự lãnh đạo của họ như thế nào

8.     Chris Phan Các anh làm việc với họ ở đây người ta nói các anh là Việt Gian, Việt Cộng các anh thấy thế nào. ( Bắt đầu muợn lời kẻ khác để tấn công vu khống hèn hạ. )

(Sau khi Etcetera  trả lời rằng việc chụp mũ như thế rất bình thường ở hải ngoại và không ai nêu được chững cớ.  ĐT thấy không khai thác được đề tài này bèn cắt lời hỏi câu khác .)

9.     ĐT: Quý vị đi chuyến này chi phí do quý vị tự đài thọ hay chính quyền CS lo cho quý vị. ( Bắt đầu gài độ nhận tiền CS)

10. ĐT: Hai anh có thể cho khán thính giả chúng  tôi biết nếu  có dư luận cho rằng Người VN có câu ăn cơm chúa múa tối ngày. Những tin tức các anh viết, với đồng tiền họ bỏ ra cho các anh đi nếu người ta nói những điều đó nó không trung thực và không thuyết phục tất cả các chi tiết anh viết thì các anh trả lời sao.

( Hãy nghe audio phần trả lời đáp trả của các nhà báo bị “ thẩm vấn”)

11. ĐT: Trong một clip video ông Nguyễn Thanh Sơn có nói với anh Vũ Hoàng Lân là anh Vũ Hoàng Lân sẽ đại diện cho chúng tôi để quý vị chuyển tải tuyên truyền những tin tức này cho đồng bào được biết. Có Phải từ lúc lời nói của ông Nguyễn Thanh Sơn đưa ra anh đã chính thức là một thành viên là công cụ của nhà nước cộng sản VN hay không?

( Kiểu suy diễn và áp đặt kinh điển của cờ vàng,  cũng  suy diễn kiểu này mà càng ngày ở Bolsa càng nhiều Việt Gian)

( Sau khi VHL trả lời rằng những cá nhân được phỏng vấn của phố Bolsatv đều gửi những thông điệp tuyên truyền của họ và phố BolsaTv dành sự đánh giá của độc giả. Dĩ nhiên ĐT không hài lòng với câu hỏi này và đặt câu hỏi tiếp

12. ĐT: Hôm nay mời các anh lên chúng tôi cũng nghĩ đến cái lợi của chúng tôi chúng tôi sẽ có nhiều người nghe chúng tôi được nhiều quảng cáo hot . (Một câu nói đạt đểm 10 về ngu.  Thì ra không đánh mà khai, cái ngu nó bắt tự thú  lòi cái mặt chuột dựa hơi các nhà truyền thông nổi tiếng để kiếm cơm) Tất cả mọi người đều có cái plan trong đầu nhưng mà tôi nói cái vấn đề cái lương tâm của người làm báo mà đặc biệt anh là những người giới trẻ. ( Lên giọng dạy đạo đức truyền thông. Trọng móc cho coi cái đạo đứccái lương tâm  của Trọng nó trò  méo ra sao được không? ) Sở dĩ tôi nêu lên cái  đó hàng trăm hàng ngàn ký giả báo chí trong nước sẽ nhìn vào anh để đánh  giá một ký giả của hải ngoại. Anh là ngọn đuốc cho nguời ta theo thì dù sao nữa theo quan điểm của tôi về tự do ngôn luận tự do báo chí tự do hành nghề ở ngoại quốc này  nó khá hơn là trong nước. Nhưng mà theo nhận định của tôi thì chính cái sự im lặng của anh và sự không dám nói lên sự thật của anh làm thất vọng tất cả những người ký giả ở trong nước. Tôi là anh tôi sẽ sẵn sàng có cơ hội tôi sẽ nói với ông Nguyễn  Thanh Sơn tôi cám ơn sự giúp đỡ của ông nhưng mà tôi không thể làm hơn với tư cách của người báo chí tôi không thể làm cái công việc về đây tuyên truyền cho quý vị tôi không thể làm cái điều đó và tôi cũng không muốn làm công cụ cho quý vị và tôi muốn tất cả mọi người nghe cái đó…. Tiếc thay tôi không nghe thấy anh nói cái câu đó mà cái đó … cái điều đó làm cho những người làm báo trong nước có thể nói họ rất thất vọng về cái việc làm của anh thì anh nghĩ thế nào.

( Không khác gì một câu hỏi cung nhưng lại   quá lủng củng lộn xộn tả pí lù thế mà cũng xưng được là nhà báo. Áp đặt ý tưởng chủ quan của mình để  dạy đời, mớm lời một cách quá ngây thơ, đánh giá  khai thác đối tượng và tình huống phỏng vấn vô cùng cẩu thả như thế mà dám xưng là nhà báo thì pó tay với tên này)

13. ĐT: Anh để họ chuyển những thông điệp họ đi trái lại anh không không chuyển thông điệp của anh cho họ? (nếu không làm nguợc lại thì là Việt Gian chứ gì)

14. Chris Phan : Anh chỉ đem sự thật của họ qua đây tại sao anh không mang sự thật ở đây qua đó. Tôi chưa thấy một câu hỏi nào hỏi họ về những người hải ngoại muốn gì …( nghe không rõ)  giống như anh nói trung thực sao anh không kiếm Việt Khang, tại sao không hỏi Lê Thị Công Nhân, tại sao không hỏi những người đó. Anh nói họ không tạo điều kiện họ tạo điều kiện cho các anh đi Trường Sa hoặc là anh đi  chơi vòng vòng đâu đó những chỗ để cho họ tuyên truyền mà tại sao mấy anh không đặt điều kiện họ là cho tôi đi thăm ông Việt Khang, cho tôi đi thăm bs Nguyễn Đan Quế, cho tôi đi thăm hòa thượng Quảng Độ hoặc là  Lê Thị Công nhân ?

(VHL cho biết không muốn làm một công việc bất hợp pháp để được việc, anh so sánh với  quy định của vietstar không được quay phim thâu âm )

 ( Đọan này Chris Phan không giấu được sự hằn học cay cú. Tên này nói tiếng Việt không xong lại cực đoan và mất bình tĩnh cho nên tức quá nói bừa, rất yếu về lý luận một đưa bé lớp 3 ở VN cũng có thể dạy tiếng Việt trình độ vỡ lòng cho tên này và dạy cho tên này bài học về ứng xử- hãy nghe audio)

15. ĐT: thưa quý vị thính giả,  các anh VHL và anh Etcetera  Trường đến họ cũng muốn có những cái thâu băng, cũng muốn có những thước phim để họ về họ sử dụng cho cái công việc nhưng do lý do ngoài ý muốn chúng tôi từ chối điều đó điểm nó khác ở đây là như thế này thưa anh VHL Trước buổi phát thanh này tôi nói điều đó ra còn các anh về từ bao lâu, anh hỏi người ta người ta không cho,  anh không nói điều đó ra, cái điều đó cho thấy rằng hai cái nó khác nhau rất nhiều tôi không chấp nhận anh tôi phải nói cho người ta biết lý do đó, anh không bao giờ cho tất cả đồng bào đây biết được. Sở dĩ cách đây cái lúc khởi đầu biểu tình Vietweekly tôi đã có một lần tôi đề nghị tôi đến tôi gặp anh Trường và tôi nói là chúng tôi không bắt buộc quý vị phải hỏi cho tôi gặp người này người nọ người kia nhưng quý vị làm điều đó mà bị từ chối quý vị cho chúng tôi biết để làm sao để người ta đánh giá được cái tự do ngôn luận cái tôn trọng cái quyền của con người như thế nào chứ chúng tôi không bắt buộc  hay làm cái điều gì đó .Như hôm nay cũng vậy, nếu anh về anh hỏi cho tôi gặp Cù Huy Hà Vũ hôm nay không ai biết được điều đó hết. Anh phải nói để chúng tôi được biết là có đề nghị mà họ không cho.

( Lại một câu hỏi quá lủng củng về cú pháp và ngôn từ. À thì ra Trọng muốn bất cứ vấn đề gì các nhà báo cũng phải báo cáo cho Trọng . Không báo thì sao? Lại cái mũ Việt Gian chứ gì)

Etcetera : tôi rất ghi nhận sự thảo luận của anh Chris Phan và anh Lân bởi tôi cũng là người  thông cảm cho cái chuyện bức xúc của các anh ở đây …( bị ngắt lời rất  ồn ào không nghe rõ, hình như Etcetera có vẻ bất bình với việc thiếu tôn trọng người khác Etcetera nói tiếp)  Tôi đề nghị thế này mỗi người sẽ có một phút khi mình nói phải đợi cho người ta nói hết,  tôn trọng nhau thì câu chuyện nó mới tốt hơn. Có thể tôi nói sai có thể tôi nói chưa đúng thì có thể tiếp tục đóng góp . Những đòi hỏi của anh Chirs phan, anh ĐT tôi nghĩ là các anh nên làm  và các anh nên cố gắng bằng mọi giá tham gia vào trong nước để các anh đòi hỏi cái quyền các anh làm . Chúng tôi đã nói nhiều lần rằng chúng tôi muốn làm mà chưa làm được biết đâu trong tương lai chúng tôi có những điều kiện nào đó tốt hơn chúng tôi sẽ làm.Tôi quan niệm làm truyền thông là cuộc chơi lâu dài . . . . . . .

VHL : …..Quý vị cũng là cơ quan truyền thông trang bị còn ghê gớm hơn phố bolsatv rất nhiều …. Câu hỏi đó đặt cho phố Bolsatv thì quý vị cũng có thể đặt cho chính mình tại sao mình chưa làm chuyện đó.

ĐT :  (bẽ bàng lúng túng thấy rõ thể hiện qua cách trả lời ấp úng )  Vâng việc trước tiên thì là thì có thể nói rằng là cái cái vấn đề anh đặt ra thì đến lúc nào đó thì chúng tôi cũng sẽ trả lời rõ với anh tại sao …nhưng anh chưa trả lời tôi cái đã . Tại sao anh về anh đi bên kia anh hỏi Cù Huy Hà Vũ người ta không cho tại sao anh về anh không nói?

( Tại sao các anh về anh không nói – Gớm nhỉ . Ông là bố người ta bắt ngươi ta phải báo cáo ông chăng?)

16. ĐT: Có thể nói cái sự nóng bỏng nhất của cộng đồng người việt luôn luôn nghĩ đến cái sự toàn vẹn lãnh thổ hải đảo luôn luôn nghĩ đến cái sự xâm lấn của Trung Quốc cái vấn đề đặt ra là quý vị thường nghe ông Nguyễn Thanh Sơn tất cả đều nói quốc gia  chúng ta hoàn toàn lãnh thổ chúng ta không bị gì Trường Sa vẫn thuộc về chúng ta tất cả mọi chuyện có thể nói rất là tốt đẹp. Tôi nghĩ các  anh cũng  có nghe tất cả những  cuộc biểu tình của sinh viên những cuộc xuống đường rất rầm rộ mà phố Bolsatv các anh có đưa lên cái gì không. Vì lý do gì mà anh không hỏi ông Thanh Sơn ông nói như vậy mà tại sao họ biểu tình vậy hả ông thứ trưởng, tại sao anh không nói ra câu nói đó.

( Tại sao ông không về mà hỏi ? Ông có dám về không? Ông có dám hỏi cái kiểu mất dạy như ở Bolsa không? Nếu hình ảnh phỏng vấn như hỏi cung mất dạy của ông được đưa lên trên phương tiện  truyền thông trong nước chắc chắn với ông rằng trong vòng một giờ sau  ông sẽ vào bệnh viện mà lu loa CS thuê người đàn áp những người bất đồng chính kiến y như nhưng bài học tố cộng thuộc lòng của ông. Ông có biết ngay sau chương trình thời sự buổi tối đưa tin Ngô Quang Kiệt tuyên bố nhục nhã khi mang hộ chiếu VN ông ta lãnh hậu quả gì không? Tôi tin rằng Đoàn trọng về tác nghiệp ở VN là tin rất hot và ông sẽ được đón chào. )

17. ĐT: Anh Trường, anh Lân anh có nghĩ anh bị hạn chế ở cái mức độ nào nhà cầm quyền đưa ra những hạn chế các anh không được làm những chuyện gì không

VHL : Cụ thể trong chuyến đi trường sa nay họ có hạn chế một số điều và hạn chế cả báo chí trong và ngòai nước luôn. Tôi có thể nói một cách rõ rằng là những chuyện hạn chế của họ là không đưa những hình ảnh và tin tức liên quan đến vấn đề bí mật quân sự trên các đảo bởi vì đảo mình quay đâu cũng trúng hết cho nên mình phải tránh những chuyện đó. Thứ hai là đưa tin như thế nào để không ảnh hưởng đến vấn đề ngoại giao tế nhị nào đó giữa

VN và TQ. Hai điều đó tôi nhớ là họ yêu cần không đưa . . . . . .  tôi nghĩ mình giữ cam kết đó là điều đang làm của người cần đưa tin.

18. ( Hí hửng như vừa chộp được một bằng chứng quan trọng, Trọng lập tức “kính thưa” ngay sau đó)

Kính thưa quý vị khán thính giả quý vị vừa nghe lời của anh VHL trình bày mà hôm nay tôi hy vọng quý vị chia sẻ tất cả những  tin tức này điều đó có nghĩa là tự do ngôn luận tự do báo chí và tôn trọng  nhân phẩm của con người vẫn còn bị hạn chế . Quý vị vừa nghe anh VHL nói rất là rõ ràng đó là cái điều mà quý vị nghĩ rằng cái  việc tranh đấu của quý vị đó là điều đúng sự thật và tất cả những điều tranh đấu của quý vị là quý vị là cái điều quý vị cần nên làm . VHL là người rất thân thiết và có thể nói có thể có cái tiếp xúc …. Mà anh VHL còn nói như vậy thì cái điều đó chúng ta không còn hoang mang gì về cái vấn đề tranh đấu của chúng ta ngay bây giờ

(Lại quá lủng củngvới ngôn ngũ lớp ba trường làng. Không còn từ gì để nói về cái ngu của Trọng. Quý vị hãy xem những comment trên KBCHN, và Phố BolsaTV để xem những bình luận về cái ngu không đụng hàng này. Cái não trạng chống cộng cực đoan để kiếm cháo đã làm cho Trọng mất bình tĩnh. Nôn nóng nhưng bế tắc vì không khai thác được những gì mong muốn. Chộp được cái “hạn chế” mà VHL nêu ra Trọng mừng húm “kính thưa “ ngay lập tức. Và cũng ngay lập tức cái hạn chế thông tin về bí mật quân sự này nó biến ngay thành nhân phẩm nhân quyền, và nó biến thành cái” nên làm” để tranh đấu. Tranh đấu để được quyền thông tin bí mật quân sự chăng? Có từ gì khác với từ NGU trong trường hợp này đây?)

19. VHL:  Đối với vân đề giữ bí mật quân sự mà anh đoàn trọng nói tới vấn đề nhân quyền nhân phầm thì tôi chưa thấy cái link của nó nhưng đó là cái quyền phát biểu của anh ĐT………

20. ĐT: Cái vấn đề nhân phẩm và nhân quyền của con người như thế nào thì chắc quý vị cũng đã biết . Nhân quyền của một con người tự do ngôn luận tự do báo chí khi họ đã biết được cái tự do báo chí họ đã mời quý vị thì không có cái điều kiện gì đặt ra về vấn đề này hỏi vấn đề được làm không được làm đó là toàn bộ vấn đề nhân quyền chưa được tôn trọng

( Không biết  Trọng muốn nói cái gì hình như không phải tiếng Việt, nói như thế này mà xưng là ký giả kể  cũng lạ)

VHL : Tôi muốn bổ sung một ví dụ rất cụ thể để anh Trọng thấy được vấn đề nhân quyền nhân phẩm như là cách diễn giải của anh thế này : Những lần tôi đi vào phi trường Nội Bài hoặc phi trường Tân Sơn Nhất . Bình thường tay tôi lúc nào cũng dính liền với cái máy quay phim, do vậy vào phi trường tôi quay tất cả các ảnh mà anh Hùng  và mọi người xếp hàng đi vào cho nên nó có những  cái cảnh đi vào cái ngả bộ ngoại giao mà nhiều người có những cách diễn giải rất khác nhau. Những lần tôi quay lại phi trường  Los  Angeles qua khỏi cái cổng đề chữ welcome anh thử móc  cái máy quay phim ra quay cảnh người ta đang làm thủ tục nhập cảnh sẽ bị cấm ngay lập tức như vậy thì người ta có thể nói là bên VN tự do bên VN hơn bên Mỹ về cái việc đó  hay không? Tôi không kết luận  như vậy. Nhưng mỗi nơi có một cách khác nhau và mình cần phải tôn trọng và mình muốn làm việc lâu dài với tổ chức đó đất nước đó cá nhân đó mình tôn trọng những luật chơi họ đặt ra theo tôi nghĩ cái đường lâu dài là như vậy.

Chris Phan :Nói như vậy chuyến đi của mấy anh chỉ là cái trò chơi thôi tôi không nói luật chơi mà là trò chơi nên các anh không quan trọng bất cứ điều gì phải không à. Cái thứ hai khi mà các anh về bên đó các anh là người VN bây giờ cắt máu ra cũng còn dù các anh có làm cái gì chăng nữa nhiều người tẩy chay và cho các anh là Việt gian đi nữa các anh cũng là người VN . Khi mà mấy anh về VN mấy anh có cảm xúc gì các anh nhìn những người đấu tranh  chống ngoại xâm mà bị đảng CSVN nhà lãnh đạo đảng CSVN đàn áp người dân của mình, đàn áp thanh niên và  kể cả những em bé bà già, đánh bể đầu chảy máu, có khi nào các anh suy nghĩ đó mà các anh hỏi người ta trực tiếp những cái đó tại sao lãnh đạo CSVN dã man đàn áp người dân không.

( Y như một cuộc hỏi cung. Lại những lời dạy đời và đòi hỏi trịch thượng mất dạy. Câu trả lời vẫn giống như các nhà báo VHL và E Trường là muốn gì hãy về VN mà hỏi. )

21. ĐT: Tôi muốn hỏi anh trường anh nói là anh mang về đây những dữ kiện vậy những dũ kiện ở đây anh có đem về bên kia không? Etcetera: Khi có điều kiện tôi sẽ mang về bên kia. ĐT:  như vậy bây giờ anh chưa có điều kiện? Etcetera: Vâng . ĐT: kính thưa quý khán thính giả ( lại kính thưa) như quý vị đã thấy tất cả những dữ kiện ở đây nhan nhản trước mắt và tất cả mọi người đều nhìn rằng cờ vàng ba sọc đỏ  đồng bào tranh đấu tự do dân chủ nhân quyền tự do tôn giáo anh Trường cũng nhìn thấy vấn đề đó nhưng thưa quý vị anh chưa có điều kiện để phát lên ở Vn …

VHL: riêng phố bolsatv có lẽ câu hỏi đó sẽ bị thừa vì nếu anh coi trên 1000 video clip của chúng tôi  ….. từ những phát biểu của ông Ngô Kỷ bà Bùi Kim Thành ông phan kỳ nhơn . . . . .

22. ĐT: Câu hỏi tôi muốn gửi đến anh là những dữ kiện  anh đã ghi nhận và cái memory của anh đã có những dữ kiện đó cái lúc anh có cơ hội tiếp xúcvới những người có thể nói có thể mà cộng đồng người việt hải ngoại muốn đón nhận những dữ kiện đó anh đưa đi anh là người deliver thì trái lại anh không làm những công việc đó chứ còn thực sự ra anh viết cả ngàn bài cả trăm cái video clip có thể ông Nguyễn Thanh sơn chưa xem nhưng cái đó nhưng đây  là cái cơ hội anh có trái banh phạt đền trước vòng cấm địa mà anh không đá , cái điều đó là cái điều tôi muốn hỏi anh.

( Đến phút này Trọng vẫn bế tắc và cạn đề tài vẫn là câu  hỏi lủng củng xà ngầu,  vẫn cái trò hỏi tại sao anh không làm cái này cái kia . Cả ngàn công việc cho nhà báo trong một chuyến đi khá dài. Để làm vừa lòng Trọng chỉ có cách duy nhất làTrọng hãy về VN mà hạch sách. Có một diễn đàn ở kbchn.net, nếu muốn,  Trọng chỉ cần thông báo ngày về sẽ có người đón Trọng tức thì. )

23. ĐT: …..Anh đã có phố Bolsatv anh cần gì anh phải nói hộ báo chí bên VN họ giỏi họ làm điều này ông Nguyễn Thanh Sơn rất là cởi mở vui vẻ cái điều đó anh đã deliver những cái đó về rồi nhưng mà ngược lại bên này những cái cái nằm tuyệt thực những cái cái mà của bà Bùi thị  Kim Thành ( cái của bà Bùi Kim Thanh là cái gì hả Trọng) của tất cả cái đó thì anh lại  không nói trực tiếp với bà với ông Nguyễn Thanh Sơn ( lúng túng gọi ông Nguyễn Thanh Sơn bằng bà ) những người  đó chứ còn đó là những điểm tôi gọi là những sự kiện nó rõ ràng . Có thể anh nói với ông Nguyễn Thanh Sơn lúc nào tôi không hay biết nhưng mà tất cả những điều in pocket tôi không thấy anh nói đến điều đó.

( Rốt cuộc Trọng  muốn hỏi cái gì cóc ai hiểu, thưa ký giả học trường nào ra thế)

24. ĐT: Tôi xin đặt vấn đề tự do tôn giáo tại VN trong chuyến đi này chúng tôi thấy có thể nói rằng tôi nhìn qua tôi thấy ông Nguyễn Thanh Sơn có vẻ là một người có tâm linh tôi không đi xa hơn tâm linh dị đoan mê tín tôi không cần đặt vấn đề Nhưng mà tôi nghĩ ông là người tin vấn đề tâm linh. Phái đoàn tôn giáo nhiều tôn giáo cũng có các cha các à có mấy người mục sư nữa rồi đạo à rất nhiều còn hơn bên này nữa  có cái phái đòan tự do tôn giáo như vậy (nói hớ). Xin lỗi quý vị tôn giáo như phái đòan này …. Cái sự kiện này chắc quý vị phải biết, văn phòng 2 Viện Hóa Đạo hòa thượng Quảng Độ đủ thứ chuyện hết,  anh cũng nhìn nhận,  có khi nào anh hỏi cái cơ câu tổ chức mấy người này được chọn như thế nào chứ bây giờ chúng ta  hình dung chúng ta đưa những bức hình này lên thì cũng không biết những ông này ở đâu cũng đưa là tôn giáo này nọ mà không cho hỏi gì hết trơn trọi mà trong lúc cái chìa khóa năm trong tay của anh, anh là người thì tại sao anh không đưa vấn đề đó ra …….( nghe rè rất ồn nghe loáng thoáng Christ phan nêu vấn đề việt gian gì đó v.v…)

(Câu hỏi Trọng nêu ra muốn hỏi về tự do tôn giáo mà nghe xong chẳng ai biết Trọng muốn hỏi cái gì mới quý vịcó ai  cùng chung trường làng với Trọng dịch giùm)

Những câu hỏi sau nghe không rõ và cúng không thấy đề cập đến chủ đề, nhưng có thể thấy Đoàn Trọng dốt không hiểu về thềm lục địa và lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, không biết gì về chủ quyền trên biển.

Quá dài và quá đủ để quý vị nhận diện chân dung tay “ký giả” Đoàn Trọng, loại người không phải là ít ở hải ngoại . Trọng là một mẫu người rất điển hình, dốt nát nhưng khá mồm mép và có nghề  nói láo chống cộng để kiếm cơm. Thoạt nghe qua người ta dễ bị lừa rằng Trọng ăn nói rất lưu loát vì không vấp váp, nhưng nghe kỹ thì toàn là những từ sáo rỗng vô nghĩa, lộn tùng phèo không có chút văn phong nào.

Qua bài gọi  là phỏng vấn này có thể thấy ngay trình độ của Trọng thuộc loại kém toàn diện nếu không muốn nói là quá dốt. Tâm thì đểu cho nên không có được một câu hỏi nào mạch lạc. Ý  tứ không biết sắp  đặt trước sau thế nào, ngôn ngữ thì  lủng củng lôn xộn không thể so với một học sinh lớp ba ở VN.

Nhưng cũng rất mừng khi thế hệ trẻ như Etcetera VHL đã không bị tiêm nhiễm cái bệnh cực đoan vốn là căn bệnh nan y trong giới chống cộng cờ vàng. Hơn nữa họ có cái tâm trong sáng và có tinh thần dũng cảm để đương đầu với những  thế lực cờ vàng cắm rễ 37 năm qua. Họ là những cái gai trong mắt cờ vàng nhưng họ là những hạt nhân gieo mầm dân chủ thực sự trong cái cộng đồng luôn lo sợ bị bức hại bởi bọn mafia kiếm cơm bằng lá cờ vàng.

AI BỨC TỬ CỜ VÀNG ?

xichloviet

Kể từ khi chế độ VNCH sụp đổ chúng ta thường nghe  rất nhiều đến cụm từ “VHCH bị bức tử” mà dân cờ vàng luôn than vãn . Bị bức tử có nghĩa là bị buộc phải chết . Ai buộc? Họ không nói ra nhưng ai cũng có thể  hiểu họ ám chỉ Mỹ. Thế nhưng họ không bao giờ tỏ ra hận Mỹ và luôn trút sự hận thù này cho CS.

Dân chống cộng cờ vàng nói như thế để chống chế và khỏa lấp rằng họ không hèn nhát, không phải họ không biết chiến đấu,  không phải vì họ yếu kém phải  bỏ chạy mà bị cưỡng bức phải thua, chứ họ vẫn anh hùng lắm. Mỹ đã “bức” họ phải “tử” chứ CS không thể làm họ tử được.

Võ Long Triều một bộ trưởng, một dân biểu  trong chế độ VNCH,  trong một bài viết đăng trên báo Người Việt mới đây lại không dùng từ này mà đặt câu hỏi “Ai bán VNCH cho cộng sản Hà Nội”  rồi kết luận là bu Mỹ và Hà Nội đã  thương lượng nhau để “bán” cái anh VNCH này.  Võ Long Triều đặt câu hỏi như thế  đã tự thú nhận VNCH là chỉ là một thứ  đồ chơi hay chỉ  là con cún của Mỹ cho nên bu muốn bán lúc nào thì bán muốn bán cho ai cũng được. Bị bán một cách tức tưởi.

Lúc thì Võ Long Triều nói Mỹ đi đêm với Tàu để dâng miền Nam VN:

Được trả tự do năm 1988 tôi có dịp đọc hồi ký của Ngoại Trưởng Mỹ thời đó là ông Henry Kissinger mới biết rõ, chính ông ta dâng miền Nam Việt Nam cho Thủ Tướng Trung Cộng Chu Ân Lai .”

Lúc thì nói Mỹ thương lượng với Hà Nội để bán đứng VNCH :

Và sự kiện chứng minh rõ ràng nhứt, Kissinger và Tướng Haig tự ý thương lượng với Bắc Việt mà không hề hỏi ý kiến chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trong khi cả thế giới hiểu rằng sự đàm phán phải do hai bên Nam, Bắc Việt thương lượng điều kiện để tiến tới hòa bình. Hội đàm Paris chỉ là một màn kịch do Hoa Kỳ đạo diễn để trao Việt Nam Cộng Hòa vào tay cộng sản Hà Nội., “

Võ Long Triều , một bộ trưởng, một dân biểu cờ vàng còn nhận định và than thân trách phận thú nhận  rằng Mỹ đã đem VNCH rao bán như bán mớ rau con cá thì các anh cờ vàng nghĩ sao?  Một chế độ mà Mỹ muốn bán cho ai cũng được, muốn nó chết là nó phải chết không thể cưỡng lại thế mà cũng xưng danh là một “quốc gia” có chính nghĩa được sao?   Hễ cứ ai nói rằng các anh là tay sai, là nô lệ thì các anh nhảy dựng lên mà phản bác. Các anh  luôn tuyên truyền cho dân cái ảo tưởng các anh  là đồng minh của Mỹ cho nó sang, đồng minh nào mà có quyền  rao bán, bức tử các anh được như thế?

Báo chí và tâm lý chiến cờ vàng luôn nâng tầm quan trọng của VNCH lên hàng “đồng minh” của Mỹ và nổ rằng là VNCH là tiền đồn (của Mỹ) chống cộng số một ở Đông Nam Á cho nên Mỹ không thể xem nhẹ. Đồng minh của Mỹ nhưng chưa bao giờ tổng thống của VNCH  được đón tiếp bằng nghi lễ xứng tầm đồng minh, chẳng bao giờ được phép bước chân vào nhà trắng .

VNCH đã chết rồi, dù có than thân trách phận rằng bị bức tử, bị bán, hay bị bỏ rơi thì cũng thế thôi. Nói một cách cụ thể  và hình tượng thì VNCH chỉ  là một thứ công cụ sử dụng cho lợi ích của Mỹ, không dùng được nữa thì vứt nó đi, sự thật đã quá rõ.

Cố thanh minh về việc phải cởi quần mà chạy nhằm  giấu đi cái hèn cái nhục họ lại càng  làm lòi cái bản chất nô lệ ra .  Cái bản chất nô lệ đã được Nguyễn Văn Thiệu  tổng thống VNCH thừa nhận công khai rằng Mỹ cho bao nhiêu thì đánh bấy nhiêu.. Thế cho nên cái kết cục phải cởi quần chen nhau mà chạy chính  là hệ quả của thân phận bầy tôi nô lệ.

Ngay sau khi thất thủ Ban Mê Thuột, quốc hội Mỹ đã bác quân viện bổ sung 300 triệu đô la cho VNCH do tổng thống Mỹ đề nghị. Số phận chế độ VNCH đã được định đoạt và đã gõ hồi chuông báo tử cho chế độ này.  Không có tiền đồng nghĩa với đói và chết.  Đây là cú sốc rất lớn cho Nguyễn Văn Thiệu và cũng từ đó Nguyễn Văn Thiệu trở nên hoảng loạn đi đến quyết định co cụm,   liệu cơm gắp mắm,  sống ngày nào hay ngày ấy là “rút lui chiến thuật, tái phối trí lực lượng” phổ biến trong cuộc họp tướng lãnh  tại Cam Ranh ngày 14.3.1975.

VNCH phải chết khi kẻ nuôi dưỡng nó chết,  chẳng phải ai bức tử nó, chẳng ai bán nó,cũng  không phải bu nó ghét bỏ gì nó rồi bỏ rơi nó,  mà là bu nó  chết rồi dìm nó chết theo. Cả hai bu con đều bị bức tử dưới sức mạnh của toàn dân VN.

Bức tử, bị bỏ rơi, bị phản bội, bị bán đứng,  là lời than vãn  mà cờ vàng  thường trách bu. Họ không thể đủ sáng suốt để nhận ra rằng bu không bao giờ muốn họ tử. Tiền bu đâu phải tiền trên trời rơi xuống mà là tiền của dân Mỹ,  bỏ bao nhiêu tiền của kể cả sinh mạng của mình để nuôi dạy nó mà nó lăn ra  tử thì bu ăn nói thế nào với dân Mỹ đây ?  Cho nên bu luôn muốn nó là một tay sai thực sự mạnh để giúp bu bớt gánh nặng. Nhưng lực bất tòng tâm, bu không thể cứu lấy nó được, bu chỉ cố cứu lấy mình cứu lấy cái danh dự nước Mỹ.

Người  bức tử chế độ cờ vàng  chính là nhân dân VN, Sức mạnh chiến đấu từ lòng yêu nước  của nhân dân VN đã  bức tử cả hai bu con, bức tử cả những tướng lãnh mà họ đang tôn vinh là anh hùng.

Cái khác biệt lớn giữa bu con VNCH  là bu nó thì thừa nhận đã thua phải bỏ của chạy lấy  người chỉ mong CS nới tay để bu nó gỡ gạc được  chút sĩ diện. Còn nó thì dù nó có bị đối phương tuột quần banh xà rông nó vẫn bảo nó không thua, nó bị “bức tử”, nó bị “cưỡng chiếm”  , nó bị phản bội, nó bị bán. Nó vẫn anh  hùng nó vẫn còn quốc gia, nó vẫn còn lá cờ vàng, nó vẫn còn “quân lực”. Không phải nó  nói chơi cho vui mà nó thực sự nghĩ như thế, đó mới là điều quái kỳ đời.

Thế giới này đang hiện diện một “quân lực” không  hề đụng hàng từ Đông chí Tây từ  cổ chí kim. Quân thì không ai dưới 60 tuổi, lực thì là súng nhựa đeo lủng lẳng cầm cờ vàng xếp hàng diễu binh, Xe thì  xe lac xon chạy vòng vòng để “biểu dương lực lượng” cho Mỹ nó coi mỗi lần đến “ngày quân lực”. Đó chính là “quân lực “ VNCH.

“Quân lực” VNCH đang biểu diễn trên đường phố Mỹ

“Quân lực” này đang thờ 5 vị “anh hùng vị quốc vong thân” toàn là những anh hùng chết trong nhà, nếu không phải tự tử thì cũng bị tử hình chẳng có ai hy sinh vì ra sức chiến đấu bảo vệ cho lá cờ vàng.

Ta hãy điểm sơ qua những anh hùng của họ “vị quốc vong thân”  như thế nào.

Phạm Văn Phú :

Phạm văn Phú là Thiếu Tướng Tư Lệnh Quân đoàn 2. Những tính toán sai lầm của Phú đi đến kết cuộc mất Ban Mê Thuột. Sốc, uất ức vì bị Nguyễn Văn thiệu đổ hết trách nhiệm trong việc thất thủ Tây Nguyên cùng với việc bị thất sủng, phải bàn giao quân đoàn 2 của Phú  sáp nhập vào quân đoàn 3.  Ngày 2.4.1975 trong lúc chờ bàn giao quân đoàn 2 cho Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu tư lệnh phó quân đoàn 3,  Phú đã  rút súng tự sát tại Lầu Ông Hoàng ở Phan Thiết nhưng bị cản lại. Bị tước quyền, Phú rất đau và căm, cho rằng Phú bị coi thường và bị sỉ nhục. Không chịu nổi những áp lực và thấy trước cái chết của chế độ cờ vàng  Phú uống  thuốc độc chết 28 ngày sau đó.

Như vậy người  “bức tử” Phạm Văn phú chính là Nguyễn Văn thiệu. Phú không hề “vị quốc vong thân” mà tự tử vì quá phẫn uất và thất vọng.

Trong bài bút ký” Những bí mật về trận thất thủ Ban Mê Thuột”  Lữ Giang đã viết theo lời kể của Đại Tá Phạm Duy Khang rằng sau khi đại tá Luật tỉnh trưởng  Ban Mê Thuột bị bắt, vợ  Phạm Văn Phú đã cử Thiếu Tá Phạm Huấn  đến gặp đại tá Phạm Duy Khang (người được tướng Phú dự định  thay thế đại tá Luật)  cho biết rằng muốn làm tỉnh trưởng Ban Mê Thuột phải cam kết rằng sẽ chia cho bà Phú 20% số tiền tái thiết. Cuộc thương lượng không thành chức tỉnh trưởng Ban Mê Thuột được giao ngay cho Đại Tá Trịnh Tiếu.

Bà vợ ông tướng mà có thể quyết định được việc bổ nhiệm một tỉnh trưởng. Chi tiết trên cho thấy anh tướng này này chẳng thể nào “vị quốc cờ vàng” cho được

Lê Nguyên Vỹ:

Lê Nguyên Vỹ là chuẩn tướng tư lệnh sư đoàn 5 bộ binh. Sau khi nghe lệnh đầu hàng từ Dương Văn Minh, ngoài kia đối phương bao vây căn cứ Lai Khê khóa chặt hai cổng phía Nam và phía Bắc, bắc loa phát lời Dương Văn Minh kêu gọi buông súng và kêu gọi tướng Vỹ đầu hàng dồn dập, Lê Nguyên Vỹ hoảng hốt ra lệnh cho binh sĩ treo cờ trắng trước cổng căn cứ rồi rút sứng tự tử.

Treo cờ trắng đầu hàng nhưng vẫn là anh hùng cờ vàng như thường chỉ vì dám anh dũng tự tử. Sở dĩ Vỹ tự tử vì Vỹ  không còn chạy đi đâu được,  Tâm lý chiến cờ vàng đã gieo vào đầu vị tướng này cái thảm họa ghê gớm nếu lọt vào tay CS nhất là đối với một vị tướng tư lệnh như Vỹ. Tự tử là cách lựa chọn để tránh sự trừng phạt.

Lê Văn Hưng:

Hưng thực sự nổi lên dưới mắt Nguyễn Văn Thiệu từ năm 1972 với thành tích tử thủ An Lộc và được vinh thăng chuẩn tướng. Trận này Hưng cũng được đối phương mổ xẻ rất nhiều. Năm 1974 Hưng được bổ nhiệm làm tư lệnh phó quân đoàn 4 và vùng 4 chiến thuật. Ngay khi nhậm chức Hưng đã tung ra những cuộc hành quân tảo thanh càn quét gây tổn thất lớn choViệt cộng. Tháng 2.1975 Hưng mở chiến dịch lớn tấn công mật khu U Minh của đối phương bằng tất cả những gì có trong tay và vũ khí đạn dược còn lại. Là một chỉ huy quân đoàn nhưng Hưng lại không thể biết được những toan tính ở cấp trung ương, không biết được tình hình chiến sự các nơi khác và không biết SaiGon đang hấp hối.  Cho nên đến ngày 29.4.75  Hưng rất ngỡ ngàng khi những sĩ quan cao cấp không quân hải quân lần lượt đào  ngũ bỏ chạy. Là một con chiên có thâm thù với CS,  Hưng toan tính tập họp tàn quân để cố thủ nhưng quân lính đã tan hàng. Thất vọng, quẫn trí và lo sợ sẽ bị cách mạng trừng phạt Hưng đã tự tử tại tư dinh.

Nguyễn Khoa Nam:

Nguyễn Khoa Nam là Thiếu Tướng tư lệnh quân đoàn 4 và vùng 4 chiến thuật. Sau khi nghe tin Hưng đã tự tử Nguyễn Khoa Nam cũng tự tử.

Cả Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng đều tự tử bằng súng ngày 30.4.1975. Sự tấn công vũ bão của quân giải phóng khiến chính quyền Sai Gon náo  loạn nhưng miền Tây vẫn yên tĩnh. Đã có lúc nhiều chính khách đã có ý chọn Cần Thơ làm thủ phủ để cố thủ giữ vùng 4 chiến thuật. Nhưng Sai gon sụp đổ và quân đội VNCH tan rã quá  nhanh làm cho những tướng lãnh dù có ý định chống lại cũng không thể làm gì được. Đó là số phận của Lê Văn Hưng và Nguyễn Khoa Nam. Việc tự tử của các tướng Hưng và Nam hệ quả của sự  bế tắc hoảng loạn và lo sợ.

Hồ Ngọc Cẩn:

Hồ Ngọc Cẩn là Đại Tá tỉnh trưởng tỉnh Chương Thiện. Tỉnh Chương Thiện được lập ra từ thời Ngô Đình Diệm nhằm bảo vệ Cần Thơ và vùng 4 chiến thuật đồng thời kiểm soát cửa ngõ U Minh. Sau khi hiệp định Paris ký kết Chương Thiện là điểm nóng nhất của vùng 4 chiến thuật bởi  kế hoạch giành dân chiếm đất, tràn ngập lãnh thổ của Nguyễn Văn Thiệu. Ngay sau khi Hiệp định Paris bắt đầu có hiệu lực (28/1/1973) Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: “Không thi hành Hiệp định Paris – không hòa bình – chống hòa hợp với cộng sản.” Thiệu ra lệnh cho quân đội tiếp tục đánh tới, lấn đất giành dân cắm cờ cùng khắp – tràn ngập lãnh thổ. “Nếu Việt cộng dùng súng lục thì Quốc gia trả lời bằng súng cối, súng đại bác“.

Ngày 2/2/1973, Bộ Tư lệnh vùng 4 chiến thuật và Quân khu 4 triệu tập các sĩ quan chủ chốt và  chính quyền các cấp phổ biến ý kiến Nguyễn Văn Thiệu về Hiệp định Paris và tuyên bố:

“Trên hòa bình – dưới chiến tranh, xử bắn người nào hoan hô hòa bình, xử bắn lính trốn, bỏ tù những gia đình binh sĩ có con em bỏ trốn, buộc nhà dân phải treo cờ quốc gia trước nhà, trên ghe xuồng, sơn cờ trên mái nhà, rồi mời ủy ban quốc tế đến xem và xác nhận cho vùng kiểm soát của VNCH. “

Hồ Ngọc Cẩn đóng vai trò rất lớn trong việc bình định, giành dân lấn đất của Nguyễn Văn Thiệu và do đó gây ra rất nhiều nợ máu. Ngày 30.4.75 trong khi mọi nơi đã buông súng, Cẩn không lường hết được tình hình và sức lực mà vẫn ra lệnh chống trả. Kết cục là Cẩn bị bắt sống và bị xử bắn tại sân vận động Cần Thơ.

Cái chết của Cẩn là một sự đền tội. Các sĩ quan khác cao cấp hơn Cẩn  rất nhiều nhưng vẫn không ai lĩnh án như Cẩn điều này cho thấy Cẩn đã gây quá nhiều tội ác. Quân và dân vùng Chương Thiện  không ai không biết đến tội ác của viên tỉnh trưởng khét tiếng này, có kế hoạch trừ khử Cẩn từ lâu nhưng không thành công phải chờ đến trận đánh cuối cùng.

Cái chết của Cẩn được biến hóa thành anh hùng vị quốc vong thân của cờ vàng và được phát tán rộng rãi bởi tấm hình Cẩn bị xử bắn. Đây là tấm tình được sao chép và sửa chữa lại từ bộ phim “Cọp Rằn Chương Thiện”sản xuất ở hải ngoại  do Trần Hùng đóng vai Hồ Ngọc Cẩn và Mỹ Huyền đóng vai du kích Việt Cộng

Tấm hình Cẩn bị xử bắn  được phát tán rộng rãi trong cộng đồng cờ vàng nhưng không bao giờ ghi xuất xứ khiến nó trở thành một hình ảnh thực trong suy nghĩ của cộng đồng cờ vàng. Hơn nữa họ còn gắn vào mồm Hồ Ngọc cẩn những câu nói đầy khí khái cờ vàng làm cho tên tuổi của Cẩn trở thành anh hùng  của VNCH.

“Nếu tôi thắng trong cuộc chiến, tôi sẽ không kết án các anh như các anh kết án tôi. Tôi cũng không hạ nhục các anh như các anh bôi lọ tôi. Tôi cũng không hỏi các anh câu mà các anh hỏi tôi. Tôi chiến đấu cho tự do của người dân. Tôi có công mà không có tội. Các Anh Không ai có quyền kết tội tôi. Lịch sử sẽ phê phán đoán các anh là giặc đỏ hay tôi là ngụy. Các anh muốn giết tôi, cứ giết đi. Không cần phải bịt mắt.và hô to” Đả đảo cộng sản. Việt Nam Cộng Hòa muôn năm”

Nhìn tấm hình anh cán binh CS cấm súng chĩa vào đầu Hồ Ngọc Cẩn nếu tinh ý một chút thôi cũng có thể nhận ra đây không phải cảnh ở sân vận động nơi Cẩn thi hành án. Anh cán binh CS quấn khăn rằn, đầu chải chuốt bóng mượt lại cầm cây colt 45  của VNCH để xử bắn là điều không thực tế và rất khôi hài. Tấm hình thứ hai là hình màu được chụp góc thấp, chụp cận cảnh không thể là khoảnh khắc  thời sự và cũng không thể có được vì năm 1975 chưa có phim màu ở VN. Không có ai có thể đến gần cầm máy chụp ở góc và cự li ấy trong lúc đang hành quyết.

Moi những tướng lãnh tự tử ra rồi tô vẽ  tôn làm anh hùng, thậm chí còn làm giả những tấm hình để gây xúc động, dân cờ vàng muốn cho mọi người thấy rằng cờ vàng cũng có lý tưởng như ai, cờ vàng cũng có người coi thường cái chết dám hy sinh cho cờ vàng.

Một “quốc gia” mà  còn tiền thì đánh hết tiền thì chạy,  một chính quyền mà  Mỹ muốn chết là phải chết, Một chế độ mà tổng thống của nó có thể bị trừ khử bất cứ lúc nào nếu không làm hài lòng người Mỹ. Một quân đội  mà chức tỉnh trưởng có thể mua được từ một người đàn bà, như thế mà dân cờ vàng cứ lấy đó  làm khuôn mẫu để chiêu dụ người dân và rao giảng  về tự do dân chủ mãi cho đến tận hôm nay.

Nếu muốn sử dụng từ “bức tử” cho nó đúng  với thực tế thì phải nói rằng sức mạnh được hun đúc từ lòng yêu nước và khát khao độc lập của dân tộc ta đã bức tử cái chế độ nô lệ cờ vàng. Chính sức mạnh này đã buộc đế quốc Mỹ phải tháo chạy theo đúng nghĩa,  giành lại nền độc lập cho đất nước, thống nhất được tổ quốc,  nối liền bờ cõi VN, non sông của tổ tiên để lại mà dân cờ vàng luôn mong muốn nó chia cắt mãi mãi..

Đầu bếp cờ vàng và những món “hận”

Xichloviet

Ngồi ghế xa lông,  đọc báo mạng,  tìm những tin tức nào hợp khẩu vị dân cờ vàng, xào nấu lại, đặt cho nó một cái tên, thế là xong. Đó chính là công việc hàng ngày của những anh đầu bếp chống cộng cờ vàng. Công việc này vừa giúp cho các anh xả xú bắp hận thù  vừa có tiền bỏ túi, vừa được tiếng dấn thân làm chính trị lại vừa được tiếng “phục vụ cộng đồng”.

Dĩ nhiên đối tượng khách hàng của những anh đầu bếp này là những người chống cộng, nhưng đầu bếp nào cũng rất mong muốn nhũng món ăn của mình  được người dân trong nước thưởng thức. Thực tế những món ăn của những đầu bếp này  chỉ hạp khẩu vị những anh cờ vàng thứ thiệt chống cộng dai dẳng 37 năm qua và hầu hết là  những anh già đã rất gần với cái quan tài.

Dân cờ vàng  ăn kiêng, kiêng những món ca ngợi VN, kiêng những món “có lợi cho CS”. Khẩu vị của các anh  rất đơn điệu chỉ cần có mùi chống cộng, phải có vị “hận”, xào  nấu làm sao cho nó kích thích được sợi dây thần kinh cay cú hận thù, để hả hê vì chọt được CS  là ngon rồi.

Không ai có thể đếm hết  được những đầu bếp chuyên chế biến thức ăn cho cờ vàng,  nhưng thợ giỏi thì không nhiều. Cùng món “tôn giáo” nhưng mỗi anh chế biến một kiểu. Có anh chế biến  để hạp khẩu vị con chiên, có anh nêm nếm cho nó hạp cái vị cay cú cờ vàng và thế là đủ để ăn khách. Cũng món này nhưng có anh bị tổ trác,  xào nấu nhạt nhẽo lại quá hưng phấn nêm nếm quá tay cho nên cứ thối um cả lên, mà ngay cả cờ vàng cực đoan thứ thiệt cũng không ngửi nổi.

Làm đầu bếp cờ vàng không cần có học nhưng phải có khiếu. Không cần có học nhưng nếu mang bằng cấp học vị ra khoe thì dễ dụ khách hơn. Ở chế độ VNCH  trước đây dù có đi làm ma cô nhưng sang đến Mỹ xưng danh giáo sư cũng chẳng sao, chẳng ai kiểm chứng được, chẳng ai phạt vạ mà lo. Trong chế độ VNCH dạy học lớp 6 là đã được gọi là giáo sư rồi, xưng danh giáo sư chẳng ai biết là giáo sư lớp 6 trường làng hay giáo sư đại học.

Hầu hết   những đầu bếp cờ vàng còn kiếm ăn được ở hải ngoại đến nay là những người có khiếu và thường xuyên  phải rèn tay nghề. Cái bằng tiến sĩ, cái danh giáo sư anh này treo lên đầu anh kia chỉ để trang trí và lòe thiên hạ,  hoàn toàn không cần thiết cho nghề nghiệp. Bởi vì nghề nghiệp chỉ là ăn cắp thông tin và sử dụng cái kiến thức google là đủ. Rất nhiều thợ nấu thành danh không cần học vị, và rất nhiều đầu bếp  học vị đầy người  mà lý luận thì  chó ngửi cũng không nổi vì thích nói láo, và nhất là có cái tâm đểu, cái lòng dạ  lưu manh.

Mới đây các đầu bếp   Phạm Cao Dương và Mai Thanh Truyết cũng   treo trên người cái nhãn giáo sư, tiến sĩ để  hội luận tung hứng với nhau về món “đại họa mất nước” . Các đầu bếp này sau khi lấy tin từ truyền thông trong nước về những vụ ngộ độc thực phẩm, những  thực phẩm độc hại nhập  từ Trung Quốc rồi tán ra rằng chính quyền VN đang làm ngơ cho Trung Quốc xâm nhập thực phẩm độc hại giá rẻ vào VN để đầu độc dân Việt, hậu quả của nó phải đến vài thế hệ mới ép phê, lúc đó thì Tàu thôn tính VN  mà không cần tốn đạn. Những thực phẩm này không thể vào Mỹ được vì Mỹ có sự giám sát chặt chẽ của FDA  cho nên những thực phẩm này lại quay về VN. Những thực phẩm này chỉ hại dân chứ không thể hại cán bộ đảng viên CS được vì hàng năm VN nhập trên dưới 1 tỷ đô la thực phẩm từ Mỹ và Canada để phục vụ riêng đối tượng này. Cuối cùng các thợ này cho rằng đó chính  là “đại họa mất nước”. Những đầu bếp này  còn tán  rằng từ khi chế độ CS cầm quyền mới có dịch SAR, dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng. Đó cũng là những “đại họa”. Mai Thanh Truyết cho  rằng  “nguyên nhân do chính sách cai trị của nhà cầm quyền” (Nguyên văn lời nhấn mạnh của Mai Thanh Truyết )

Toàn bộ nội dung thảo luận của những thợ nấu này chỉ là góp nhặt thông tin từ truyền thông trong nước và phân tích bằng kiến thức google, xào nấu bằng lòng cay cú, rồi đưa suy luận bố láo vào. Chỉ cần một học sinh trung học cũng “hội luận” kiểu này được, chẳng cần gì phải thập thò cái bằng tiến sĩ.. Thế nhưng những kiểu “hội luận” như thế phải khoác áo trí thức rồi phải biết chọn thông tin để ăn cắp, lại còn phải  xào nấu cho khéo mới   tác dụng và có sức lan tỏa trong cộng đồng cờ vàng, cho nên các đầu bếp này  mới có động cơ và có sự khích lệ để hành nghề.

Những “hội luận” bố láo kiểu này thế mà nó được dân cờ vàng khoái chí phát tán nhanh chóng, cũng  bởi vì nó đáp ứng được cái mong muốn da diết là hạ bệ CS.  Bất cứ ai chọt được CS bất cứ vào chỗ nào thỏa mãn được  cái ảo tưởng cờ vàng là được hoan hô.

Dân cờ vàng nghe các thợ này tán như thế mà  vẫn hả hê được với nhau  chứng tỏ rằng  đầu óc cờ vàng đã  xuống cấp thê thảm  lắm rồi. Khi một  não trạng rã rời vì thất vọng và  cay cú rất cần có sự kích thích liên tục để  làm thỏa mãn cái khát vọng trả thù thì cái não trạng này sẽ sẵn sàng dung nạp mọi thứ mà không cần biết nó có lý hay không. Cái não trạng ấy  đã đứt mất cái sợi dây thần kinh lý trí cho nên nó dung nạp như phản xạ. Cũng vì thế cho nên  những thợ nấu cờ vàng vẫn có việc làm đều dặn. Đầu bếp cờ vàng kiểu như Phạm Cao Dương, Mai Thanh Truyết  có không ít ở hải ngoại,  hầu hết  là những kẻ đứt dây thần kinh liêm sỉ,  xào nấu nấu món ăn để kích thích những kẻ đứt dây thần kinh lý trí,  rồi cùng nhau mơ giấc mơ cờ vàng. Cứ thế họ cùng  ký sinh lẫn nhau để cùng sống ảo.

Nghề đầu bếp cờ vàng nhìn qua thấy dễ nhưng không phải ai cũng làm được. Thường thì những món ăn được chế biến từ những đầu bếp mang nhãn “giáo sư” “tiến sĩ” đắt hàng hơn dù rằng những đầu bếp này chưa hề về VN bao giờ, chỉ nhìn VN qua cái lăng kính hận thù, chỉ biết cóp nhặt thông tin của truyền thông trong nước. Công thức chế biến của các đầu bếp cờ vàng nhìn qua thì mỗi người một vẻ nhưng điểm chung nhất vẫn chỉ là chôm chĩa thông tin trong nước,  xào nấu nguyên liệu của nhau và nhất là phải có mùi chống cộng. Thợ “giáo sư” khi chế biến thức ăn cứ lại  phải  chú dẫn là lấy nguyên liệu từ thợ “tiến sĩ” thì nó mới ép phê. Anh “tiến sĩ”  cũng thế, cũng phải dẫn chứng  từ anh “giáo sư”. Món ăn được lấy từ trí thức như thế nên dễ đánh lừa khách hàng vì nó có vẻ như được cầu chứng. Cứ như thế những món ăn chống cộng nó thành một thứ cám heo hổ lốn với nguyên liệu loạn cào cào nhưng cờ vàng ăn hoài mà không biết  chán.

Nguyên liệu chính yếu để xào nấu của các đầu bếp cờ vàng là thông tin ăn cắp của truyền thông  trong nước, thiếu nguyên liệu này thì đầu bếp cờ vàng thất nghiệp ngay. Sở dĩ không thể dùng từ nào khác từ ăn cắp bởi chẳng bao giờ thấy các thợ này dẫn nguồn của thông tin, cứ như là ta tự đi điều tra không bằng. Đài SBTN chiếu hình ảnh thời sự của các đài VN nhưng xóa đi logo của đài rồi ịn vào cái logo SBTN. Một sự ăn cắp trắng trợn. Thợ nấu cờ vàng ý thức được rằng ăn cắp là việc phải làm nhưng không phảỉ chôm  cái gì về cũng được hoan nghênh, mà phải lấy cái gì đừng có dính đến cái cờ đỏ sao vàng mới được, có dính cái này là thực khách lên máu ngay.

Những nguyên liệu thông tin từ truyền thông trong nước  ai cũng có thể thưởng thức miễn phí nhưng muốn hạp khẩu vị cờ vàng thì không thể bê nguyên xi mà phải được  xào nấu lại bằng phương pháp cờ vàng . Những tin tức nguyên thủy trong nước nếu để nguyên xi thì nó lại gây hiệu ứng dị ứng rất nguy hiểm , phải cắt xén nó đi một tí, thêm vào tí gia vị tị nạn, phải kích thích được cái sợi thần kinh ‘hận”  phải châm chích chọt, phải đá giò lái CS, phải chửi thậm tệ chế độ cầm quyền VN thì nó mới có mùi thích hợp.

Nghề đầu bếp hầu hạ cờ vàng  nó cũng có những quy luật của nó, có những món không bao giờ có trong thực đơn, có những món “nhạy cảm” và có cả những món tuy thối nhưng vẫn đắt hàng như thường.   Hình ảnh những xe lội nước đi cứu dân bị lũ lụt  được các thợ nấu xào thành một cuộc đảo chánh bất thành. Thế mà món này kích thích mạnh mẽ  những sợi dây thần kinh ảo tưởng cờ vàng cho nên rất nhiều anh hỉ hả lắm. Trong khi  người trong nước thì ngửi cái món này thối không thể chịu được. Đầu bếp cờ vàng  còn bê nguyên xi hình ảnh lâu đài của các ông hoàng Ả Rập và của bà Butto xào nấu chế biến thành  lâu đài của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng để nêm nếm cho món tham nhũng ở VN thêm ly kỳ hấp dẫn.  Hình ảnh từ báo tuổi trẻ làm phóng sự những trẻ em cơ nhỡ thì  ăn cắp rồi  cắt xén nêm nếm thành những món ăn tố cộng kích thích khẩu vị cờ vàng. v.v…(1)  Không một thủ đoạn nào thợ nấu bỏ qua nếu nó đáp ứng được thị hiếu chống cộng của dân cờ vàng.

Cái khó để thành đầu bếp cờ vàng chuyên nghiệp không phải là  vốn kiến thức, không phải tài cáng,  mà cái cần nhất là phải có cái mặt dày như da trâu mới làm được. Nhưng điều đó vẫn chưa đủ, phải có cái não trang cay cú CS cao độ mới có thể chế biến được những thực đơn kích thích ảo giác của nhau. Phải có cái tâm lưu manh, phải vứt đi cái liêm sỉ, phải có khiếu nói láo và phải biết xem Mỹ như bố.

Các món Bô xít, món Trường Sa Hoàng Sa, món dân oan, được chế biến từ 99,9% thông tin trong nước, nghĩa là chẳng ai cấm cản những thông tin này, nghĩa là người ta đã biết cả rồi, nghĩa là chính quyền VN không cần bưng bít giấu diếm.  Trong nước có cả trăm chuyên gia thứ thiệt phân tích rồi , nhưng phải qua tay đầu bếp cờ vàng thì nó mới  trở thành món ăn rất hấp dẫn với dân cờ vàng vì nó được thêm thắt gia vị cay cú,  nêm nếm thêm cái vị đả kích CS mới có thể  làm tê tái cái thần kinh ảo giác cờ vàng.

Đầu bếp cờ vàng biết rất rõ dân cờ vàng thích gì để xào nấu cho vừa miệng. Thích mách bu, thích hát cho bu nghe thì có món thỉnh nguyện thư. Thích món “dân oan” thì có món  Tiên Lãng Thái Hà. Thích món “tôn giáo” thì  moi Nguyễn văn Lý ra để cho cả dòng dõi con cháu cờ vàng  kính cẩn gọi Lý bằng cha. Có một dạo, đầu bếp cờ vàng rao món “bất tuân dân sự” của Thích quảng Độ (2) rồi tán rằng đó là cuộc biểu tình tại gia bất bạo động, xã hội sẽ rồi loạn. CS sẽ điêu đứng.  Thế mà cờ vàng cũng xúm nhau bốc thơm rồi rít.

Đến thời điểm này mà những thợ nấu vẫn chế biến được  cái món ăn tạo ảo giác rằng 80 triệu dân VN đang quằn quại sống lầm than trong ngục tù bạo tàn CS, chế độ CS đang rách nát tả tơi và cờ vàng sắp cắm ở saigon tới nơi rồi. Thế mà nó vẫn ăn khách.

Tưởng chừng như thế giới phẳng ngày nay làm cho cờ vàng mở mắt được đôi chút để nhìn ra thế giới mà ngẫm lại mình,  nhưng cái  sự thù hận,  cái sĩ diện hão huyền, cái sự chai cứng của bộ não làm cho dân cờ vàng cứ mãi sống chui rúc trong nỗi niềm cay cú. Chẳng có dân cờ vàng nào thú nhận mình chống cộng vì hận, mà luôn nói tới tiền đồ đất nước cho nó sang, cho nó có vẻ cao thượng . Quan tâm đến tiền đồ đất nước nhưng lại muốn Tàu nó đánh đất nước mình  giúp mình lật đổ CS. Không thừa nhận mình chống cộng vì hận nhưng lại tổ chức  “đại lễ quốc hận” để nuôi dưỡng nỗi niềm cay cú CS. Không thừa nhận là hận nhưng ra sức truyền cái hận cho con cháu rằng  phải biết nuôi dưỡng thù hận để thay cha ông hẹn ngày phục quốc. Đứa nào chưa hận phải làm cho nó hận .

Đã mang căn cước tị nan là phải hận,

Thằng nào không hận thằng đó là Việt Gian.

Thằng nào miệt thị cờ vàng  là tay sai cộng sản.

Bất cứ  ai từng đến VN ngày nay đều  nhận ra rằng hầu hết người dân Việt   đã để lại quá khứ đau buồn thời chiến tranh ở phía sau và nhìn về phía trước. Những người từng tham gia cuộc chiến, những người từng bị  mất mát trong chiến tranh cũng nhìn quá khứ  như một phần đời đau buồn đã qua để rút ra những bài học, để  suy gẫm,  để an ủi và cũng để tự hào. Không còn ai bị ám ảnh bởi  hận thù . Không còn ai bận tâm với việc trả thù. Có thể nói không có gia đình VN nào là không bị mất mát bởi chiến tranh. Thế nhưng không còn ai oán trách kẻ thù dù ở phía nào đi nữa. Dường như mọi người đều cho rằng đó là cái giá phải trả cho nền độc lập hôm nay.

Một nhà báo Mỹ bà Marissa Roth đã vô cùng ngạc nhiên khi những người VN nạn nhận của tội ác của Mỹ thản nhiên với nụ cười kể lại những gì họ trải qua trong chiến tranh không một chút thù hận. Bà đem điều ngạc nhiên này này hỏi Charles M. Chuck Searcy một cựu binh Mỹ tại VN và được trả lời rằng “Vietnamese people are very tolerant” (Người Việt rất khoan dung).

Những người Mỹ từng trực tiếp gây tội ác tại Mỹ Lai khi trở lại chiến trường xưa đều ngạc nhiên khi nhận được những cái bắt tay tha thứ rất độ lượng. Những cựu tù Phú Quốc gặp lại những hung thần, những con quỷ dữ đã từng tra tấn mình dã man cũng đã quên đi sự thôi thúc trả thù  tưởng chừng không bao giờ có thể tha thứ được.

Bản chất của người VN là dũng cảm kiên cường bất khuất không chịu khuất phục kẻ thù nhưng không thù dai, rất vị tha, và luôn bao dung độ lượng. Dân gian có câu “đánh người chạy đi chứ không đánh người chạy lại” nói lên được điều này.

Người Việt bao dung nhân hậu như thế, nhưng ta giải thích ra sao về cái sự thù dai suốt 37 năm của dân cờ vàng dù họ cũng mang trong người dòng máu Việt?  Có bao nhiêu người trong số dân cờ vàng này có có những tổn thương ghê gớm do CS gây ra đến nỗi họ  mang trong lòng thù hận dai dẳng  đến như thế ?  Chắc không có bao nhiêu. Thế mà năm nào cũng “đại lễ hận” 37 năm rồi.

Lại đến mùa “quốc hận “ của dân chống cộng cờ vàng. Đang là thời điểm để các đầu bếp cờ vàng chế biến các món “hận” Đây là món ăn hàng năm không thể thiếu đúng ngày đất nước thống nhất.

Có hận trào đờm có tức ói máu thì cũng  chẳng làm gì được ai.  Hận nhưng cờ vàng vẫn  biết phận hèn phải bó tay không thể trả thù thế mới đau, mới nhục. Con cháu thì cứ trơ trơ chẳng biết hận là gì.  Thế mới cay. Hận mà  đoàn kết lại và có ý chí  thì có khi nó cũng gây nguy hiểm cho đối phương, nó cũng có  sức mạnh để trả thù nếu có quyết tâm. Nhưng hầu hết  dân cờ vàng mồm to nhưng gan lại bé tí, thấy thấp thoáng lá cờ đỏ sao vàng cũng sợ,  suốt ngày chỉ lo chửi nhau chụp mũ nhau  thì trả thù cái nỗi gì. Thế thì hận để làm chi?   Xưa kia còn đủ súng đạn máy bay tàu chiến và từng nổ rằng quân đội hạng tư thế giới mà còn cởi quần vắt giò lên cổ chạy thì ngày nay với vài cây súng nhựa mà cứ cố mơ cắm cờ vàng ở Sai gòn.

Nhưng phải có những người như thế thì những thợ nổ, thợ nấu cờ vàng  mới có đất kiếm ăn và tồn tại đến nay.

Hận mà không trả thù được thì nó tức ấm ách ghê  lắm, nó đọng lại trong người cái nỗi niềm cay cú bất trị xả không được mà nuốt không vô. Cay cú cũng  chỉ biết ôm vào lòng  để gậm nhấm nỗi căm hờn. Đã đau còn đau thêm, đã cay còn thêm vị đắng.

Cho đến hôm nay những món  “hận” của đầu bếp cờ vàng vẫn là kể tội CS, vẫn là trách bu bỏ rơi,  vẫn là than vãn nỗi khổ vượt biển. Bao nhiêu năm qua vẫn thế.

Cả nước đang tưng bừng hân hoan chào mừng ngày thống nhất đất nước. Nhưng dân tộc càng mừng thì càng làm trào dâng thêm nỗi hận cờ vàng.   Xin được hỏi các anh cờ vàng rằng cứ đến ngày toàn dân ăn mừng thống nhất đất nước  thì các anh lại làm “đại  lễ cay cú”  là thế nào?  Tại sao các anh cứ lại cay cú trong cái ngày  nước nhà thống nhất? Dù sau này CS có còn hay không thì ngày 30.4 vẫn là ngày thống nhất đất nước, vẫn là ngày hội của toàn dân, đó là một thực tế hiển nhiên  không ai có thể nói khác đi được. Các anh muốn đất nước phải chia cắt để sướng thân các anh chăng?

Đến hẹn lại lên, nhân  dịp các anh “quốc hận”  bài thơ dưới đây xin được gửi tặng các anh như là món quà đọc lên cho ngày lễ cay cú của các anh để  mà  tiếp tục gậm nhấm mối căm hờn..

- Gặm một nỗi căm hờn không nguôi được.

- Ta mỏi mòn  nhìn giấc mộng trôi xa.

- Tưởng mới đây mà đã  ba mươi mấy năm qua .
- Ta vẫn nuôi giấc mộng hồi hương để mong ngày phục quốc.
- Nhìn lá cờ vàng mà nước mắt ta không cầm được,
- Ôi  biết  sao vơi  nỗi hận  này.
- Quốc thì chưa phục được mà hận vẫn cứ còn đây .
- Ba mươi mấy lần  quốc hận đã  qua,  mà ta thì vẫn cứ còn . . .ôm hận.

 

(1) Báo Saigon nhỏ ăn cắp hình ảnh phóng sự  báo Tuổi Trẻ rồi xào nấu thành bản tin tố cộng.

(2) Thích Quảng Độ, kêu gọi toàn dân hưởng ứng một tháng “bất tuân dân sự”.  Nông dân không ra đồng, Công nhân không đến xưởng, Thương gia, Tiểu thương không đến chợ, Sinh viên, học sinh không đến trường. Ý tưởng này có thể so sánh với ý tưởng “cách mạng đua xe”  của Lý Tống

TƯ SẢN BA TÀU TỰ SỰ

XICHLOVIET

Không biết xuất phát từ đâu và từ bao giờ, người VN gọi chúng ta là “Ba Tàu”, là “thằng chệt”  với hàm ý phân biệt đối xử và miệt thị. Có lẽ họ còn hận cha ông chúng ta ngày xưa đã đặt ách thống trị cả ngàn năm lên đất nước này. Và cũng có thể họ ghen tức với sự thành công của chúng ta tại miền Nam trước đây.

Dù cho ngày nay hai nước có 16 chữ vàng để vuốt ve nhau, dù cho người ta hát lên những bài ca hữu nghị núi liền núi sông liền sông để ca ngợi nhau, dưới mắt người dân VN  chúng ta vẫn là là “Chệt Ba Tàu ăn rau sình bụng”

Hoa Kiều Saigon chúng ta ở Chợ Lớn từng có một thời hoàng kim, từng có tiếng tăm lẫy lừng trước ngày 30.4.1975.  Ngày xưa cha ông chúng ta qua đây để chạy loạn và cũng để kiếm sống. Đất nước VN đã nối tiếp bao thế hệ chúng ta kể từ những người di cư đầu tiên vào thế kỷ thứ 3 trước công nguyên. Người Hoa Chợ Lớn của chúng ta chỉ mới định cư từ  thế kỷ 19 khi người Pháp tuyển mộ hàng loạt phu đồn điền. Năm 1949 khi Tưởng Giới Thạch thua ở lục địa, một số người Hoa chúng ta di cư sang VN chẳng khác gì  những người Mỹ gốc việt ra đi năm 1975

Cha ông chúng ta tha phương cầu thực đến đây lấy sức làm phu,  bán mồ hôi cho chủ đồn điền để kiếm sống, hay oằn vai với gánh ve chai trên lưng, và cũng từ gánh ve chai đó mà  hôm nay thế hệ chúng ta đã thành đạt trên đất nước này. Dù chúng ta nói tiếng Việt rành hơn là tiếng mẹ đẻ nhưng chúng ta vẫn luôn tự hào và hãnh diện rằng ta là người Trung Hoa vì  tổ quốc Trung Hoa chúng ta đã vươn lên hàng đầu thế giới về nhiều mặt.

Đất nước chúng ta có rất nhiều điểm giống với VN. Cũng da vàng mũi tẹt cũng văn hóa Á Đông, cũng tương đồng về tập quán tín ngưỡng, giống nhau về thể chế chính trị và ta cũng có một bộ phận không chấp nhận CS sống riêng biệt ở Đài Loan.

Người Việt ở Mỹ cũng bỏ nước ra đi như chúng ta nhưng có điều lạ là trong số họ có những nhóm người rất ồn ào   không hề tự hào về đất nước họ dù rằng VN ngày nay đang được cả thế giới khen ngợi. Họ đến Mỹ cũng y như cha ông chúng ta ngày xưa chỉ với bộ quần áo trên người, nhưng họ sướng hơn cha ông chúng ta rất nhiều vì nước Mỹ có những chính sách an sinh xã hội rất tốt cho nên họ không phải quảy trên lưng gánh ve chai. Tuy nhiên họ không dám cam đảm như chúng ta để nhận rằng họ bỏ nước ra đi vì nạn đói kém sau chiến tranh ở VN mà họ cho rằng họ bỏ nước ra đi không phải vì đói mà vì tị nạn CS, nói như thế nó mới chính trị, nó mới sang. Thừa nhận chạy trốn đói tha phương cầu thực thì quá tầm thường.

Phải chăng cuộc sống tốt ở Mỹ đã làm thay đổi nhân cách của họ. Phải chăng không phải quảy gánh ve chai, không phải lo mưu sinh  cho nên họ mới có thì giờ tụ tập nhau lại để cùng nhau đốt lửa hận thù. Họ chống lại đất nước họ thậm tệ, họ không muốn nước họ giàu lên, họ chống lại bất cứ điều gì làm cho nước họ phát triển và thật khó hiểu  là họ còn muốn nước  chúng ta phải xâm lăng nước  họ cho dân họ lầm than thì họ mới hả dạ.

Cha ông chúng ta tha phương cầu thực rồi định cư ở VN vì đây là đất lành, chúng ta lập ra những bang hội để giúp nhau, sự đoàn kết giúp chúng ta tồn tại và giàu có. Chúng ta ra sức làm ăn cần mẫn để phát triển và hướng đến tương lai con cháu, chúng ta đã thành công nhưng bao đời nay chúng ta vẫn luôn mơ về tổ quốc.

Phải nói rằng thời cực thịnh của chúng ta là thời trước 30.4.1975. Chúng ta cám ơn chế độ VNCH, chế độ  mà những người Việt chống cộng ở Mỹ  đang tôn vinh. Chế độ này  đã giúp cho chúng ta ăn nên làm ra và nắm giữ một tỷ lệ rất quan trọng của nền kinh tế. Nhờ chế độ này mà từ gánh ve chai của tiền nhân,  chúng ta đã nắm giữ và kiểm soát hầu như toàn bộ các vị trí quan trọng của nền kinh tế miền Nam VN đặc biết trong 3 lãnh vực, sản xuất,  phân phối,  và tín dụng. Đến cuối năm 1974, chúng ta đã  kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện…và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập cảng. Ỏ miền Nam VN Hoa kiều chúng ta gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường.  Người Việt cứ khen rằng chúng ta giỏi thương mại nhưng không hẳn thế. Chính cái chế độ VNCH đã quá  ưu đãi chúng ta và trong chế độ này bất cứ điều gì chúng ta cũng có thể mua được bằng tiền.

Trước 30.4.75 chúng ta đã mua đứt suốt mọi thời kỳ cái ghế quận trưởng quận 5 là cái chức quyền lực cai quản vùng Chợ Lớn. Chúng ta mua thông tin từ các bộ, từ các tướng lãnh quân đội, từ các tỉnh trưởng, quận  trưởng, tiểu khu trưởng để nắm thời cơ. Chúng ta mua đứt những gói thầu béo bở , thâu tóm vật liệu chiến tranh,  và hầu hết những mặt hàng thiết yếu của nền kinh tế.

Chính vì vậy Chợ Lớn, thủ phủ  Hoa Kiều tại VN của chúng ta là nơi kiểm soát nền kinh tế miền Nam. Những ông cán bộ nằm vùng CS cư trú trong địa bàn Chợ Lớn an toàn hơn bất cứ nơi nào ở SaiGon. Ngô Đình Diệm cũng chọn Chợ Lớn để ẩn náu khi bị quân đảo chính truy lùng.

Trong những ví dụ cho sinh viên kinh tế, những người giảng dạy thường nêu hình ảnh một con đường có 2  tiệm tạp hóa, một của người VN và một của người Tàu. Một thời gian sau, tiệm của người VN chết trước, cuối cùng chỉ còn tiệm của người Tàu. Người ta lý giải rằng, nếu một thùng dầu lửa mua 20 đồng người VN chỉ bán 20 đồng rưỡi thì người Tàu  bán có 20 đồng xem như không có lãi. Dĩ nhiên người VN chẳng thể hiểu được tại sao và phải dẹp tiệm. Chẳng phải chúng ta có vốn liếng, chẳng phải chúng ta có tài giảm chi phí. Bí quyết nằm ở chỗ chúng ta đục một lỗ kim ở đáy thùng rôì rút  bớt ra nửa lít thế thôi. Sau khi tiệm người VN đóng cửa thì chúng ta bán 21 đồng thậm chí 22 đồng mà vẫn chẳng có ai phàn nàn.

Người Việt không thể cạnh tranh thương mại với chúng ta vì chúng ta đoàn kết, vì chúng ta thừa khả năng làm hàng nhái, hàng giả, thừa ma giáo trong thương trường. vì thế mới có câu nói của người Việt là “Hồng Kông bên hông Chợ Lớn”. Và điều quyết định nhất là chúng ta có cái ô dù rất lớn của chế độ VNCH. Những ông vua lúa gạo, vua sắt thép, những ông trùm hàng quân tiếp vụ đều là người Tàu chúng ta. Chúng ta có khả năng biến hóa giá cả bất cứ mặt hàng nào, chỉ cần một tin đồn chúng ta có thể giải quyết xong hàng tồn kho một sớm một chiều. Chúng ta có khả năng tích trữ rất lớn những mặt hàng khan hiếm để tung ra thị trường khi cần.

Khi ông tướng râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ nhậm chức Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương ông đã nhận ra mối đe dọa từ khả năng  thống trị và lũng đoạn của chúng ta về thương mại, ông ra lệnh tử hình ông Tạ Vinh, một tay trùm lúa gạo người Tàu để răn đe, nhưng một ông Tạ Vinh chết chằng ảnh hưởng gì đến Chợ Lớn, một mình ông Kỳ chẳng thể đội đã vá trời, với đồng tiền chúng ta vẫn phây phây tồn tại.

Nếu nói đến thù hận thì phải nói dân Chợ Lớn chúng ta cùng chung mối thù với những người Việt đang chống cộng tại Mỹ. Ngày xưa,  chúng ta có thể mua được ông bộ trưởng, chúng ta có thể mua đứt cái ghế quận trưởng có thể làm mưa làm gió thương trường ở miền Nam nhưng chúng ta vẫn phải cay đắng bóp bụng đóng thuế đều đặn cho các ông giải phóng nằm vùng mà không thể báo cho cảnh sát và cũng không có cách nào khác, không thể làm gì được nếu muốn yên thân.

Sau 30.4.1975 họ  mở chiến dịch đánh tư sản mại bản mà nạn nhân hầu hết là Hoa kiều Chợ Lớn. Với chế độ này chúng ta chỉ biết tích trữ vàng bạc chờ thời cơ tuy nhiên thời hoàng kim của chúng ta đã thực sự chấm dứt rồi. Năm 1979 khi Trung Quốc tấn công VN, một bầu không khí nặng nề bao trùm cộng đồng Hòa kiều chúng ta. Tất cả những viên chức có chút  chức vụ trong chính quyền đều bị phế truất, Hoa kiều bị phân biệt đối xử và giám sát nghiêm ngặt. Vào những năm này, VN chưa mở cửa thị trường với thế giới nên chúng ta không thể phát huy sở trường của mình là thương mại. Họ cài cắm những cán bộ Hoa vận vào cộng đồng chúng ta để giám sát. Hoa kiều và Thiên Chúa Giáo là hai đối tượng không thể kết nạp đảng.

Trong các tháng 3, 4 năm 1978, khoảng 30.000 doanh nghiệp lớn nhỏ của Hoa kiều bị quốc hữu hóa. Vị thế kinh tế của đa số tư sản Hoa kiều bị hủy bỏ, nhà nước thắt chặt kiểm soát nền kinh tế.

Áp lực nặng nề lên người Hoa chúng ta đến nỗi nhiều người đã sống mấy đời ở VN phải bỏ lại tài sản để về Trung Hoa làm lại từ đầu. 250 ngàn người Hoa đã chạy sang TQ năm 1979 qua biên giới phía Bắc chúng ta gọi sự kiện này là nạn kiều.

Họ cảnh giác với chúng ta là lẽ đương nhiên vì dòng máu Trung Hoa vẫn chảy trong huyết quản chúng ta, nếu xung đột lan rộng giữa nước chúng ta và VN thì chúng ta là mối nguy hiểm tiềm tàng. Những người Việt chống cộng ở Mỹ thường hay nói rằng VN khiếp nhược trước Trung Cộng, là tay sai của người Tàu. Họ chẳng hiểu tí gì về chúng ta, chẳng hiểu gì về chính dân tộc của họ, họ chẳng hiểu tí gì về CS đối tượng mà họ đang chống.

So với chế độ VNCH trước đây, trong chế độ CSVN Hoa Kiều chúng ta như những con hổ bị vặn hết nanh, con cua bị bẻ hết càng. Tinh thần dân tộc chủ nghĩa của người  Việt rất ghê sợ, nếu có chủ trương của chính quyền để kích động bài Hoa thì chắc chắn chúng ta không còn đất sống. Những người lãnh đạo VN hiểu rất rõ vũ khí từ tinh thần yêu nước của dân tộc VN. Họ đã sử dụng vũ khí đó đánh bại người Mỹ mà họ gọi là chiến tranh nhân dân.

Thái độ mềm dẻo của chính quyền VN đối với những tranh chấp căng thẳng với chúng ta ở biển Đông nằm trong sách lược ngoại giao rất khôn ngoan của họ. Họ tự tin vì đằng sau họ là cả một dân tộc anh hùng.

Những nhà lãnh đạo Trung quốc hiểu rõ và  rất e ngại một khi tinh thần dân tộc ở VN được phát động thì làn sóng  bài Hoa sẽ không thể ngăn cản được và  mối nguy hiểm cho Hoa Kiều sẽ gấp  nhiều lần năm 1979. Thế nên mới có chuyện các nhà lãnh đạo hai nước gặp nhau để giảm nhiệt làn sóng chống Trung Quốc trong nước. Những người Mỹ gốc Việt chống cộng hiểu rõ điều này cho nên họ luôn tìm cách kích động bài Hoa để gây xáo trộn trong nước gây khó khăn cho chính quyền,  thỏa mãn khát vọng trả thù..

Những năm tháng VN gọi Trung Quốc là “bọn bành trướng Bắc Kinh” là những năm tháng khổ nạn cho Hoa Kiều chúng ta. Chúng ta phải cố giấu đi cái gốc gác của mình. Con cháu chúng ta mang họ Tàu bị kỳ thị, công chức bị sa thải, bị phân biệt đối xử,  hàng hóa chúng ta bị tẩy chay.

Xưa nay người Việt vẫn không ưa thích người Tàu vì nhiều lý do như ta đã biết. Chính yếu tố này được những người Việt chống cộng ở Mỹ khai thác để kích động lòng dân. Họ kích động dân không phải họ yêu nước mà chống chúng ta. Họ chỉ muốn làm khó cho nhà cầm quyền VN, càng gây rối được họ càng thỏa mãn.  Họ nói chính quyền VN cho chúng ta vào khai thác Bô Xít ở Tây Nguyên là mắc bẫy âm mưu người Tàu, sau này ta sẽ sinh con đẻ cái rồi  thôn tính VN. Họ nói cho chúng ta trúng được những gói thầu lớn vì chính quyền VN  là tay sai người Tàu, khiếp nhược Tàu, phải  dành ưu ái cho người Tàu v.v… Họ đánh lừa và kích động được rất nhiều người Việt yêu nước hải ngoại bằng chiêu bài này.

Nếu là người Hoa sống ở VN ai cũng thấm thía rằng những nhà lãnh đạo VN luôn xem chúng ta là đối tượng cảnh giác số 1. Mỹ tuy đã gây biết bao thảm họa chiến tranh trên đất nước VN, Trung Quốc bỏ biết bao của cải để yểm trợ VN trong cuộc chiến này. Thế nhưng nhân dân và những nhà lãnh đạo  VN ngày nay chẳng ai còn xem Mỹ là kẻ thù mà ngược lại, TQ lại bị xem là mối đe dọa nguy hiểm, là kẻ thù tiềm tàng số 1.

Những chính sách của  VN về ngoại giao và quốc phòng đã cho thấy càng ngày họ càng xích gần đến Mỹ và cảnh giác cao độ với chúng ta. Chợ Lớn ngày nay không còn thời hoàng kim cũ, hàng hóa xuất xứ từ TQ bị kỳ thị, dù có tốt đến đâu vẫn bị xem là hàng kém chất lượng chỉ được giới bình dân sử dụng vì giá rẻ.

Chúng ta đang sống khá bình đẳng với người Việt trong nước nhưng chúng ta vẫn có cảm giác rằng chúng ta là công dân loại 2 vì họ vẫn cảnh giác chúng ta, không tin tưởng chúng ta, vẫn không xếp chúng ta vào các chức vụ quan trọng, không cho chúng ta làm việc trong những ngành liên quan đến anh ninh quốc phòng. Tuyệt đối không có dây mơ rễ má huyết thống người Tàu  khi làm trong những lãnh vực bí mật quốc gia.   Còn nhớ những năm chiến tranh, khi họ còn nhận viện trợ của chúng ta nhưng Miền Bắc  họ không bao giờ cho người Hoa chúng ta đi nghĩa vụ quân sự. Bởi vì họ không muốn có người Tàu tham gia cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của riêng họ và lý do lớn nhất là  vì họ rất cảnh giác với chúng ta.  Thế mà những người Việt chống cộng cứ rêu rao rằng VN đang khiếp nhược và phục tùng TQ. Nói được như thế vì họ không phải là người Tàu để có thể hiểu và thấm thía nỗi niềm cư dân loại 2 như chúng ta và họ cũng không phải là người Việt để có  những cảm xúc tự hào của người Việt.

Họ luôn nói rằng  chế độ CS ở VN là lệ thuộc là tay sai Tàu, là bán nước cho Tàu, là nhu nhược v.v… nhưng họ không biết hoặc cố tình bịt mắt để không thấy rằng chính những người CS luôn tìm các loại trừ những tàn tích văn hóa, ngôn ngữ ảnh hưởng từ người Tàu chúng ta. Họ giảm thiểu đến  mức có thể để hạn chế tối đa những từ ngữ Hán Việt làm cho nó thuần Việt, bình dân,  trong sáng và dễ hiểu. Họ không nói “ quốc gia “ mà họ gọi là “nhà nước”  họ nói “nhà máy nước Saigon” chứ không nói “ Sai gon thủy cục “ như những người VNCH.

Những từ ngữ dịch từ nước ngoài như sofware chẳng hạn họ dịch là “phần mềm” chứ không dịch là “nhu liệu” như những người Việt hải ngoại thích dùng từ Hán Việt. Họ dùng từ “làm sáng tỏ” chứ không dùng từ “bạch hóa” họ dùng từ “người cao tuổi” chứ không nói “niên trưởng” .

Họ nói máy bay chứ không nói phi cơ, họ nói xe bọc thép chứ không nói thiết vận xa v.v … Bất cứ từ ngữ nào nếu Việt hóa được là họ làm , không như những người Việt chống cộng ở Mỹ cứ cho rằng  sử dụng càng nhiều ngôn ngữ Hán Việt mới thể hiện ta là người có học.

Những người chống cộng  luôn chê Việt Cộng  là dốt nát vì không biết sử dụng những từ Hán Việt mà họ cho rẳng như thế mới có học, mới sang. Họ đâu biết rằng chính mình  mới là đầu óc bã đậu. Họ đâu biết rằng chính những người CS đang cố bóc ra những tàn tích văn hóa ngôn ngữ ngoại bang. bảo tồn bản sắc đặc thù của dân tộc họ. Chính những người chống cộng  mới là người vọng ngoại và tôn vinh chúng ta.

Như vậy chúng ta có thể thấy tinh thần dân tộc của những người CS mới là đáng sợ. Những người chống cộng ở Mỹ đối với chúng ta rất tầm thường nhưng họ lại là bạn ta vì cùng chung với chúng ta một kẻ thù. Họ biểu tình chống TQ nhưng mặt trái là họ chống chính đất nước mình. Họ chẳng có gì đáng sợ cho chúng ta, ngược lại ta  cần khuyến khích họ. Họ bài hàng Việt,  chống hàng Việt nhưng chẳng bao giờ họ chống hàng hóa chúng ta, có chống cũng chỉ giới hạn ở  cái mồm hô khẩu hiệu. Nếu có xung đột cần đến nội công ngoại kích thì chính họ là lực lượng chúng ta cần.

Chế độ VNCH là ân nhân của chúng ta, là bệ phóng cho chúng ta một thời, chế độ này tạo ra thời hoàng kim của Hoa Kiều Chợ Lớn. Chế độ này chết đi kéo theo sự chết thảm của chúng ta. Nguyên nhân tận cùng cũng là bởi những người CSVN. Chúng  ta hận họ nhưng chúng ta không cô độc vì chúng ta có bạn là  chính những ngưởi Việt chống cộng ở Mỹ cũng hận họ như chúng ta. Với người Tàu chúng ta, họ là bạn, là đồng minh.

Chúng ta đang ở VN, chống lại nhà cầm quyền là điều dại dột, dường như chẳng có Hoa Kiều thứ thiệt nào chơi dại chống lại nhà cầm quyền, chỉ những anh VN chống cộng ngựa non háu đá hay những anh chẳng hiểu gì về CS mới dại dột tự dẫn mình vào tù.

Còn nhớ những năm đầu sau chiến tranh, chúng ta treo hình Mao Trạch Đông và cờ Trung Quốc ở Chợ Lớn, chúng ta chống lại việc nhập quốc tịch VN ngỡ rằng người Tàu chúng ta đã giúp họ làm nên chiến thắng thì người Hoa Chợ lớn cũng phải có những ưu tiên và được nể nang,  nhưng chúng  ta đã lầm to.  Chính lầm lẫn  đó đã dẫn đến sự kiện “nạn kiều”.

Người Việt chống cộng ở Mỹ đang làm thay những gì chúng ta mong mỏi. Giả dụ rằng  tương lai VN có nghèo đi bởi  những người Việt chống cộng này cố vận động, thỉnh nguyện Mỹ ngưng giao thương với nước họ thành công thì cái công làm nghèo đất nước của  họ sẽ rất đáng được chúng ta ghi nhận, đáng được chúng ta vinh danh và biết ơn. Một nước VN hùng mạnh sẽ  là trở ngại lớn nhất chúng ta vấp phải trên con đường Nam tiến.

Người Việt chống cộng ở Mỹ tự hào rằng họ có một thủ phủ người Việt ở Mỹ như thủ Phủ Hoa Kiều Chợ Lớn một thời. Nhưng không bao giờ họ có được sức mạnh như chúng ta vì ngoài việc chống cộng họ còn bận chống nhau suốt 37 năm rồi. Chính họ làm tổn thương và suy yếu lẫn nhau. Họ không thể có những bang hội đoàn kết   giúp nhau tạo sức mạnh như chúng ta mà chỉ có những hội đoàn chỉ chú tâm việc  phô trương thanh thế và đầy ảo vọng. Họ thích được phô truơng, thích được  khen, được nịnh mà thiếu trầm trọng cái thực chất. Thậm chí họ ảo tưởng họ đang sở hữu một quyền lực khả dĩ có thể làm thay đổi chế độ chính trị ở VN. Họ tâng bốc nhau vinh danh nhau gắn lon cho nhau và tự xem đó là  … quân lực của họ.

Họ chưa bao giờ là một thế lực,  chưa bao giờ là một tổ  chức có quy củ và kỷ luật có thể gây  áp lực gì với chính quyền VN,   nhưng ít ra họ với ta là bạn, Chế độ VNCH của họ với ta là ân nhân, ta với họ có chung những mất mát và hận thù.

Điểm duy nhất chúng ta hoàn toàn khác biệt với họ là chúng ta không có khái niệm về “người Tàu Quốc gia” và “người Tàu Cộng sản” dù rằng nước ta có hoàn cảnh chẳng khác họ bao nhiêu. Chúng ta chỉ có một  tổ quốc Trung Hoa vĩ đại và đó chính là niềm tự hào của dân tộc chúng ta.

NỔ ĐỂ NUÔI MỘNG

Xichloviet

Ngôn ngữ là phương tiện để truyền ý tưởng, là phương tiện giao tiếp của con người. Từ bao đời nay, ngôn ngữ phát triển liên tục mục đích là  là làm sao truyền đạt được đầy đủ nhất ý tưởng của con người. Ngôn ngữ luôn phát triển rất đa dạng và  phong phú theo nhu cầu cuộc sống nhưng cả ngàn năm nay vẫn chưa bao giờ ngôn ngữ đạt được mục đích của nó là truyền đạt 100% ý tưởng. Chính vì thế mới có chuyện “tam sao thất bổn”, mới  có chuyện ta gọi là NỔ trong ngôn ngữ Việt Nam.

Người Việt có ngôn ngữ phong phú vào bậc nhất thế giới cho nên có những từ ngữ chỉ có dân Việt mới có thể hiểu với nhau mà khó có thể dịch sang ngôn ngữ khác. Nổ trong tiếng Việt thì ai cũng hiểu về nghĩa đen, và hầu hết mọi người cũng hiểu nghĩa bóng.

Thông thường theo nghĩa bóng thì người ta hiểu NỔ là nói quá sự thật để khoe khoang, đến nỗi nó bóp méo sự thật. Nổ là một hình thức nói láo để thỏa mãn một mục đích nào đó. Nổ là hạ sách, nổ là cách của kẻ thiếu khả năng thuyết phục người khác. Nó thường bị phê phán như là  là một tật xấu. Tuy nhiên nếu không nổ thì chắc chắn rằng “hào khí cờ vàng “ sẽ biến mất và “tinh thần chống cộng của người Việt Quốc Gia” sẽ như bún thiu.

Phải nổ để hun đúc tinh thần chống cộng,  phải nổ để nuôi dưỡng mối thù không đội chung trời với CS. Dân gian có câu “nổ banh nhà lồng chợ” để mỉa mai những kẻ dốt nát nhưng thích ba hoa cường điệu. Nhưng nó lại quá thích hợp và là sở trường của dân chống cộng cờ vàng.

Một cuộc tập họp tố cộng có thể được nổ là “Hội Nghị diên Hồng” của cờ vàng .

Mặc quần áo si đa đeo súng nhựa ngồi xe jeep lạc xon chạy lòng vòng trên đường phố Mỹ được nổ là duyệt binh quân lực VNCH.


 

Cuộc biểu tình rợp cờ vàng nhưng chỉ có mục đích chống một người duy nhất treo cờ và ảnh lãnh tụ trái với ý mình được cờ vàng nổ là cuộc biểu dương lực lượng  vĩ đại đi vào lịch sử đấu tranh chống cộng, là  thắng lợi to lớn oanh liệt.

Một cuộc vận động thỉnh cầu xin xỏ được  hét lên là “chiến dịch” .

Thế mà nó lại có tác động mạnh  mẽ làm hưng phấn kích thích cao độ những não trạng chống cộng luôn luôn  chỉ muốn trả thù.

Ta còn nhớ có thời gian cờ vàng nổ về “hào khí Lê Công Định”. Người không hiểu chuyện có thể hình dung ra đó một nhân vật  anh hùng  vĩ đại bất khuất kiên cường đang hy sinh vì đại nghĩa và dĩ nhiên đáp ứng được những tiêu chuẩn cờ vàng. Lê Công Định được thợ nổ đưa lên chín tầng mây về học vấn, kiến thức, lòng dũng cảm và nhất là đó lại là một người trẻ trong nước dám  chống cộng. Chính Lê Công Định cũng ảo tưởng rằng cờ vàng là một thế lực bên ngoài có thể làm bệ phóng cho tham vọng của  Định và chính Định cũng đê mê với những lời tâng bốc  “banh nhà lồng chợ” của cờ vàng.

Những tài liệu thu được cho thấy Định mơ là tổng thống sau khi lật đổ CS. Định mơ thành lãnh tụ từ một cuộc các mạng nhung. Định mơ thành nhân vật như Lech Walesa của Ba lan, Định mộng thành minh chủ. Định đã nổi tiếng trong nước ( nhờ cưới được nàng hoa hậu VN) và lại thêm nổi tiếng cả ở hải ngoại ( nhờ các thợ nổ cờ vàng) cho nên Định trở nên hoang tưởng rất  nặng.

Ngay từ đầu những bài viết bày tỏ quan điểm chính trị  của Định trên các trang web BBC, đài RFA, RFI và các diễn đàn cờ vàng  đã gây ngay sự chú ý của bọn phản động lưu vong ,  Định đã lọt vào tầm ngắm và  dính chấu của bọn này.  Định tự tin  rằng với kiến thức về luật được đào tạo bài bản ở trong nước và nước ngoài Định dư sức  chống đối CS bằng những thủ thuật chữ nghĩa, kích động được quần chúng mà không vi phạm luật. Thực vậy, tư tưởng chống đối của Định càng ngày càng lộ rõ quan điểm muốn loại trừ chính quyền CS  nhưng Định vẫn bình yên và lại cứ đều đều thăng tiến.

Định khéo léo tạo hình ảnh mình  như một nguời  có lòng với dân với nước nhưng  bất đồng chính kiến với chính quyền, vừa đủ liều lượng để kích động vừa hạp khẩu vị cờ vàng và cũng  vừa đủ liều lượng để chính quyền không buộc tội được.

Nếu chỉ dừng lại ở việc bày tỏ chính kiến thì có lẽ Định làm cho nhà cầm quyền VN vô cùng  nhức đầu tốn nhiều công sức nhưng không làm được gì Định thật. Tuy nhiên cái tham vọng chính trị to lớn của Định làm cho Định không thể dừng lại ở chỗ đó, và cái hậu quả nằm nhà đá hôm nay chính là xuất phát từ cái tham vọng hoang tưởng của Định,  nó đã làm cho Định không thể dừng lại được ở cái mồm mà buộc phải dấn thân.

Thế là Định phải gắn sâu  vào những tổ chức phản động lưu vong. Định được bơm lên trên các trang web cờ vàng  như là một trí thức trẻ năng động đầy nhiệt huyết  dám ăn nói, một lãnh tụ tiềm năng.  Định được cờ vàng  tô vẽ cho hình ảnh đại diện của trí thức trẻ quốc nội có tinh thần phản kháng và cải cách để tuyên truyền và bốc thơm Định,  thế là Định bắt đầu sống ở trên mây.

Chính cái chất ngựa non háu đá của Định đã dẫn Định vào tù. Chính những thợ nổ hải ngoại đã làm cho Định sống trên mây và tiễn  Định vào nhà đá vì nó làm cho Định luôn sống ảo và đánh giá quá thấp cơ quan an ninh Việt Nam.

Tuy nhiên đối diện với án tù, cái giá quá đắt  phải trả cho giấc  mộng ảo, “hào khí Lê Công Định “ bắt đầu hết khí và  xì hơi nhanh chóng. Định lúc ấy mới thấy hoảng sợ vội “thành thật khai báo xin được khoan hồng”. Khi “hào khí Lê Công Định bị xì hơi, cờ vàng quê độ bèn tung tin chính quyền VN tra tấn dã man Định cho nên Định mới mất toi cái hào khí.

Mới đây những thợ nổ Bolsa lại bơm cho một nhân vật Việt Khang, được cho là một nhạc sĩ bị bắt về tội . . .  sáng tác nhạc.

Bất cứ điều gì nếu nó được uốn nắn khớp với sự hoang tưởng của dân cờ vàng và được thợ nổ châm ngòi kích động đúng lúc là y như là sẽ gây được sự ồn ào trong cộng đồng này. Một trong những sự kiện ồn ào đó là “thỉnh nguyện thư” của cờ vàng gửi Tòa Bạch Ốc, được các thợ nổ Bolsa nâng lên thành “biến cố lịch sử” thành “chiến dịch”, thành  “hào khí Diên Hồng”.

Khởi phát của “thỉnh nguyện thư” này là việc các cơ quan truyền thông và các trang web của dân cờ vàng phổ biến hai bài hát có tính tự sự được cho là của Việt Khang ở Việt Nam thở than vì bị … công an uýnh, và anh này bị bắt giam vì những lời tự sự đó.

Sau khi tuyên truyên phổ biến và kích động,  nhận thấy đã đủ liều, những người “dệt mộng cờ vàng” phát động cái gọi là “chiến dịch thỉnh nguyện thư” để giải cứu Việt Khang gửi Tòa Bạch Ốc mong được  tổng thống Mỹ . . .can thiệp thả Việt Khang,  một người rơm chưa biết ở đâu .

Cho đến nay, ngoài những thông tin từ truyền thông cờ vàng, không ai biết được Việt Khang là ai, bị bắt về tội gì và thật sự có một Việt Khang như thợ nổ hét lên không.. Nếu thực sự có một Việt Khang ở trong nước bị bắt giam, thì chắc chắn rằng tội của anh này không phải ở chuyện sáng tác hai bản nhạc dù là những bản nhạc này chống chính quyền.

Luật pháp VN quy định rất rõ những tội danh phải bắt giam. Những kiểu tuyên truyền chống chính quyền trên mạng interrnet nó nhan nhản hằng ngày, nếu nó không nằm trong tổ chức lật đổ, nếu nó không gây nguy hiểm đến an ninh thì chính quyền VN không cần quan tâm. Cũng như trường hợp của Lê Công Định, nếu  Định chỉ dừng lại ở việc chống cộng bằng mồm thì chẳng sao cả, cái dại của Định là bị các tổ chức phản động lôi kéo vào tổ chức để hoạt động lật đổ.

Nếu thực sự có một Việt Khang đang bị giam thì hoặc là anh ta bị bắt về một tội hình sự nào đó, hoặc có chứng cớ đầy đủ rằng anh ta có tham gia hoạt động lật đổ hoặc tuyên truyền chống nhà nước VN chiếu theo điều 79 và 88 bộ luật hình sự Việt Nam. Điều này đã từng xảy ra đối với nhiều người trước đó như Nguyễn Văn Lỹ, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định, Trần huỳnh Duy Thức, v.v. . . .

Khởi xướng cho “thỉnh nguyện thư” là Trúc Hồ, một nhạc sĩ hải ngoại từng tuyên bố là không tham gia chính trị. Ý tưởng thỉnh nguyện thư được Trúc Hồ giải thích là do “xúc động vì bài hát của Việt Khang”, và từ đó có ý định  muốn giải cứu một đồng nghiệp đang bị CS bức hại.

Trúc Hồ nắm giữ 1 cơ sở tuyền thông là đài truyền hình SBTN, một công cụ rất hữu hiêu để thực hiện ý đồ.  Ý thức  rất rõ những khát vọng của dân cờ vàng, lại đang muốn  gây tiếng vang để lấy điểm tạo tiền đề dễ dàng cho việc xin tiền nuôi dưỡng đài SBTN, Trúc Hồ đã có sáng kiến “thỉnh nguyện thư”.  Ngay lập tức nhiều tay cơ hội nhảy vào và các thợ nổ cờ vàng được dịp thi thố tài năng dụ được đến  130 ngàn chữ ký, một điều bất ngờ cho chính Trúc Hồ và các tay thợ nổ.

Sáng kiến “thỉnh nguyện thư” sẽ không xảy ra  nếu không có sáng kiến của Tòa Bạch  Ốc mở ra trò chơi thăm dò ý kiến,  quy định nếu cộng đồng nào có đủ 25 ngàn chữ ký sẽ được mời tham khảo ý kiến tại tòa Bạch Ốc. Chính điều này mới gợi ý cho các thợ nổ kích thích giấc mơ được gặp trực tiếp tổng  thống để “mách bu”  của cờ vàng .

Từ trước đến nay người ta chứng kiến rất nhiều chuyện ảo trên internet.  Từ những cặp vợ chổng ảo đến tình yêu ảo, mua bán ảo. Tỏ tình trên mạng dễ hơn rất nhiều so với đời thật, và xù cũng dễ hơn. Ý kiến hay chữ ký  được bày tỏ trên mạng dù có bị chửi rủa là ngu dốt cũng chẳng sao vì chẳng ai biết mình, chẳng bị áp lực nào, cái mặt cũng chẳng thể bị dầy lên vì nhục.  Người ta thường tự tin hơn trong môi trường ảo. Môi trường này cũng cho người ta cái cảm giác được ăn cả ngã về không, “được” nhiều hơn mất. Lỡ ngu trên mạng chẳng sao cả, nhưng lỡ ngu ngoài đời thì chỉ có cách lấy mo mà che.

Chích đúng cái huyệt ảo mộng của dân chống cộng cờ vàng và nổ đủ liều lượng, những người phát động “chiến dịch xin xỏ” mừng húm vì kết quả thu hoạch như tát được vụ cá đìa bội thu.

Chiến dịch Điện Biên Phủ của CS tốn hơn hai tháng chưa kể chuẩn bị.

Chiến dịch Hồ Chí Minh cũng phải mất 55 ngày đêm .

Còn “chiến dịch” của cờ vàng thì sao?

Chiến dịch của cờ vàng thì nhiều vô số kể. Chiến dịch chuyển lửa về quê nhà, chiến dịch ủng hộ giáo dân dùng búa kìm xà beng phá tòa khâm sứ đòi lại đất đai  mà  Vatican và Pháp ăn cướp của dân ta, chiến  dịch vận động ủng hộ giáo xứ Thái Hà, Tam tòa làm loạn.v.v… Cái gì cũng có thể thành … dịch được.

“Chiến dịch chống văn hóa vận CS” kết thúc bằng thành tích của người hùng cờ vàng Lý Tống mặc váy xịt hơi cay ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng.

Chiến dịch chống Brian Đoàn nổi tiếng với việc anh hùng Lý Tống rút xì líp phụ nữ  làm vũ khí đấu tranh.

“Chiến dịch” chống Trần Trường vì dám treo cờ và ảnh khác ý cờ vàng tốn  53 ngày là thành tích sáng chói nhất.

“Chiến dịch thỉnh nguyện thư”  mang ý nghĩa cầu khẩn xin xỏ chỉ tốn chưa đầy một tuần đã đạt đủ chữ ký “mách bu”.

Những thợ nổ đã cho đó  là những “biến cố lịch sử” vĩ đại của cờ vàng và được nổ vang rền khắp cộng đồng cờ vàng thế giới.

Các “chiến dịch” của cờ vàng xưa nay được tổng kết chưa hề thấy nhận thất bại nào dù mấy chục năm qua chẳng làm rụng được 1 cọng lông chân của CS. Duy nhất chỉ có chiến dịch xin xỏ bu can thiệp cho Việt Khang được tuyên bố  là “huề”.

Các thợ nổ cờ vàng cứ nghĩ bàn cờ chính trị giống y như bàn cờ tướng ở thương xá Phước Lộc Thọ có thể xin “hườn” được dễ dàng. Thế nên các thợ nổ cứ vô tư nổ mà quên rằng đối với dư luận thì “hạ thủ bất hườn” cho nên dù có tuyên bố  là huề chăng nữa thì cũng chẳng gỡ lại được bàn cờ thua tan tác.

Thế nên mấy hôm nay dân Bolsa được dịp “lẳng lặng mà nghe chúng chửi nhau” bằng thứ ngôn ngữ đặc sệt văn hóa chống cộng cờ vàng, đổ lỗi cho nhau, đổ lỗi tại bu nhưng vẫn vênh váo tự cho mình  là một thế lực. Một thế lực ngu nhưng  nguy hiểm đối với những ai dám xem thường lá phiếu của 130 ngàn, 150 ngàn 170 ngàn thậm chí 300 ngàn cờ vàng. ( bom của cờ vàng Việt Dũng)

Nổ để tự bơm tinh thần cho nhau, nổ để nuôi mộng ảo là chuyện thường xuyên của cờ vàng chẳng ai lạ lùng gì. Nhưng nổ đủ sức “banh nhà lồng chợ” thì phải có trí tưởng tượng siêu việt  như thợ nổ Nam Lộc mới nổ được rằng tổng thống Mỹ “xin” được gặp cộng đồng cờ vàng.   Việt Dũng và Nam Lộc hẳn phải có quả bom thúi với năng lượng cỡ megatone mới có thể nổ được như thế. Thế mà thật là lạ, vẫn có cử tọa vỗ tay thích thú tán thưởng khen thơm.

VỠ MỘNG

xichloviet

Phải có “mộng” thì mới có việc “vỡ”.  Mộng càng cao khi vỡ thì càng đau. Mộng thì ai chẳng có ,và ai cũng đã hơn một lần vỡ mộng. Thế nhưng vỡ mộng nhiều nhất và cay cú nhất không thể ai hơn được mộng “cờ vàng.”

Từ việc “mộng” dân cờ vàng làm những chuyện xưa nay hiếm so với các chủng tộc khác trên đất Mỹ mà chỉ có cộng đồng người Việt mới hiểu nổi, chính là bởi mộng này không được xây dựng từ những khát khao đời thường mà từ những hoang tưởng do hận thù sinh ra.

Đã có mộng thì ắt sẽ có người lợi dụng sự khát khao đó  để khai thác trục lợi, bằng cách làm  cho người mộng tưởng rằng mộng sắp thành đến nơi rồi mà giá phải trả cho nó thì  quá rẻ. Người dệt mộng cho người ta để thu lợi phải biết rõ  tâm lý khách hàng và chọn thời cơ thích hợp. Nó cần có khiếu và có thủ đoạn.  Được mách bu và được đích thân bu vỗ về là giấc mộng của cờ vàng. Mộng đơn giản nhưng là mộng không bình thường, mộng khó thành, cho nên cứ ai đưa ra được kế hoạch hấp dẫn để mơ là cờ vàng sướng lắm.

Dựa vào tâm lý rất nhiều người còn ôm mộng cờ vàng, mới đây một số người đã tạo ra chiếc bánh vẽ vô cùng hấp dẫn cho dân mộng cờ vàng là được mách bu trực tiếp với tổng thống Mỹ. Những người chủ xướng này có lợi thế về truyền thông đã tạo ra chiếc bánh vẽ rất hoàn hảo làm cho dân cờ vàng có cảm giác bềnh bồng hạnh phúc và thấy mộng và thực đã dến rất gần nhau rồi mà mỗi người chỉ cần làm công việc đơn giản là ký vào một bản thỉnh nguyện thư gửi cho ông Obama. . Họ đã thành công ngoài mong đợi.

Vỡ mộng đã quá nhiều, bị lừa cũng quá nhiều, hẳn  phải có sự thuyết phục nào đó rất mạnh dân cờ vàng  mới có được niềm tin.  Hơn nữa, đã qua thế kỷ 21, tạo được niềm tin cho những mộng tưởng từng bị tan vỡ nhiều lần không hề dễ. Thế nhưng vẫn có kẻ làm được, và đã cho được cả trăm ngàn người ăn bánh vẽ. .

Những trò chơi mị dân  để kiếm phiếu ở các nước tư bản nhan nhản đủ loại hình thức, nó thường diễn ra vào mùa bầu cử. Anh nào cũng muốn  sáng tác ra được những chiêu câu khách độc đáo mới lạ  mà trò chơi We The People mới ra lò ở Mỹ là một ví dụ. Trò chơi này quy định, bất cứ đệ đạt nào có được 25 ngàn chữ ký sẽ được tiếp đón tại Tòa Bạch Ốc . Quá dễ chơi. Gặp bu là giấc mơ của cờ vàng từ lâu vì đó là cơ hội để mách bu những uất ức trong lòng. Thế là một vài tay khôn ngoan  chớp ngay lấy cơ hội để chích ngay vào giấc mơ gặp bu của  cờ vàng. Những tay này biến tấu trò chơi thành cuộc gặp tổng thống hằng mơ ước của cờ vàng.

Bằng những thủ thuật tuyên truyền đưa cộng đồng cờ vàng lên mây, rằng họ là một lực lượng quan trọng mà bu phải quan tâm, rằng số lượng chữ ký dù ảo hay thật cũng sẽ tạo sự chú ý đặc biết của nhà trắng đối với cộng đồng cờ vàng và việc mách bu chắc chắn sẽ có hiệu quả và ảnh hưởng rất lớn. Rằng đây là dịp tốt để cộng đồng cờ vàng biểu dương lực lượng cho bu thấy họ vẫn còn trên đời này, họ là một kho phiếu mà bu phải để mắt tới. v.v. . .Có tay còn nổ là thời cơ đã đến và ngày cắm cờ vàng ở Sai gon đang đến gần.

Các website và truyền thông cờ vàng vận động tích cực cho giấc mơ gặp bu và tuyên bố đạt được trên 130 ngàn chữ ký. Chẳng biết con số này có được bao nhiêu phần trăm chính xác tuy nhiên người ta thấy những người cầm đầu chiến dịch vận động này thì hưng phấn phát ngôn vung xích chó nổ banh nhà lồng chợ.

“Nếu chúng ta đạt 25,000 Tổng Thống sẽ trả lời cho 25,000 người nhưng nếu 100,000 người, Tổng Thống sẽ phải hồi đáp cho 100,000 người. Trong trường hợp đạt nổi con số 200,000 thì sức mạnh của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ sẽ rất lớn và có khả năng làm thay đổi chính sách của Hoa Kỳ đối với CSVN.”(1)

Thỉnh nguyện thư theo đúng nghĩa tiếng Việt là thư thỉnh cầu, là thư xin xỏ, thế nhưng các anh cờ vàng phát biểu cứ như là bố của bu không bằng. Vào được tòa Bạch Ốc các anh hồ hởi bao nhiêu thì khi bước ra các anh tẽn tò bấy nhiêu. Cứ như con gà rù xệ cánh, thất vọng não nề. Thất vọng vì những gì các anh tưởng tượng trong đầu, những gì các anh nổ nó đảo ngược tất cả.. Không hề gặp  bu, không có đón chào,  không có hứa hẹn, chỉ thấy mấy ô sin tập sự của bu ra tiếp.  Bu quá coi thường sức mạnh của 130 ngàn chữ ký, bu không thèm để mắt đến cả ngàn dân cờ vàng từ 49 tiểu bang đang chịu lạnh giá  đứng ngoài  kia.  Bu không biết được rằng sức mạnh cờ vàng đang hiện diện ở ngoài kia,  biểu hiện rất rõ bằng sự tham dự của cờ vàng từ 3 tháng đến 93 tuổi.(2)

Thế mà bu  không đả động gì đến nguyện vọng của cờ vàng. Tự ái cờ vàng nổi  lên đùng đùng , tức quá cờ vàng vùng vằng bỏ về và bộc lộ luôn cái văn hóa cờ vàng, chửi bu là đồ … vô lễ.(3)

Mắng bu xong  các anh lại tự hào với nhau rằng, chỉ có nước tự do như cái xứ của bu mới có quyền được chửi bu như thế mà chẳng ai dám làm gì, Cộng Sản làm sao mà có được cái thú rất sướng là chửi bu? Cái này các anh cũng tự hào lâu rồi. Tự hào được chửi nhau, tự hào vì thằng nào cũng có quyền chửi thằng kia, có quyền đưa cho thằng kia bưng bô mà vô sự chẳng làm gì được nhau. Nay các anh lại tự hào được tự chửi bu thì có lạ gì . VN làm gì có được quyền này, vì ở VN chửi bu thì sẽ chẳng còn răng ăn cháo mà mách cảnh sát thì cảnh sát  nó còn khuyến mãi cho vài quả vì mất dạy.

Dân cờ vàng có cái văn hóa  là cứ không hài lòng là … chửi. cho nên không ai lạ gì cờ vàng chửi bu là vô lễ. Nộp đơn xin xỏ mà lại đi chửi người ta, giống y như những thằng xì ke đi xin đểu. Cũng thông cảm cho các anh vì các anh quá bức xúc,  chuẩn bị cho cái ngày ra mắt bu cả tháng rồi mà xôi hỏng bỏng không. Hơn nữa quả là khó ăn nói với đồng hương lý do tại sao bu chẳng đoái hoài các anh, các anh đã lỡ nổ là Tổng thống xin gặp đại diện cộng đồng cờ vàng mà sao chỉ thấy ô sin, rõ là bu chơi đểu chứ các anh có nói láo đâu.

Xưa nay các anh từng tự hào là  mang truyền thống oai hùng VNCH. Đã là cờ vàng thì không bao giờ chịu thua. Thế là về nhà các anh lại an ủi nhau và bàn tính chuyện mách bu kiểu khác. Các anh không cộng nhận  trò mách bu vừa qua thất bại thê thảm mà các anh an ủi nhau là …. HUỀ .   Đố có ai giải thích được các anh muốn nói cái gì. Ngẫm lại thì cái này cũng không lạ vì mấy chục năm trước các anh phải cởi quần lẫn vào dân để trốn chạy mà các anh còn chưa chịu thua,  đổ tại bu “bỏ rơi” chứ các anh còn anh hùng lắm thua sao được . Lần này chưa gặp bu được  thì còn lần khác, sao gọi là thất bại được cho nên các anh nhứt trí với nhau là HUỀ để bơm hơi tiếp tục động viên khí thế cho nhau mách bu tiếp.

Các anh cũng cố nặn óc lý giải tại sao bu không bỏ chút thời giờ ra gặp mình và mừng rỡ khi vớ  được cái phao, các anh lý giải rằng : Ngày hẹn cờ vàng bu bận họp khẩn với thủ tướng Do Thái để bàn chuyện hạt nhân Iran. Chuyên vô cùng hệ trọng như thế cho nên bu không thể gặp cờ vàng chứ bu nào có bỏ cờ vàng. Thì ra nhờ các anh người ta mới biết là bu của các anh cũng học cái  kiểu  “họp đột xuất” như phường xã, tổ dân phố ở VN đấy chứ. Anh Do Thái này cũng vô lễ nốt,  vào nhà trắng   “đột xuất”  chẳng cần thông qua ban nghi lễ tiếp tân gì cả cho nên bu mới lỗi hẹn cờ vàng. Cũng nhờ cuộc họp này mà các anh có được thêm một mớ dân Do Thái, Ả Rập đứng biểu tình ngoài kia để đếm chung với cờ vàng, hay không bằng hên.

Tháng này là tháng kỵ bu nên các anh gặp xui đủ điều. Đại sứ tại VN của bu  hẹn gặp các anh tại quận Cam không hiểu thế nào mà cũng xù luôn để các anh lóng ngóng tẽn tò. Thua me định gỡ bài cào mà bu không cho gỡ. Không cho gỡ nhưng vẫn tự an ủi là “huề” cho nó đỡ tủi thân. Sao mà cái giấc mộng gặp bu nó gian truân đến thế.

Mách được bu thì sướng thật nhưng hy vọng bu làm được gì thỏa nguyện vọng cờ vàng thì các anh đã có kinh nghiệm nhiều rồi,  không dám kỳ vọng. Ngày xưa bu phán một tiếng các anh co vòi ngay lại. Ngày các anh trốn chạy,  tướng tá cao cấp các anh chạy vào phi trường bị quân cảnh Mỹ chận lại chờ xin phép bu mới được vào. (4) Đất nước các anh mà tướng tá  các anh phải xin phép  thẳng  quân cảnh cùi bắp. Bu chưa kịp cho các anh vào, các anh dọa tự tử để gây áp lực bu chứ cũng chẳng dám trách bu một lời. Ngày nay đại diện của bu vào thăm “cha Lý” thần tượng cờ vàng của các anh bị CS nó quật ngã vứt lên xe mà bu chỉ dám “quan ngại “ thôi chứ có dám làm gì nó đâu. (5) .

Ủy Ban Nhân Quyền ở Liên Hiệp Quốc  vứt bu ra rìa, còn thằng CS nó lại lăm le ứng cử vào cái Ủy Ban này nhiệm kỳ 2013 – 2016  thì bu ăn nói thế nào đây? Thế nên đem nhân quyền ra để Mách bu của các anh chỉ còn ý nghĩa là báo cho bu biết là bu ơi bu đừng quên là có một cái cộng đồng  cờ vàng bu đang bảo bọc.

Ngày xưa cờ vàng bám váy bu, bu không cho tiền thì dọa không thèm đánh, ngày nay thì nghĩ hết cách mới dọa bu được một câu là nghỉ chơi bu đem phiếu cho thằng khác, nghĩ rằng bu sẽ sợ mà giang tay ra đón cờ vàng.

Mấy hôm nay cờ vàng lại mất ngủ vì vỡ mộng. Ôi chỉ mộng gặp bu mách vài câu mà sao nó nhiêu khê đến thế. Cờ vàng lại  trách bu, lại trách nhau, trách đời,  trách chúa. Nhưng cờ vàng vẫn mộng bởi cờ vàng đến hôm nay vẫn chưa biết soi gương để biết được mình là ai.

(1) http://dcvonline.net/modules.php?name=News&file=article&sid=9013

(2) http://kbchn.net/news/Tin-Noi-Bat-Trong-Ngay/Audio-thai-do-vo-le-cua-Toa-Bach-Oc-2118/

(3)http://kbchn.net/news/Tin-Noi-Bat-Trong-Ngay/Audio-thai-do-vo-le-cua-Toa-Bach-Oc-2118/

(4) Thú nhận của Đại Tá không quân VNCH Phạm Đình Cương

(5)http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/01/110106_usdiplomat_nguyenvanly.shtml

CỜ VÀNG MÁCH BU

Xichloviet

Bu trong tiếng Việt ở một số vùng quê miền Bắc là tiếng xưng hô chỉ người mẹ. “Mách bu” gợi lên hình ảnh đứa bé hơn, thấp cổ bé miệng hơn cầu cứu đến mẹ  mong được bu bênh vực. Bu thì  lại thường bênh đứa con yếu thế dù cho nó có lỗi,  cho nên trò “ mách bu” được nhiều đứa trẻ áp dụng thành công. Từ ngữ mách bu được dân gian dùng để mỉa mai những kẻ yếm thế không có khả năng tự vệ luôn cần đến  sự che chở của người khác.

Xâu chuỗi các sự kiện lịch sử và nếu có sự so sánh mối liên  hệ bu – con ở làng quê VN và mối liên hệ  Mỹ – cờ vàng thì sao nó lại  tương đồng với nhau  đến thế. Dân cờ vàng trước đây chỉ biết có bu, hết bu Tây rồi đến bu Mỹ, rời bu ra là chết ngay, cho nên bu đã bảo thì đố dám cãi lời, đó là sự thật lịch sử quá rõ ràng không ai có thể phủ nhận. Nếu bắt chước giáo sư Trần Chung Ngọc thì tôi sẽ nói rằng “ ai phản bác thì xin mời lên tiếng”. Đối với cờ vàng thì những gì của bu bao giờ cũng là siêu việt, cho nên dân cờ vàng mang cái bệnh nghiện bu từ tấm bé.

Bất cứ giá trị nào từ văn hóa chính trị cho đến tôn giáo, nhân quyền cờ vàng đều lấy bu làm khuôn mẫu. Cờ vàng luôn đem bu ra làm khuôn vàng thước ngọc để chê bai đất nước dân tộc mình. Dưới mắt cờ vàng bu  là vô địch. Bu của cờ vàng vĩ đại như thế cho nên không thể có chuyện bu ta thua CS được.

Cờ vàng cũng biết cái thế của mình, cho nên cũng biết làm nũng bu, biết giận dỗi khi không vừa lòng, và đôi khi bốc đồng lại dám làm trái cả ý bu. Làm trái ý bu thì bu không cần  nọc xuống đánh đòn mà bu cho lên thiên đàng với chúa như Ngô Đình Diệm tổng thống nên cộng hòa thứ nhất.   Tổng thống cờ vàng cộng hòa thứ hai khôn hơn nên chỉ dám làm mình làm mấy với bu rằng :  

“Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập . . . . Mỹ còn viện trợ, thì chúng tôi còn chống cộng (1).

Không biết lời hù dọa bu của tổng thống cờ vàng có ép phê tới đâu nhưng người ta thấy tổng thống cờ vàng đệ nhị này vẫn tại vị đến cận ngày “mất nước”.

Đặc điểm của bu VN là cả đời hy sinh cho chồng con, tần tảo  xả thân không quản ngại gian khổ để nuôi dạy con nên người.  Bu của cờ vàng thì khác hẳn,  vì bu không có mũi tẹt da vàng mà là mũi lõ da trắng  mang trong người bản chất cao bồi cho nên không thể có những đặc điểm  nhân hậu tình cảm như bu VN được. Không phải da vàng mũi tẹt  nên chẳng bao giờ bu cờ  vàng biết  thương dân Việt.  Nhưng cờ vàng có cần gì  quan tâm  đến chuyện ấy đâu, cờ vàng chỉ cần bu úm cho là quá đủ,  dân chết có nghĩa lý gì.

Cái bài học chua xót năm xưa vì bu “bỏ rơi” còn sờ sờ ra đấy, những lời than thân trách phận mấy chục năm qua mang đậm chất cờ vàng ấy mãi cho đến nay dân cờ vàng vẫn còn lải nhải,  vẫn ỉ ôi chưa dứt mà vẫn chưa thấu được trời xanh, thế mà vẫn không thể nào mở mắt  được  cho cờ vàng.

Thế cho nên gần sáu thập kỷ rồi cờ vàng vẫn không thể rời bu ra được để có thể đứng vững một mình. Thế mới biết bu quan trọng đối với cờ vàng như thế nào. Cờ vàng vẫn nghiện bu,  vẫn muốn  làm nũng bu, vẫn cần bu bảo bọc và hận CS thì cờ vàng vẫn chỉ biết mách bu thôi.

Cờ vàng là đứa con lai căng được sinh ra từ cuộc hôn phối giữa thực dân Pháp và Vatican. Khi Pháp bị Việt Minh đánh cho tơi bời tan tác ở Điện Biên Phủ buộc phải ký vào hiệp định Geneve cuốn cờ để cứu lấy hơn một vạn tù binh bị Việt Minh cầm tù thì cờ vàng đã có ngay bu Mỹ giang rộng vòng tay nâng đỡ chẳng hề mồ côi ngày nào. Hai nền cộng hòa cờ vàng đều được lãnh  đạo bởi các con chiên của chúa. Trên là chúa, đưới là bu bảo hộ, cờ vàng thật là diễm phúc. Có thể nói cờ vàng quả là sung sướng,  quả là đứa con đẻ bọc điều, chẳng cần phải lo lắng điều gì cả,  mọi việc đã có bu sắp đặt miễn là phải biết nghe lời. Điều đó giải thích tại sao gần bốn thập kỷ kể từ ngày “mất nước” cờ vàng vẫn nuối tiếc không nguôi.

Ôm lấy bầu sữa của bu để sống, cờ vàng chưa bao giờ có thể thể tự sống một mình,  cờ vàng trở thành ỉ lại, biếng nhác và lệ thuộc hoàn toàn vào bu, rời bu ra là khốn đốn. Thực tế lịch sử đã cho thấy như thế.  Rời bầu vú của bu, cờ vàng chỉ sống được có vài tháng.

Không phải đợi đến năm 1975 bu của cờ vàng mới “bỏ rơi” đứa con của mình, mà ngay từ năm 1968 bu đã đi đêm với CS để tính đến chuyện này. Năm 1973 sau nhiều vòng thương lượng, theo yêu sách của CS,  bu Mỹ đã phải cam kết với CS rất rõ ràng là sẽ bỏ lại đứa con cờ vàng của mình mặc cho nó ra sao thì ra. Dĩ nhiên là cờ vàng nhảy cẫng lên than khóc  làm mình làm mẩy khiến bu phải ra sức dỗ dành để đứa con yên lòng nhận tiền bu cố mà Việt Nam hóa chiến tranh như bu đã tính sẵn.

Hiệp định đã quy định như thế, tương lai cờ vàng đã được bu cho biết trước như thế, bu cũng đã dạy  rằng con hãy đứng lên bằng chính đôi chân mình vì bu đã kiệt sức và  đã hết cách với bọn CS rồi. Tuy nhiên có tiền, cờ vàng vẫn chỉ biết tiêu vung vít chẳng cần đến ngày mai. Cái não trạng ỉ lại và quen nô lệ làm cho Cờ vàng nghĩ rằng Miền Nam VN nằm ở vị trí chiến lược của Đông Dương. Bu nói thế chứ đời nào bu lại bỏ ta để cho mấy thằng CS nó chiếm.

Thế là cờ vàng cứ ung dung tự tại chẳng cần tự lực cánh sinh, chẳng cần làm ăn gì. Khi tiêu xài cạn kiệt, chẳng còn gì, bu thì khóa két, tổng thống cờ vàng vắt óc tính chuyện đi vay bu.  Sợ bu không cho,  cờ vàng bèn  xin được thế chấp bằng vịt trời :

“Tôi trân trọng thỉnh cầu Ngài kêu gọi Quốc hội cho Việt Nam Cộng hòa vay dài hạn 3 tỷ đô la, chia làm ba năm, lãi suất do Quốc hội ấn định, và xin triển hạn 10 năm trước khi trả vốn và lời. Tài nguyên dầu hoả và canh nông của Việt Nam Cộng hòa sẽ dùng làm tiền thế chân cho món nợ này. Món nợ giúp chúng tôi chống xâm lăng và cho chúng tôi cơ hội để tồn tại như một quốc gia tự do. (2) .

Từ cổ chí kim chưa một tổng thống nào trên thế giới mang vịt trời đi cầm như tổng thống cờ vàng. Có thể tổng thống cờ vàng nghĩ rằng bu cho ta còn được thì ta thế chấp con vịt trời để  bu tin ta và sẽ đánh động được lòng trắc ẩn của  bu bên kia đại dương. Cũng có thể tổng thống cờ vàng nghĩ rằng  ba tỷ đô la để cầm con vịt trời cũng chẳng thấm vào đâu so với két bạc của bu cho nên tổng thống mới viết lá thư vay nợ lịch sử này.

Tổng thống cờ vàng dư biết rằng gạo thì phải mua của Thai Lan, Hoàng sa còn giữ không nổi thì con vịt trời cũng làm gì có  mà cầm,  nhưng túng quá hóa liều, ông bà ta nói đố có sai. Thế nhưng bu cờ vàng đâu có ngu cho cờ vàng vay để cầm lấy vịt trời, thế nên  cờ vàng quay ra  định khuân 16 tấn vàng vàng của ngân khố đi bán thì đã quá muộn rồi.

Cờ vàng quá lệ thuộc vào bầu vú bu,  cứ như thằng nghiện hết tiền thì đi vay, vay không được thì gom đồ nhà đi bán, cho nên có thể nói rằng hiệp định Paris 1973 đã gõ hồi chuông báo tử cho cờ vàng ngay trong điều khoản thứ 5 mà cờ vàng vẫn chưa nhận thấy được.

Điều 5:

Trong vòng 60 (sáu mươi) ngày kể từ ngày ký Hiệp Định, Hoa Kỳ và các nước can thiệp (được nhắc đến trong điều 3a) triệt thoái khỏi miền Nam Việt Nam toàn bộ quân đội, cố vấn quân sự, nhân viên quân sự (kể cả nhân viên kỹ thuật quân sự, nhân viên quân sự cộng tác với chương trình hòa bình), vũ khí, đạn dược và vật liệu chiến tranh. Lực lượng cảnh sát và các cố vấn của các nước nói trên cũng như của tất cả các tổ chức bán quân sự cũng phải rút quân trong thời hạn này.

Ngay từ năm 1973, với hiệp định Paris,  CS đã coi như chiến thắng vì đuổi được  bu xong thì việc giải quyết thằng con chỉ là chuyện nhỏ. CS biết quá rõ, cờ vàng không thể chiến đấu một mình nếu không có bu bên cạnh. Dù bu có đổ bao nhiêu của đi nữa  ngày tàn của cờ vàng chỉ là vấn đề thời gian. Để thuyết phục đứa con cờ vàng ký vào chiếu dưới của hiệp định, bu đã phải an ủi cờ vàng rằng, bu ra đi nhưng cờ vàng vẫn là con. Ở bên kia đại dương bu vẫn dõi theo và cho tiền để các con tồn tại, miễn sao các con thực hiện tốt Việt  Nam hóa chiến tranh là sẽ có tiền và sẽ dư sức đối đầu với CS. Ký vào chiếu dưới mới chỉ  là nỗi nhục cờ vàng, nhìn bu giũ áo ra đi mang theo bầu sữa mới  là mối nguy cơ và nỗi niềm cay đắng.

Bu vừa đưa củ cà rốt, vừa lăm le cây gậy,  dĩ nhiên cờ vàng chẳng dám cãi lời. Gương Ngô Đình Diệm còn sờ sờ ra đấy.  Tuy nhiên khi cờ vàng  ký vào hiệp định Paris chưa ráo mực , lời hứa với cờ vàng là cho tiền thì bu lờ tịt,  nhưng lời hứa với CS là bu sẽ rút quân bỏ của chạy lấy người thì bu không dám nuốt lời. Trách bu nhưng cờ vàng chỉ dám ngậm đắng nuốt cay mà chưa bao giờ dám tỏ ra  hận bu, chỉ biết than trời trách đất,  than thân trách phận, ngậm đắng nuốt cay ôm hận vào lòng.  Bao nhiêu cay cú hận thù đổ dồn về cho bọn CS.

Cái ngày “mất nước” của cờ vàng bu đã thấy trước từ rất lâu nhưng không phải cờ vàng khôn đến nỗi có thể nhận ra được cái mưu sự của bu trong cuộc chiến mà  hận bu. Hơn nữa làm sao hận bu cho được khi trong cơn  bĩ cực ấy bu lại  giang rộng vòng tay đón lấy cờ vàng.  Cuộc sống ở mẫu quốc càng  làm cho cờ vàng nghĩ rằng dù bu mũi lõ nhưng vẫn còn thương mình lắm. Thế là mình vẫn còn có thể làm nũng mách bu như những ngày nào.

Việc “mách bu” của dân cờ vàng mấy chục năm qua nó xảy ra như cơm bữa nhưng chẳng ăn thua nhất là từ năm 1995 bu lại đi bắt tay với cựu thù thì trò mách bu của cờ vàng cứ như hét vào không khí.  Cờ vàng không hiểu nổi tại sao cứ càng mách thì  bu càng điếc và làm ngược lại nguyện vọng cờ vàng. Mách về đàn áp tôn giáo thì bu lại xóa nó khỏi danh sách CPC, mách nó vi phạm nhân quyền thì bu lại mời nó sang Mỹ chơi bàn chuyện làm ăn rồi đổ tiền đầu tư cho nó mạnh thêm. Kêu gọi bu đừng chơi với nó vì nó độc tài thì  bu lại ủng hộ nó vào WTO.  Nhân viên đại sứ quán của bu vào thăm “cha Lý ” thần tượng cờ vàng thì bị công an CS nó quật ngã dúi vào xe hơi thế mà bu chẳng lên tiếng một lời. Bây giờ bu lại lăm le tính đến chuyện làm “đối tác chiến lược” với nó nữa thì hết cách, rõ là bu thương nó hơn mình rồi.

Ôm mối hận CS trong lòng cờ vàng luôn nung nấu ý chí phục thù nhưng lực bất tòng tâm. Khi có bu bên cạnh còn chưa làm gì nổi kẻ thù,  giờ đây chỉ là đứa con ghẻ trên răng dưới dép vũ trang bằng cái mồm và que cờ vàng trên tay  thì làm gì nó được. Cho nên  cờ vàng chỉ biết gậm nhấm nỗi căm hờn và luôn cảm thấy nuối tiếc tháng ngày xưa. Tuy nhiên cờ vàng luôn tìm đủ mọi cách để nhắc cho bu nhớ là bu từng có đứa con mang tên cờ vàng.

Dân cờ vàng rất lo sợ một ngày kia lá cờ vàng bị vùi chôn vào quên lãng. Vì thế cho nên mới có chuyện ra sức xin được bu công nhận cờ vàng chỗ này chỗ nọ, xin được treo chỗ này chỗ kia.  Biểu tình thì nhất thiết phải càng nhiều cờ vàng càng tốt, có cái gì vàng vàng là quẹt thêm ba sọc đỏ vào biến nó thành “cờ”.  Trong Đại Hội Thanh Niên Công Giáo, Đức thánh cha của cờ vàng cũng không thể hiểu nổi tại sao chúng nó lại cứ cố khoác lên cổ mình cái mảnh vải vàng sọc đỏ. Chẳng hiểu nó là cái quái gì, nhưng cũng chẳng sao, thôi thì ta cũng ban phép lành cho chúng nó một phát chẳng mất gì, vì ta cũng cần  chúng có lòng kính chúa kính cha và cố mở rộng  nước chúa.


Năm 2007 trước khi có cuộc viếng thăm Mỹ của Chủ Tịch Nước VN Nguyễn Minh Triết vài tuần . Bu có mời mấy anh cờ vàng lên tòa bạch ốc để đàm luận. Ôi làm sao tả xiết sự mừng rỡ và sướng đê mê của các anh cờ vàng. Hệ thống truyền thông cờ vàng mở hết công suất xem đó là sự kiện vĩ đại. Một luật sư cờ vàng mở cuộc hội thảo phân tích tình hình VN và  ba hoa  rằng đây là sự kiện vô cùng quan trọng và có ý nghĩa rất to lớn với dân cờ vàng vì lần đầu tiên cờ vàng được được tổng thống mời, và ba hoa rằng có cả hội đồng an ninh quốc gia của bu tham dự.  Anh này còn xác quyết VN sẽ phải “quy thuận” Mỹ, phải mời Mỹ sử dụng cảng Cam Ranh và nhận Mỹ làm bu  để chống chọi với Tàu. Cử tọa cờ vàng vỗ tay lòng vui như hội.

Được gặp tống thống là dịp hiếm hoi bằng vàng để cờ vàng mách bu những chuyện ấm ức dồn nén bao năm qua khi bu sắp là bu cộng sản. Tuy nhiên sau cuộc gặp gỡ ấy người ta thấy cờ vàng lại  im lìm  ỉu xìu như quá bóng xì hơi thì người ta mới được biết là bu gọi lên bảo các con cờ vàng  chớ  có manh động khi bu tiếp khách quý.

Mới đây vẫn lại trò mách bu quen thuộc, dân cờ vàng phát động cái gọi là “thỉnh nguyện thư” mách  bu để đề nghị bu nghỉ chơi với CS vì CS đã nhốt những anh hùng cờ vàng ở quốc nội. Điểm mới của trò mách bu này là sử dụng internet vận động mách bu tập thể để mong được  bu để ý. Mấy hôm nay dân cờ vàng phấn khởi lắm,  khoe là đã có mấy chục ngàn dân cờ vàng mách bu tập thể.  Mong mỏi duy nhất của cờ vàng đơn giản vẫn  là chỉ cần bu hỏi han một tiếng là sướng lắm rồi chứ cờ vàng đã có kinh nghiệm bao năm rằng bu cũng  chẳng thể làm gì được bọn CS ngày nay.

Không mấy tin vào trò mách bu, và cũng chẳng còn hy vọng vào chúa, cờ vàng quay sang tin vào . . . thầy bói. Rất nhiều trang mạng cờ vàng đưa tin chiêm tinh gia này, nhà lý số kia tiên đoán CSVN sẽ sụp đổ, các cụ hãy cố sống để nhìn thấy  hoa lài hoa cúc.

Mách bu cho đến nay vẫn còn được cờ vàng chọn làm giải pháp giải nén những cay cú CS. Mách chúa thì chúa đã quên cờ vàng dù cờ vàng đã hối lộ dâng cả giang sơn cho chúa, cầu xin chúa mấy chục năm qua chắc cũng đã thấu đến tận trời xanh rồi nhưng cộng vẫn còn mà ta thì vẫn hận. Mách bu thì dù sao vẫn còn hơn vỉ thỉnh thoảng vẫn còn được sướng vì hình như  bu vẫn còn nhớ được có lá cờ vàng trên đời này.

Mách bu đã trở thành  một phần  trong chiến lược chống cộng của dân cờ vàng, nhưng dường như trên đời này chẳng có ai xem mách bu là một biện pháp tranh đấu ngoại trừ những đứa trẻ con yếu đuối ở mãi tận những vùng quê. Nhưng khổ nỗi không mách bu thì mách ai đây. Bởi thế cho nên cờ vàng lại tiếp tục phải  mách bu và thở than cái điệp khúc:

Cộng Sản vẫn còn ta chưa chết

Ôi biết bao giờ thấy cố hương. (3)

 

(1) Michael Mc Lear. Vietnam, the ten thousand day war. Thames Methuen. London. 1982. pg. 896

(2) Nguyễn Tiến Hưng : Khi đồng minh tháo chạy  ( Thư Nguyễn Văn Thiệu gởi quốc hội và tổng thống Hoa Kỳ.   )

(3) Trích: Tâm sự cờ vàng,  thơ vô danh,  diễn đàn interrnet.

Khi con chiên cờ vàng đòi “đối thoại”

Xichloviet

Bất cứ ai muốn phản bác hay phủ nhận những sự kiện lịch sử này xin mời lên tiếng” Đó là câu thường thấy trong các bài viết của Tiến Sĩ Trần Chung Ngọc. Câu nói thường được ông đặt trong các bài viết của ông như thách thức những kẻ xuyên tạc lịch sử phản biện lại. Câu này cũng cho thấy sự tự tin tuyệt đối vào những gì mình viết ra và sẵn sàng chịu trách  nhiệm về nó. Điều này chỉ có được ở những trí thức có tâm, có tầm và có bản lĩnh.

Dường như chưa hề có phản biện có giá trị nào ngoài những lời miệt thị bôi nhọ chụp mũ ông. Vì sao? Vì ông đã  làm công việc nghiên cứu rất công phu  để tập hợp rất nhiều những tài liệu bằng nhiều nguồn dẫn chứng tin cậy khắp nơi có sức thuyết phục rất cao để đập lại những luận điệu của các con chiên muốn bẻ cong lịch sử.

Xưa nay dân chống  cộng cờ vàng thường thích sử dụng từ “đối thoại” để “nói chuyện phải quấy “ với những người không cùng quan điểm. Tuy nhiên hầu hết cái gọi là “đối thoại “ của dân cờ vàng nếu không phải là đưa yêu sách cực đoan thì cũng chỉ là chửi bới moi móc để hạ nhục người khác không hề có thiện chí, không hề có chứng cớ và  lý luận tối thiểu.

Chu Tất Tiến là một người như thế. Hắn là con chiên cờ vàng di cư cuồng tín, và dĩ nhiên con chiên này có mối thâm thù cộng sản tận xương tủy. Những bài viết của hắn luôn lồng vào nội dung xuyên tạc chống cộng kịch liệt. Con chiên này là một trong những gương mặt nổi bật đại diện con chiên  chống cộng cho chúa.

Ông Trân Chung Ngọc, một người Việt đang định cư ở Mỹ,  một công chức VNCH, một sĩ quan VNCH, một giáo sư đại học ở Miền Nam VN lại đi  viết bài ca ngợi những chiến công của Việt Minh,  lại đi viết bài phơi bày tội ác giáo hội Thiên Chúa Giáo La Mã thì rõ ràng ông là cái gai nhức nhối trong con mắt con chiên Chu Tất Tiến là điều quá dễ hiểu.

Mới đây Chu Tất Tiến có bài viết đầy giận dữ, với những lời lẽ đường phố nhắm vào ông Trần Chung Ngọc, Nguyễn Mạnh Quang và một vài người khác. Điều đáng nói là cuối bài viết  hắn “mời”ông Trần Chung Ngọc và ông Nguyễn Mạnh Quang đến “đối thoại” với hắn. Thái độ xấc láo sử dụng chữ “mời” trong ngoặc kép đủ cho thấy hắn chơi đểu, và dĩ nhiên hắn biết chắc sẽ không thể có cuộc “đối thoại” nào như thế xảy ra,  đơn giản chỉ vì các vị này chẳng bao giờ nhận lời một kiểu “mời” du côn đểu cáng như vậy. Cuối cùng  hắn xổ luôn kết luận và chụp luôn cái mũ  là “chúng chỉ là những tên Chí Phèo khốn kiếp làm tay sai cho bọn Cộng Sản mãi quốc cầu vinh”  nếu không nhận lời hắn.

Kiểu lưu manh láu cá mời đểu, mời mà sợ người ta đến, mời mà biết chắc người ta không nhận lời, rồi kết luận rằng nếu không nhận lời là “tay sai cộng sản”  Chu Tất Tiến phần nào đã làm hả dạ những con chiên chống cộng cho chúa lâu nay vô cùng cay cú với các ông TCN và NMQ. Mục tiêu như thế đã thành công.

Những đề tài hắn nêu ra để “đối thoại” gồm :

a-Công Giáo và Vatican là kẻ thù của dân tộc.
b-Lá cờ vàng ba sọc đỏ là của Vatican.
c-Vatican là kẻ từng điều khiển, giật dây chính quyền Ngô đình Diệm, và nay vẫn muốn áp đặt chính sách của Vatican lên đất nước Việt Nam.

Chu Tất Tiến sẽ lo địa điểm và thông tin cho bà con đến dự.

Hãy tưởng tượng nếu có một cuộc “đối thoại”  kiểu như thế thì sao?

Khán phòng sẽ chật cứng con chiên cờ vàng đằng đằng sát khí, cờ vàng sẽ treo kín từ ngoài vào trong. Ông Trần Chung Ngọc và ông Nguyễn Manh Quang sẽ đứng trong vòng vây con chiên đang dâng trào căm phẫn, phải chào cờ vàng, mặc niệm và buổi “đối thoại” sẽ biến thành cuộc đấu tố những gì hai ông đã viết về chúa của họ. Đó là điều có thể thấy trước.

Kẻ cuồng tín u mê như Chu Tất Tiến và các con chiên cờ vàng khi đọc những bài viết của các ông Trần  Chung Ngọc và Nguyễn mạnh Quang thì chỉ biết lồng lộn nhảy dựng lên mà chửi chứ chẳng biết phải làm gì vì các ông nói đúng quá, dẫn chứng minh bạch đầy đủ quá và dĩ nhiên với  trình độ chỉ đủ để chống cộng cho chúa như Chu Tất Tiến thì chỉ biết ôm hận vào lòng rồi nặn óc  ói ra được một bài thách thức như thế chứ làm sao mà phản biện cho được.

Có rất nhiều công cụ, phương tiện để Chu Tất Tiến viết bài phản biện các bài viết của ông TCN và NMQ nhưng chưa hề thấy bài viết nào của hắn có thể gọi là “phản biện” cả. Nếu loại ra những từ ngữ chửi bới bôi nhọ  lăng mạ cá nhân và những lời ca ngợi chúa của hắn thì những bài gọi là bài “phản biện” của hắn chỉ còn tờ giấy trắng.

Thế giới phẳng ngày nay người  ta rất dễ dàng kiểm chứng được ông Trần Chung Ngọc, Nguyễn Mạnh Quang là ai, đã viết những gì và có gì sai chỉ bằng một cú click chuột . Một con chiên u mê như Chu Tất Tiến khi thấy có ai chọc vào cái đức tin của hắn thì hắn chỉ biết la lối kiểu như hắn viết ngay trong đầu bài : “Nhóm chống Công giáo (Trần Chung Ngọc, Nguyễn Mạnh Quang, Trần Quang Diệu, Trần Tiên Long, Hòa Bình…) thực sự là bọn lưu manh, ác ôn, muốn chia rẽ tôn giáo, chứ không phải là những nhà nghiên cứu.”

Chu Tất Tiến  không thể dẫn chứng điều gì cho những lời lẽ tố khổ đó. Một là Chu Tất Tiến cho rằng độc giả sẽ tin ngay những gì hắn nói một cách mù quáng giống y như hắn tin vào thiên chúa, “phúc cho những ai không thấy mà tin”.  Hai là hắn quá coi thường độc giả , Ba là hắn quá ngu nếu nghĩ rằng độc giả sẽ bị hắn thuyết phục chỉ đơn giản bằng những lời lẽ mạt sát mất dạy.

Nếu Chu Tất Tiến có đủ trình độ và lý lẽ hắn hãy phản biện những bài viết của các ông TCN và NMQ ngay trên các website ca tô của hắn, trên blog cá nhân, chẳng việc gì phải bày trò thách chức “đối thoại” . Tôi đoan chắc rằng Chu Tất Tiến không thể có khả năng đó. Chỉ cần một đứa trẻ con trích vài dòng trong thánh kinh để “đối thoại” đủ làm cho Chu Tất Tiến ú ớ rồi.

Những đề tài Chu Tất Tiến đưa ra để thách thức đối thoại thì buồn thay cho hắn, nó đúng y như thế nếu chúng ta chịu khó ngồi đọc hàng  ngàn trang tài liệu viết về nó trên internet. Nếu click vào từ khóa Trần Chung Ngọc hay Nguyễn Mạnh Quang, độc giả sẽ thấy ngay những bài viết của hai ông và được dẫn đến những tài liệu của cả thế giới  nói về chúa của hắn ra sao và tự thân những tài liệu này đã trả lời cho Chu Tất Tiến những điều hắn muốn “đối thoại”.

Trong một bài được gọi là “ thư ngỏ gửi tiến sĩ Trần Chung Ngọc” Chu Tất Tiến  viết : “Thà đối diện với Cộng Sản, chứ không trao đổi ý kiến với những tay sai” hàm ý nói ông Trần Chung Ngọc là “tay sai cộng sản” . Việc chụp mũ này quá quen thuộc đối với dân cờ vàng khi bị bế tắc về lý luận, hạn hẹp về tri thức, chụp mũ là con đường thoát thân duy nhất.

Bày trò “đối thoại” để chứng tỏ  ta có chút đỉnh vốn tri thức nhưng biết chắc chẳng ai thèm nhận lời là một thủ đoạn kiểu giang hồ chẳng mới mẻ gì. Chu Tất Tiến hẳn đang hả hê tưởng rằng hắn đã ghi điểm gỡ gạc được với mọi người. Nhưng hắn chỉ đánh lừa con chiên mà thôi.

Hai ông Trần Chung Ngọc và Nguyễn Mạnh Quang đã từng lôi cái đức tin mù của các con chiên như Chu Tất Tiến ra để mổ xẻ và mổ luôn cả kinh thánh, mổ luôn cả thiên chúa  mà hắn đang mù quáng tin vào. Trong thời VNCH điều này là không hề xảy ra và không thể xảy ra. Cho nên Chu Tất Tiến thực sự bị sốc nặng bởi những bài viết của hai ông. Thay vì suy gẫm và ứng xử như  một con người, Chu Tất Tiến suy gẫm và ứng xử như một con chiên mù cho nên chuyện hắn cay cú hai ông là điều tất yếu.

Chu Tất Tiến có đau lòng xót dạ vì bị hai ông TCN và NMQ chọt vào cái nỗi đau cờ vàng, chọt vào cái đức tin mù của hắn  thì  chỉ còn cách duy nhất là hãy cố cầu nguyện cho thiên chúa toàn năng của hắn  trừng trị họ đi,  chứ khả năng của hắn  không thể nào phản biện được những ông này đâu. Đó là điều chắc chắn. Nếu yêu cầu Chu Tất Tiến ngồi  xuống để “phản biện” hai ông TCN và NMQ mà không được phép chửi, không được phép mạt sát chụp mũ thì Chu Tất Tiến chỉ “phản biện” được một chữ:  Amen.

GIẤC MƠ CỜ VÀNG: ẢO VÀ THỰC

Xichloviet

Cuộc đời ta ai cũng từng chứng kiến những điều “ảo”

Thế giới ngày càng có nhiều chuyện ảo chen lẫn với thực.

“Ảo” được xem là đối lập với “thực” và là cũng là mặt đối diện của thực.

Khi thực và ảo trộn lẫn nhau người ta không biết đâu là thực đâu là ảo, người ta sống trong hoang tưởng.

Khi ảo là niềm tin người ta trở thành cuồng tín.

Khi ảo là thủ đoạn  kiếm được quyền lợi thực thì ảo là công cụ để  kiếm ăn

Ảo nó đánh lừa giác quan của ta và thậm chí đánh lừa cả ý thức, dẫn  đến những u mê và hành động bất thường trong cuộc sống thực.

Để minh họa về cuộc sống ảo và thực rõ nét nhất  có lẽ hãy nhìn những người đang đắm mình trong những trò chơi trực tuyến. Những người này nghiện cuộc sống ảo đến nỗi họ quên hẳn cuộc sống thực và họ chỉ thấy hạnh phúc khi sống trong thế giới ảo. Họ lẫn lộn giữa ảo và thực,  dần dà họ nhiễm một loại bệnh lý tâm thần rất khó phục hồi.

Một phu hồ, một lao công bị xem thường và bị ngược đãi  trong xã  hội thực bỗng chốc trở thành người hùng trong thế giới ảo khi ngồi trước bàn phím.

Khi online vào thế giới ảo họ lập tức được chào đón nồng nhiệt. Con người của họ trong thế giới ảo biến đổi thành con người hoàn toàn khác. Con người này cũng có đầy đủ hỉ nộ ái ố, có sai sót, cũng có những nuối tiếc đau khổ hận thù nhưng điều quan trọng là con người này tạo cho họ cảm giác rất dễ chịu, con người này vượt trội so với con người họ đời thường, con người này có thể sửa sai và làm lại từ đầu.  Họ đê mê với cái thế giới đó vì trong đó họ có cộng đồng ảo để đồng cảm an ủi, chia sẻ và họ cảm thấy đó mới là thế giới đáng sống. Đây là thế giới rất riêng, những con người của thế giới thực mà họ đang sống không thể tác động gì được lên thế giới riêng này, cho nên họ rất an toàn trong thế giới ấy. Trong thế giới ảo họ thoát khỏi kiếp đen tối,  thoát khỏi khen chê áp bức, thoát khỏi sự chê trách hèn kém ngu dốt, nhục nhã của đời thường để tận hưởng với hạnh phúc.

Gần bốn chục năm qua có thể nói  dân chống cộng cờ vàng đã và đang nghiện cuộc sống ảo y hệt như thế, họ đang chơi với nhau trò chơi chống cộng, họ hài lòng và cảm thấy hạnh phúc khi sống trong môi trường chống cộng đầy những chuyện ảo. Họ  tạo cho nhau những cảm giác ảo. Họ khen lẫn nhau, cùng nghĩ một chiều, cùng chê một kiểu và cùng hận thù một phía. Thế giới thực là mối đe dọa cho hạnh phúc của họ, cho nên họ sợ thế giới thực và tránh né nó . Cứ như thế họ vui sống mấy chục năm qua. Có thể nói không có cuộc sống ảo cuộc sống của họ vô nghĩa và thế giới cờ vàng không thể tồn tại. Chính họ tạo nên cái thế giới đó và phải luôn cùng nhau vun đắp để được đắm mình hạnh phúc trong thế giới này.

Dấn thân vào con đường chống cộng là sống trong ảo tưởng,  nhưng khi đã thích nghi với nó họ cảm thấy hài lòng và hầu như ai cũng nhiễm thứ bệnh tâm thần hoang tưởng này. Bất cứ người nào chống cộng giống như họ đều được họ chấp nhận và hoan nghênh vì nó đáp ứng được điều kiện “cần” của tiêu chuẩn cờ vàng. Nếu người ấy gây được tiếng vang thì chắc chắn sẽ đáp ứng điều kiện “đủ”  và được họ nồng nhiệt chào đón không cần biết động cơ và mục đích chống cộng ra sao. Cứ như thế trong đời thực cũng như trên mạng internet họ quy tụ nhau lại để cùng nhau tìm ảo giác cờ vàng.

Nếu có bất cứ một thông tin nào “có lợi cho cs” được phát ra trong cộng đồng dù cho nó được chứng minh thế nào đi nữa, dù được cả thế giới nhìn nhận chăng nữa, phản ứng đầu tiên của những người chống cộng là phản bác, và tìm mọi cách giải thích ngược lại. Nếu trong băng nhóm  họ có ai đưa được những kế sách gì để phản bác thông tin kia, dù nó có hoang đường,  thì ngay lập tức họ vơ ngay vào và phát tán đến chóng mặt để cùng nhau tìm ảo giác.

Tham gia vào các hội đoàn chống cộng, những người chống cộng có được cả quyền lợi thực và quyền lợi ảo. Lợi dụng danh nghĩa các hội đoàn họ phát động xin tiền dưới nhiều hình thức , nguồn lợi này đủ sức kích thích họ càng ngày càng sống ảo trong việc chống cộng để đạt được quyền lợi thực. Họ thành lập hội đoàn này hội đoàn nọ còn là để tìm cảm giác của vinh quang ngày xưa, cái thời họ được Mỹ nuôi nấng.  Họ mặc lại những bộ quân phục của ngày nào để gợi nhớ thời hoàng kim cũ. Họ đứng nghiêm chào cờ vàng và mặc niệm để trình diễn, để thỏa mãn giấc mơ, họ cảm  thấy ấm lòng và hãnh diện khi những người khác cũng làm như thế. Chẳng ai có thể thấy đó là trò hề trong thế giới thực, và chẳng ai trong những người này treo lá cờ trong nhà rồi mặc quần áo lính mà nghiêm trang tưởng nhớ  bằng tấm lòng mặc niệm chân thành. Đối với họ,  không cần những điều thực mà chỉ cần cảm giác ảo là quá đủ.

Những buổi tụ tập nhau lại, như một luật bất thành văn, luôn luôn có chào cờ, mặc niệm. Đây là bước đầu tiên để họ cùng nhau đi tìm ảo giác. Gần như 100% những cuộc tụ tập như thế đều có nội dung tố cộng và cùng nhau sáng tạo những ảo giác mới. Một cuộc lạc quyên, một chương trình văn nghệ, một cuộc gặp gỡ đồng hương, một bữa tiệc tất niên, tất cả đều phải chen vào nội dung tố cộng thì mới tạo cảm giác. Những năm 1980 họ tạo ra với nhau ảo tưởng rằng Mỹ đang có kế hoạch quay lại VN. Cuộc rút quân của Mỹ chỉ có tính chiến lược. Ảo tưởng đã làm họ không thể thấy được thực tế là Mỹ đã thất bại nặng nề ở VN,  tìm mọi cách rút chân khỏi cuộc chiến  chỉ cần cố lấy lại chút danh dự. Mỹ không bao giờ có thể quay trở lại VN để mở một cuộc chiến khác.

Họ thường xuyên hâm nóng giấc mộng cờ vàng vào những ngày “quốc hận” ngày “quân lực” v.v…. là những dịp họ được mặc lại những bộ quần áo lính trước đây để mơ về  mộng cờ vàng và “vinh danh “ lẫn nhau.

Cả chục năm trời sau 30 .4.75 dân chống cộng cờ vàng  vẫn nuôi hy vọng  được Mỹ giúp họ quay về. (xem phố Bolsatv phỏng vấn đại tá không quân Phạm Đình Cương ). Tô vẽ thêm cho giấc mộng ảo đó có phần đóng góp to lớn của các băng nhóm chống  cộng để kiếm cơm điển hình là nhóm Hoàng Cơ Minh đã kiếm được hàng chục triệu đô la từ dịch vụ sáng tạo ảo giác cho đồng hương.

Sáng tạo ra những ảo giác là công việc sống còn đối với các băng nhóm cờ vàng. Giấc mộng  cờ vàng sở dĩ nó tồn tại được gần 40 năm bởi vì luôn có những sự kiện khách quan kịp thời hâm nóng nó  mỗi khi nó nguội đi. Năm 1979 khi còn đang ngậm đắng nuốt cay với tủi nhục ngày 30.4.75, họ trở nên rạng rỡ hân hoan  khi Tàu tấn công biên giới phía Bắc nước ta, và Polpot tấn công biên giới Tây Nam. Họ vui mừng khôn xiết và sống trong hạnh phúc của ảo giác đê mê trong niềm mong đợi Tàu nó xóa sổ CS ở VN giúp họ quang phục cờ vàng. Họ mơ “Miên đánh đến Saigon và Tàu đánh đến Hà Nội.”   Khi niềm hy vọng lắng xuống họ lại tưng bừng cùng nhau sáng tác những kịch bản cho ngày trở về khi đông Âu sụp đổ và  Liên Xô tan rã. Trong nước, một số phần tử đón gió đã đào tẩu ra nước ngoài gia nhập băng nhóm cờ vàng tô vẽ thêm cho giấc mơ của họ trong đó điển hình là Bùi Tín một cán bộ cao cấp trong chính quyền VN.

Bùi tín không sống ảo mà có toan tính rõ rệt. ông ta tính rằng trước sau gì với làn sóng sụp đổ của khối XHCN ở Đông Âu CSVN cũng sẽ sụp đổ và VN sẽ trở thành một nước tư bản như Đông Âu là điều tất yếu. Năm 1990 Bùi Tín sang Pháp  dự hội nghị của báo Nhân Đạo, Đây là cơ hội bằng vàng để Bùi Tín đào tẩu và mở màn cho việc tố cộng lấy điểm băng nhóm cờ vàng.

Sự phản bội của Bùi Tín đã tiếp lửa thêm cho giấc mơ cờ vàng. Họ lại đê mê với nhau nhiều năm trời với ảo giác đó và rồi nó cũng lắng xuống theo thời gian. Ván cờ toan tính của Bùi Tín thất bại, Bùi Tín không phải dân cờ vàng, không thể hòa đồng  trong thế giới ảo cờ vàng, không dám kết tội ông Hồ Chí Minh cho nên Bùi tín  bị cờ vàng  tẩy chay sống lưu vong trong sự khinh miệt của cả CS lẫn cờ vàng.

Khi Mỹ bang giao và bãi bỏ cấm vận VN, tưởng chừng như ảo vọng của họ tắt ngấm, nhưng không, họ lại tạo ra ảo giác mới. Họ cho rằng  Mỹ đang thực thi một kế hoạch chiến lược rất thâm sâu để xóa sổ CS. Mỹ sẽ làm áp lực tôn giáo nhân quyền và dùng kinh tế khống chế CSVN buộc phải theo Mỹ, cơ hội phục quốc của họ vẫn còn. Ngày trở về vẫn lấp lánh phía trước.

Từ khi VN mở cửa nền kinh tế và tăng trưởng chóng  mặt, vị thế VN đối với quốc tế  tăng lên nhanh chóng,  đầu tư ồ ạt chảy vào VN.  Tưởng chừng như thế đã mở mắt họ ra, tưởng chừng  họ đã buông xuôi giấc mơ cờ vàng, nhưng không,  họ vẫn bảo nhau chống phá việc VN vào WTO , chống đồng hương về nước, hô hảo ủng hộ cho những giáo dân biểu tình bằng  búa kìm xà beng đòi lại đất mà  Vatican ăn cướp của nhân dân ta thời thuộc Pháp. Bế tắc họ còn bảo nhau tố cáo CSVN lên ….Liên Hiệp Quốc về tội không tuân thủ hiệp định Paris, về “tội ác Mậu Thân” v.v… Họ luôn biện luận rằng quân đội của họ chưa có lệnh giải ngũ ai, cho nên họ vẫn là  người lính VNCH và như thế quân đội vẫn còn và VNCH vẫn  tồn tại. Lá cờ vàng của họ vẫn đại diện cho quốc gia cờ vàng.

Những giấc mộng ảo biến họ thành những con người sống trên mây không phải trên mặt đất. Mà đúng như thế thật. Thế giới ảo của họ đang tồn tại ở trên mây, họ đang trò chuyện với Tề Thiên Đại thánh mong giải thể CS bằng 72  phép thần thông.

Năm 2008 nổ ra khủng hoảng kinh tế toàn cầu , xuất khẩu VN suy giảm  nghiêm trọng lạm phát tăng cao họ lại nhen nhóm ảo vọng rằng  sự phẫn nộ của người dân sẽ tạo những bất ổn cho chính quyền VN. Ảo giác này tăng lên cao độ khi những cuộc biểu tình ở Libya   lật độ chế độ độc tài Gaddafi và lan ra các  nước Trung Đông và  Bắc Phi.  Họ cố gắng tưởng tượng sự giống nhau giữa chế độ Gaddafi và chế độ CS tại VN rồi suy luận rằng trước sau gì thì làn sóng biểu tình cũng đến được VN và ngày tàn của CS tới nơi rồi.

Sự gây hấn của Tàu ở Biển Đông tạo ra những cuộc biểu tình chống Tàu khắp nơi trong nước. Điều này đã giúp họ tạo ra ảo giác rằng người dân đã bắt đầu chống lại sự nhu nhược của chính phủ,  chỉ cần họ đốt thêm lửa là sẽ biến thành cách mạng hoa lài.

Tất cả những thông tin khác với suy nghĩ và hy vọng của họ dù chính xác đến đâu họ không cần biết tới, họ chỉ cần thỏa mãn cái ảo giác sung sướng trong cái thế giới ảo riêng mà thôi.

Cuộc sống ảo của dân chống cộng cờ vàng như cơm ăn hằng ngày không thể thiếu. Để nuôi dưỡng và duy trì cuộc sống này họ phải tụ tập nhau lại để tâng bốc nhau cũng chính là tâng bốc mình và động viên tiếp lửa chống cộng cho nhau. Họ cùng nhau sáng tác những kịch bản chế độ CSVN sẽ sụp đổ như thế nào để tiếp tục mơ. Có hàng ngàn kịch bản như thế những năm qua được sáng tác để nâng đỡ tinh thần cờ vàng nhưng nó vẫn  không hề xảy ra. Thế nhưng họ vẫn cứ mơ, vì đối với họ thế giới ảo mới là môi trường sống. Thế giới ảo này không thể mất đi được dù sự thật có như thế nào.

Đã có lý do để lý giải tại sao gần bốn thập kỷ mà dân chống cộng không hề từ bỏ giấc mơ cờ vàng. Đó là vì giấc mơ ấy chính là là hạnh phúc của họ. Họ phải vun vén bồi đặp giấc mơ này để được bơi lội trong cái hành phúc đó. Nó như trò chơi online đầy mê hoặc  giúp  cho họ thoát khỏi những khiếm khuyết về nhận thức trong thế giới thực, thoát khỏi  dốt nát về tri thức đời thường, thoát khỏi những ám ảnh ô nhục trong quá khứ  để hóa thân thành một nhân vật người hùng có chính kiến, có lý tưởng, có hoài bão và có cả quyền lực trong thế giới ảo khả dĩ có thể ”đối thoại” và thậm chí  “giải thề CS” như giấc mơ họ tạo ra với nhau.

NÓI LÁO: ĐẶC SẢN CỦA BĂNG NHÓM CHỐNG CỘNG CỜ VÀNG

XICHLOVIET

Từ trước đến nay các anh cờ vàng thường ví von với nhau là “nói láo như vẹm” . Vẹm ở đây là ám chỉ Việt Cộng. Câu nói này các anh  thường đi kèm với việc mỉa mai, hằn học rồi lải nhải mãi rằng  chính quyền Cách mạng hứa với các anh chỉ bắt đi học tập cải tạo vài ngày nhưng lại giam các anh  mút chỉ.

Suy cho cùng đối với các anh không thế cũng không được, và phe chiến thằng nào cũng buộc phải làm như thế vì các ổ kháng cự của các anh vẫn còn đầy ra đấy.  Nếu gọi các anh ra mà  tuyên bố  sẽ cho các anh vào tù dài hạn thì ai bảo đảm là các anh không chạy theo cái đám tàn quân kia?  Ở hoàn cảnh như họ các anh cũng buộc phải làm như thế đúng không? Tìm mọi biện pháp  để dụ các anh chui ra đầy đủ là chuyện cần làm. Các anh thử tự suy gẫm xem nếu kêu gọi các anh ra tình nguyện ở tù 5 hay 10 năm các anh có ra không ? Các anh phàn nàn là nhốt các anh lâu quá mà các anh cố tình quên đi việc các anh hò hét nhau chống phá liên tục thì thả các anh ra sao được?  Bốn chục năm sau mà các anh còn chống thì thời điểm đó giam các anh để đảm bảo an ninh rõ ràng là vô cùng cần thiết. Nếu các anh không chống phá  thì ai thèm  giam các anh lâu làm gì, chỉ thêm tốn cơm trong khi dân đang đói.

Tuy nhiên  sự việc trên chỉ là những biện pháp tình thế,   nói láo có hẳn một tổ chức, một chiến dịch mới chính là đặc sản của các quan thầy các anh. Quan thầy các anh lên kế hoạch nói láo rất quy mô, có sơ kết tổng kết và thậm chí nói láo giỏi thì . . . có thưởng. Và nó đã được thừa kế bởi các băng nhóm chống cộng cờ vàng các anh. Nó là một thứ vũ khí để chống cộng xuyên suốt cuộc chiến không thể thiếu của các anh. Mấy chục năm qua cộng đồng cờ vàng các anh vẫn tiếp tục  xem nói láo là vũ khí chủ lực để đạt mục tiêu bôi đen chế độ CSVN và  luôn tin tưởng nó tác động đến được quần chúng trong nước tạo thành những làn sóng căm phẫn trả thù thay cho các anh.

Không phải các anh khôn ngoan gì,  chính vũ khí nói láo này các anh cũng chỉ bắt chước sư phụ các anh mà thôi. Từ những năm 1954  sư phụ Mỹ của các anh cũng đã sử dụng thành công vũ khí này để dụ người dân di cư vào Nam. Cái khác giữa sư phụ và học trò là sư phụ đạt được mục tiêu ngoài mong đợi, nhưng học trò toàn bị những cú hồi mã thương đau như búa bổ.

Nói láo là một thủ đoạn chính trị mà bất cứ tổ chức chính trị nào cũng áp dụng nhưng không dễ thành công vì nó là con dao hai lưỡi rất nguy hiểm. Khó thành công nhưng lại dễ áp dụng. Nó  quá dễ thực hiện cho nên  không ngạc nhiên gì khi các anh toàn nói láo để kiếm ăn và chống cộng suốt bao năm qua.

Việc nói láo của sư phụ các anh rất tinh vi và xảo quyệt nhưng những vụ bị bể bạc xưa nay không hiếm. Nói láo về vũ khí hóa học của  Irak, nói láo về sự kiện tàu Maddox ở Vịnh Bắc Bộ năm 1965, nói láo hứa lèo viện trợ và yểm trợ cho các anh đánh VC v.v… Tuy nhiên trong bài này chỉ bàn tới việc nói láo của sư phụ các anh dẫn đến sự kiện di cư năm 1954 tại VN. Một trong những kế hoạch nói láo thành công và hiệu quả nhất.

Từ năm 1954 vũ khí nói láo của các quan thầy các anh VNCH đã được áp dụng triệt để và thành công ngoài mong đợi. Từ đó nói láo trở thành đặc sản  tâm lý chiến của cờ vàng. Sự kiện di cư năm 1954 được sư phụ các anh và bộ máy tâm lý chiến các anh lập đi lập lại  như một sự chạy trốn CS của người dân để tố cáo sự tàn ác của CS, xem đó là “bằng chứng sống” ví von đó là cuộc “bỏ phiếu bằng chân” V.V… Không riêng gì người dân cuồng tín  ngu dốt thời bấy giờ, mà ngay chính các anh cũng tin sái cổ.

Ít ai trong các anh  suy nghĩ và đặt câu hỏi rằng tại sao dân theo Việt Minh đánh Pháp bỏ ra  biết bao nhiêu sức người sức của, không kể cả mạng sống mà lại sợ Việt Minh đến độ phải trốn chạy  theo các anh như thế ? Nếu Việt Minh tàn ác như các anh vu cáo thì dân theo Việt minh để được cái gì? Vả lại Việt Minh tàn ác với dân được ích gì khi dân đang ủng hộ họ tuyệt đối? Việt Minh đang có sự ủng hộ to lớn như thế thì họ đàn áp dân chúng để làm gì? Biết bao nhiêu  phong trào chống Pháp trước đó tại sao không phong trào nào có được một lực lượng quần chúng ủng hộ to lớn như Việt Minh?

Hiệp định Genève quy định năm 1956 là năm tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Tổng thống  Eisenhower lúc đó đã ước tính ông Hồ Chí Minh sẽ thắng với 80% phiếu. Đây là bất lợi vô cùng cho ông Diệm được Mỹ dựng lên. Tuy nhiên có điều khoản là trong vòng 300 ngày dân 3 miền có thể tự do di chuyển giữa các vùng. Đây chính là cơ hội cho Mỹ lên kế hoạch  nói láo để tạo làn sóng di cư ủng hộ ông Diệm đang yếu thế.

Nhìn các thành phần bỏ chạy vào Nam năm 1954 ai cũng có thể nhận thấy như sau :

1. Thành phần theo Pháp, công bộc của Pháp lo sợ bị trả thù –  Pháp đặt ách thống trị tại VN hàng trăm năm cho nên có rất nhiều người  làm công bộc cho Pháp nhiều đời. Thành phần này và gia đình họ  đã di cư lên đến 2 trăm ngàn.

2. Thành phần bỏ chạy do chiến dịch tuyên truyền của CIA – Chiến dịch này có tên gọi là Đường Tới Tự Do (tạm dịch từ Passage To Freedom). Hầu hết thành phần này là người theo đạo Ca tô. Những câu chuyện “Chúa vào nam” , “Đức Mẹ Fatima vào nam” là sản phẩm của trung tá Edward Lansdale của CIA  cha đẻ chiến dịch này trong mục tiêu nhắm tới hai triệu người di cư vào nam đã tác động mạnh vào thành phần Ca tô nghèo khổ này.

Vào thời điểm năm 1954 có  90% dân số VN mù chữ mà  dân theo đạo Ca Tô  phần lớn lại sống ở miền Bắc, cho nên Mỹ đã quyết định (chứ không phải ông Diệm), cần có một cuộc di dân chiến lược. Làm được việc này Mỹ đồng thời đạt được hai mục tiêu : Thứ nhất : ông Diệm có thêm được lực lượng ủng hộ và đồng thời gây ác cảm bất lợi cho Việt Minh. Thứ hai : Tạo được ác cảm của dư luận Mỹ đối với Việt Minh để vận động cho Mỹ can thiệp sâu vào VN. Việc can thiệp vào VN sẽ được CIA hướng dư luận vào việc Mỹ cần  “cứu  giúp “  nhân đạo để dân VN thoát khỏi thảm họa. Hiệu quả của cuộc di dân này sẽ là bức tranh sống dập tắt những chống đối tại Mỹ về việc can thiệp vào VN.

 

Khi Chiến Dịch Đường Tới Tự Do cần tuyển một bác sĩ có khả năng nói tiếng Pháp, Dooley, một sĩ quan hải quân Mỹ  được chuyển qua Đội Đặc Nhiệm 90. Khi Dooley tới Hải Phòng thì mỗi ngày đã có hàng ngàn người bị lừa được đưa xuống tàu vượt 1.500 cây số đường biển để vào Nam tị nạn

Việc tuyên truyền để thực hiện kế hoach di dân có phần đóng góp rất  quan trọng của cuốn sách : “Đem Chúng Tôi Thoát Khỏi Quỹ Dữ” (tạm dịch từ Deliver Us from Evil). Của Dooley. Ông này làm việc y tế trong những trại tị nạn thời đó và cuốn sách này được coi như là một tư liệu sống  về tội ác của Việt Minh. Cuốn sách nói láo  thuộc loại best seller này đã đưa ông lên hàng người hùng trong dư luận Mỹ. Dooley  được sinh ra và lớn lên trong một gia đình Ca tô giáo người Mỹ gốc Ailen. Với thành tích nói láo ông được tặng huân chương và đề nghị phong thánh.

Những gì cuốn sách viết không hề có bằng chứng, nó chỉ là là sản phẩm tưởng tượng của một con chiên có ác cảm với Việt Minh.

Trong bài viết  về Dooly tác giả Diana Shaw một nhà văn, và là một nhà nghiên cứu viết như sau:

Cuốn sách Dooley có những đoạn mô tả làm thế nào chữa trị những đứa trẻ với đôi bàn chân bị nghiền nát trong những bao bố đá, hay cứu chữa cho vị linh mục bị đóng đinh quanh sọ như một mô phỏng diễu cợt về thiên triều gai của Chúa Giêsu, những hình ảnh tàn bạo đến rúng động này được đưa vào các bài điểm sách đi sâu vào trái tim người đọc. Dooley viết: “ Những sự tàn bạo này hầu như luôn có mang ý nghĩa tôn giáo. Bây giờ tôi không còn xa lạ với công việc khâu víu cho những người đàn ông bị hoạn thiến, những người đàn bà bị xẻo vú hay những đứa trẻ nhỏ bị cắt hết ngón tay hay cả bàn tay. Và dần dà tôi hiểu được rằng những trừng phạt như vậy đều có liên hệ tới đức tin của họ nơi Thiên Chúa”.

Trong một đoạn văn khác, Dooley đã mô tả một linh mục bị treo ngược chân lên xà nhà, bị đánh đập và tra tấn theo lệnh cộng sản ngừng buổi thánh lể nửa đêm. Khi Dooley gặp vi linh mục, ông ta “đang nằm trên một chỏng tre, trông như thoi thóp hấp hối nhưng đôi môi vẫn mấp máy cầu nguyện im lặng. Khi vừa giở tấm đắp bẩn thỉu, tôi phải chứng kiến một thân thể thịt da bầm nát từ vai xuống đầu gối, với bụng thì trương cứng và hạ bộ thì sưng phồng như một trái banh. Tôi chích cho ông một mủi morphin và rồi cấm một mũi kim lớn  vào hạ bộ nhằm rút bớt phần nước máu”.

 Norman Baker ở Santa Fe Spring, đã từng là thủy thủ dưới quyền Dooley khi còn ở Hải Phòng cũng đã phát biểu “ Nếu tôi thấy một linh mục bị treo ngược chân  và bị đóng đinh trên đầu, thì tôi chắc cả trại đều được nghe qua. Điều lạ là Dooley không hề nói tới những chuyện ấy”.

Diana Show bình luận:

 Dooley đã được tạo dựng nên như một vị anh hùng, nhưng đồng thời cũng là sự phỉnh gạt lớn đối với nước Mỹ.

Daniel Redmond, một cựu nhân viên của Chiến Dịch Đường đến Tự Do, thì thẳng thắn hơn khi nhận định về Dooley, ông này gọi Dooley là một “nghệ sĩ nói phét.

Và dĩ nhiên dù là sự kiện nói láo. những sự kiện nói láo của Dooley nghiễm nhiên trở thành “tài liệu” tố cộng của các anh cờ vàng.

Nhân vật quan trọng khác  là trung tá Edward Lansdale một chiến lược gia và là phù thủy trong ngành tâm lý chiến. Một điểm đáng chú ý là Dooley phục vụ cho mục tiêu tâm lý chiến của thầy phù thủy CIA Lansdale mà không hề hay biết. Dooley là một con bài có khả năng thích hợp và xuất hiện đúng lúc trong ván bài người tị nạn của Lansdale. Lansdale lên kế hoạch 2 triệu người di tản. Để thực hiện hắn tung tin đồn khắp các vùng quê do bộ phận G5 của quân đội quốc gia miền Nam phụ trách rằng Việt Minh cho phép Tàu tràn vào miền Bắc, bọn Tàu này chuyên cướp bóc và hãm hiếp phụ nữ. Tin đồn lan nhanh đến nỗi Washington phải điện hỏi Lansdale rằng có thực hai sư đoàn Tàu đã vào miền Bắc hay không và Lansdale trả lời là “ việc đó do tôi bịa ra”.

Những tin tức về vùng đất hứa Miền Nam, chúa vào Nam, Việt Minh tịch thu tài sản được phát tán rộng rãi đều là sản phẩm của Lansdale.

Từ mùa hè 1954 đến mùa xuân 1955, gần một triệu người đã di cư vào Nam, gồm hai trăm ngàn người là thân nhân của binh lính, 679 ngàn người Thiên chúa giáo, chiếm 60% trong số một triệu rưởi người theo đạo Thiên chúa. Chiến dịch Đường Tới Tự Do được xem là thành công.

Nói láo phải có nghệ thuật cho nên không phải ai nói láo cũng thành công. Đã là nghệ thuật thì nó không có khuôn mẫu mà nó cần sáng tạo cho nên các anh VNCH  khó mà học cách nói láo của sư phụ mà chỉ biết học nói láo theo kiểu vẹt. Thế nên thành tích nói láo của các anh cờ vàng suốt bao năm qua chỉ đạt đến trình độ móc túi đồng hương mà thôi.

Nói láo không phải chỉ nói những điều không có thật, những lời hứa lèo mà còn phải biết cắt xen chỗ nào của sự thật để nói láo để  người ta tin y như thật, và quan trọng nhất là cần phải có bộ máy nói láo chuyên nghiệp kiểu như CIA  phối hợp nhịp nhàng mới mong đạt được mục tiêu. . Làm sao các anh có được điều đó.  Đó mới là tuyệt chiêu mà sư phụ các anh đã lừa lừa được triệu người VN và lừa cả nước Mỹ.

Chiêu nói láo của CIA  lừa được cả triệu người di cư năm xưa được các anh thừa kế và phát huy thành bài nói láo “tắm máu”  khi CS chiếm Saigon rất buồn cười nhưng đã làm run sợ  được khối người và khốn thay nó lại làm  làm run sợ chính các anh. Điểm khác nhau giữa các anh và sư phụ là Mỹ không tin vào những gì mình nói láo  còn các anh thì lại lo sợ những điều chính mình nói láo rồi ôm những điều chính mình nói láo mà run cầm cập, chạy qua Mỹ vẫn chưa hết run, run suốt gần bốn chục năm vẫn còn run, nhìn đâu cũng thấy CS rập rình.

Sư phụ các anh nói láo có chủ đích và kế hoạch được thực hiện bằng cả bộ máy CIA. Các anh không nhận thức được điều này, cho nên các anh nói láo vô tôi vạ miễn là cho nó đã cái mồm rồi mơ tưởng với nhau là 80 triệu dân trong nước tin vào những chuyện láo của các anh.  Các anh nên nhớ rằng ngày xưa sư phụ các anh nói láo để lừa người dân cuồng tín và mù chữ, không thể tiếp cận sự thật. Ngày nay ở VN hơn 90% dân số biết chữ và interrnet phát triển thuộc hàng top thế giới mà các anh vẫn  cứ “đường xưa lối cũ” thay phiên nhau nói láo không biết ngượng mồm rồi các anh lại còn  tin rằng người dân sẽ tin các anh để nổi dậy làm cách mạng hoa lài hoa cúc cho các anh hưởng thì quả là bó tay với các anh.

Ở hải ngoại thì các anh nói láo là các anh có căn cứ kháng chiến, có cả ngàn quân để các anh xin tiền, các anh nói láo các anh xây dựng được cả một mạng lưới nằm vùng tại VN . Nói láo xin tiền ủng hộ phong trào trong nước để bỏ túi. Hiêu quả nói láo của các anh chỉ đạt được có thế.

Các anh mặc đồ  lính vào,  bốt đờ sô mũ nón  chỉnh tể lắm, đẹp lắm oai lắm,  nhưng lại đứng ở vỉa hè nước Mỹ phất lá cờ đã chết mà mồm thì cứ phùng mang trợn mép đả đảo CS và . . . nói láo. Thế mà các anh lại nghĩ và tin rằng phải  như thế CS nó mới sợ các anh.

Nhà báo phỏng vấn cán bộ CS thì các anh cũng bảo phải mặc đồ lính vào để hù. Nhà báo phỏng vấn thì các anh buộc người ta phải hạch tội CS chứ không phỏng vấn gì hết, vì các anh cho rằng phỏng vấn là tạo diễn đàn cho CS. Ôi thật tội cho các anh quá, cái nỗi sợ CS của các anh làm các anh mất trí rồi..

Thời thế đổi thay chỉ có lòng thù hận và cách chống cộng của các anh là không thay đổi. Các anh nói láo quen mồm nên cứ sợ người ta nói thật, trong khi sự thật mới là chân lý.  Các anh sợ sự thật nhưng vẫn chưa muộn để các anh tìm đến chân lý .  Nếu các anh còn dị ứng với sự thật thì hãy để cho người khác đi tìm sự thật cho các anh. Các anh hãy dẹp qua một bên lòng tự ái đã quá lỗi thời để chấp nhận sự thật dù sự thật đó nó xốn xang đau đơn đối với các anh. Sự thật đó là đân tộc VN đã vươn mình đầy kiêu hãnh với thế giới đưới sự lãnh đạo của kẻ thù các anh : Cộng Sản.

KHI KẺ NÔ LỆ DẠY TA YÊU NƯỚC

Xichloviet

Đọc bài viết “ Cách Đối Xữ Giữa Người Thắng Kẻ Thua Trong Cuộc Chiến” của Tác giả Phan Hoài Nam đăng lại trên kbchn.net tôi chợt nhớ cũng tác giả này từng có bài viết có ý rằng phải để cho Tàu nó đánh VN thì . . . . dân ta mới phục hồi lại lòng yêu nước. Lần này ông ta lại khuyên người Việt nên học yêu nước theo kiểu … Mỹ.   Bó tay,  chỉ có những người sùng Mỹ và rất hận CS mới có thể viết ra được như thế.

Viết lách lưu manh của dân chống cộng kiểu như PHN bao năm qua dù có che đậy thế nào chăng nữa cũng không thể dấu được cái đuôi  cho thấy họ còn hận CS ghê lắm nên viết lách thế nào cũng phải đã giò lái anh CS một cái mới hả dạ. Vòng vo tam quốc tứ xứ thập phuơng xuyên tạc rồi cũng không nhịn được phải phang anh CS một cái mới ăn được cơm.

Mở đầu bài viết anh PHN này đã trình làng ngay cái đuôi mình . PHN  viết :

Ai cũng biết chỉ có lòng yêu nước mới có thể giúp cho dân tộc VN thoát ra khỏi bế tắc hiện nay và để được sống đúng với nhân phẩm con người. “

Anh ta cho rằng dân tộc VN dù đang độc lập thống nhất dù đang phát triển dù thoát khỏi đói nghèo được Liên hiệp Quốc đề cao, dù nhận được bao nhiêu lời ngợi khen của thế giới thì vẫn đang “ bế tắc “  và chẳng có nhân phẩm tí nào. ( Tất cả cũng chỉ vì CS đúng không ông PHN?)

Đối với  PHN và những người đang hăng say chống cộng  thì suy diễn này rất dễ hiểu.   “Bế tắc” có nghĩa là dân Việt  không dám làm cái cách mạng  hoa lài hoa hồng như PHN và các anh cờ vàng mong đợi. Đúng ra là PHN và các anh cờ vàng quá bế tắc trong việc phát động người dân căm thù CS như mình,  người dân không nổi dậy như các anh kỳ vọng thế là PHN  úp cái “bế tắc “ ấy ngay lên đầu người dân và các anh đổ tại người dân không yêu nước cho nên CS mới mạnh, thế thôi, chẳng có gì lạ cả.

PHN viết:

 “  Cũng vì lòng yêu nước mà từ đầu thế kỷ 18, đã có những phong trào trí thức người Nhật tìm cách thoát khỏi quỹ đạo văn hóa của người Trung Hoa” ….. “Sự khác biệt giữa đất nước chúng ta và nước Nhật cũng chính từ sự khác biệt về lòng yêu nước. Cùng là một nước ở Á Châu, diện tích, dân số, tài nguyên gần như nhau nhưng một nước thì giàu có và được cả thế giới kính nể, còn nước kia thì ngược lại…”

Viết như thế PHN  hoặc  là  cố tình bôi nhọ dân tộc hoặc là không hiểu tí gì về văn hóa  và lịch sử Việt Nam.

Chẳng lẽ PHN không biết dù có những tương đồng nhiều mặt nhưng sự khác biệt lớn nhất của nước ta với nước Nhật là khác biệt về lịch sử?

Không phải từ thế kỷ 18 ,mà từ khi lập quốc, và nhất là trong thời gian dài Bắc thuộc,  dân tộc  ta  đã nỗ lực liên tục  duy trì bản sắc riêng của mình để tránh nguy cơ bị Tàu nó đồng hóa. Ta có quyền tự hào rằng dân ta có tinh thần độc lập cao không thua kém bất kỳ dân tộc nào trên thế giới. Từ xa xưa phong tục nhuộm răng ăn trầu  phổ biến trong xã hội phong kiến cũng vì mục đích tạo bản sắc độc lập riêng.

“Búi tó củ hành làm anh thiên hạ” đó là lời truyền miệng nhau trong dân gian cũng chỉ  để tạo bản sắc khác hẳn với người Tàu. Về ngôn ngữ, dân tộc ta có ngôn ngữ riêng, lấy chữ nôm làm chữ viết riêng. Khi các nhà truyền đạo Ca tô theo chân đế quốc vào nước ta phiên âm ngôn ngữ việt ra ngôn ngữ la tinh dễ học để phục vụ cho mục đích  truyền giáo  thì dân ta  không bỏ qua cơ hội dùng chữ này để mở mang dân trí và nó trở thành quốc ngữ hoàn toàn khác với người Tàu. Đó là tố chất thông minh sáng tạo và tinh thần học hỏi của người Việt, nó phát sinh từ lòng yêu nước, yêu dân tộc mà ra. Cả dân tộc Việt cùng nhau bảo tồn văn hóa chứ không phải chỉ có trí thức Nhật tìm cách thoát khỏi ảnh hưởng Tàu như PHN ba hoa.

Tục nhuộm răng là một nét văn hóa độc đáo của dân ta để phân biệt với các tộc người khác và giữ gìn bản sắc dân tộc.  Hầu như tất cả người dân Việt Nam từ kẻ nghèo cho đến người giàu, từ giai cấp nông dân cho đến giới quan lại, điền chủ, hoàng thân quốc thích, vua chúa ai ai cũng nhuộm răng.Trong bài hịch củavua Quang Trung khi kéo quân ra Bắc đánh giặc Thanh vào năm 1789  có câu liên quan đến tục nhuộm răng vì đây là một tập tục quan trọng trong văn hóa người Việt.

Đánh cho để dài tóc

Đánh cho để đen răng

Đánh cho nó chích luân bất phản

Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn

           Đánh cho sử tri nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.

 

Lời dụ này đã thể hiện rõ mục đích cuộc tiến quân (bảo vệ các truyền thống văn hóa dân tộc như các tục để tóc dài, nhuộm răng đen khác Tàu) và quyết tâm đánh giặc đến cùng (đánh cho kẻ xâm lược không kịp trở tay, thân không còn mảnh giáp) và khẳng định chủ quyền quốc gia của Việt Nam (đánh cho lịch sử muôn đời biết rằng nước Nam anh hùng này là nơi đất có chủ).

Sang thế kỷ 20, dân tộc ta đã cho thế giới  thấy sức mạnh kỳ diệu từ lòng yêu nước trong cuộc chiến tranh giành độc lập,  quá thừa để bàn cãi ở đây.

Các anh cờ vàng và anh PHN này thường hay dùng nước Nhật để so sánh với VN và đi đến kết luận là cùng một màu da,  tương đồng về địa lý, và dân số nhưng người Nhật phát triển vượt trội rồi đổ cái chậm tiến lạc hậu đói nghèo đó lên đầu nhà cầm quyền thậm chí như PHN đổ cả lên đầu dân tộc ta.

So sánh VN với Nhật PHN không thể không biết hoặc biết mà cố tình lờ đi rằng ngay  từ năm 1894 Nhật đã đánh thắng Trung Hoa buộc phải nhường Đài Loan  và công nhận riều Tiên  độc lập qua Hiệp ước Shimonosheki .

Từ năm 1905 Nhật đã là cường quốc, Nhật đánh bại nước Nga có hải quân hạng nhì thế giới bấy giờ,  Nước Nga của Sa Hoàng thảm bại  buộc phải trao một số quyền đáng kể ở Triều Tiên và Trung Quốc cho Nhật Bản. Theo đó, Tokyo được trao bán đảo Kwantung cùng với cảng Arthur và phía nam đảo Sakhalin cho tới vĩ tuyến 50.

Và sau thất bại của Nga, các cường quốc phương tây buộc phải thừa nhận đất nước mặt trời mọc là một sức mạnh vào hàng thế giới.

Đó là về hải quân, về không quân thì năm 1945 khi dân VN còn chân đất kéo xe tay,  người kéo cày thay trâu  và hơn 90% người dân mù chữ thì Nhật Bản đã có máy bay đánh  Trân Châu Cảng khiến  Mỹ phải kinh hồn bạt vía, thất điên bát đảo.

Trước khi thua trận bằng 2 quả bom nguyên tử của Mỹ,  Nhật từng đã xâm lược Trung Hoa trong 8 năm trời từ năm 1937 đến 1945.

Những cây viết cờ vàng thường so sánh với Nhật hay Nam Hàn để chê bai dân tộc mình,  lèo lái suy nghĩ của người đọc về huớng  tương đồng về văn hóa, địa lý, màu da nhưng người Việt lại chậm tiến so với người họ, mà cố tình lập lờ,  cố tình quên đi lý do lịch sử hoàn toàn khác nhau.  Hoặc là họ lưu manh trí trá cố đánh lừa người đọc hoặc họ không đứng ở góc nhìn của dân tộc để nhìn lịch sử mà họ đứng ở góc nhìn của kẻ quen làm nô lệ.

Hết so sánh với người Nhật, PHN lại so sánh cuộc chiến VN với cuộc nội chiến Mỹ để đá giò lái CS, rồi khuyên dân ta nên . . . . .học Mỹ về lòng yêu nước.

PHN viết :” Hy vọng rằng qua bài học về lòng yêu nước của người Mỹ và Nhật chúng ta có thể rút được vài điểm nào đó để tìm cách xây dựng lại lòng yêu nước của người Việt Nam.”

Xưa nay rất nhiều nước trên thế giới cho rằng cần học VN về lòng yêu nước chứ chưa từng  thấy có ai khuyên VN nên học lòng yêu nước từ Mỹ cả. Duy nhất chỉ có PHN có đầu óc như thế.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, và nhất là sau 1975, cả thế giới đã phải nhìn nhận tinh thần bất khuất và sức mạnh từ lòng yêu nước mãnh liệt của dân tộc VN.  VN được xem là tấm gương cho những nước thuộc địa, những nước bị cường quốc áp bức. Ngay những chiến binh Mỹ cũng vô cùng ngạc nhiên về sức mạnh từ lòng yêu nước của dân Việt và xem đó  là tấm gương cho các nước yếu, thế mà PHN khuyên dân ta phải học theo Mỹ mới có được lòng yêu nước. Chỉ có đầu óc quen làm nô lệ mới nghĩ ra và can đảm viết lên điều này.

Ngày nay bất cứ ai muốn tìm hiểu cũng có thể tìm được thông tin và ai cũng nhận ra hai cuộc chiến Nam Bắc Mỹ và cuộc chiến tranh VN hoàn toàn khác xa nhau cả về tính chất lẫn  quy mô. Việc so sánh là là có ý đồ đen tối và vô cùng khập khiễng.

Cuộc chiến tranh VN là cuộc chiến tranh đánh đuổi ngoại xâm  giành độc lập từ 2 đế quốc. Dù cuộc chiến có sự hiện diện của quân đội VNCH đi nữa nó cũng không thể gọi được là cuộc nội chiến vì VNCH được đẻ ra và là công cụ của Pháp rồi đến Mỹ.  Đánh Pháp, đánh Mỹ là buộc phải đánh VNCH, dù đó là anh em,  dù đó là đồng bào.  Đó là điều dĩ nhiên, đó là sự bắt buộc,  đó là sự nghiệt ngã của chiến tranh. Đó mới là nguyên nhân của những nỗi niềm cờ vàng kéo dài gần 4 thập kỷ qua.

Một quân đội được đẻ ra và nuôi dưỡng bởi đế quốc, được chỉ huy bằng những tướng lãnh được đào tạo bởi thực dân và đế quốc như quân đội VNCH, bị  sai khiến và lệ thuộc hoàn toàn vào  ngoại bang không thể so sánh với quân ly khai miền Nam trong cuộc nội chiến Mỹ được.

Những người CS từng  xác định trong chiến lược của mình là chỉ cần đuổi bố chạy thì con sẽ chết, họ đã đúng và thưc tế đã chứng minh y như thế.  Hiệp định Paris CSVN cũng ở chiếu trên ký với bố Mỹ chứ không phải với con VNCH.

Từ bản chất cuộc chiến hoàn toàn khác nhau cho nên những so sánh của PHN về cuộc chiến VN với cuộc nội chiến Mỹ hoàn toàn không có giá trị.

PHN đề cao “tinh thần hào hiệp mã thượng” của người Mỹ, nhưng lại nhìn dân tộc VN  với cái nhìn đã bị Mỹ hóa và đầy hận thù  cho nên thể không thấy được dân tộc ta ứng xử nhân bản như thế nào với cựu thù.

Nói về tính  nhân bản và tinh thần mã thượng của  dân tộc ta thì chính người Mỹ phải công nhận trước tiên. Những cựu binh Mỹ từng gây tội ác với nhân dân ta vô cùng ngạc nhiên bởi thái độ của người dân đối với họ khi họ quay lại chiến trường xưa, chính thái độ và cách hành xử nhân bản đó đã cảm hóa được rất nhiều người mà ta có thể tìm thấy vô số dữ kiện loại này trên interrnet.

Nếu so sánh điều này với người Nhật thì PHN hãy đọc bản tin sâu đây :

Tạp chí National Geographic Vol.182, No. 5 ra ngày 18 – 11- 1992 có bài “Portugal’s sea road to the East” p. 56- 93, cho biết :
Vào năm 1638 tại Nagasaki Nhật bản có khỏang 100 ngàn giáo dân Công giáo làm nội ứng cho quân Bồ Đào Nha xâm chiếm Nhật. Triều đình Nhật cử tướng Lemitsu đem đại quân đến đánh bật bọn xâm lược ra khỏi đất nước. Tất cả cha cố, thừa sai bị tử hình, và 37 ngàn tên giáo dân Công giáo nối giáo cho giặc bị tiêu diệt . Một số tên trốn thoát nhảy theo tàu Bồ Đào Nha trốn sang Hội An Việt Nam.”

Ở VN chiêu trò của thực dân cũng chẳng khác gì . Nửa cuối thế kỷ 19 có đến 600 ngàn người theo tôn giáo này phá bỏ tập tục cha ông, lìa bỏ nề nếp văn hóa dân tộc . Tuy nhiên, trước khi Pháp đổ quân xâm chiếm Việt Nam, những người Công giáo được coi là những công dân lầm lạc vì nhẹ dạ và ngu dốt nên Triều Đình và nhân dân Việt Nam không nỡ ra tay với  họ. Nhưng kể từ khi Pháp chiếm Đà Nẵng năm 1858, đa số giáo dân Công giáo đã trắng trợn ra mặt theo giặc và phản bội Tổ Quốc.

Năm 1873, 5000 giáo dân Ca tô dưới sự lãnh đạo của linh mục Trận Lục giúp Pháp hạ thành Ninh Bình và đánh chiếm chiến lũy Ba Đình cỉa Đinh Công Tráng.

Trần Bá Lộc, sinh năm 1834 trong một gia đình Công giáo tại Long Xuyên. Lộc xin vào đoàn quân Công giáo do Charner tổ chức chuyên việc lùng quét các nhóm quân kháng chiến. Sau khi tham gia nhiều trận đánh tái chiếm Rạch Giá, Lộc được Pháp phong chức tổng đốc Rạch Giá. Y là tên đại Việt gian được Pháp tín nhiệm trao nhiệm vụ triệt hạ phong trào kháng chiến từ Quảng Nam đến Phan Thiết. Với nhiệm vụ này, Trần Bá Lộc đã giết hại khoảng 25 ngàn người Việt yêu nước.

Trần Tử Ca, nguyên là một người bên lương, sinh trưởng tại Gò Vấp. Lúc đầu y đi theo kháng chiến, nhưng sau đó y theo đạo, rời bỏ hàng ngũ kháng chiến theo giặc chống lại Tổ Quốc. Năm 1862, Ca được Pháp bổ làm tri huyện Hóc Môn. Năm 1865, y đi theo quân đội Pháp càn quét các tỉnh miền Tây. Đêm 9-2-1885, Ca bị nghĩa quân giết chết .

Huỳnh Công Tấn  một người Công giáo trong hàng ngũ nghĩa quân của Trương Công Định từ 1861. Ngày 20-8-1864, Tấn phản bội, bất thần phục kích giết chết  Trương Định tại Gò Công. Ngày 19-9-1868, Huỳnh Công Tấn cùng với 127 lính tập Công giáo vây bắt Nguyễn Trung Trực tại đảo Phú Quốc. Như vậy, riêng một mình y đã sát hại được hai nhà cách mạng kháng chiến nổi tiếng tại Nam Kỳ. Y được Pháp trao tặng Bắc Đẩu Bội Tinh cho hai chiến công lớn này !

Tạ Văn Phụng, tức Phêrô Lê Duy Phụng, nguyên chủng sinh tại Penang, lấy danh nghĩa là con cháu nhà Lê dấy binh khởi nghĩa tại Bắc Kỳ chống triều đình Huế năm 1858. Tạ Văn Phụng nhờ các giáo sĩ liên lạc với chính phủ Pháp để xin giúp đỡ. Napoleon III đồng ý, và cử tên gián điệp Duval sang Việt Nam giúp Phụng với mục đích biến Bắc Kỳ thành một xứ Công giáo với một chính quyền Công giáo. Duval đi Macao mua vũ khí và giúp Phụng thành lập những đoàn quân gồm đa số là giáo dân. Trong các tháng 6 và 7-1863, Phụng khởi quân đánh chiếm một vùng rộng lớn ở đồng bằng Bắc Bộ gồn 3 tỉnh Quảng Yên, Hải Dương và Nam Định.Triều đình Huế cử Nguyễn Tri Phương đem quân ra Bắc dẹp loạn. Tạ Văn Phụng bị bắt đem về Huế xử tử. “(1)

Nhìn những sự kiện lịch sử nêu trên, nếu so sánh hành động tàn sát giáo dân của người Nhật với việc cấm đạo của vua quan các triều đại phong kiến VN thì VN còn quá nhẹ, quá  hiền và quá nhân đạo.

Học gì từ “tinh thần hào hiệp mã thượng” của người Mỹ và người Nhật đây hả ông PHN?

PHN viết :

Người Việt Nam ngày nay không còn mấy ai hãnh diện về đất nước

Không hiểu PHN căn cứ vào đâu để phát biểu hàm hồ  như thế, Cứ nhìn những giọt nước mắt sung sướng nghẹn ngào mỗi khi cờ VN được kéo lên khi vận động viên đem huy chương về cho tổ quốc. Cứ nhìn màu đỏ rực lửa trên sân vận động mỗi khi có đội VN thi đấu. Cứ nhìn rừng cờ đỏ sao vàng xuống đường khi VN thắng trận đủ để thấy PHN phát biểu lếu láo và vô cùng cảm tính. Cũng chỉ vì căm thù mà  PHN hồ đồ dán cái bất mãn của mình cho cả dân tộc.

PHN viết :

Vào ngày 7/5/1975, có nghĩa là chỉ có 1 tuần sau khi quân đội Miền Bắc chiếm được Miền Nam, trong lễ ăn mừng chiến thắng tướng Trần Văn Trà đã nói trước mặt mọi người: “Trong cuộc chiến này, cả Miền Bắc và Miền Nam đều chiến thắng, chỉ có người Mỹ bại trận”.

Và dĩ nhiên, sau khi bóp méo câu nói của Tướng Trà rồi so sánh với phát biểu  của tướng Ulysses Grant PHN phán thòng thêm một câu đá giò lái CS như sau :

“…câu nói của tướng Trần Văn Trà là câu nói mị dân, nằm trong mục đích tuyên truyền của chế độ để gạt tất cả những quân dân cán chính của VNCH, tin vào chính sách “khoan hồng của Đảng”

Thực tế Tướng Trà phát biểu  không phải là trong lễ mừng chiến thắng như PHN viết,  mà phát biểu  khi ông trực tiếp gặp tổng thống Dương Văn Minh, phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền, thủ tướng Vũ Văn Mẫu vừa thông báo quyết định, vừa truyền đạt chính sách của cách mạng như sau :

“Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã quyết định trả tự do cho các ông về với gia đình. Giờ đây miền Nam Việt Nam đã được hoàn toàn giải phóng, nước Việt Nam độc lập và thống nhất. Cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai đã toàn thắng…

Bây giờ đất nước Việt Nam đã độc lập và thống nhất, không phải là lúc nói chuyện người thắng kẻ thua. Đối với chúng ta, không có kẻ thua, người thắng mà chỉ có dân tộc Việt Nam chúng ta thắng Mỹ…

Mỗi người Việt Nam lúc này hãy thực hiện tốt chính sách hòa hợp dân tộc của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, đem hết sức lực và trí tuệ của mình để góp phần xây dựng đất nước sau 30 năm chiến tranh tàn phá…”.

Ngay từ những giờ phút đầu tiên khi đối phương đầu hàng Tướng Trà đã nói đến việc hòa giải dân tộc.

Kiểu bóp méo xuyên tạc và so sánh trí trá xảo quyệt của PHN dễ làm cho những người thiếu thông tin bị lừa. Nếu phải so sánh các hành xử của các tướng lãnh Nam Bắc Mỹ trong cuộc nội chiến thì hãy so sánh với sự chống đối và ly khai của Ba Cụt dưới chế độ VNCH là chính xác nhất. Ba cụt cũng ly khai và không chấp nhận quyền lực của Ngô Đình Diệm, Ba cụt cũng thất bại như các tướng miền Nam trong cuộc chiến Nam Bắc Mỹ nhưng Ba Cụt thì  cuối cùng bị Ngô Đình Điệm . . .  tử hình. Không hiểu sao PHN không phân tích “tinh thần mã thượng” của chế độ VNCH và  lý do gì chế độ VNCH không học theo Mỹ trong trường hợp này nhỉ?

Đứng trên quan điểm của kẻ phi dân tộc thì luôn có hành xử phản dân tộc. Đứng trên quan điểm của kẻ quen làm  nô lệ thì không bao giờ hiểu được giá trị đích thực của độc lập tự do. Nhưng đó lại chính là góc nhìn của những kẻ chống cộng bao năm nay . Chính từ góc nhìn này cộng với  hận thù triền miên mà họ không bao giờ có được niềm  tự hào của người dân Việt như chúng ta. Họ bi quan cho cái tiền đồ chống cộng của họ,  họ đổ lỗi cho hoàn cảnh, họ đổ lỗi cho Cộng Sản và thậm chí đổ lỗi cho  cả dân tộc ta như luận điệu của cây viết cờ vàng PHN này.

Đó cũng là lý do tôi đặt tựa cho bài viết này là “KHI KẺ NÔ LỆ DẠY TA YÊU NƯỚC”

(1) Charlie Nguyễn  : Hồ Sơ Tộc Ác của Hội Thừa Sai Paris và Giáo Hội Công GiáoViệt Nam trong lịch sử mất nước hồi cuối thế kỷ 19

HẬU QUẢ TÂM LÝ CHIẾN VÀ BỆNH TỰ KỶ ÁM THỊ CỦA CÁC ANH CHỐNG CỘNG CỜ VÀNG

xichloviet

Hình ảnh CS qua hệ thống Tâm Lý Chiến chế độ Saigon

Dân cờ vàng chống cộng ngày nay hùng hổ lắm nhưng trong thâm tâm vẫn sợ và nể CS. Chiến thắng của CS đã mở mắt họ ra và dạy cho họ một bài học quý vô cùng . Bài học về cái giá phải trả vì khinh địch. Tại sao lại khinh địch?  Đó chính là hệ quả tuyên truyền của hệ thống  tâm lý chiến chế độ Sài Gòn.

Cú hồi mã thương nặng nề các anh chống cộng cờ vàng  phải lãnh chính là những luận điệu truyền truyền chiến tranh chính trị của chính quyền Saigon đã đập ngược trở lại lưng họ  mà hậu quả của nó vẫn tồn tại hơn ba chục năm sau họ vẫn chưa hoàn hồn, chưa làm cho họ hết run sợ CS, sợ bóng sợ gió,  tự tưởng tượng ra mà sợ với nhau. Nghi ngờ một tí là các anh cho rằng có Việt cộng nằm vùng. Những hiện tượng nào không lý giải được thì các anh cho rằng CS đang xâm nhập tinh vi vào cộng đồng. Sợ CS nhưng các anh cờ vàng lại cho rằng những gì CS làm đuợc là mình phải làm được. Thế là các anh tìm cách bắt chước CS để chống cộng.

Hệ thống tâm lý chiến của Saigon  tuyên truyền tạo ra hình ảnh anh cán binh VC  ngu đần  khát máu chuyên khủng bố, pháo kích giết hại dân lành, và hầu hết những công bộc của chế độ cờ vàng đều tin tưởng như vậy.  Những hình ảnh được tâm lý chiến dựng lên như  tù binh VC nhếch nhác không quân phục, không giày dép đen đúa bẩn thỉu. Những chiến sĩ miền Bắc thì được họ mô tả là “răng đen mã tấu dép râu” 7 thằng leo cây đu đủ không gãy. Họ mô tả những người CS là những kẻ dốt nát, là những tên thảo khấu chưa hề biết đến văn minh loài người.  Người dân thành thị trong chế độ Sai gòn cả đời chưa bao giờ được biết mặt mũi anh cán binh cộng sản ra sao, nếu được thông tin thì hình ảnh toàn là những anh tù binh nhếch nhác  bên cạnh những anh hùng lính Cộng Hòa hiên ngang đang nở nụ cười chiến thắng.

Tâm lý chiến chế độ  Saigon dựng lên bộ phim “Chúng tôi muốn sống” để tố cáo chinh sách cải cách ruộng đất miền Bắc. Nó hiệu quả đến nỗi cho đến nay người ta cứ tưởng những hình ảnh trong phim là sự thật. Hầu hết những dẫn chứng hình ảnh về sự tàn bạo của chính sách cải cách ruông đất miền Bắc trên hệ thống truyền thông cờ vàng  đều trích dẫn từ phim này mà hoàn toàn không hề có dẫn chứng hình ảnh nào khác. Cho đến hôm nay các anh cờ vàng cũng vẫn dùng những hình ảnh trích trong phim này để tố cộng và tha hồ phóng đại lên số nạn nhân.  Cuốn tiểu thuyết “ Giải khăn sô cho Huế “ do  Nhã Ca, một nhà văn tâm lý chiến được giải thưởng của Nguyễn Văn Thiệu bịa chuyện thì được xem là tài liệu “lịch sử”  tố cộng tàn sát dân thường năm Mậu Thân ở Huế.  Hệ thống tâm lý chiến Saigon đã làm cho nó trở thành “tài liệu”  tố cộng của các anh.

Và hình ảnh anh lính Cộng Hòa

Đối lập với những hình ảnh Việt cộng là  hình ảnh anh chiến sĩ cộng hòa trang bị tận răng oai phong lẫm liệt . Những nhạc phẩm và phim ảnh ca ngợi anh lính Cộng Hòa phổ biến tràn lan khắp nơi  mô tả anh lính không quân đa tình hào hoa phong nhã,  anh lính hải quân lãng tử bồng bềnh nghệ sĩ hay những  “anh hùng mũ đỏ” bụi bặm oai hùng. Họ mô tả những cuộc hành quân đầy lãng mạn và cuộc đời lính đầy ắp tình cảm em gái hậu phương.

Vào thời điểm Việt Nam hóa chiến tranh họ đặt những trung tâm tuyển mộ nhập ngũ khắp nơi,  quảng cáo rầm rộ  cho các binh chủng bằng các hình ảnh oai hùng cùng  với số tiền thưởng đầu quân rất  hậu hĩ tùy theo mức độ nguy hiểm của binh chủng. Những nơi này tuyển mộ vơ vét nhứng thanh niên đang còn đi học, đang được hoãn dịch hoăc đã từng trốn lính. Việc tình nguyện nhập ngũ rất dễ dàng đến nỗi chẳng cần miếng giấy tùy thân. Thế nên có rất nhiều trường hợp đào ngũ ở đơn vị này rồi tình nguyện vào binh chủng khác để kếm tiền đầu quân.

Tại các trường trung học trước khi thi tú tài,  trường sĩ quan Đà Lạt cho người đến tận trường tuyên truyền chiêu dụ học sinh ghi tên thi vào võ bị. Họ  nêu ra những  quyền lợi của sĩ quan hiện dịch như bằng sĩ quan tương đương cử nhân khoa học, ra trường có bằng nhảy dù, bằng lái các loại xe, kể cả nhảy đầm. v.v. . để đánh vào tâm lý háo thắng giới trẻ.  Họ tô vẽ hình ảnh những sĩ quan Đà lạt phong lưu lịch lãm và oai hùng. Hình ảnh những buổi lễ gắn an pha in ra các tờ bướm cùng với những sĩ quan tương lai lịch lãm dạo phố bên bờ hồ Xuân Hương làm cho những chàng thanh niên đang đi học phải thèm thuồng.

Đối với các cô gái thì họ tuyên truyền hình tuợng người lính như một tiêu chuẩn của các cô.  Hình ảnh những  anh sĩ quan trẻ ngồi trên xe jeep bụi bặm chạy trên đường phố luôn được các cô gái mơ ước. Những “anh hùng mũ đỏ”, hay những chàng trai “tung cánh chim sắt” vào bầu trời, những chàng trai lướt sóng gởi những chùm “hoa biển” cho các em gái hậu phương gây ấn tượng mạnh cho giới thanh niên cả nam lẫn nữ.

Họ tuyên truyền  cho thanh niên cái nhìn về quân đội như một nơi đầy ắp những quyền lợi, được mọi người kính nể  mà không gợi ra một lý tưởng nào. Mục đích chiến đấu của lính Cộng Hòa được tuyên truyên chỉ là chống cộng sản xâm lược, bảo vệ tự do, rất mơ hồ không thuyết phục được thanh niên cho nên họ  phải ra sức tạo ra hình ảnh anh lính với những tố chất đẹp đẽ có thể chất kích thích tuổi trẻ. Người thanh niên vào lính không vì lý tưởng cao cả nào mà chỉ muốn “thỏa chí tang bồng” .

Có rất nhiều học sinh bỏ học để đăng lính vừa có tiền đầu quân vừa thỏa chí tang bồng như họ tưởng tượng.  Quần áo người lính xuất hiện trên đường  phố phải được ủi thẳng nếp và hồ cứng, giày bốt đờ sô phải đánh xi bóng loáng làm cho hình ảnh người lính rất đẹp dưới mắt giới trẻ. Nhiệm vụ của người lính được giới trẻ hiểu như là trừ gian diệt bạo, giang hồ hành hiệp kiểu quân tử Tàu mà không được trang bị một lý tưởng vững chắc nào. Chính cái động cơ đi lính như thế đã làm cho quân đội Cộng Hòa rất dễ tan rã khi đối mặt với hiểm nguy.

Chính cái kiểu tuyên truyền chú trọng vào ca ngợi  hình thức đã làm cho không ít thanh niên vỡ mộng khi đối diện với thưc tế chiến truờng làm suy giảm rất lớn đến sức chiến đấu. Khi chiến trường không như mộng mơ phải đối diện với hiểm nguy hằng ngày, sống nay chết mai  lại không có động cơ chiến đấu họ trở nên bất cần đời,  tìm  cách đào ngũ.

Cú hồi mã thương từ hệ  thống tâm lý chiến

Vì xem Việt Cộng là thảo khấu, là bọn thổ phỉ cộng với sự bất đắc chí vì vỡ mộng cho nên trong những duộc hành quân càn quét vào những ngôi làng những anh lính Cộng Hòa là những kiêu binh vô tư cướp phá hoa màu gia súc, hãm hiếp người dân, chỉ cần có nghi vấn là người dân đối diện với tra tấn dã man. Trong cuộc chiến đấu với du kích Việt cộng họ ở ngoài ánh sáng, còn Việt cộng trong bóng tối thoắt ẩn thoát hiện. Họ không phân biệt được đâu là dân thường đâu là việt cộng. Khi bị tấn công có thương vong họ điên cuồng lùng sục và tra tấn bất cứ người dân nào để truy tung tích việt cộng trả thù. Cứ như thế người dân càng ngày càng căm thù họ và lén lút nuôi chứa Việt cộng.  Điều này giải thích tại sao hầu hết vùng nông thôn VN đều do VC kiểm soát và họ thất bại là điều tất yếu.

Ngược lại người chiến binh Bắc Việt khi nhập ngũ được tuyên truyền về những khó khăn sẽ phải đối diện kể cả hy sinh tính mạng.  Họ được huấn luyện nhìn về phía trước để giải phóng đất nước, có như thế họ mới nhanh chóng được đoàn tụ gia đình. Họ có mục tiêu để tiến tới, họ có lý tưởng để cầm súng. Hình ảnh người lính rất đơn giản chỉ là người chiến sĩ giải phóng giản dị kiên cường bất khuất  và ngùn ngụt tinh thần chiến đấu.

Những luận điệu tuyên truyền tâm lý chiến về đối phương và về sự phồn vinh của “thế giới tự do” đã làm  mơ ngủ hầu hết những người lính và các công bộc của chế độ Saigon và hậu quả của nó theo họ sang tận nước Mỹ đến nỗi mấy chục năm sau  mà họ vẫn chưa hiểu ra được tại sao họ phải bỏ chạy, cho đến nay họ vẫn luôn than trách rằng “CS cưỡng chiếm miền Nam”.

Ngày 30.4.75 cả một quân đội còn nguyên súng ống máy bay tàu chiến từng được hệ thống tâm lý chiến nổ  là đứng hạng tư thế giới tan rã nhanh chóng.  Những bức ảnh còn ghi lại cuộc tháo chạy chen chúc hỗn lọan. Lính Cộng Hòa cởi quần cởi  áo giữa đường vứt bỏ súng ống quân trang tháo chạy như đàn vịt. Chưa có một quân đội bại trận nào trên thế giới nó nhếch nhác thảm hại nhục nhã đến như thế. Họ cởi quần áo để họ ẫn lộn với người dân không bị đối phương phát hiện khi đào thoát, bộ máy tâm lý chiến đã làm cho họ tưởng tượng mối hiểm nguy ghê gớm khi lọt vào tay Việt Cộng và bằng mọi giá phải chạy thoát thân khỏi vùng Việt  Cộng kiểm soát, từ đó  biến thành cuộc tháo chạy hỗn loạn chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh thế giới .  Một số lính tráng cởi quần áo bỏ chạy nhưng tay vẫn cứ phải che cái chữ “sát cộng” đã lỡ xăm trên cánh tay. Tất cả phần lớn đều do cú hồi mã thương từ tâm lý chiến.

Mặc dù quân Bắc Việt chiến thắng nhưng họ vẫn khiêm tốn và có tinh thần kỷ luật rất cao. Không hề có cướp bóc trả thù xảy ra khi họ chiếm Saigon. Không hề có tắm máu, không hề có rút móng tay, không hề có bắt các cô gái gả cho thương binh như bộ máy tâm lý chiến Saigon tuyên truyền. Lúc này thì các anh cờ vàng đã thở phào nhẹ nhõm. Hoàn hồn lại, các anh bắt đầu  chê bai lính Bắc Việt  cù lần, rừng rú  không biết sử dụng cái toa lét. Rất nhiều những câu chuyện truyền miệng  nhau  để mỉa mai anh bộ đội quê mùa, thả cá vào bồn cầu, rửa rau trong bồn tiều v.v….

Quả thật các tiện nghi thành phố kiểu Mỹ đã làm choáng ngợp các chiến binh Bắc Việt và họ thật sự ngạc nhiên với đuờng phố thành thị Miền Nam nhưng điều quan trọng là họ đã thích nghi nhanh chóng và làm nhiệm vụ quân quản một cách xuất sắc, không để xảy ra cướp bóc hỗn lọan, trật tự xã hội được vãn hồi nhanh chóng chưa từng thấy. Cả triệu quân của chế độ Sai gon tan rã nhưng không hề có biến lọan, ngày 01.5.1975, nghĩa là chỉ 1 ngày sau khi cắm cở trên dinh Độc Lập. họ đã có thể tổ chức thành công một cuộc mít tinh trật tự với hàng chục ngàn người trước Dinh Độc Lập tràn đến tận sân Hoa Lư.

Chạy sang Mỹ có thì giờ ngẫm lại các anh cờ vàng  mới thấy những nguời CS chiến đấu  rất hiệu quả và thực chất hơn hẳn quân đội của họ. Để có một quả pháo mà bắn họ phải bỏ biết bao nhiêu công sức và xương máu để vận chuyển nó hàng ngàn cây số. Họ chắt chiu từng viên đạn, từng miếng lương khô. Không cần nón sắt, không cần bốt đờ sô không cần trực thăng vận, họ trèo đèo vượt suối cả ngàn cây số và tất cả đều nhìn ra phía trước. James G. Zumwalt một cựu binh Mỹ viết trong hồi ký BARE FEET, IRON WILL  rằng quân Mỹ chiến đấu nhưng luôn nhìn về phía sau là  hậu phương của họ và mong mỏi ngày về còn đối phương thì nhìn về phía trước mong đánh đuổi họ càng sớm càng tốt. Đó là lý do tạo nên sức mạnh quân đội Bắc Việt làm nên chiến thắng.

Bắt chước CS để chống cộng

Các anh cờ vàng nhận ra sức mạnh của CS thì đã quá muộn, khi đã ngồi ở tận xứ người mà ngẫm sự đời. Nhận thấy rất nhiều đồng hương còn đang cay cú CS,   những năm đầu sau 1975 một số anh cờ vàng bắt đầu bắt chước CS lập ra “chiến khu” để chụp hình bịp đồng hương. Ngày xưa Việt Cộng khởi nguồn từ chiến khu nên ta cũng phải có chiến khu. Thế là họ bắt đầu tưởng tượng ra cái chiến khu phục quốc. Họ cũng cái khăn rằn quấn cổ y như du kích quân từng làm, cũng mặc bà ba đen y như hình ảnh Việt cộng được tâm lý chiến tuyên truyền. Cả một quân đội được dựng lên bằng tiền của Pháp, Mỹ mà không trụ nổi thế mà các anh này bắt đầu lại bằng con số không lại hoạt động bằng tiền đi xin của đồng hương.   Khối người nhận ra mình bị bịp thì đã muộn, chỉ biết lắc đầu ngao ngán.

Chiến thắng kỳ diệu của CS làm các anh cờ vàng cứ ngớ người ra dụi mắt mãi mà vẫn tưởng như ngủ mơ.  Vừa mới hôm trước còn nhảy đầm được ở Saigon thì hôm sau Việt cộng đã tràn ngập mà người ít theo dõi tin tức không thể nhận ra có dấu hiệu nào là Saigon thất thủ nhanh đến thế.

Thế nhưng sang đến Mỹ các anh cờ vàng vẫn không chịu công nhận là Người CS chiến thắng và cũng không nhìn nhận là CS giỏi. Các anh vẫn cho rằng CS “ăn may” và sở dĩ CS chiến thắng là vì CS giỏi bịp dân, giỏi nói láo giỏi lươn lẹo chứ dốt nát như CS không thể nào thắng Mỹ được.  Các anh tìm đủ mọi lý lẽ để biện minh cho cái thất bại cay đắng tủi nhục của mình mà không bao giờ chịu “tâm phục khẩu khục” đối phương.  Đây cũng là hậu quả của những viên thuốc tâm lý chiến ngày xưa đầu độc các anh.

Cay cú nên các anh kêu gọi “phục quốc” . Muốn thế phải có tiền, thế là các anh suy luận rằng : Việt Cộng nó bắt đầu kháng chiến từ trong rừng thì ta cũng phải bắt đầu từ trong rừng. CS nó nói láo để bịp dân thì ta cúng phải nói láo. Thế là các anh lên kế hoạch nói láo là các anh có cả ngàn quân ở mật khu trong rừng. Các anh mặc áo bà ba quấn khăn rằn chụp hình cho nó gây ấn tượng rồi  các anh nói láo là dân trong nước đang ngùn ngụt căm thù chỉ chờ các anh về là nổi dậy. Các anh phải nói láo để kiếm tiền. Các anh nghĩ rằng  là nếu có tiền các anh sẽ có chiến khu như Việt Cộng và các anh sẽ làm được điều gì đó cho bà con tin và để kiếm tiền tiếp.

Các anh cờ vàng từng chứng kiến  các cán binh VC tù chính trị của chế độ Cộng Hòa rất hiên ngang bất khuất mà các anh không thể hiểu nổi tại sao. Các anh được tâm lý chiến  tuyên truyền rằng CS có biệt tài “nhồi sọ” làm cho con người u mê  mù quáng. Thế nhưng chính các anh cũng phải  thầm thán phục sức chịu đựng và ý chí kiên cường của họ. Trong tù thì  tù chính trị nó có vẻ “danh giá “ hơn các tù khác vì họ có mục tiêu lý tưởng, họ bị bắt do chống lại chế độ bằng nhiều cách khác nhau và bị bắt. Tù chính trị có đủ hạng người, từ cậu SV đến anh xích lô làm giao liên, từ nhà sư đến các cán bộ đặc công nội thành.  Sau chiến tranh VN họ lập ra  hội cựu tù chính trị Côn Đảo, Phú Quốc, v.v … để cùng nhau ôn lại quá khứ đau thương và giáo dục truyền thống cho lớp  trẻ.

Các anh sĩ quan cờ vàng thì khác hẳn . Chiến tranh kết thúc các anh vào tù là do các anh phải  tự động nộp mạng để vào tù chẳng có ai bắt các anh cả. Các anh vào tù không anh nào có tính chất chính  trị. Các anh đã thua trận các anh không bao giờ được xếp loại tù chính trị. Thế nhưng sang Mỹ các anh nhận vơ lập ra cái gọi là “Hội cựu tù nhân chính trị “ cho nó oai. Ở tù vì là bại binh bị bắt nhốt thì nó nhục nhã ê càng quá cho nên các anh tìm cách tự sướng với nhau bằng cách chơi chữ bằng cách phong cho nhau cái nhãn “tù chính trị”.  Một lần nữa các anh lại bắt chước ăn theo CS nhưng quá vụng về rồi.

Người ta thường lầm tưởng trò biểu tình chống cộng là sáng kiến độc quyền của các anh cờ vàng nhưng không phải thế, các anh cũng bắt chước học đòi theo CS nốt. Tuy nhiên cái khác nhau là CS phát động biểu tình thì hiệu quả ngay và gây chấn động mạnh đến nhà cầm quyền Saigon, còn các anh thì gãi ngứa CS cúng không được.

Ngày xưa, CS phát động những cuộc biểu tình rất có hiệu quả, người dân, SVHS xuống đường rầm rộ  bằng nhiệt huyết và sức mạnh đoàn kết to lớn làm cho chính quyền Cộng Hòa của các anh thất điên bát đảo, nhưng khó mà tóm được anh Việt Cộng nào lãnh đạo đoàn biểu tình. Ngày nay thì chỉ có các anh xuống đường biểu tình với nhau, chẳng phát động được ai. Thiếu quân các anh trưng dụng cả con nít cho nó đeo khẩu hiệu lên cổ để lấy con số.  Anh nào hung hăng vênh váo nhất cứ cố chường  hết cả mặt ra để chứng tỏ ta quan trọng nhất,  để cho CS nó chấm điểm. Các anh u mê đến nỗi không hiểu tại sao các anh  biểu tình 36 năm mà CS nó cứ trơ trơ, trong khi ngày xưa nó biểu tình chính phủ ta một phát là rung động đến tận nước Mỹ.

CS nó tuyên truyền cho dân là các anh bán nước để kích động lòng dân. Nó nói không sai. Các anh ăn lương Mỹ làm theo lệnh Mỹ, nó cắt viện trợ thì các anh than khóc, Mỹ bảo ký hiệp định xếp anh ở hàng chiếu dưới  thì các anh chẳng dám cãi dù rằng hiệp định quá nhục và bất lợi cho các anh,  Mỹ chạy thì các anh chạy theo. Các anh để Mỹ muốn làm gì thì làm trên đất nước các anh kể cả giết đồng bào anh để đổi lấy những đồng đô la Mỹ thì không gọi các anh là bán nước thì gọi  là cái gì?

Sang Mỹ ngồi với nhau các anh bảo nhau rằng nó bảo mình bán nước thì mình cũng phải tố  nó bán nước mới được, nhưng nó bán cho ai?  Thế là các anh dựng đứng lên việc CS bán nước cho Tàu. Các anh cứ tưởng dựng đứng như thế thì người ta tin các anh. Xui cho các anh là internet nó ra đời và phát triển vũ bão, nó cứ vạch trần tênh hênh  bộ  mặt nói láo đểu cáng của  các anh ra. Nếu có ai hỏi CS nó bán đất lấy được bao nhiêu? Các anh chỉ biết ú ớ nói chung chung cho nó qua chuyện. Các anh bắt chước CS nhưng chỉ biết bắt chứớc như con khỉ trong rạp xiếc, chẳng có tí chất xám nào thì chống cộng thế nào được đây?.

Trị bệnh phải dùng thuốc

Gần 4 thập kỷ rồi mà trong đầu các anh cờ vàng vẫn còn nỗi ám ảnh mang tên Cộng Sản. Nỗi ám ảnh này nó làm lu mờ lý trí các anh khiến các anh suy luận theo kiểu đã là CS thì phải độc tài dã man tàn bạo, phi dân chủ, chà đạp nhân quyền, đàn áp tôn giáo, đè đầu cưỡi cổ người dân v.v…

Từ cái tiền đề được tâm lý chiến đóng đinh  vào não các anh như thế cho nên nếu có ai đưa ra hình ảnh người CS khác với những điều các anh nghĩ là các anh cho rằng tuyên truyền cho CS. Con cái các anh suy nghĩ khác các anh các anh cũng cho rằng bị văn hóa vận CS tuyên truyền. Đối với các anh thì CS không bao giờ tốt và không  thể tốt được, nếu có ai nhận thấy CS tốt ở điểm nào thì các anh suy luận là CS giỏi tuyên truyền, giỏi bịp, giỏi nhồi sọ.

Rất nhiều đồng bào như các anh đã giải được cái hậu quả độc hại của liều thuốc  tâm lý chiến ngấm vào người từ ngày xưa bằng cách về VN xem CS nó thế nào và họ hầu như ai cũng đã trút đi được nỗi tự kỷ ám thị nặng nề đeo bám họ quá lâu rồi.

Thuốc giải có sẵn đấy,  vấn đề là các anh có chịu chữa bệnh không mà thôi.

James Du và hành trình của một lá cờ

xichloviet : Cuộc đấu tranh nào cũng gian nan và phải trả giá. Cuộc đấu tranh của những người ủng hộ tự do báo chí và tự do ngôn luận ở Little Saigon  mới ở giai đoạn khởi xướng cũng sẽ không ngoại lệ. Điều khôi hài ở đây là tại đất nước luôn hãnh diện, tự hào  về tự do mà có người lại phải biểu tình lên tiếng đòi tự do.  Lý do của nó không ai có thể thấu hiểu hơn những người trong cộng đồng Việt. Nhân sự kiện tuần báo VW phát động cuộc biểu tình chống lại các băng nhóm cực đoan,  để mô tả khái quát chân dung những băng nhóm độc tài này mời các bạn đọc lại bài viết của Vũ Hoàng Lân đăng trên VW năm 2008 

VŨ HOÀNG LÂN

Nói đó là lá cờ, chỉ là một cách nói. Kỳ thực đó là một tác phẩm nghệ thuật, được tạo hình theo dạng một chiếc mền khâu vá (quilt). Tác phẩm có tên gọi là “Two Flags” hay “Hai Lá Cờ,” từ ngày ra đời cho đến nay đã gắn liền với nhiều câu chuyện thăng trầm, với nhiều biến động thật gây cấn.
Từ một lớp mỹ thuật trong trường UC Berkeley vào năm 2005, họa sĩ Huỳnh Thủy Châu lúc ấy còn là sinh viên cử nhân ngành mỹ thuật đã sáng tác ra tác phẩm “Hai Lá Cờ.” Trong một cuộc phỏng vấn trên Việt Weekly trước đây, cô cho biết tác phẩm này làm theo dạng một chiếc mền khâu vá, một phương pháp mỹ thuật truyền thống rất phổ biến trong văn hóa những người da đen vùng đồng quê Alabama, dùng nhiều mảnh vải nhỏ vá lại với nhau, tạo nên một tác phẩm trọn vẹn.

 

Về ý nghĩa của tác phẩm này, họa sĩ Huỳnh Thủy Châu cho biết cô muốn kết chặt lại những biểu tượng của hai phía Việt Nam, qua đó tạo thành một thứ di sản để truyền lại cho những thế hệ kế tiếp. Ngay sau khi hoàn thành tác phẩm, họa sĩ Huỳnh Thủy Châu cho biết cô cảm thấy rất sợ hãi, một nỗi sợ rất phổ biến trong tâm lý của đa số người Việt cả trong lẫn ngoài nước, khi đối diện với đề tài cấm kỵ này. Cô đã không dám treo tác phẩm này lên ngay cả cho một số lượng người xem nhỏ nhoi trong phạm vi một lớp học chuyên ngành mỹ thuật tại UC Berkeley.

 

Hơn ba năm sau đó, với biến cố chậu ngâm chân ngành nails mang hình ảnh lá cờ Việt Nam Cộng Hòa, cuộc biểu tình trước báo Người Việt xảy ra, Việt Weekly đã có loạt bài phỏng vấn họa sĩ Huỳnh Thủy Châu, qua đó tiết lộ nhiều chi tiết về thân phận và tư tưởng của người họa sĩ này. Đọc qua loạt bài phỏng vấn, đồng cảm với tư tưởng của người họa sĩ, ông James Du qua sự kết nối của một số thành viên trong nhóm họa sĩ VAC, đã mua lại tác phẩm “Hai Lá Cờ” từ họa sĩ Huỳnh Thủy Châu với giá $5,000. Ông James Du đã đề nghị và đã được sự đồng ý của họa sĩ, để đổi tên tác phẩm thành “Xóa Bỏ Hận Thù.”

Cũng nên biết ông James Du không phải là một nhà sưu tập nghệ thuật, và cũng chưa hề mua một bức tranh nào trước đây. Ông được biết đến nhiều qua vụ một mình đứng ra bảo vệ tự do ngôn luận và phản biểu tình hàng ngàn người khác trong cuộc biểu tình chống tuần báo Việt Weekly hơn một năm trước đây.

Sáng thứ Bảy cuối tuần qua, đã diễn ra một cuộc biểu tình với khoảng hơn bốn trăm người tập trung trên đường Broadway, trước trụ sở mới của tổ chức VAALA, nơi có phòng tranh triển lãm F.O.B. II với chủ đề Nghệ Thuật Lên Tiếng. Mặc dù đã có cuộc họp báo bất thường của ban tổ chức triển lãm từ sáng thứ Sáu, một ngày trước đó, thông báo cuộc triển lãm đã phải đóng cửa trước thời hạn vì ban tổ chức đã không lo kịp giấy phép từ thành phố Santa Ana, cuộc biểu tình đã được chuẩn bị từ vài hôm trước vẫn xảy ra, với lý do là để biểu tỏ thái độ với VAALA và ban tổ chức cuộc triển lãm, chứ không còn đơn thuần là để áp lực đóng cửa cuộc triển lãm, hay chỉ để hạ những tác phẩm có các hình ảnh nhạy cảm. Văn phòng VAALA cũng như cuộc triển lãm F.O.B. II ở số 1600 Broadway hoàn toàn đóng cửa trong suốt thời gian xảy ra cuộc biểu tình, nhưng cuộc biểu tình bên ngoài vẫn diễn ra rất ồn ào và mạnh mẽ, với đầy đủ những nghi thức chào cờ, hô khẩu hiệu, tuần hành… Có rất nhiều hình ảnh, khẩu hiệu bằng tiếng Anh lẫn tiếng Việt, xoay quanh việc tố cáo tội ác chế độ cộng sản trong nước, lên án cuộc triển lãm của tổ chức VAALA, đặt vấn đề tại sao cuộc triển lãm này không đưa lên những đề tài liên qua đến tội ác của cộng sản Việt Nam… Thậm chí những hình ảnh và khẩu hiệu từ cuộc biểu tình trước nhật báo Người Việt, cũng như một tấm ảnh chụp cố chủ nhiệm nhật báo Người Việt Đỗ Ngọc Yến và cô Ysa được phóng lớn, cũng thấy được trưng dụng tại đây như một nỗ lực để đưa ra những bằng chứng có sự liên hệ mật thiết giữa báo Người Việt và tổ chức VAALA.

 

Vào khoảng 10:30 sáng, ông James Du xuất hiện, đứng đối diện với phía lề đường tập trung của đoàn người biểu tình, với tác phẩm “Xóa Bỏ Hận Thù” và tấm bảng viết tay với dòng chữ “Freedom of Expression & Freedom of Speech For Vietnamese American Now!” Tạm dịch là “Tự Do Biểu Lộ Tư Tưởng và Tự Do Ngôn Luận Cho Người Mỹ Gốc Việt Ngay!” Ngay sau khi ông James Du mở rộng tác phẩm “Xóa Bỏ Hận Thù” và trưng ra tấm bảng viết tay nói trên, lập tức một số người biểu tình xung quanh đó đã thấy được và tập trung lại, chỉ vào phần có nền đỏ sao vàng để chất vấn ông ta. Số người vây quanh ông James Du tăng lên nhanh chóng. Nhiều người la lên, “Tại sao mang cờ cộng sản ra đây?” “Giựt cờ nó đi, xé cờ nó đi!” “Đánh chết mẹ nó đi!”… Đám đông vây chặt bắt đầu ra tay, người cố gắng bẻ tay ông James Du cho người khác giựt, người xông vào đấm vào mặt, vào bụng ông ta. Ông James Du cố gắng dùng cả hai tay giữ chặt lá cờ cho khỏi bị giật nên gần như lãnh trọn những cú đánh từ đám đông. Ông la to, “I have the right, I have the right!”

Trong cảnh hỗn loạn đấm đá giằng co, một số người la lên, “Đừng đánh, đừng đánh.” Sau đó khoảng vài chục giây, một số cảnh sát đứng gần đó thấy được cảnh hỗn loạn đã xông vào đám đông kéo ông James Du ra, dẫn ông về phía chiếc xe cảnh sát đậu ở đầu đường, còng tay lại trước khi cho ông ta vào xe để đưa về trụ sở cảnh sát. Tác phẩm “Xóa Bỏ Hận Thù” vẫn còn nguyên vẹn sau cuộc hỗn loạn, được một nhân viên cảnh sát lấy ra từ tay ông James Du và bỏ vào thùng sau của cùng chiếc xe chở ông ta đi. Toàn cảnh cuộc hành hung đã được nhiều phóng viên các báo và những người xung quanh quay phim và chụp hình, tuy nhiên giây phút toàn bộ tác phẩm “Xóa Bỏ Hận Thù” được ông James Du trải rộng ra chỉ được thấy trong khoảnh khắc rất ngắn trước khi xảy ra cảnh xô xát. Do vậy đa số các báo, kể cả tờ LA Times trong số ra ngày Chủ Nhật, cũng đã tường thuật một cách lầm lẫn là ông James Du đã phất lá cờ cộng sản Việt Nam trước đám đông.

Tiếp xúc với Việt Weekly vào chiều cùng ngày, ông James Du cho biết sau khi cảnh sát đưa ông về trụ sở cảnh sát Santa Ana, những thủ tục đơn giản tại sở cảnh sát đã được tiến hành một cách vô cùng chậm chạp như để câu giờ. Cảnh sát giữ ông lại cho đến 4 giờ chiều cùng ngày mới thả ra. Trong biên bản cảnh sát, có ghi rõ là ông không hề bị bắt giam (arrested) mà chỉ bị giữ lại (detained). Ông cho biết là một người hành nghề xây cất uy tín và thành công, ông chưa bao giờ bị bắt giam vì bất cứ tội gì từ trước đến nay. Trong thời gian ngồi trong phòng đợi làm thủ tục mấy tiếng đồng hồ, ông nghĩ nhiều về sự gian khổ của những nhà đấu tranh còn bị giam giữ trong nước. Ông James Du còn cho biết, ông không hề căm ghét những người đã xúm lại hành hung ông, “Tôi hiểu tâm trạng và lý do ra tay của họ. Tôi chỉ buồn và thất vọng nhìn thấy cộng đồng này vẫn chưa thể chấp nhận được những suy nghĩ khác biệt của người khác.” Cuối cùng, khi thả ông ra, nhân viên cảnh sát khi trao lại cho ông tác phẩm “Xóa Bỏ Hận Thù” còn nói đùa “Now go fly your flag!”


Tác phẩm “Xóa Bỏ Hận Thù” hiện nằm yên trong bọc ni lông của cảnh sát như một minh chứng cho chặng đường nó vừa trải qua. Chắc hẳn đó sẽ không phải là điểm dừng cuối cùng của nó. Một ngày nào đó tác phẩm này lại sẽ được đưa ra nơi công cộng. Không biết lúc ấy nó sẽ đem lại điều gì cho người sở hữu chủ. Kết cục sau cùng của tác phẩm “Xóa Bỏ Hận Thù” vẫn còn là một câu hỏi lớn. Nó có thể sẽ bị phá hủy tan nát trong một cuộc hành hung vì bất đồng tư tưởng nào đó. Hay ngược lại, nó có thể sẽ có một chỗ đứng xứng đáng trong bảo tàng người Mỹ gốc Việt trong một tương lai gần? Không ai có thể có câu trả lời chính xác vào lúc này, nhưng chắc chắn một điều, tác phẩm ấy sẽ gắn liền với hành trình và tâm tưởng của cộng đồng người Việt.

NGU THẾ NÀY MÀ CŨNG LÀM LUẬT SƯ

xichloviet

Tình cờ đọc trên  Trang Web Vietcatholic 07 Sep 2009 có đăng bài viết của ông luật sư  Lê Trần Luật trong đó ông ta bày tỏ rằng ông ta không thể  hiểu nổi một số câu chữ của báo Đaị Đoàn Kết như :

Ông ta không hiểu nổi  “khối đaị đoàn kết dân tộc”  là gì, không hiểu “ thế lực thù địch “ là gì , không hiểu “quốc tế hóa”  là gì, không hiểu “chống đối chính trị” là gì và còn nhiều nữa. Nhưng tui lại thấy tất cả những từ mà ông ta không hiểu đều  rất bình dân học vụ ai cũng có thể  hiểu được,  ngay cả học trò tiểu học cũng hiểu . Vì không hiểu nên ông cho rằng các từ  ngữ trên là “đao to búa lớn “.

Trích bài của Lê Trần Luật  : “ …….. Hôm qua một người bạn của tôi ở Hà Nội điện thoại vào nói: “mày làm gì mà Báo Đại Đoàn Kết bảo mày và nhiều đối tượng khác cùng các Cha Nhà Thờ âm mưu lật đổ chính quyền”. Giọng bạn tôi đầy long trọng! Tôi đã tìm được bài báo đó, số ra ngày 28/08/2009 dưới tiêu đề: “Người ta muốn phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc”. Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần mà chả hiểu họ nói cái gì. Họ dùng toàn thuật ngữ “đao to, búa lớn” như: “Khối Đại Đoàn Kết Dân Tộc”, “thế lực thù địch”, “chống đối chính trị”, “quốc tế hóa”, v.v. Rất nhiều thuật ngữ “cao siêu” mà càng đọc tôi càng không hiểu. Tôi cố tìm từ điển Tiếng Việt để xem họ nói cái gì. Tôi ráp những định nghĩa của từ điển vào từng câu, thì thấy có quá nhiều câu tối nghĩa, mang đầy tính chụp mũ và quy kết. . . . .( hết trích )

Báo Đại Đoàn  Kết viết:  “…Lợi dụng Thánh Lễ, các Linh Mục Vũ Khởi Phụng, Nguyễn Văn Thật, Nguyễn Ngọc Nam Phong và các Linh Mục Dòng Chúa Cứu Thế thường lồng vào các tín điều với việc xuyên tạc chính sách Tôn Giáo của Đảng…

Câu này thì ông ta hiểu nhưng ông ta cãi rằng tín điều là lời rao dạy của chúa thì không thể “lồng” được. Có lẽ ông cho rằng bởi vì chúa rao giảng bằng tiếng Do Thái không thể “lồng” tiếng Do Thái vào tiếng Việt được chứ tui thì nghĩ là tiếng Việt có thể “lồng” đủ mọi chuyện vào nhau dễ như chơi. Chẳng  lẽ mấy ông Linh mục dốt đến nỗi không biết “lồng”?

Cái quá dễ hiểu thì ông ta không hiểu, thế  mà ông ta lại là luật sư. Chính cái việc ông làm luật sư mới thật là không hiểu nổi bởi vì ngu đến như thế mà mà làm luật sư mới là lạ.

Tuy nhiên ngẫm đi nghĩ  lại thì tui cũng nghiệm ra rằng những kẻ chống cộng cho chúa đều ngu như thế cả các bác ạ, toàn nói ra cái ngu của mình một cách hãnh diện và chẳng hiểu tí gì về những cái chân lý đơn giản nhất. Những cái sờ sờ trước mắt thì không tin lại đi tin vào cái huyễn hoặc hoang đường. Ngu nhưng có biết là mình ngu đâu cho nên mới có cái bài viết tự giới thiệu cái ngu của mình như ông luật sư này.

Có người bảo mấy vị chăn chiên không hề ngu và cũng chẳng tin gì chúa đâu, chẳng tin gì vào thiên đường địa ngục đâu,  nhưng điều đó cũng dễ hiểu vì nghề của họ là nghề chăn chiên cho nên  phải lừa gạt con chiên  làm cho con chiên ngu muội để mà trục lợi.

Thế nhưng vị luật sư này không hành nghề chăn chiên thì  “chăm phần chăm” là ngu thật các bác ạ

BIỂU TÌNH CHỐNG VIETWEEKLY : NGỌN LỬA BÙNG LÊN TRƯỚC KHI TẮT

Xichloviet

Sự kiện 4 nhà báo ở Bolsa công khai về nước tác nghiệp có thể xem là một sự kiện chấn động giới  truyền thông hải ngoại.

Họ là  người xa xứ lâu năm về thăm quê hương?

Họ là những phóng viên về quê hương mình tìm kiếm thông tin

Đó là  là việc quá bình thường đối với hằng triệu người. Nhưng nó lại  là một sự kiện nghiêm trọng  đối với những băng nhóm chống cộng. Nghịch lý chăng? Đúng là nghịch lý và khó hiểu đối với những ai chưa biết về những băng nhóm chống cộng hải ngoại. Nhưng đối với cộng đồng Việt ở Bolsa việc chống đối của các băng đảng chống cộng khi các nhà báo về nước  là điều ai cũng đã dự đoán được.

Có thể nói sự kiện này  đã chạm đến tự ái và  làm nhức nhối  các phe nhóm  chống cộng chuyên nghiệp ở Mỹ. Họ cuồng lên là điều chắc chắn. Và không ngoài dự đoán họ sẽ phản ứng bằng cách duy nhất là kêu gọi biểu tình để chống.

Nhân sự kiện này xichloviet điểm lại một số cuộc biểu tình trước đây của các băng đảng chống cộng để thấy rằng vũ khí biểu tình của họ  đã bắt đầu rỉ sét mất dần tác dụng, mất dần lòng dân. Một khi vũ khí chủ lực  này không còn hiệu lực có nghĩa là những phe nhóm chống cộng đang bắt đầu giai đọan rệu rã thoái trào và suy tàn.

Thời cực thịnh của các phe nhóm chống cộng

Có thể nói thời cực thịnh của các phe nhóm chống cộng hải ngoại là từ thập niên 80 cho đến thời điểm VN bắt đầu bang giao với Hoa Kỳ.  36 năm qua,  giới truyền thông cộng đồng Việt hải ngoại luôn  bị bó chặt bởi những thế lực đen, dù muốn hay không những cơ quan truyền thông đều buộc phải  trở thành cái loa tuyên truyền chống cộng để tồn tại và  để làm hài lòng những kẻ  cực đoan chất chứa đầy hận thù này.

Có thể nói các phe nhóm  chống cộng giống những băng đảngxã hội đen đặt ra  những luật lệ ngầm đủ sức khống chế giới truyền thông, hơn nữa  đa số nếu không muốn nói là hầu hết  những cơ quan truyền thông đều do những phe nhóm quyền lực đen kiểm soát, dùng phương tiện này để khống chế cộng đồng. Không ai được phép bước qua lằn ranh “quốc cộng” mà họ vạch ra. Tất cả những gì được họ cho là “làm lợi  cho CS” đều bị họ lên án, tẩy chay chống đối. Bất cứ hình ảnh nào, tin tức nào về VN họ cũng soi rất kỹ chỉ cần có thấp thoáng hình lá cờ đỏ sao vàng hay hình chủ tịch Hồ Chí Minh là đủ để  họ phản ứng ngay. Những thông tin dù là khách quan, dù là sự thật lịch sử cũng không được phép đăng tải nếu họ xét thấy “ có lợi cho CS”.

Cái lằn ranh “quốc cộng” họ vạch ra rất rõ ràng và ngầm cho mọi nguời hiểu rằng không ai được phép dính dáng một tí gì đến CS, không cho phép ai vượt qua, không được lấp lửng,  chỉ cần có hành động và biểu hiện khen ngợi chính quyền VN  lập tức họ phản ứng mạnh mẽ, đồng loạt các cơ quan truyền thông xúm vào tấn công ồ ạt.

Thông thường thì biểu tình là biện pháp bày tỏ nguyện vọng của kẻ yếu trước đối tượng mạnh hơn và không thể chống lại bằng cách nào khác. Thế nhưng nghịch lý của cộng đồng VN hải ngoại là kẻ yếu hơn thường bị biểu tình. Biểu tình không còn là kiểu bày tỏ nguyện vọng mà trở thành một thứ vũ khí dùng đám đông để  răn đe trấn áp và triệt hạ áp đặt ý muốn mình lên kẻ khác. Bất cứ hành động nào giao tiếp với  VN  đều bị lên án, họ rất lo sợ những người tiếp xúc đó sẽ bị CS chiêu dụ và chắc chắn sẽ bị CS thuyết phục.  Hàng triệu người về nước là mối lo thường trực đối với họ.  Thành tựu  phát triển ở VN là thách thức to lớn với họ, nó có nguy cơ làm  phá sản những luận điệu nói láo của họ bấy lâu nay  thế nên  họ phải tìm mọi cách ra sức ngăn cản bằng những cái loa truyền thông từ lâu bị họ khống chế điều khiển .

Họ luôn kêu gọi đồng hương không về nước, không gửi tiền về cho thân nhân , và “đừng nghe những gì CS nói “ v.v…Nhưng họ vẫn biết họ không thể ngăn được người dân về nước. Tuy nhiên nếu người dân thường về nước dù có  tuyền truyền tốt đẹp cho CS cũng không đáng ngại vì nó không có sức lan tỏa mạnh. Một phóng viên, một cơ quan truyền thông hải ngoại mà về VN, lại  đăng tải những sự thật ở  VN  thì nguy hiểm cho cái tiền đồ của họ vô cùng cho nên họ phải làm đủ mọi cách để đe dọa, trấn áp, bịt miệng  những nhà báo đó vì nếu không chống nó sẽ tạo thành tiền lệ nguy hiểm sau này.

Không cần xét đến nội dung các cuộc phỏng vấn của các phóng viên hải ngoại với các viên chức chính quyền VN từ trước đến nay, trong nước cũng như ở hải ngoại. Thái độ chính trị, văn hóa ứng xử và trình trộ giao tiếp của các viên chức VN đủ cho thấy giá trị so sánh vượt trội mà băng nhóm chống cộng   bao năm qua không thể có được.  Hình ảnh tốt đẹp của CS bắt đầu từ văn hóa ứng xử của các viên chức chính quyền VN. Chính đây mới là yếu tố tuyền truyền mà các băng nhóm chống cộng đáng sợ nhất từ đó họ chống đối mọi sự giao tiếp của truyền thông Bolsa với các quan chức VN cho đó là “tạo diễn đàn cho CS tuyên truyền” .

Sự thể hiện bản lĩnh vượt trội của các viên chức chính quyền VN làm cho những phe nhóm chống cộng buộc phải  tự nhìn lại mình và họ thừa biết rằng họ chưa thể là đối thủ nếu có sự đối thoại,  không có một nhân vật nào có thể đủ bảmn lĩnh để đại diện cho họ đối thoại.  Họ chỉ có yêu sách mà  hoàn toàn không có lý lẽ để thu phục lòng dân.   Đó là lý do giải thích tại sao họ luôn né tránh đối thoại trực tiếp với chính quyền VN dù thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn đã hơn một lần mời gọi một cuộc đối thoại cởi mở với họ.

Không kể các viên chức chính quyền VN,  Những người làm truyền thông trong nước cũng đã cho thấy tính cách chuyên nghiệp, trình độ chuyên môn cao và sự văn minh trong giao tiếp của họ, cũng như sự ứng xử khôn ngoan mà ai cũng nhận ra họ có sức thuyết phục rất mạnh. Đây cũng chính là nỗi lo sợ của những băng nhóm chống cộng khi các phóng viên hải ngoại tiếp xúc với những người này.

Thập niên 80 khi cuộc sống trong nước đang gặp quá nhiều khó khăn, thông tin từ VN còn ít,  làn sóng di dân đến Mỹ ồ ạt, được xem là thời cực thịnh của giới truyền thông chống cộng. Cuộc sống khốn khó ở VN thời điểm bấy giờ, cộng với việc thông tin trung thực trong nước không đến được đồng bào hải ngoại là điểm khai thác chủ yếu để họ tố cộng và tuyên truyền cái gọi là “chính nghĩa quốc gia”.

Thời kỳ đầu 1975, khi đống tro tàn của cuộc chiến chưa được khắc phục, viện trợ từ các nước XHCN bị cắt, VN lại phải đương đầu liên tiếp hai cuộc chiến tiếp theo ở biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam.  Khó khăn chồng  chất khó khăn, một số người lãnh đạo VN bấy giờ không am hiểu xã hội miền Nam đã áp đặt tổ chức sản xuất tập thể một cách duy ý chí rập khuôn miền Bắc với mục tiêu “tiến nhanh tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa XH” . Những nỗ lực đó đã thất bại thảm hại dẫn đến  đời sống người dân khốn khó, thiếu lương thực trầm trọng, cả nước phải ăn độn, chính sách kinh tế mới dãn dân khỏi thành thị thất bại, người dân không sống nổi lại quay về thành thị.

Thất bại của chủ trương tập thể hóa sản xuất, ngăn sông cấm chợ ở miền Nam cùng với sai lầm của chính sách ”giá lương tiền” đã gây khốn đốn cho nền kinh tế vốn đang èo uột . Nó làm mất lòng tin của người dân vào chính quyền lúc bấy giờ. Sự bất mãn của người dân càng ngày càng trầm trọng dẫn đến làn sóng di dân ồ ạt . Một phần vì trốn đói,  một phần bị kích thích và mê hoặc bởi những thông tin về miền đất hứa Hoa Kỳ . Những điều này được các băng nhóm chống cộng khai thác triệt để.

Thời điểm này người Việt di dân đến Mỹ rất dễ bị thuyết phục bởi những giọng điệu tuyên truyền rằng CS là chế độ bạo tàn, phi nhân tính . Xã hội CS luôn luôn bần cùng hóa người dân, xóa bỏ quyền tư hữu, là xã hội nghèo đói lạc hậu sắt máu  v.v…    Có thể nói vào thời điểm đó các băng nhóm chống cộng  đã thành công về mặt tuyên truyền, có được sự đồng thuận  rất nhiều từ cộng đồng, và đó cũng là là thời điểm làm ăn cực thịnh của họ.  Những lời lẽ tuyên truyền về một nước VN đang quằn quại trong khổ sở và sự kỳ vọng vào những phép mầu “quang phục quê hương” do họ vẽ ra đã đánh trúng yếu điểm cộng đồng và cộng đồng trở thành bầu vú sữa nuôi dưỡng họ, và cũng từ đó xuất hiện những kẻ chống cộng kiếm cơm.  Một cựu đại tá không quân VNCH đã tâm tình trên phobolsatv rằng 5 năm sau khi chấm dứt cụộc chiến những sĩ quan cao cấp VNCH ở Mỹ vẫn không làm gì cả, vẫn chờ đợi một phép mầu, chờ đợi Mỹ ngày nào đó sẽ quay lại. Các sĩ quan cao cấp còn hoang tưởng như thế trách gì người dân bị dẫn dắt, bị mê hoặc bởi các cái loa truyền thông chống cộng.

Vừa bơm vào đầu đồng hương sự căm thù CS, vừa ra sức không chế những ai có biểu hiện lơ là với “chính nghĩa quốc gia” họ rất thành công trong một thời gian dài không có đối trọng.

Cuộc biểu dương lực lượng được cho là lớn nhất của các thế lực đen chống cộng kích động được nhiều người nhất  lại  là cuộc biểu tình mà đối tượng phản đối duy nhất chỉ là . . . 1 người dân thường.  Ông Trần Trường, một cư dân Mỹ gốc việt bị tấn công bởi lý do dám treo lá cờ và hình lãnh tụ CS trong ….  nhà của mình.  Lập tức các loa chống cộng mở hết công suất để mở đường cho chiến dịch chống ông này.

Ký giả Rachel Tuinstra ( của nhật báo The Orange County Register, số ra ngày 19 tháng 1 năm 1999) đã tường thuật về phản ứng của cộng đồng người Việt, trước chuyện hành xử quyền tự do của ông Trần Trường, như sau:

“Hundred of people, many Vietnamese immigrants, poured into a shopping center Monday to protest a picture of communist leader Ho Chi Minh that had been hung in a video rental store.
By 1 p.m. , as many as 400 people filled the center’s Bolsa Avenue parking lot in Little Saigon, forcing police to close the area off to vehicles, said police Lt. Bill Lewis.

Police convinced Tran Van Truong, 37, the owner of HiTek video store, to close an hour later. As Truong left his store with a police escort, someone hit him in the back of the head. There was no visible injuries, but paramedics took Truong to a hospital and police filed an assault report.”

Xin tạm dịch:

“Hàng trăm người, phần lớn là di dân Việt Nam, đổ xô về một khu thương xá hôm thứ Hai để phản đối một bức hình của lãnh tụ cộng sản Hồ Chí Minh treo trong một tiệm cho thuê video. Khoảng 1 giờ trưa, đã có chừng 400 người đến bãi đậu xe của khu Little Saigon khiến cảnh sát phải ngăn không cho xe vào khu vực này nữa, theo lời của trung úy cảnh sát Bill Lewis. Cảnh sát thuyết phục ông Trần Trường, 37 tuổi, đóng cửa tiệm của mình một giờ sau. Ông rời tiệm cùng với một cảnh sát viên, và bị một người nào đó đánh vào đầu. Ông Trường không bị thương tích gì nhưng vẫn được đưa vào bệnh viện và cảnh sát đã làm phúc trình về việc ông bị hành hung.”

Tuy nhiên con số được các băng nhóm chống cộng  thổi phông lên đến . . . 10 ngàn người.

Chống Trần Trường chỉ là bề nổi, mục tiêu lâu dài là răn đe bất cứ ai tỏ thái độ đối nghịch với “chính nghĩa quốc gia” . Trần Trường chỉ là đểm, diện là những người đang có tư tưởng “làm lợi cho CS” trong động đồng.

Suốt gần 2 tháng biểu tình như thế, cố tình gây cản trở kinh doanh với  mục tiêu của họ là phải hạ gục Trần Trường,  họ đã thành công.  Họ hân hoan ăn mừng thắng lợi khi Trần Trường bị phạt và phải đóng cửa tiệm không phải  vì tội treo cờ VN mà là tội . . .trốn thuế. Truyền thông chống cộng xem đây là “ chiến thắng có tính chiến lược “ trong công cuộc chống cộng. Họ tuyên truyền  rằng Trần Trường là do CS chỉ đạo để thử phản ứng cộng đồng, và sau khi ông này  về VN làm ăn thất bại vỡ nợ phải ra tòa thì họ tuyên truyền  rằng CSVN vắt chanh bỏ vỏ,  xem đó là tấm gương cho những ai muốn đầu tư tại VN.

Thực tế ông Trần Trường hành động hoàn toàn tự phát chẳng có tí liên hệ nào với chính quyền VN như họ chụp mũ. Sau khi bị đánh phá,  ông Trường mang 200 ngàn đô la về đầu tư nuôi cá ở Đồng Tháp. Vì  không tìm hiểu kỹ môi trường đầu tư,  tin vào mối quen biết bạn bè, xem nhẹ luật pháp VN ông này bị vỡ nợ phải ra tòa và bị phát mãi tài sản để trả nợ.  Sự việc của ông luật pháp nước nào cũng xử  như thế.  Tuy nhiên những nhóm chống cộng hả hê khai thác thất bại của ông ta và được dịp tuyên truyền rằng VN “vắt chanh bỏ vỏ”. Thành tích chống cộng to tát nhất của họ mấy chục năm qua chỉ có thế.

Cuộc biểu dương lực lượng chống Trần Trường là niềm tự hào của họ về khả năng phát động một cuộc biểu tình trấn áp. Họ luôn lấy tấm gương Trần Trường để răn đe bất cứ ai có khuynh hướng được cho rằng  làm lợi cho VN.   Truyền thông không được phép đưa tin tốt về VN, không được phép có lá cờ đỏ sao vàng trên các phương tiện truyền thông. Một banner in  hình một nghệ sĩ đeo sợi dây nịt na ná  lá cờ VN lập tức bị biểu tình phản đối. Thường thì những cuộc phản đối như thế, người bị chống phải nhận lỗi mới đuợc yên . Một bức tranh có cô gái mặc áo đỏ sao vàng lập tực bị biểu tình. Thông tin từ VN hoàn toàn bị kiểm soát từ những thế lực đen chống cộng. Hình ảnh phát ra cộng đồng chỉ cần phớt qua cái hình cờ đỏ sao vàng hay hình lãnh tụ là bị phản đối, bị chụp mũ.  Các chương trình văn nghệ tràn ngập những màn ca ngợi lính cộng hòa và tố cộng để làm hài lòng họ. Những nghệ sĩ VN sang định cư ở Mỹ dù không quan tâm đến chính trị cũng phải phải phục tùng lá cờ vàng nếu muốn yên thân. Những nghệ sĩ từ trong nước sang Mỹ bị biểu tình phản đối quyết liệt. Ca sĩ Đàm Vính Hưng, một ca sĩ chuyên nghiệp sang từ VN bị biểu tình và tấn công bằng hơi cay nhằm răn đe các ca sĩ khác với chiêu bài “chống tuyên vận CS”. Lá cờ vàng nghiễm nhiên trở thành một biểu tượng của một thế lực, họ muốn biểu tượng này tràn ngập những nơi có cộng đồng Việt để chứng minh sự hiện diện của quyền lực người “quốc gia”

Họ ra sức đấu tranh với nhà cầm quyền địa phương chỉ để mong được công nhận và cắm lá cờ vàng lên ở nơi công cộng,  họ dị ứng với bất cứ lá cờ đỏ sao vàng nào họ nhìn thấy dù lá cờ đó đã được cả thế giới công nhận. Lá cờ VN treo ở cơ quan tổng lãnh sự ngày quốc khánh cũng bị họ phản đối và họ hả hê với nhau ăn mừng thắng lợi khi lá cờ này được hạ xuống . . . . sau khi hết giờ làm việc.

Thành phần trong giới thế lực đen chống cộng  rất đa dạng và động cơ chống cộng cũng rất khác nhau. Có nguời ham vui, Có người chỉ muốn  lợi dụng lòng tin của người dân để bịp bợm kiếm chác, có nguời được thuê, có người ủng hộ họ chỉ vì sĩ diện không đội trời chung với CS, có người bị mất mát trong chiến tranh, có mối thù CS thực sự và có người chỉ muốn khẳng định mình là người quốc gia chân chính.  Cũng không ít thành phần a dua để theo đóm ăn tàn mà không có định hướng chính trị gì. Điểm chung nhất của họ là đều là những thành phần hưởng trợ cấp xã hội có dư thời giờ để biểu tình bất cứ lúc nào.

Động cơ khác nhau, chính kiến khác nhau và mục tiêu khác nhau cho nên suốt mấy chục năm qua họ không thể có tiếng nói chung, không thống nhất được mục tiêu và  hành động.  Vả lại hội đoàn nào cũng  giành cho mình cái quyền chống cộng cho nên họ bắt đầu phân hóa nghiêm trọng và cũng bắt đầu xuất hiện những “ việt gian” ngay trong chính  nội bộ của họ.

Điểm chung nhất mà các hội đoàn chống cộng có được chính  là lá cờ vàng 3 sọc. Tất cả các băng nhóm chống cộng đều đồng ý  lấy cái biểu tượng đã chết này để phất lên cái mà họ gọi là “chính nghĩa quốc gia”.  Tuy nhiên điều khôi hài là chính cái biểu tượng này cũng từng gây chia rẽ và chống nhau.  Phe nhóm nào cũng muốn vinh danh cái chính nghĩa cờ vàng riêng của mình, mỗi nhóm vinh danh một kiểu, bất cứ cuộc hội họp nào cũng cờ vàng, cũng “quốc ca”, cũng mặc niệm. Cờ vàng được sử dụng khắp nơi từ những cụộc biểu tình đến những đại hội ca nhạc. Từ những cuộc họp mặt đồng hương đến những bữa tiệc tùng xin tiền. Biểu tình thì cái loa cũng sơn cờ vàng, vật dụng gì có màu vàng thì cố vẽ 3 sọc đỏ vào . Các trang mạng thì trang nào cũng gắn cái cờ vàng lên trên. Lá  cờ vàng là biểu tượng không thể thiếu trong bất kỳ cuộc hội họp đông người nào, càng nhiều cờ càng tốt. Dần dà nó trở nên nhàm, nó  được biến tướng thành vật trang trí, nó biến  thành cái logo chống cộng,  cái logo để chứng minh sự hiện diện của họ mà thôi.

Chính sự lạm dụng quá mức lá cờ vàng họ đã làm nó mất đi cái giá trị biểu tượng chính nghĩa mà họ hô hào đặt ra và  kỳ vọng. Chỗ nào cũng cờ, biểu tình thì cờ cắm từ trên ngọn cây đến góc đường. Cờ quấn trên đầu, cờ  in trên áo,  cờ vẽ lên xe, cờ khoác lên nguời. Họ nghĩ phải như thế mới biểu dương lực lượng được, mới chứng tỏ được tinh thần quốc gia chống cộng đã  lan tràn khắp nơi nơi, chỗ nào có cờ vàng là chỗ đó không có CS.

Về mặt biểu tượng,  không hề có sự khác biệt giữa cái gọi là “quốc kỳ” của họ và cờ của các đội mai táng, cờ của các hội chơi  chim chợi chó. Điều khác biệt duy nhất là các hội kia không có việc “chào cờ” như họ.  Một biểu tượng đã chết và đi vào lịch sử được họ vinh danh và xem như lá cờ “quốc gia” cho nên không bao giờ có thể tập hợp được người dân đứng dưới lá cờ này ngoài các băng nhóm của họ.

Không hề nhìn thấy hiệu quả từ việc phất cờ chống cộng 36 năm qua  , nhưng hiệu quả từ việc phất lên lá cờ vàng để răn đe đồng hương thì họ đã thành công ngoài mong đợi. Một thời gian dài không ai dám chống lại họ. Về VN thì phải lén lút như đi ăn trộm kể cả những chiến hữu của họ.  Không ai kể cả những cơ quan truyền thông dám  đưa tin tốt đẹp ở VN . Tin từ VN nếu có thì bị bóp méo xuyên tạc. Sự thực bị bưng bít,  tin tức do họ độc quyền cung cấp và bình luận, họ tạo ra một hình ảnh rất méo mó về VN.

Trải qua nhiều năm tháng chống cộng theo đúng một lối mòn là hoan hô đả đảo và luôn tìm cách không chế cộng đồng bằng chiêu bài giữ vững căn cước  tị nạn CS, không những họ không thực hiện được điều gì làm suy yếu CS mà tự họ trói chặt nhau, bịt miệng nhau để cố thủ với lằn ranh quốc cộng.

Theo tuần báo Mỹ OC Weekly, chính nhà báo Đỗ NgọcYến, lúc còn làm Chủ bút nhật báo Người Việt những năm 1990 đã buộc phải từ chức vì bị những người quá khích biểu tình hăm dọa. Tên của ông cũng từng nằm trong danh sách “tử hình” dán trên các cột điện thoại ở Little Sài Gòn vì bị chụp mũ là “Việt cộng”. Trước đó hàng loạt nhà báo bị bắn chết, có người bị phóng hỏa đốt nhà.

Những sự kiện trên cho thấy thế lực đen chống cộng đã tạo dựng được một quyền lực ngầm rất hữu hiệu kiểm soát và khống chế cộng dồng Việt. Rất nhiều người muốn chống lại họ nhưng không có cơ hội và  không đủ tiềm lực. Tuy nhiên đã bắt đầu có những khuynh hướng đối lập hẳn với họ

Thời điểm cáo chung

Thời điểm VN bắt đầu mở của với thế giới là thời điểm báo hiệu sự suy tàn và cáo chung của những băng nhóm cờ vàng. Đây là thách thức to lớn với thế lực đen chống cộng. Tuy nhiên cái chết được báo trước cho họ chính là sự bùng  nổ truyền thông internet. Niềm tin của họ về sự bất mãn của quần chúng quốc nội cứ xẹp dần như quả bóng xì hơi, kỳ vọng đó càng ngày càng  xa vời  với sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông VN. Việc bùng nổ thông tin không cho phép những nhà truyền thông chân chính hải ngoại đi theo lối mòn các băng đảng chống cộng vạch ra và bắt đầu có những cơ quan truyền thông phá vỡ rào cản quốc cộng , mạnh dạn đăng những thông tin nhiều chiều cho dù đã  lường trước được phản ứng của họ, thậm chí có người công khai bày tỏ quan điểm đối lập hẳn với họ, công khai ca ngợi thành tựu ở VN . Những người này lập ra những đài phát thanh, những website vô cùng “có lợi cho CS”. Cùng với hàng triệu người về nước,  những người này đã tiên phong đập vỡ bức tường bưng bít mà những nhóm chống cộng dày công xây dựng. Sở dĩ những người này dám đối đầu với họ vì đã nhận ra các băng nhóm  chống cộng đang ở cái ngưỡng suy tàn.

Truyền thông đa chiều  là mối đe dọa sự sống còn của  những băng nhóm chống cộng vì nó sẽ bác bỏ những gì họ tuyên truyền đầu độc cộng đồng bấy lâu nay, thế lực phe nhóm của họ bị thách thức. Năm 2007 họ phát động cuộc biểu tình chống tuần báo Vietweekly một tờ báo được xem là có khuynh hướng thông tin đa chiều và trực tiếp cử phóng viên về VN tường thuật hội nghị APEC tổ chức tại VN.  . Lý do họ chống là VW cho đăng tải những điều có lợi cho CS và bất lơị cho quốc gia. Họ tuyên bố là biểu tình cho đến khi tờ báo này không còn tồn tại. Lợi dụng sự kiện này, một đồng nghiệp của VW là tờ người việt đã đánh hôi bằng những tin tức tấn công VW rất tích cực. Vừa làm hài lòng băng nhóm chống cộng vừa  triệt hạ được đối thủ cạnh tranh nguy hiểm nhất là đúng thời điểm  tờ VW đang lăm le chuẩn bị ra nhật báo.

Họ kêu gọi các doanh nghiệp Mỹ tại Main Street “tẩy chay” Báo Việt Weekly rồi làm áp lực với chủ nhân khu phố này “trục xuất” tòa báo, đẩy Việt Weekly vào tình cảnh không còn đất sống. Họ tố cáo VW “tán trợ khủng bố “ để thêm sức nặng lôi kéo những chủ cơ sở thương mại người Mỹ. Tuy nhiên cộng đồng doanh nghiệp Mỹ ở đây còn tỏ thái độ hậu thuẫn tuần báo VW và chống lại những người biểu tình.

Không như Trần Trường thụ động chịu trận, VW có vũ khí là chính tờ báo của họ,  chủ nhiệm tờ báo tuyên bố họ “chiến đấu tới cùng”  và “ không thể thất bại trong cuộc chiến này được”.  Thái độ của VW bắt đầu có những người công khai đồng tình ủng hộ. Tỏ thái độ ủng hộ VW cũng là tỏ thái độ chống lại nhóm biểu tình và ủng hộ tự do báo chí. Chuyện chưa từng có tiền lệ là ông James Du một cư dân Mỹ gốc Việt đã công khai chống lại đám biểu tình bằng các khẩu hiệu ủng hộ VW và tự do báo chí. Nhiều người âm thầm ủng hộ VW. Các bài viết trên VW không có dấu hiệu gì nhượng bộ nhóm biểu tình ngược lại họ có những bài chống lại nhóm biểu tình rất mạnh mẽ. Mục tiêu xóa sổ tờ báo có dấu hiệu rất khó thực hiện mặc dù tờ báo có số phát hành giảm hẳn, những cơ sở phát hành những thân chủ quảng cáo bị đe dọa kiểu xã hội đen buộc phải ngưng bán báo, nguwng quảng cáo. Cái hy vọng  tạo áo lực duy nhất là “biểu tình lì” nhưng không phải ai cũng có cái độ lì như nhau cho nên các cuộc biểu tình cứ thế thưa dần.

Thất bại trong cuộc biểu tình chống báo VW đã làm cho các băng đảng chống cộng  nhận ra cái thế lực đen của họ đã bắt đầu suy yếu. Các dấu hiệu “thách thức cộng đồng” xuất hiện càng ngày càng nhiều khiến họ vô cùng tức tối nhưng cái tư duy cực đoan  lỗi thời và bảo thủ đã trói họ lại,  làm họ cứ loay hoay không có biện pháp hữu hiệu nào.

Cách Little Sai gon 15 phút lái xe một cuộc triển lãm của bhọa sĩ trẻ  Brian Đoàn trong đó có tấm hình “yếm đỏ sao vàng “ lại như đổ dầu vào lửa. “Người hùng” Lý Tống của họ đã đột nhập phá hoại những bức tranh này bằng nước sơn và ….quần sì líp phụ nữ. Trước đó 2 tuần Tại cuộc triển lãm “F.O.B. II”  với 50 nghệ sĩ tham dự, sự có mặt của cặp ảnh “Thủ Đức 2008” và “Avon Massachussetts 2006″ khiến một nhóm người Việt Nam tại Quận Cam chống đối; gây áp lực khiến thành phố Santa Ana đóng cửa cuộc triển lãm. Những cuộc biểu tình càng ngày càng lộ rõ thái độ lưu manh cồn đồ vô văn hóa, người ủng hộ họ thưa dần và càng ngày càng có những dấu hiệu chống lại họ.

Vì quá kỳ vọng vào vào cái biểu tượng cờ vàng sẽ có tác dụng vừa tập hợp những người cùng chí hướng chống cộng vừa có tác dụng áp đảo, răn đe kẻ bất đồng chính kiến cho nên họ bị sốc thật sự khi “lá cờ”  của họ bị một họa sĩ trẻ cách điệu vào cái chậu rửa chân trong một tác phẩm hội họa một cách rất vô tư và tờ báo Người Việt  đã đăng nó trong một số báo xuân. Đăng tác phẩm này báo Người Việt không phải không biết cái hình trong chậu rửa chân là lá cờ ba sọc vì nó rất rõ ràng. Họ cũng không dại gì thách thức những phe nhóm cực đoan kia mà chính vì cái biểu tượng này quá nhàm, nó từng xuất hiện đầy dẫy ở đầu đường xó chợ cho nên nó năm trong cái chậu rửa chân cũng thế thôi, chẳng có gì quan trọng cả .  Họ không ngờ rằng chính điều này đã chạm đến tự ái của các phe nhóm cờ vàng.

Không lên tiếng thì còn gì là “sức mạnh cộng đồng” của những phe nhóm thế lực đen. Thế là một cuộc biểu tình chống báo Người Việt nổ ra. Biểu tình để răn đe những kẻ khác đang có ý định chối bỏ lá cờ, biểu tình để dọa dẫm triệt hạ tờ Người Việt,  biểu tình để chứng minh cái độ lì của họ trong cái nhiệm vụ “chiến đấu tới cùng”. Phải công nhận chưa có cuộc biểu tình nào trên thế giới mà lại lì đến như thế. Họ hứng chịu mưa nắng bỏ công sức chỉ để được làm cái gai trước tòa sọan báo NV là họ đã xem là thành công. Cuộc biểu tình chống Trần Trường kếo dài gần 2 tháng đạt được mục tiêu biểu dương lực lượng , triệt hạ đối thủ và lôi kéo được số người tham gia kỷ lục. Họ hy vọng lần này cũng vậy, họ kỳ vọng sẽ triệt hạ được tờ báo này. Tuy nhiên cuộc biểu tình cũng bùng phát rồi thoái trào. Điều thú vị là báo Người Việt vừa mới ra sức yểm trợ cuộc biểu tình chống báo VW.

Những tin tức tốt đẹp về VN cộng với những dấu hiệu xem thường “chính nghĩa quốc gia” cứ nhan nhản như thách thức họ. Phải tìm mọi cách các vực dậy tinh thần chống cộng trong cộng đồng. Thế là họ chuẩn bị rầm rộ hô hào về nguy cơ CS xâm nhập cộng đồng bằng văn hóa vận mà Đàm Vĩnh Hưng, một ca sĩ từ trong nước là nạn nhân. Họ tuyên truyền rằng ĐVH là văn công việt cộng được cử đi Mỹ công tác với mục tiêu đánh phá cộng đồng bằng văn hóa vận. Luận điệu của họ rất vô lý buồn cười vì ai cũng dó thể kiểm chứng trên Internet. Nhưng vì quá bế tắc nên họ không còn cách nào khác. Cuộc biểu tình chống ĐVH được biết đến rộng rãi với việc Lý Tống giả gái làm khán giả xịt hơi cay vào mặt ĐVH.  Hành động này dẫn đến nhiều tranh cãi trong chính nội bộ của họ về  hành vi của Lý Tống. Đối với cộng đồng,  hành động côn đồ đó như là nhát búa đập vỡ niềm tin vào cái “chính nghĩa quốc gia” .

Những cuộc biểu tình chống nhau cho phép người ta nhận xét một điều rằng anh nào lì hơn thì anh đó có cơ hội thắng. Anh biểu tình nếu không phải  thành phần vô công rồi nghề thì không thể lì được. Khi cái lì nó gây được thệt hại cho đối thủ thì sẽ càng khích lệ nhóm biểu tình gia tăng độ lì. Tuy nhiên nếu không làm cho đối thủ sợ hãi hay gặp đối thủ lì hơn  thì cuối cùng cũng phải cuốn cờ mà không đạt đượd yêu sách nào. Các phe nhóm biểu tình rất sợ dây với luật pháp Mỹ cho nên ngoài cái tài cố đám ăn xôi  luyện tập cái máu lì thì họ không dám manh động. Cho nên nếu đối thủ nào chịu lì thì là thách thức lớn nhất đối với họ.

Cái gọi là “lằn ranh quốc cộng” càng ngày càng trở thành cái ranh giới phân biệt giữa người bảo thủ và thức thời kẻ cực đoan và người sáng suốt. Càng ngày càng xuất hiện những đồng hương chán ngán  và nhận chân được cái bản chất lưu manh của họ chỉ chờ một mồi lửa ai đó dám đốt lên để  phát động chống lại họ là họ sẽ bày tỏ thái độ ngay. Người bị chống đối không còn im lặng chịu đòn mà đã có phản ứng đối đầu đánh đúng yếu huyệt của các  băng nhóm chống cộng là nhờ đến luật pháp Mỹ.

Ngày 29.10.2011 đánh  dấu một mốc có thể gọi là khúc quanh lịch sử trong giới truyền thông hải ngoại. Một cuộc biểu tình đuợc các băng nhóm chống cộng phát động chống tờ VW và các phóng viên về nuớc tham dự hội thảo về giữ gìn bản sắc văn hóa và ngôn ngữ Việt.  Chưa hề có một cuộc biểu tình nào mang nhiều kịch tính như thế từng xảy ra.

Cảnh sát đã rào sẵn khu vực biểu tình của băng nhóm chống VW . Bên Kia đuờng là khu vực những nguời ủng hộ tờ báo này. So với những cuộc biểu tình trước đây, cuộc biểu tình lần này không còn khí thế và tỏ ra lúng túng thật sự khi những người ủng hộ VW bên kia đường phát loa phản kích. Họ ăn mặc chỉnh tề, phát ngôn đúng mực và lý lẽ sắc bén, có cả người Mỹ đứng ra ủng hộ. Có người chống cả hai phía, có người đến biểu tình chỉ để chống …Tàu.

Bên biểu  tình lúc cao nhất có được khoảng 60 người, bên phản biểu tình có trên 30 người. Các băng hình ghi lại cho thấy các “lãnh tụ”  biểu tình không dám chường mặt ra phía trước chỉ đứng sau hậu trường xúi giục. Sở dĩ có chuyện như thế là vì ngoài lý do cuộc biểu  tình không có chính nghĩa, không có lý do thuyết phục, mà còn có nguyên nhân rất khôi hài là họ sợ ông Nguyễn Phương Hùng thấy mặt sẽ trao hồ sơ kiện. Tuy nhiên họ cũng không thoát khỏi ống kính phóng viên khi bỏ chạy không nhận hồ sơ kiện.

Một vài phần tử quá khích sang hẳn bên kia đường để hò hét  đả đảo bị cảnh sát lùa vào khu quy định tạo nên những hình ảnh rất kịch tính. Một nhóm người phản biểu tình ôm đàn hát những bài hát Trịnh cộng sơn,  nhạc sĩ đã từng bị nhóm chống cộng chụp mũ CS. Phía phản biểu tình còn kêu gọi đối thoại nóng nhằm tranh luận về những gì đám biểu tình cáo buộc nhưng không có bất cứ ai trong nhóm biểu tình dám nhận lời. Những hình ảnh này đã được phát trên toàn thế giới cho mọi người thấy được cái hạt nhân cực đoan trong đám biểu tình đã bắt đầu mất tự tin, đám ăn theo bị mua chuộc cũng không còn sốt sắng mặn mà với trò đả đảo, cái lý do chống tờ báo VW và các phóng viên quá yếu lý lẽ và điều  thiệt hại nghiêm trọng nhất là cái vũ khí biểu tình đã bị hóa giải. Một khi vũ khí này bị mất tác dụng thì cũng có nghĩa là các băng đảng cơ hội này sẽ tan đàn xẻ nghé trả lại bầu không khí thanh bình cho cộng đồng. Trả lại quyền tự do mà họ phải được hưởng thực sự trên đất nước từng tự hào là tự do nhất thế giới.

Một ngày kia cái câu nói : chốn gió tanh mưa máu” ví von cho cái phố Bolsa sẽ chỉ còn là kỷ niệm .

TẢN MẠN VỀ CHỐNG CỘNG

Trần Chung Ngọc

Kể từ ngày tôi “tự cưỡng bách di tản” khỏi Saigon vào mấy ngày cuối tháng 4, 1975, nay đã hơn 30 năm sống trên đất Mỹ.   Cuộc chiến Việt Nam đã đưa đẩy nhiều người đến những số phận không ai muốn.  Nhưng dù muốn hay không, với bản năng sinh tồn, con người vẫn phải tiếp tục sống, và tự chọn cho mình một lối sống.

Hơn 30 năm sống trên đất Mỹ nhưng lối sống của tôi chẳng phải là lối sống Mỹ, mà cũng chẳng phải là lối sống Việt..  Không xem football, không xem “soap” trên TV, không ăn gà tây nhân dịp lễ người Da Đỏ “không tạ ơn”, không la cà quán rượu, không ly dị [không Mỹ]; không hút thuốc lá, không uống rượu, chưa từng đặt chân đến những buổi nhạc hội ca vũ, chưa từng dự một cuộc biểu tình nào, chưa từng bỏ tiền ra mua Thúy Nga Paris, và không chống Cộng [không Việt], và từ năm 1985, sau khi đọc vài cuốn sách về cách nuôi súc vật và gia cầm ở Mỹ, đến nay đã 21 năm, chưa từng có một miếng thịt nào, bất kể là thịt gì, còn đi vào trong người.

Hơn 30 năm sống xa quê hương nhưng bù lại cả một khung trời thế giới đã mở rộng trước mắt.  Thật vậy, nhờ “hồng ân thiên chúa” nên tôi đã có dịp đi tham quan, ngoài gần khắp nước Mỹ, khá nhiều nơi trên thế giới: Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Tây Âu, Đông Âu, Bắc Âu.  Nhưng riêng đối với tôi, điều bù đắp hơn hết là tôi có cơ hội đọc rất nhiều sách về chiến tranh Việt Nam, về Ki Tô Giáo cũng như về Phật Giáo.  Điều này đã khiến tư duy của tôi thay đổi trên nhiều phương diện.

Về Ki Tô Giáo, sau khi đọc một số sách nghiên cứu về Ki Tô Giáo trong vòng 200 năm gần đây của một số vị lãnh đạo cũng như một số học giả trong Ki Tô Giáo, cùng những khám phá trong vũ trụ học, sinh học, sinh hóa học, di truyền học v..v.., cuối cùng tôi khám phá ra rằng, chẳng làm gì có Thiên Chúa để mà có “hồng ân thiên chúa”, đúng như Richard Dawkins đã nhận định trong cuốn sách mới xuất bản của ông, “The God Delusion”: Thiên Chúa chỉ là một ảo tưởng, ảo  tưởng của những người tin là Thiên Chúa thực sự hiện hữu..

Về Phật Giáo, tôi nghĩ có lẽ tôi đã tu từ nhiều kiếp trước nên nay tôi mới có thể có một cuộc sống như vậy, và tôi tin rằng thuyết “duyên sinh” cộng với thuyết “nghiệp báo” của nhà Phật là cách giải thích hợp lý nhất về những thiên sai vạn biệt trên thế giới.

Còn về chiến tranh Việt Nam, tôi đã viết một bài nhan đề “Chiến Tranh Nhìn Từ Một Phía: Phía Của Không Phía”.

Có người cho rằng đã mang danh là một người “di cư tị nạn CS” thì tất nhiên phải tham gia việc chống Cộng ở hải ngoại.  Không hẳn vậy, tuyệt đại đa số thầm lặng không muốn dính dáng đến những hoạt động chống Cộng trong những vùng “gió tanh mưa máu” [mượn từ của Tú Gàn] rải rác ở ngoại quốc, các vùng Bolsa, San Jose ở California và vùng Sydney ở Úc là những vùng nổi tiếng nhất. Tôi không thuộc đa số thầm lặng trên mà lại thuộc thiểu số không thầm lặng.  Không thầm lặng trước những hành động chống Cộng làm nhục lây đến những người Việt Quốc Gia chân chính.  Tôi không có nói chỉ để mà nói, mà vì những lý do sau đây.

1)  Hiện Tượng Chụp Mũ Cộng Sản Bừa Bãi.

Có một sự kiện khá ngộ nghĩnh trên một số trang nhà hải ngoại là bất cứ ý kiến nào, của bất cứ ai, mà không thuộc loại Chống Cộng Cực Đoan hay Chống Cộng Cuồng Điên [CCCĐ], hay Chống Cộng Chết Bỏ [CCCB], hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC], hoặc là đụng đến Ki Tô Giáo dù rằng chỉ là những sự thật, được dẫn chứng đàng hoàng từ những tài liệu do chính những học giả Tây phương trong Ki Tô Giáo viết, thì y như rằng ý kiến đó bị một số người có vẻ như thiếu moron ở trong óc chụp mũ đó là của Cộng Sản, nằm trong chính sách chống Thiên Chúa Giáo [Thiên Chúa ở đây nên hiểu là Thiên Chúa của Ki Tô Giáo, một trong số hàng trăm Thiên Chúa khác nhau trên thế giới], nếu sự thực ở trên cõi đời này có một Thiên Chúa như người Ki Tô thường tin, và những người viết ra những sự thực về Ki Tô Giáo đương nhiên phải là tay sai của Cộng Sản Việt Nam.  Hiện nay, Cộng Sản có chống Thiên Chúa Giáo hay không, đó là một câu hỏi lớn (a big question).

Ôn cố tri tân.  Nếu ngày xưa [xin đọc Peter de Rosa, Vicars of Christ, trang 48], Giáo hoàng Stephen VII khai quật xác chết của Giáo hoàng tiền nhiệm, Formosous, đã chết trước đó 9 tháng, cho mặc áo mũ cân đai của giáo hoàng, đặt ngồi trên ngai ở điện Lateran, rồi đích thân tố khổ một xác chết, thì ngày nay, những người thuộc giới CCCĐ, CCCB, CCCC, vẫn khai quật cái xác chết của CS, để mà tố khổ, tuy rằng những người Công Giáo Việt Nam vẫn ca tụng công ơn của Đức Thánh Cha của họ [John Paul II] đã cùng với TT Mỹ Ronald Reagan khai tử CS từ năm 1989, và hi vọng là tiếp theo, Đức Thánh Cha của họ sẽ “giải phóng quê hương chúng con”.. Nhưng quê hương chúng con đã được giải phóng từ năm 1954 và sau đó, 1975, và Giáo hoàng John Paul II chưa kịp “giải phóng” cái “quê hương đã được giải phóng”, giải phóng khỏi ách thực dân, giải phóng khỏi mưu đồ Công Giáo hóa Việt Nam của các con chiên của Ngài, thì Ngài đã đi chuyến tàu suốt về chầu Chúa nơi Thiên Đường (mù), nơi mà chính Ngài đã phủ nhận sự hiện hữu.  Vì vậy, một bạn trẻ đã viết trên Đàn Chim Việt: “CS chết rồi nhưng chưa chôn”.  Thật vậy, chúng ta thử về Việt Nam xem có còn cái gì là CS không?  Tất nhiên chỉ còn trên hình thức và sách vở.  Bởi vì nếu thực sự còn là Cộng sản Mao hay Cộng sản Xít-Ta-Lin thì chẳng làm gì còn các “nhà dân chủ” ngày ngày liên lạc với những tổ chức chống Việt Nam ở Hải Ngoại, ra tuyên ngôn nọ kia, lập hội lập hè v..v..

Điều này không lấy gì làm lạ. Khai thác tâm cảnh thù hận Quốc-Cộng của một thiểu số ở hải ngoại, thế lực đen, alias Công Giáo, một tôn giáo có mối thù truyền kiếp với CS, đã nắm hầu hết những phương tiện truyền thông ở hải ngoại, và vô cùng tích cực trong việc xử dụng hai thứ vũ khí mà Công Giáo thường dùng: vu khống và gây thù hận, khi Công Giáo không còn khả năng xử dụng thanh gươm và bó củi như trong thời Trung Cổ, đúng như John Remsburg đã nhận định trong cuốn “False Claims”. Bất cứ người nào nói đụng đến Công Giáo, dù tất cả chỉ là sự thật, cũng đều bị họ vu khống chụp cho cái mũ “chống Công Giáo” cộng với “làm tay sai cho Cộng Sản” để gây thù hận đối với những tín đồ Công Giáo và đối với những người chống Cộng.  Họ làm như chống Công Giáo là một điều cấm kỵ, không được phép làm, hay là một việc vô đạo đức vì đã vạch ra những điều vô đạo đức trong Công Giáo, tuy rằng những nghiên cứu lịch sử về Ki Tô Giáo nói chung, Công Giáo nói riêng, đã là những điều rất thông thường và tràn ngập trong thế giới Âu, Mỹ..

Bất cứ người nào không đồng ý với những hành động chống Cộng một cách thiếu trình độ văn hóa, giáo dục, và cuồng tín như họ cũng đều bị họ vu khống cho là Cộng Sản qua những cụm từ đã trở thành lố bịch: “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”, “ăn cháo đá bát”, “đón gió trở cờ”, “mong được ăn cơm thừa canh cặn của CS”, “làm tay sai cho CS”, “nịnh bợ CS”.  Nhưng có một điều mà ai cũng thấy rõ, đó là, những người đi chụp mũ vu khống người khác là Cộng Sản không bao giờ đưa ra bất cứ một chứng cớ nào, cũng như không bao giờ nói rõ những lý do nào đã khiến cho cá nhân bị chụp mũ đó đi “làm tay sai cho CS”, hay đi “nịnh bợ CS” trong thời buổi này.  Vì danh?  Danh gì?  Vì lợi? Lợi gì?  Vì chức tước?  Chức tước gì?   Có thực tế không?  Có thích hợp với tuổi tác, địa vị, tình trạng kinh tế gia đình của người bị vu khống không?  Lẽ dĩ nhiên những người đi buôn nón cối và đi buôn thù hận này không bao giờ cần để ý đến những chi tiết quan trọng này.  Đối với họ, sự lương thiện trí thức không phải là vấn đề đáng để ý, vì bản tính của họ đã thuộc loại bất lương rồi, chủ đích của họ chỉ cần gây thù hận là đủ.

Một sự kiện khá ngộ nghĩnh khác là dân chống Cộng hải ngoại thường có thái độ “độc tôn”, cho nên bất cứ ai không chống Cộng theo ý ta cũng là Cộng Sản cả.  Bởi vậy mới có cảnh tượng bát nháo, hội đoàn này chụp mũ hội đoàn kia là Cộng Sản, cá nhân này chụp mũ cá nhân kia là Cộng Sản, Công giáo chụp mũ Phật Giáo là Cộng Sản để chạy tội bán nước, và người ngoại đạo cũng lên án Công Giáo là Cộng Sản, hay ít ra cũng là thân Cộng, vì những thủ đoạn chính trị nhơ bẩn “stoop to conquer” của Vatican v..v…

Tại sao vậy?  Vì sống ở trên những đất nước tự do nhất thế giới mà những kẻ trên chưa bao giờ đọc đến câu: “Tôi không chấp nhận những điều anh nói, nhưng tôi sẽ bảo vệ đến chết quyền của anh nói như vậy.” (I disapprove of what you say, but I will defend to the death your right to say it), mà theo một tác giả trên Internet, thực ra là của Beatrice Hall, bí danh là S.G. Tallentyre, nói năm 1907, câu mà người ta thường lầm lẫn cho là của Voltaire. [???]  Cái mũ “Cộng Sản” đã được xử dụng như là một vũ khí để giữ độc quyền ăn nói và bịt miệng những người không đồng quan điểm với mình, nhưng càng ngày càng trở nên lố bịch vì ngày nay mọi người đều coi nó như một trò hề chính trị của những kẻ hạ căn, cho nên không gây nên một tác dụng nào.

Cộng Sản bất chiến tự nhiên thành, vì bỗng nhiên càng ngày càng có nhiều đồng minh: cá nhân, hội đoàn, Phật giáo, Công giáo, và đặc biệt, theo một vài bạn trẻ trên trang nhà Đàn Chim Việt, những nhân vật nổi danh như Giám Mục Peter de Rosa, tác giả cuốn Những Đại Diện Của Chúa Ki-Tô: Cái Mặt Đen Tối Của Những Triều Chính Giáo Hoàng (Vicars of Christ: The Dark Side of The Papacy); Giám Mục John Shelby Spong, tác giả cuốn Tại Sai Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Không Thì Chết (Why Christianity Must Change or Die);  Helen Ellerbe, tác giả cuốn Cái Mặt Đen Tối Của Ki Tô Giáo (The Dark Side of Christianity); Douglas Lockhart, tác giả cuốn Cái Mặt Đen Tối Của Thượng Đế [Của Ki Tô Giáo] (The Dark Side of God); và hàng trăm tác giả khác gồm các bậc lãnh đạo trong Ki Tô Giáo, các giáo sư đại học, chuyên gia về tôn giáo trong thế giới Tây Phương, chỉ vì những nhân vật này cũng “chống Ki Tô Giáo” vì đã viết ra những sự thật về Ki Tô Giáo, do đó là… “thành viên của Giao Điểm”.  Nếu chúng ta có dịp ghé qua trang nhà Đàn Chim Việt, chúng ta sẽ thấy “Giao Điểm” đã trở thành cái mũ để đội lên đầu bất cứ người nào không cùng ý kiến chống Cộng, hay nói ra vài sự thực về Công Giáo, hay trích dẫn tài liệu từ Giao Điểm, dù rằng Giao Điểm không hề biết những người này là ai.  Tôi đã đích thân hỏi Giao Điểm và các thân hữu Giao Điểm có ai viết trên Đàn Chim Việt không.  Ai cũng cười và trả lời Đàn Chim Việt không phải là chỗ để họ viết bài hay góp ý kiến trên đó.   

Nói đến hai chữ “Giao Điểm” thì cũng có nhiều chuyện đáng nói.  Thứ nhất, chỉ nghe thấy tên “Giao Điểm” là có nhiều người phát dị ứng, uất nghẹn nhưng không thể nói ra thành lời, vì nói thế nào cũng kẹt. Hơn 30 đầu sách Giao Điểm xuất bản không hề nhận được sự phản bác nào, trừ vài điều phê bình lặt vặt, lạc lõng, vô giá trị về cuốn “Đối Thoại Với Giáo Hoàng…” của vài con chiên nghiện đạo bênh vực “Đức Thánh Cha” như Nguyễn Văn Chức, Đỗ Mạnh Tri và một trí thức dỏm viết theo đơn đặt hàng: Dương Ngọc Dũng. Tại sao vậy?  Vì tất đều là những tác phẩm nghiên cứu với đầy đủ tài liệu bất khả phủ bác.  Không phủ bác được đành phải dùng vài cái mũ “chống tôn giáo” hay “chia rẽ tôn giáo”.  Thật là lạ lùng và khó hiểu, ở thế giới Tây phương, cái nôi của Ki Tô Giáo, tràn ngập những sách viết về Ki Tô giáo, chỉ trích Ki Tô giáo, phân tích Ki Tô giáo v..v.. thì không có vấn đề.  Nhưng nếu người Việt Nam nào mà xử dụng cùng những nguồn tài liệu của Tây phương về Ki Tô giáo như trên thì y như rằng là có tội  “chống tôn giáo” hay “chia rẽ tôn giáo”.  Chẳng có lẽ người Việt Nam chưa đủ trình độ để chấp nhận những sự kiện lịch sử về tôn giáo hay sao?  Chẳng có lẽ chúng ta cứ phải tiếp tục nhốt người dân vào trong vòng tăm tối về tôn giáo vì sợ mất tình đoàn kết tôn giáo hay sao. Người ta chỉ thấy cái lợi trước mắt mà quên cái hại sau lưng. Đoàn kết tôn giáo chỉ có thể thực hiện khi người dân biết rõ về mỗi tôn giáo và tự mình định cho mình một hướng đi tâm linh thích hợp trong tinh thần khoan nhượng của các xã hội đa tôn giáo tân tiến. Người ta còn tự bảo vệ bằng luận điệu tôn giáo nào cũng dạy làm điều lành tránh điều ác.  Đúng vậy, nhưng ngoài cái gọi là “làm điều lành tránh điều ác” có còn cái gì khác nữa không, hay tất cả chỉ có thế?  Có ai đã đọc kỹ các Kinh sách của các tôn giáo chưa, và có ai đã đọc kỹ lịch sử truyền bá của các tôn giáo chưa?  Có gì giống nhau và khác nhau ở chỗ nào?

Thứ nhì, có một số người chống Cộng cho rằng Giao Điểm là “cánh tay nối dài của CS” ở hải ngoại, tuy rằng một trong những người sáng lập tổ chức Giao Điểm, anh Hồng Quang, cách đây ít năm, khi về Việt Nam đã hơn một lần được Công An ưu ái mời lên “làm việc” vì cho rằng Giao Điểm có mục đích chính trị nào đó.  Nhưng dần dần Giao Điểm đã chứng tỏ là theo đúng chủ trương đặt ra: Trừ Tà [Giải hoặc], Hiển Chánh [Chấn Hưng Phật Giáo], Độ Sinh [Làm việc từ thiện] cho nên ngày nay Giao Điểm tạm gọi là dễ thở đối với Nhà Nước.  Mặt khác, họ chỉ nói lên vậy thôi để gây thù hận chứ tuyệt đối họ không biết gì về tổ chức Giao Điểm cũng như những người cộng tác với Giao Điểm, và nhất là họ không bao giờ dám lên tiếng thảo luận về các lập luận trong các chủ đề mà Giao Điểm viết lên, bởi vì, như trên đã nói, tất cả những bài viết trên Giao Điểm đều thuộc loại nghiên cứu với đầy đủ tài liệu dẫn chứng.

Thứ ba, có một số Phật tử cho rằng Giao Điểm là nhóm Phật tử quá khích vì viết ra những sự thực về Công giáo tuy rằng những người đóng góp trí tuệ cho Giao Điểm không phải tất cả đều là Phật tử, và không có một tác giả nào trên Giao Điểm nhân danh Phật Tử hay Phật Giáo để viết về những sự thực lịch sử về Công Giáo, hay về thời sự, chính trị v..v…. Tất cả đều chỉ là những nghiên cứu trí thức trong lãnh vực học thuật với đầy đủ tài liệu dẫn chứng, nằm trong chủ trương “giải hoặc” và mở mang kiến thức của người dân, một điều vô cùng cần thiết trong thời đại mới.  Những Phật tử này còn khuyên rằng Giao Điểm nên thể hiện đức từ bi của Đạo Phật, chỉ nên ngồi hít vào thở ra cho thoải mái tâm thân, và chỉ nên dùng “ái ngữ” dù rằng ái ngữ nhiều khi chỉ có tính cách mị dân, che dấu hay sai sự thật.  Khi dẫn chứng một tài liệu tiếng ngoại quốc thì phải dịch cho sát nghĩa, không thể dịch sai để phù hợp với chủ trương dùng “ái ngữ”.  Đây là vấn đề lương thiện trí thức trong lãnh vực học thuật.

Thứ tư, có người nhờ uy tín, tiền, và tình của Giao Điểm nên cũng tạo được đôi chút tiếng tăm, nhưng rồi lại muốn chiếm Giao Điểm làm của riêng để lái Giao Điểm đi sang đường khác, tự tung tự tác đi nghịch lại với chủ trương của Giao Điểm, rồi trở mặt coi bạn thành thù, đem tâm thù ghét và đả kích, xuyên tạc Giao Điểm bằng những loại văn chưa từng có trên Giao Điểm.  Nhưng thật là khôi hài, chỉ vì cái tiếng và uy tín của Giao Điểm, nên vẫn phải bám vào hai chữ “Giao Điểm” để câu độc giả cho những mục đích riêng tư. Nhưng giới độc giả tất nhiên biết rõ Giao Điểm nào là Giao Điểm chính gốc, và Giao Điểm nào là “Ngụy Giao Điểm.” Giao Điểm mua được một kinh nghiệm đắt giá: đành mang chút tai tiếng, và để cho tình, tiền của thân hữu suôi theo chiều gió.  Lòng người thật là khó lường.

Và thứ năm, cá nhân tôi tuy không nằm trong tổ chức Giao Điểm, nhưng không hẳn là nằm ngoài theo nghĩa tôi vẫn góp bài cho Giao Điểm, dĩ nhiên vì có thiện cảm với chủ trương của Giao Điểm.  Tôi có thiện cảm với Giao Điểm vì Giao Điểm là một trong những diễn đàn truyền thông hiếm hoi ở hải ngoại dám đăng những bài, dám xuất bản những sách mà không có nơi nào khác dám làm.  Chẳng phải là những bài viết thuộc loại nghiên cứu trên Giao Điểm không có giá trị mà vì nhiều cơ quan truyền thông khác, vì lý do kinh tế, vì sợ mất nồi cơm, sợ mất quảng cáo, sợ bị đánh phá, nên chỉ ủng hộ ngầm mà không ra mặt ủng hộ Giao Điểm.  Nhưng mỗi ngày có vài trăm người đã vào đọc trong Giao Điểm chính gốc, giaodiemonline.com, con số này không phải là nhiều, nhưng thành phần độc giả chọn lọc, trong Giao Điểm không có chửi lộn, không để cho những hạng người thiếu trí tuệ và giáo dục với những lời văn tục tĩu tham gia.

Có một chuyện ngộ nghĩnh khác là, sau khi chụp mũ CS, có người đặt câu hỏi, một câu rất ngớ ngẩn, là tại sao những người mà họ chụp mũ là thân Cộng không về Việt Nam sống với Cộng Sản.  Chỉ có kẻ đần độn mới đặt một câu hỏi xâm phạm vào đời tư của người khác như vậy, nhất là khi đặt trên một giả định vu vơ là họ thân Cộng Sản mà không đưa ra bất cớ một bằng chứng nào. Hỏi như vậy thì tốt hơn là nên hỏi 7 triệu người Công Giáo Việt Nam, những người mê mẩn làm nô lệ cho Vatican, nhất nhất đều tuân theo lệnh của Vatican, sao không sang Vatican mà ở, ở đó có “Đức Thánh Cha” là đại diện của Chúa trên trần, có rất nhiều “Cha cũng như Chúa thứ hai”, cho nên chắc chắn là đường lên thiên đường gần hơn và mau hơn là ở Việt Nam. Riêng tôi, nếu có ai hỏi vậy thì tôi sẽ trả lời:  Tôi muốn sống ở đâu là quyền của tôi, đâu có phải việc của các người mà xía vào chuyện này.  Hơn nữa, ở Mỹ tôi mới có đủ tự do, đủ tài liệu để “chống Công Giáo”, “chống Mỹ”, như các người thường vu khống, và nhất là, “chống những người như các người.”

2)  Những Cảnh Chống Cộng Vô Trí Ở Hải Ngoại.

Tôi có thể nói rằng chính những cảnh chống Cộng bát nháo, thấp kém, vô trí tuệ ở hải ngoại đã làm tôi không thể đứng chung hàng ngũ với những người thuộc loại [CCCĐ] hay [CCCB] hay [CCCC] mà phần lớn thuộc thế lực đen, chống Cộng với tâm cảnh cuồng tín tôn giáo.  Điều khôi hài nhất là mấy ông linh mục ở bên nhà, sống trong một định chế tôn giáo thần trị (theocracy) phi dân chủ, phi nhân quyền v..v.., chỉ có quyền “Tòa Thánh có đánh r…. cũng khen thơm”, hay quyền “hôn nhẫn hôn chân đức thánh cha” v..v.., thế mà lại họp bè họp đảng tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền. Đang cam tâm tự nguyện sống trong cảnh nô lệ, dù là nô lệ tâm linh, mà lại đi tranh đấu cho nhân quyền thì thật là điều không tưởng.  Trong thời Ngô Đình Diệm chẳng thấy ông Linh Mục nào đòi đa nguyên, đa đảng hay dân chủ, nhân quyền.  Tại sao?  Vì các Ngài còn đang hưởng ơn mưa móc của một đầy tớ Chúa, ở địa vị các lãnh chúa, hối mại quyền thế, độc quyền buôn lậu và bóc lột, cướp đất của dân, và kiếm linh hồn cho Chúa.

Sau đây là một số hành động thiếu trình độ văn hóa, giáo dục những người nhân danh chống Cộng.  Một nghệ sĩ cải lương Bạch Tuyết cũng làm cho các người ùn ùn kéo đến Chùa biểu tình phản đối.  Một đoàn trình diễn văn nghệ, hay một cuộc triển lãm tranh ảnh cũng làm cho các người ra công biểu tình la ó chửi rủa ngăn chận hành hung những người đi coi.  Một vị sư sang chữa bệnh cũng làm cho các người xông xáo vào Chùa thốt ra những lời hỗn hào vô lễ.  Một vài chương trình TV tiếp vận từ bên nhà cũng làm cho các người biểu tình phản đối, đòi xóa bỏ.  Các người cho rằng một nghệ sĩ, một vài màn trình diễn văn nghệ cổ truyền, một vài vị sư sang chữa bệnh, một vài bức tranh, một vài chương trình TV ở bên nhà v..v.. có thể làm cho lý tưởng quốc gia của các người, những người đã chạy bán sống bán chết khỏi Cộng Sản, bị chao đảo.  Và còn nhiều nữa, làm sao kể ra cho hết.  Như vậy, các người đã coi người Việt tỵ nạn toàn như các người, sợ bóng sợ gió ảnh hưởng của một nghệ sĩ, của một ông sư, của một chương trình TV v..v. từ trong nước ra.  Các người đã làm nhục những người quốc gia chân chính như đa số thầm lặng vì không muốn dây với hạng người như các người.

Phản ứng của đa số thầm lặng ra sao?  Họ vẫn kéo đến Chùa nghe ca sĩ Bạch Tuyết.  Họ vẫn kéo đến nghe các tu sĩ Phật Giáo thuyết Pháp.  Họ vẫn đi coi các chương trình văn nghệ do các nghệ sĩ bên nhà sang trình diễn. Họ vẫn xem trực tiếp những chương trình TV từ Việt Nam. Họ vẫn đi xem triển lãm.  Họ làm tất cả những điều này bất kể những sự phản đối hung hăng của các người.   Vậy những sự phản đối, những hành động chống Cộng ấu trĩ của các người có tác dụng gì trong cộng đồng?  Các người hãy vắt tay lên trán suy nghĩ xem người quốc gia như các người có làm cái gì để vinh danh người Việt Quốc Gia hay chỉ làm nhục thêm họ vì những hành động chống Cộng vô lối của các người mà đã nhiều lần làm cho báo chí Mỹ phải lên tiếng dè bỉu.   Các người áp dụng y chang sách lược của Công Giáo: cấm tín đồ không được đọc thánh kinh, không được đọc sách báo nào giáo hội không chấp thuận, không được đọc sách…Giao Điểm, sợ tín đồ mất lòng tin.  Nhưng sự bất lương của các người là chống Cộng theo chính sách lưỡng chuẩn:  Sư Phật Giáo từ Việt Nam sang thì chống phá, ngược lại mấy ông đầy tớ Chúa rầm rập từ Việt Nam sang quyên tiền, cấm treo cờ vàng ba sọc đỏ trong nhà thờ, thì các người im thin thít.  Đó là quan niệm về tự do, nhân quyền, đa nguyên đa đảng của các người đấy.  Thật là xấu hổ.  Thử hỏi, nếu các người lên cầm quyền, thì quan niệm về tự do, nhân quyền, đa nguyên đa đảng của các người sẽ đi xuống đâu, và đất nước sẽ trở nên thế nào?  Nhưng lịch sử khó có thể tái diễn với một Ngô Đình Diệm thứ hai và một lũ quạ đen nhân danh tôn giáo để mà tự tung tự tác, hà hiếp, bóc lột người dân.

3.  Hiện Tượng Chống Cộng Bằng Chiến Thuật “Mách Bu” Của Trần Ích Tắc:

Trên trang nhà Chuyển Luân, tháng 11, 2006, có bài “Chuyện Xưa, Chuyện Nay” của Quảng Thiện, trong đó có câu: “Yêu nước vốn là bổn phận thiêng liêng của bất cứ người dân của một dân tộc nào. Vì yêu nước nên giả sử có một cách nhìn, một chính kiến, một chính sách khác đối lập với Nhà Nước cũng là  chuyện bình thường. Tuy nhiên yêu nước kiểu Trần Ích Tắc yêu cầu ngoại bang can thiệp vào nước mình là một hành động không yêu nước chút nào, nếu không nói đó là hành động phản quốc. Ngoài ra cũng còn bài ‘Vọng ngoại tắc ngu’ của Trần Đình Hoàng  cũng nói lên cùng một ý tưởng.  Thảm thay, ở hải ngoại không thiếu gì những Trần Ích Tắc thời đại như vậy.  Sau đây xin đơn cử vài sự kiện đậm mùi Trần Ích Tắc.

Những điều hoang tưởng vọng ngoại như “Cha đã tiên phong góp phần giải phóng quê hương Cha, và tiếp đến sẽ là quê hương chúng con” (Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng, trang 11), hoặc “Ủy ban Nhân Quyền Quốc Tế cho rằng…” hay “Tổ Chức Ân Xá Hoa Kỳ tố cáo rằng..”, “Dư luận cả thế giới và nhất là Quốc Hội Mỹ đều tập trung xoáy vào điểm…” , hay ca tụng “Nghị Quyết của Hạ Viện Mỹ”, “Luật về tự do tôn giáo thế giới của Mỹ” v..v.. để ép Việt Nam, đều nói lên “lòng yêu nước” của Trần Ích Tắc, đồng thời tỏ rõ sự yếu kém của những tổ chức tranh đấu hải ngoại, tự mình không thể làm nên trò trống gì, cứ phải dựa hơi những tổ chức, cơ quan ngoại quốc mà thực chất chẳng có ảnh hưởng gì trên quốc tế, nhất là đối với các nước Á Đông.

Người ta đã tin tưởng vào vài lời nói đãi bôi của vài nghị sĩ, dân biểu Mỹ cần kiếm phiếu, hay vài cái nghị quyết chỉ có giá trị trên mặt giấy tờ của Hạ Viện Mỹ, hay đạo luật về tự do tôn giáo thế giới (The International Religious Freedom Act) của Quốc hội Mỹ, làm như Mỹ  có toàn quyền thay đổi bộ mặt chính trị ở Việt Nam bằng nghị quyết và đạo luật của Mỹ.  Kết quả ra sao, chúng ta đã thấy rõ.  Chẳng có ai buồn quan tâm đến thực chất của những nghị quyết hay đạo luật về tự  do tôn giáo của Mỹ là như thế nào.  Riêng về đạo luật về tự do tôn giáo thì Giáo sư luật tại đại học Emory, Abdullahi Ahmed An-Na’im, đã phê bình như sau: “Nhiều người nhớ lại những lời hoa mỹ thiên Ki Tô trước đây và tin rằng Hoa Kỳ chỉ quan tâm đến sự hỗ trợ các thừa sai Mỹ ở ngoại quốc.” (Emory University law professor Abdullahi Ahmed An-Na’im says many remember the early pro-Christian rhetoric and believe the United States is only interested in aiding American missionaries abroad.), và J. Paul Martin, Giám đốc trung tâm nghiên cứu nhân quyền tại đại học Columbia còn đi xa hơn nữa.  Ông nói: “Ở các nước như Nga sô, Pháp, Bỉ, và Đức, nhiều người coi đạo luật về tự do tôn giáo của quốc hội Hoa Kỳ là một phần của chủ nghĩa đế quốc rộng lớn hơn của Mỹ” (J. Paul Martin, executive director of Columbia University’s Center for the study of Human Rights, goes further.  In such countries as Russia, France, Belgium, and Germany, he says, many see Congress’ action as “part of a larger American imperialism”.)  Nhưng người Việt chống Cộng lại coi đạo luật này như là một khuôn vàng thước ngọc có ảnh hưởng đến tình trạng tôn giáo ở Việt Nam, hay nói đúng hơn, có ảnh hưởng đến vài vị lãnh đạo tôn giáo chống chính quyền ở Việt Nam.

Người ta cũng còn tin tưởng ở hiệu quả của cái nghị quyết số 1481 mà nội dung là “Về sự cần thiết lên án của quốc tế đối với tội ác của các chế độ cộng sản độc tài” của một số nghị viên trong Quốc hội Âu Châu đưa ra, số nghị viên này quên cả sự cần thiết lên án cái lịch sử đầy những tội ác vô tiền khoáng hậu của Âu Châu đối với nhân loại. Theo Christopher Caldwell thì cái gọi là Quốc Hội Âu Châu, có tổng hành dinh ở Strasbourg, thường bị chế nhạo là “một tiệm phát ngôn vô hiệu quả và là nhà hưu trí cho những chính trị gia không bao giờ có thể được bầu vào trong quốc hội ở những quốc gia của họ.” [The European Union's 25-country parliament, which sits in Strasbourg, is often ridiculed as a feckless talking shop and a retirement home for politicians who could never get elected to their national parliaments.]

Vô thượng thiên tài “mách bu” là Võ Văn Ái:  Chuyên viên ngụy tạo văn kiện, thông tin giả từ trong nước theo đơn đặt hàng của NED để trình chủ và thế giới,  từ đó kiếm được gần trăm ngàn đô-la mỗi năm từ ông chủ NED.  Những Trần Ích Tắc thời đại cũng còn thành lập phái đoàn nọ kia đến xin với Thủ Tướng Úc John Howard và Tổng Thống Bush của Mỹ để làm áp lực với Nhà Nước khi đến Việt Nam tham dự Hội Nghị APEC.  Nhưng kết quả ra sao thì ai cũng biết.  Bush và Howard không coi các Trần Ích Tắc vào đâu, và đặc biệt, Mỹ đã bỏ Việt Nam ra khỏi danh sách những nước cần quan tâm về vấn đề tự do tôn giáo. Bây giờ họ bèn quay ra lên án Bush là đã phản bội, không ủng hộ họ, không làm theo ý họ, mà không hiểu rằng kẻ phản bội [quốc gia của họ] chính là họ, chứ không phải là Bush.  Họ tự coi mình là những nhân vật quan trọng mà không hiểu rằng Bush không hề coi họ là cái gì.  Thật vậy, họ có cái gì? trí tuệ, uy tín, hậu thuẫn của quần chúng? v..v.. đáng để cho Bush phải quan tâm đến.  Thật ra thì Mỹ có bỏ hay không bỏ cũng chẳng nhằm nhò gì, vì đáng quan tâm hay không đáng quan tâm thì Mỹ cũng chỉ lập danh sách đó với tính cách giai đoạn chính trị và kinh tế mà thôi. Những người chống Cộng cực đoan hầu như đều có đầu óc của những con bò mộng Tây Ban Nha, cứ thấy màu đỏ là húc, chẳng còn biết trời đất nào nữa.  Khi ngoại trưởng Condoleezza Rice tuyên bố một câu có ý khen tặng sự tiến bộ của Việt Nam là “Bắc Hàn và Myanmar nên thay đổi, lấy Việt Nam làm một bài học  mà bắt chước” thì những người Việt Nam có tinh thần dân tộc đều thấy đó làm niềm hãnh diện.  Nhưng đối với những người chống Cộng đến chiều thì lại khác, họ lên án bà Rice là thiển cận.  Họ không biết rằng Bắc Hàn còn đóng kín không mở cửa đi vào cộng đồng thế giới như Việt Nam (Hội Nghị APEC đã chứng tỏ như vậy), và Myanmar là một chế độ quân phiệt, xã hội hỗn loạn, không ổn định như Việt Nam. Họ thất vọng vì bà Rice không lên án Cộng Sản Việt Nam như họ mong muốn. Họ chống Cộng với quan điểm rất thiển cận: sự tự do của một số người chống đối chính quyền là sự tự do của cả dân tộc, và vài chức sắc tôn giáo chính là tôn giáo.  Còn nữa, những nhà dân chủ đến Tòa Đại Sứ Mỹ uống sâm banh không có một khái niệm nào về chính trị của Mỹ, cứ tưởng Mỹ gọi mình đến cho uống sâm banh là hết lòng ủng hộ sát cánh với mình trong cuộc đấu tranh cho dân chủ của mình, không biết rằng Mỹ chỉ dùng mình như cái bàn đạp trong những cuộc thương thuyết về kinh tế với Việt Nam.  Kinh nghiệm Mỹ dùng Diệm Thiệu khi xưa không làm mở mắt những người vẫn còn thích đi làm đầy tớ.

Vì không hiểu rõ tinh thần dân tộc của người dân Việt Nam, không nghiên cứu về thực chất của vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo, không biết rằng Mỹ cũng là nước vi phạm nhân quyền vào bậc nhất trong cộng đồng quốc tế, không thuộc lịch sử Việt Nam, yếu kém về chính trị, và không  rõ chính sách đối ngoại của Mỹ v..v.. cho nên tới bây giờ mà vẫn còn những tổ chức chính trị, lực lượng tôn giáo đi “mách bu” mong rằng “bu” sẽ can thiệp vào nội bộ Việt Nam. Thật là đáng buồn.  Thử nghĩ xem Việt Nam có người nào tôn sùng những thứ người như Trần Ích Tắc hay Lê Chiêu Thống?  Những Trần Ích Tắc thời đại không những thiếu hiểu biết về chính trường quốc tế, lại cũng không biết rằng đã từ lâu Á Đông không chấp nhận quan niệm về nhân quyền của Tây phương, vì ngoài những bất đồng về văn hóa, xã hội, nhân sinh v..v.. giữa những nền văn minh khác nhau, Á Đông còn coi sách lược lưỡng chuẩn (double standard) về nhân quyền của Tây phương như là một sự áp đặt để đạt những mục đích kinh tế, tôn giáo.  Tây phương, với bản chất đế quốc, chưa bao giờ tôn trọng nhân quyền ở các nơi khác trên thế giới.  Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, đã viết rõ:

“Thật ra chính sách ngoại giao của Mỹ là đặt căn bản trên nguyên tắc không liên quan gì đến nhân quyền, mà là liên quan nhiều đến sự tạo ra một bầu không khí thuận lợi cho ngoại thương” (James Speck, Editor, The Chomsky Reader, p. 331:  U.S. foreign policy is in fact based on the principle that human rights are irrelevant, but that improving the climate for foreign business operations is highly relevant.)

Mơ tưởng ở sự hữu hiệu của chiến thuật “mách bu”, giới chống Cộng bây giờ mới ngã ngửa người ra thất vọng, và các nhà bình luận nổi tiếng là bình luận láo trên các diễn đàn truyền thông hải ngoại, đã quay ra bình luận tiêu cực về chuyến đi Việt Nam của ông Bush.  Trước kinh nghiệm này, không hiểu họ đã chịu mở mắt ra chưa hay vẫn còn hi vọng vào Hạ Viện Mỹ, Dân Biểu Mỹ, Quốc Hội Mỹ, Quốc Hội Âu Châu hay vào vài cái nghị quyết, đạo luật ấm ớ mà thực chất chẳng có tác dụng là bao nhiêu.

Bây giờ tôi xin sang đến vấn đề cá nhân: chống hay không chống Cộng?  Tôi không ngần ngại mà khẳng định một điều: “Tôi không chống Cộng”.  Tại sao?  Tôi có bổn phận phải giải thích cho bất cứ ai là tại sao không?  Tuyệt đối là không.  Nhưng đã viết về chống hay không chống thì có lẽ tôi cũng nên có vài nhận xét về chủ đề này.  Trước hết, chúng ta cần phải nhận rõ một điều: “không chống Cộng” và “là Cộng” là hai điều hoàn toàn khác nhau.  Hai chữ “Cộng Sản” thực ra chỉ là cái mũ của những người không đủ khả năng thảo luận trên các chủ đề, hoặc không thể chấp nhận những quan điểm khác với quan điểm chống Cộng của mình.

Như trên đã nói, ở Mỹ trong mấy chục năm, tôi đã có cơ hội đọc rất nhiều sách về cuộc chiến tranh Việt Nam, về Phật Giáo, và về Ki Tô Giáo, và điều này đã làm tôi thay đổi tư duy rất nhiều về thực chất của cuộc chiến cũng như thực chất của hai tôn giáo lớn ở Việt Nam: Phật Giáo và Công Giáo.

Thứ nhất, về cuộc chiến chống Pháp trở lại Đông Dương thì không có gì đáng nói, vì cuộc chiến đó hầu như là của toàn dân, trừ số người đã phục vụ cho Pháp, trong đó có tôi, vì hoàn cảnh đã đưa đẩy tôi phải nhập trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định, và sau đó phục vụ trong quân đội Quốc Gia, dưới cái dù của quân đội Pháp, và sau này, trong QLVNCH..  Có đáng nói hay không là kết quả đã đưa đến Hiệp Định Genève.

Một luận điệu bóp méo lịch sử thường thấy ở hải ngoại là: “Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam”, hay “Cộng sản xâm lược miền Nam”. Những lời nói vô trí này đặt trên giả định là hai miền Nam Bắc là hai quốc gia riêng biệt, độc lập. Muốn biết những luận điệu này có khớp hay không, chúng ta cần trở lại vài điều khoản chính yếu trong Hiệp Định Genève.  Hiệp định Genève có hai phần: phần “Thỏa Hiệp” và phần “Tuyên Ngôn cuối cùng” [Final Declaration]

Phần “Thỏa Hiệp…”, gồm 47 điều khoản, được ký kết giữa Tướng Pháp Henri Delteil, Quyền Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương, và ông Tạ Quang Bửu, Thứ Trưởng Quốc Phòng của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.  Có vài điều khoản chính như sau:

Điều khoản 1 (Article 1) nói về sự thiết lập “một đường ranh giới quân sự tạm thời” (A provisional military demarcation line) [Vĩ tuyến 17] để quân đội hai bên rút quân về: Lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam ở phía Bắc, và lực lượng Liên Hiệp Pháp (French Union) ở phía Nam làn ranh giới.

Điều khoản 8 ấn định quyền kiểm soát hành chánh ở phía Bắc Vĩ Tuyến 17 thuộc Việt Minh và ở phía Nam thuộc Pháp (Civil administration in the regroupment zone to the North of the 17th parallel was to be in the hands of the Vietminh, and the area to the South of the parallel was to be in the hands of the French)

Điều khoản 14, đoạn (a) [Article 14, Paragraph (a)] viết rõ: “Trong khi chờ đợi cuộc Tổng Tuyển Cử để Thống Nhất Việt Nam, quyền hành chánh dân sự trong mỗi vùng rút quân nằm trong tay các phe có quân đội rút quân (nghĩa là Pháp và Việt Minh) theo tinh thần của bản Thỏa Hiệp.”  (Pending the general elections which will bring about the Unification of Vietnam, the conduct of civil administration in each regrouping zone shall be in the hands of the party whose forces are to be regrouped there in virtue of the present Agreement). Bản “Tuyên Ngôn…” gồm 13 đoạn, liên quan đến cả Cambod và Lào, có một đoạn đáng để ý: Đoạn (6) [Paragraph (6)] nguyên văn như sau:

 “Hội Nghị nhận thức rằng mục đích chính yếu của Thỏa Hiệp về Việt Nam là dàn xếp những vấn đề quân sự trên quan điểm chấm dứt những đối nghịch quân sự và rằng ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ LÀ TẠM THỜI VÀ KHÔNG THỂ DIỄN GIẢI BẤT CỨ BẰNG CÁCH NÀO ĐÓ LÀ MỘT BIÊN GIỚI PHÂN ĐỊNH VỀ CHÍNH TRỊ HAY  ĐẤT ĐAI .  Hội Nghị bày tỏ sự tin tưởng là thi hành những điều khoản trong bản Tuyên Ngôn này và trong Thỏa Hiệp ngưng chiến sẽ tạo nên căn bản cần thiết để trong tương lai gần đạt tới một sự dàn xếp chính trị ở Việt Nam”

(The Conference recognizes that the essential purpose of the Agreement relating to Vietnam is to settle military questions with a view to ending hostilities and that THE MILITARY DEMARCATION LINE IS PROVISIONAL AND SHOULD NOT IN ANY WAY BE INTERPRETED AS CONSTITUING A POLITICAL OR TERITORIAL BOUNDARY.  The Conference expresses its conviction that the execution of the provisions set out in the present Declaration and in the Agrrement on the cessation of hostilities creates the necessary basis for the achievement in the near future of a political settlement in Vietnam.)

Qua những văn kiện lịch sử này, chúng ta thấy rõ là “Việt Nam Quốc Gia” vốn nằm dưới cái dù của Pháp, và phải thi hành Hiệp định Genève dưới cái dù của Pháp.  Nhưng khi Mỹ, dùng cường quyền thắng công lý, nhảy vào thay thế Pháp, đưa con cờ “Công Giáo chống Cộng” Ngô Đình Diệm về [Xin đọc bài “Vài Nét Về “Cụ Diệm” trên giaodiemonline.com], dựng lên miền Nam, sống vì viện trợ Mỹ, chịu sự sai khiến của Mỹ, chạy làng không chịu thi hành cuộc Tổng Tuyển Cử vào năm 1956, và cưỡng ép người dân phải chấp nhận một sự phân chia hai miền độc lập, phản bội điều khoản: ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ LÀ TẠM THỜI VÀ KHÔNG THỂ DIỄN GIẢI BẤT CỨ BẰNG CÁCH NÀO ĐÓ LÀ MỘT BIÊN GIỚI PHÂN ĐỊNH VỀ CHÍNH TRỊ HAY  ĐẤT ĐAI”  trong Hiệp định Genève.  Đây là những sự kiện lịch sử.  Ai có thể phủ bác được xin lên tiếng.

Nói tóm lại, không làm gì có chuyện chia nước Việt Nam thành hai miền độc lập về chính trị và quân sự.  Huyền thoại về một miền Nam độc lập như một quốc gia riêng biệt chỉ là sản phẩm do Mỹ dùng cường quyền thắng công lý tạo ra về sau, tuy trong bản Tuyên Ngôn Đơn Phương (Unilateral Declaration) của Mỹ về Hội Nghị Genève, Mỹ không bao giờ nói đến “Nam” hay “Bắc” mà chỉ nói đến một nước Việt Nam (Kahin & Lewis:  Nowhere in its unilateral declaration did the US speak of a “South” or “North” Vietnam.  Every reference of the American representative was to a SINGLE VIETNAM.).  Ngoài ra Mỹ cũng đã hứa sẽ không đe dọa hoặc can thiệp bằng võ lực vào việc thống nhất đất nước qua cuộc Tổng Tuyển Cử năm 1956.   Thật vậy, Thứ Trưởng Ngoại Giao Mỹ, Walter Bedell Smith xác định trong bản Tuyên Ngôn tại Washington D.C. như sau:

“Trong trường hợp những quốc gia nay bị chia đôi ngoài ý muốn, chúng ta sẽ tiếp tục tìm kiếm giải pháp thống nhất qua bầu cử tự do, giám sát bởi Liên Hiệp Quốc để bảo đảm là bầu cử được thi hành nghiêm chỉnh” và“Hoa Kỳ sẽ tự kiềm chế, không đe dọa hay dùng võ lực để phá những sự Thỏa Hiệp”

(In the case of nations divided against their will, we shall continue to seek to achieve unity through free elections, supervised by the United Nations to ensure that they are conducted fairly…  The US will refrain from the threat or the use of force to disturb them)

Trong cuốn The United States In Vietnam: An Analysis In Depth Of The History Of America’s Involvement In Vietnam, hai Giáo sư đại học Cornell, George McTurnan Kahin và John W. Lewis, viết, trang 59:

“Tuy Hoa Kỳ nói rằng “sẽ tự kiềm chế, không đe dọa hay dùng võ lực để phá những sự Thỏa Hiệp” nhưng điều hiển nhiên chúng ta thấy ngay sau đó là Hoa Kỳ đã sửa soạn dùng mọi phương cách khác để ủng hộ chế độ Saigon [do Mỹ  dựng lên] trong việc không tôn trọng những điều khoản trong Thỏa Hiệp”

 (Though the US said it would “refrain from the threat or the use of force to disturb” the agreements, it soon become evident that it was prepared to use every other means to back up the Saigon regime in its departure from their central provisions).

 [Tưởng chúng ta không nên quên là ngay từ sau Hiệp Định đình chiến 1954, Mỹ đã gửi Lansdale ra ngoài Bắc để  phá hoại, tuyên truyền, và cổ võ giáo dân Công giáo di cư vào Nam làm hậu thuẫn cho Ngô Đình Diệm với những khẩu hiệu như “Chúa đã vào Nam” và “Đức Mẹ đã bỏ miền Bắc vào Nam” v..v.. để dụ đám giáo dân thấp kém.  Vì vậy hơn 800 ngàn Giáo dân Công Giáo đã ào ào kéo vào Nam, không buồn để ý đến chuyện những khẩu hiệu lố bịch trên đã chứng tỏ là nếu tin như vậy thì thành ra Ông Mác đã đuổi Chúa và Đức Mẹ chạy từ Bắc vào Nam, tuy rằng Chúa và Đức Mẹ đều là những bậc toàn năng, toàn trí, quyền phép vô cùng, làm gì cũng được, cùng lúc chứng minh trình độ và ý thức tôn giáo của giáo dân Công giáo Việt Nam.  Thật là tội nghiệp cho đầu óc của họ.]

Hãy để tâm suy nghĩ một chút.  Việt Minh động viên người dân, tốn bao xương máu trong cuộc kháng chiến chống Pháp, cuối cùng đi đến chiến thắng Điện Biên Phủ, chấm dứt nền đô hộ của thực dân Pháp, thu hồi độc lập cho đất nước, phải chăng chỉ để chia nước Việt Nam thành hai miền riêng biệt, để cho miền Nam trù phú thóc gạo, lâm, ngư sản thuộc quyền những kẻ không hề có một công trạng gì với đất nước như Ngô Đình Diệm, một người thuộc dòng họ Tam Đại Việt Gian như Giáo sư sử Nguyễn Mạnh Quang đã chứng minh, và nằm yên trong vài Trường Dòng Công Giáo ở ngoại quốc trong khi đa số người dân đang kháng chiến chống Pháp và một số nhỏ hơn đang chiến đấu cho cái mà họ tin là lý tưởng quốc gia?  Nếu không tin ở giải pháp chính trị để tiết kiệm xương máu người dân thay vì theo đuổi giải pháp quân sự, là đất nước sẽ thống nhất qua cuộc Tổng Tuyển Cử vào năm 1956 theo quy định của Hiệp định Genève thì Việt Minh có chịu ký Hiệp định Genève không khi đang thắng thế.  Thống nhất đất nước là mục tiêu tối hậu không thể thay đổi của Việt Minh và rất hợp với lòng dân, với truyền thống dân tộc, và xóa bỏ chính sách chia Việt Nam làm ba Kỳ để trị của Pháp..  Nhưng Mỹ đã vì những quan niệm chính trị sai lầm về chính trị nên đã dùng miền Nam làm tiền đồn chống Cộng cho Mỹ, vi phạm Hiệp định Genève, và đưa Việt Nam vào một cuộc chiến tàn khốc vô ích vì kết cục không thay đổi:  Việt Nam vẫn đi đến thống nhất dù bắt buộc phải dùng đến giải pháp quân sự.  Người Đại Hàn rất ngưỡng mộ Việt Nam vì họ không biết đường nào để đi đến thống nhất đất nước của họ, tuy muốn.

Tôi vẫn thường thắc mắc:  “Miền Nam có hơn một triệu quân, một thời cộng với hơn nửa triệu quân Mỹ, với đầy đủ vũ khí, đạn dược, và có ưu thế tuyệt đối về máy bay, xe tăng, tàu chiến, B52, và cả thuốc khai quang Agent Orange để cho Việt Cộng không còn chỗ ẩn núp v..v.. nhưng tại sao vẫn không thắng nổi đối phương để rồi Mỹ phải tìm cách Việt Nam hóa cuộc chiến, “rút lui trong danh dự”, và cuối cùng Việt Cộng vẫn “cưỡng chiếm” được miền Nam?  Vậy ngoài yếu tố quân sự, những yếu tố nào đã quyết định cuộc chiến?  Phải chăng là lòng yêu nước?  Chính Nghĩa?  Hợp với lòng dân và được dân ủng hộ?  Ý chí chiến đấu của binh sĩ?  Khả năng chỉ huy của các cấp lãnh đạo?  Và còn gì nữa?  Vậy luận cứ “Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam” ở hải ngoại có một giá trị trí thức nào không hay chỉ là nói để mà nói mà không biết mình nói cái gì.

Chuyện Mỹ “rút lui trong danh dự” ra khỏi miền Nam, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam, nhìn qua lăng kính lịch sử thì không lấy gì làm lạ.  Tại sao?  Vì bản chất cuộc chiến hậu Genève ở Việt Nam là cuộc chiến chống xâm lăng và thống nhất đất nước, và Việt Nam có truyền thống chống xâm lăng rất kiên trì và chịu đựng mọi hi sinh.  Nhưng mà ai xâm lăng?  Chúng ta hãy đọc vài tài liệu của Mỹ trong số hàng trăm tài liệu khác:

Daniel Ellsberg trong cuốn Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers, Viking, 2002, p.255, viết:  Theo tinh thần Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và theo những lý tưởng mà chúng ta công khai thừa nhận, đó là một cuộc ngoại xâm,  sự xâm lăng của Mỹ. (In terms of the UN Charter and our own avowed ideals, it was a war of foreign agression, American aggression.); và John Carlos Rowe and Rick Berg viết trong cuốn Chiến Tranh Việt Nam Và Văn Hóa Mỹ (The Vietnam War and American Culture, Columbia University Press, New York, 1991), cũng viết, trang 28-29: Cho tới năm 1982 – sau nhiều năm tuyên truyền liên tục mà hầu như không có tiếng nói chống đối nào được phép đến với đại chúng – trên 70% dân chúng vẫn coi cuộc chiến (ở Việt Nam) “căn bản là sai lầm và phi đạo đức”, chứ không chỉ là “một lỗi lầm.”…Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng Nam Việt Nam, ở đó Mỹ đã tiến tới việc làm ngơ tội ác xâm lăng với nhiều tội ác khủng khiếp chống nhân lọại trên khắp Đông Dương. (As late as 1982 – after years of unremitting propaganda with virtually no dissenting voice permitted expression to a large audience – over 70% of the general population (but far fewer “opinion leaders”) still regarded the war as “fundamentally wrong and immoral,’ not merely “a mistake”..  In short, the US invaded South Vietnam, where it proceeded to compound the crime of aggression with numerous and quite appalling crimes against humanity throughout Indochina.)

Bây giờ chúng ta hãy nhìn vào những con số tổn thất trong cuộc chiến do Mỹ gây nên vì chính trị sai lầm như nhiều chính khách và học giả Mỹ đã thú nhận và nhận định.

-         Mỹ:  Chết 57,702; bị thương 313,616, cộng với hơn 1,000 chết không phải do chiến trận.

-         Nam Việt Nam:  Chết 185,528; bị thương 499,026.

-         Bắc Việt:  Chết 924,048; số bị thương ước tính ít nhất gấp đôi.

-         Cả hai miền:  415,000 thường dân chết; 936,000 bị thương.

-         Trên 10 triệu tấn bom đã thả xuống Việt Nam, Cam bốt, và Lào (vào khoảng gấp hơn 2 lần tấn bom mọi phe dùng trong đệ nhị Thế Chiến.)

-         Mỹ cũng đã trải trên đất nước Việt Nam 76,954,806 lít hóa chất trong đó có 49,268,937 lít

chất độc màu da cam (Nguyễn Văn Tuấn, Chất Độc Màu Da Cam Và Cuộc Chiến Việt Nam,

Giao Điểm 2005, trang 52).

Chúng ta hãy tự đặt cho mình một câu hỏi, với những con số tổn thất như vậy, bên nào bị nặng hơn, và nếu cần phải thù hận thì bên nào sẽ thù hận hơn.  Nhưng trên thực tế, chúng ta chỉ thấy những thái độ thù hận một chiều, đúng ra là ngược chiều, từ phía những người quốc gia ở hải ngoại.  Có vẻ như những người đi buôn thù hận này nghĩ rằng, những người bên phía CS không phải là người, không có cha mẹ, vợ chồng con cái, bạn bè thân thuộc v..v.. nên những mất mát tổn thất của họ không đáng kể, chỉ có những tổn thất của phía chúng ta mới đáng để thù hận.  Có vẻ như những người chống Cộng một chiều này nghĩ rằng trong cuộc chiến chỉ có CS là ác, còn QG hay Mỹ thì không.  Họ lầm to, họ không biết gì về những hành động đối với dân, với kẻ thù của người lính Quốc Gia cũng như của người lính Mỹ.

Cộng Sản có Đặng Thùy Trâm.  Chúng ta có ai?  Chúng ta đã thua CS về quân sự, nay chúng ta lại thua về tình người, vì ở trong nước, dư luận có luận điệu thù hận phe quốc gia thật là hiếm hoi.  Nhưng cũng may, những tổ chức CCCĐ, CCCB, CCCC ở ngoại quốc chung quy chỉ là những tổ chức của đám người hoặc mất gốc, hoặc đã phi dân tộc thì thể nào cũng phản bội dân tộc, đang nắm những phương tiện truyền thông ở hải ngoại nhưng thiếu khả năng, thiếu trí tuệ và giáo dục, nên chỉ có thể đưa ra những hành động chống Cộng phi lý làm nhục lây đến cả cộng đồng người Việt di cư như rủ nhau đi biểu tình chống phá Expo, triển lãm tranh ảnh, văn nghệ của Việt Nam, chống phá phái đoàn các em học sinh về Việt Nam nghiên cứu trao đổi văn hóa v..v…  Tuyệt đại đa số người Việt di cư đã bỏ lại đàng sau quá khứ, hướng về tương lai của dân tộc, bằng chứng là mỗi năm có hàng trăm ngàn “Việt kiều” về thăm quê hương, trong số đó không thiếu gì những người khi xưa đã giữ những chức vị cao cấp ở miền Nam.

Phải chăng vì vậy mà, Phật Giáo, vốn là tôn giáo của dân tộc, đang sửa soạn đi một bước đi ngoạn mục đầy tình người, đầy tinh thần Phật Giáo, đầy tinh thần dân tộc, mà đáng lẽ chính quyền Việt Nam đã phải thực hiện từ lâu rồi:  Phối hợp Phật Giáo trong và ngoài nước, trong tương lai gần, Phật Giáo Việt Nam sẽ tổ chức ba Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan, một tại Sài Gòn, một tại Huế và một tại Hà Nội, để cầu nguyện và giải trừ oan khổ cho tất cả những ai đã từng gánh chịu hậu quả khắc nghiệt của cuộc chiến tranh, dù đã qua đời hay còn tại thế. Các Đại Trai Đàn này có tên là Thủy Lục Giải Oan Bình Đẳng Cứu Bạt Trai Đàn. Oan khổ là tất cả những bất hạnh xảy ra ngoài ý muốn và không đáng xảy ra.

Quan điểm của Phật Giáo về việc tổ chức Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan được trình bày qua vài đoạn sau trong bản Phổ Cáo Cùng Đồng Bào trong Và Ngoài Nước:

“Quý đồng bào và liệt vị Phật tử chắc cũng thấy như chúng tôi rằng muốn có một tương lai cho đất nước và quê hương, chúng ta phải có khả năng nắm tay nhau cùng đi trong tình huynh đệ và nghĩa đồng bào. Điều này chỉ có thể thực hiện một khi ta chấp nhận được nhau và tha thứ cho nhau, và vì thế chữa lành thương tích trong lòng người, nói lên được niềm đau nỗi khổ và những oan khuất lâu nay là một điều thiết yếu.  Đại Trai Đàn Chẩn tế Giải Oan là để làm công việc ấy. Tại Đại Trai Đàn, chúng ta tới với nhau, nhìn nhận nhau như anh chị em ruột thịt một nhà, chúng ta cầu nguyện cho tất cả những người thân đã từng chết đi một cách oan ức…Ta sẽ có dịp khóc cho tất cả các đồng bào và thân nhân xấu số của ta …Đồng bào ta từ giới lão trượng đến giới trung niên và thiếu niên, ai cũng có tâm yêu nước thương nòi, ai cũng ao ước đấu tranh cho nền độc lập, tự do, thống nhất và hòa bình cho đất nước; nhưng khi đất nước bị đặt vào một hoàn cảnh khó xử, nhiều người trong chúng ta đã phải đối đầu với nhau và trở nên nạn nhân của một cuộc đấu tranh khắc nghiệt và lâu dài. Nhiều người trong chúng ta đã phải trải qua những hoàn cảnh cực kỳ bi thương, thê thảm, đọa đày, nỗi oan ức chưa bao giờ được biết tới… Nay đất nước đã được thống nhất, hòa bình đã được tái lập, chúng ta có dịp trở về với nhau, nắm tay nhau, chấp nhận nhau để cùng cầu nguyện cho nhau, cho những người đã khuất và những người còn đang tiếp tục gánh chịu oan nghiệt, và để tất cả cùng có cơ hội chữa lành những vết thương rướm máu lâu ngày chưa lành. Các Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan là một trong những hình thức thực tập chữa trị thương tích, nối kết lại tình đồng bào ruột thịt, và làm vơi đi những oan khổ uất ức đã được chứa chất lâu nay.

 Chúng tôi biết, tổ chức những Đại Trai Đàn như vậy không phải là một chuyện dễ. Sẽ có những người đồng bào không đồng ý với công việc này. Có thể vì đã từng bị mất mát khổ đau và thiệt thòi quá nhiều trong quá khứ hoặc vì còn sợ hãi không dám nhìn nhận nỗi đau thương vẫn còn chôn kín ở đáy lòng mình và ở đáy lòng những người đồng bào mình, cho nên các vị ấy chưa mở trái tim của mình ra được. Tuy nhiên, trái tim của đại đa số đồng bào ta hiện tại đã mở ra trên chiều hướng tha thứ, chấp nhận; hầu hết đều ước ao có cơ hội chữa lành những thương tích rướm máu còn lại trong tâm hồn. Vì nhận thấy được điều đó nên chúng tôi đã dám đứng ra làm công việc Phật sự này.”

 Vậy đến bao giờ số người nhỏ nhoi, sống với dĩ vãng, nuôi dưỡng thù hận, đi ngược thời gian mới có thể mở được trái tim ra, mở để mà thấy kéo dài sự thù hận là một điều phi lý, vì tất cả chúng ta đều là nạn nhân của một cuộc chiến không ai muốn, là nạn nhân của một hoàn cảnh lịch sử về chính trị và xã hội của một nước nhỏ, một hoàn cảnh đã vượt ra khỏi vòng kiểm soát của quốc gia chúng ta, vì các cường quốc đã dùng cường quyền thắng công lý để can thiệp vào chuyện nội bộ của nước ta, và bỏ đi tâm cảnh “mách bu”, trông ngóng ở sự can thiệp của nước ngoài vào chủ quyền Việt Nam..   Những bài tường trình về các chuyến về quê của nhiều tác giả, đặc biệt là của Lý Thái Xuân, Nguyễn Mạnh Quang gần đây, cho thấy đất nước đã khác xưa và mở mang tiến bộ rất nhiều về mọi mặt, kể cả về mặt tình người, trái hẳn với những hình ảnh đen tối mà nhiều báo chí hay diễn đàn truyền thông ở hải ngoại thường mô tả.  Những người về thăm quê, mấy trăm ngàn người một năm, tất nhiên phải thấy rõ tình trạng đất nước ngày nay ra sao.  Ai có thể lừa dối họ bằng những luận điệu xuyên tạc bịa đặt vô căn cứ.

31 năm qua rồi, ngày nay, hơn 60% người dân Việt Nam sinh sau 1975, tại sao chúng ta cứ còn đầu độc lớp trẻ bằng những hận thù của lớp trước.  Ra công xuyên tạc, mạ lỵ những người lãnh đạo đảng Cộng Sản bằng những ngôn từ hạ cấp không làm thay đổi được một sự kiện lịch sử là chính người Cộng Sản đã thành công huy động được dân chúng đánh đuổi thực dân Pháp và rồi thực hiện được thống nhất đất nước, phù hợp với sự mong ước của tuyệt đại đa số người dân Việt. Ai không muốn cho đất nước thống nhất, Trung Nam Bắc là một, xin hãy lên tiếng. Hay là chỉ có thể thống nhất dưới bóng đen của cây thánh giá?  Có chăng chỉ là bọn người vẫn cho rằng “Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam” hay sống trong tâm cảnh “Cha đã tiên phong góp phần giải phóng quê hương Cha, và tiếp đến sẽ là quê hương chúng con”.  Thật là tội nghiệp cho những loại đầu óc như vậy của họ.

PHẢI ĐỂ TÀU NÓ CHIẾM VN MỚI LÀM SỐNG LẠI LÒNG YÊU NƯỚC ?

Xichloviet: Vài ý kiến khi đọc bài viết :  “Suy nghĩ về lòng yêu nước của người Việt Nam” trên trang mạng  kbc hải ngoại của Phạm Hoài Nam.

http://kbchn.com/2011/10/22/suy-nghi-v%E1%BB%81-long-yeu-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-c%E1%BB%A7a-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-vi%E1%BB%87t-nam/

Toàn bài viết được góp nhặt từ những điều ai cũng biết như tham vọng biển Đông của Tàu, các cuộc chiến tranh giữ nước trong lịch sử để trộn vào những  những suy diễn chủ quan nhằm minh họa  về cái gọi là “hiểm họa xâm lăng phương Bắc”  rồi từ đó bình luận về “lòng yêu nước”.  Tuy nhiên cuối cùng thì cũng vẫn lộ ra cái sự cay cú hận thù và cái ý đồ chống cộng,  quy về một mối là phải lật đổ chế đô CS thì mới thoát được hiểm họa. Tác giả muốn lèo lái người đọc hiểu rằng VN đang đứng trước nguy cơ mất nước là vì chế độ CS,  và nều CS còn lãnh đạo thì nguy cơ này sẽ thành hiện thực.

Kiểu trí trá lưu manh này được cóp dán hằng ngày và đầy dẫy  trên các trang mạng, biến hóa nhiều vẻ mỗi người thêm vào một ý , và cái bài này cũng y như thế.

Bài thì dài nhưng sáo rỗng, cảm tính và không thoát khỏi lối mòn của những luận điệu chống CS cũ mèm là đả kích vu vơ phân tích vớ vẩn nặng về chữ nghĩa mà thiếu thực tế thiếu dẫn chứng, thiếu tính thuyết phục và chỉ có giá trị cho những người chống CS tự sướng với nhau.

Phạm Hoài Nam  phân tích về “lòng yêu nước” một cách lộn xộn tả pí lù  như một bài luận văn lớp ba  rồi kết luận lòng yêu nước của dân ta. . . “xuống cấp” từ 200 năm rồi..

Ông này không biết rằng lòng yêu nước của dân ta nó nằm trong máu thịt truyền cho hàng ngàn đời nay và ở  bất cứ nơi nào,  thời nào cũng  vậy không hề suy suyễn.  Vấn đề ở chỗ làm thế nào khơi dậy nó để tập hợp nó thành sức mạnh toàn dân. Khi đã tập hợp được nó thì nó tạo nên sức mạnh  vô cùng to lớn.

Người CS ngay từ đầu đã ý thức được và xác định chỉ có chiến tranh nhân dân mới đủ sức đánh bại kẻ thù. Chiến tranh nhân dân là nghệ thuật quân sự khôn ngoan  sử dụng sức mạnh toàn dân khơi dậy từ lòng yêu nước làm vũ khí chiến lược. Chính vì biết tập hợp và sử dụng sức mạnh toàn dân, người CS đã thành công.

Những người chống cộng luôn cho rằng CS đã  “lợi dụng” lòng yêu nước của dân để đạt mục tiêu nắm quyền. Chữ “lợi dụng” họ sử dụng mang ý nghĩa bịp bợm thủ đọan lừa dối. Thông thường những thủ đọan “lợi dụng” chỉ có hiệu quả ngắn hạn, và trước sau gì cũng lộ tẩy và trước sau gì thì cũng gậy ông đập lựng ông . Thế nhưng người CS đã hoàn thiện được chiêu “lợi dụng “ siêu việt “ mà trong hơn ba phần tư  thế ký qua vẫn vững vàng thế mới lạ. Như thế thì những người chống cộng và guồng máy chiến tranh khổng lồ của Mỹ đã thua vì dốt hơn, không biết “lợi dụng” sức mạnh này rồi.

Biết lòng yêu nước dân ta là sức mạnh vô song nhưng mấy chục năm qua những người chống cộng chưa ai đưa ra được sách lược nào “lợi dụng” được lòng yêu nước để lật đổ CS mặc dù họ biết chỉ có sức mạnh từ toàn dân mới có thể làm được việc này.  Sở dĩ họ không hề kích động được “lòng yêu nước” của dân vì họ bị u mê bời hận thù, bất cứ hành động nào của họ cũng hướng đến việc lật đổ CS và nghĩ rằng cứ bôi đen CS là dân sẽ căm thù như họ. Thông thường thì làm việc gì cũng phải tổng hợp tổng kết để rút ra bài học, rút ra kinh ngiệm, đánh giá hiệu quả nhưng 36 năm qua dù không đạt được một chút hiệu quả nào họ vẫn cứ tiếp tục chống cộng bằng lối mòn xuyên tạc vì không có cách nào khác.

Từ ngữ “lợi dụng” nếu dùng trong trường hợp của họ thì  hoàn toàn chính xác. Thế mà họ vẫn chua chát thừa nhận không làm được , không lợi dụng được và  thua toàn diện.  Vì sao thế? Vì yêu nước chỉ  là cái vỏ bọc của những người chống công điên cuồng, chỉ là cái chiêu bài lồng vào cái mục tiêu chống cộng. Nước có mất vào tay Tàu thì họ cũng chẳng xót xa gì, họ chỉ cần CSVN sụp đổ là đủ. Thế thì những người này nói về lòng yêu nước ai mà nghe cho lọt lỗ tai ? Làm sao vận động được sức mạnh từ lòng dân?. Phạm Hòa Nam viết rằng : “…Có người còn đưa ra một giải pháp táo bạo là mong cho Trung Quốc chiếm VN, bởi vì theo họ đây là cách duy nhất để lật đổ CSVN và sẽ làm sống lại lòng yêu nước của người Việt….” Người nào đưa ra nếu không phải là những người chống công điên cuồng trong đó có Phạm Hoài Nam? Yêu nước theo kiểu của họ là như thế và dĩ nhiên đó cũng là kiểu yêu nước của Phạm Hoài Nam.

Những người  chống cộng  bế tắc hoàn toàn trong nỗ lực chống cộng mấy chục năm qua vì không thể  làm suy suyễn chút nào chính quyền CS. Thành công trong việc phát triển đất nước do chính quyền CS lãnh đạo đã được đánh giá hàng tháng hàng  năm bởi ngân hàng thế giới, bởi các tổ chức tín dụng, tài chính  quốc tế , bởi những kinh tế gia hàng đầu của thế giới,  và thực tế tốc độ tăng trưởng ấn tượng liên tục của VN được thế giới nhìn nhận là điều họ không thể xuyên tạc được nữa rồi. Nó quá hiển nhiên và sẽ là cú đá giò lái cho những kẻ nói láo để xuyên tạc.

Cái phao duy nhất họ vớ được hiện nay để khai thác và có thể tạo ra nhiều suy diễn để tố cộng là vấn đề  là tranh chấp biển  Đông. họ cố khai thác và lèo lái để người dân hiểu là CSVN đang bán nước. Có như thế mới đánh động vào lòng yêu nước người dân làm cho họ căm thù chế độ. Họ chế tác ra khẩu hiệu : “ Đi với Tàu thì mất nứớc đi với Mỹ thì mất Đảng” để gán cho đảng CSVN, rồi cùng chế tác  những kịch bản  xuyên tạc mỗi người một kiểu nói cho sướng mồm mà quên đi tác dụng đối với lòng dân. Chính vì kịch bản chế tác theo nhiều trường phái nên  nhiều kịch bản tự phát trở thành ngô nghê hài hước,  tự vả vào mồm mình và làm vạ lây cho cả cái “chính nghĩa ” của họ. Họ tố CSVN bán gái việt cho Đại Hàn, Đài Loan, tố VN dắt  Tàu vào Tây nguyên làm ổ để cho chúng chiếm đất nước, tố VN bán các quần đảo cho Tàu.v.v… rồi tô đen thêm mỗi người một nét bút trở thành vở diễn tạp lục,  và hài hơn hết là họ nghĩ dân sẽ tin tưởng họ và nổi dậy.

Có thể thấy là những người chống cộng quá ô hợp không có lãnh tụ không có sách lược và cúng không có chính nghĩa để thuyết phục người dân. cho nên điều chỉ có thể làm duy nhất là chống cộng bằng mồm, bằng biện pháp duy nhất là bôi nhọ  hạ thấp hình ảnh đảng CS trong mắt người dân .

Tập hợp được những người cùng hội dùng thuyền cũng là cách họ tạo nên sức mạnh chống cộng. Nhưng họ không thể nhất trí được với nhau. Ở Mỹ có hàng trăm cái hội như thế. Tuy nhiên, hội chống cộng của họ không xuất phát từ cái tâm yêu nước mà từ cái tâm hận thù cay cú, họ chỉ mượn cái bình phong yêu nước để che đậy trái tim đen .  Thế nên lòng dân trong cộng đồng ngay tại thủ đô tị nạn của họ còn không thu phục được thì làm sao thu phục được hơn 80 triệu người bên kia đại dương

Những luận điệu xuyên tạc của họ đến được và tác động đến người dân rất ít nhưng tác động đến chính họ thì rất mạnh và  quá rõ. Họ tự hoang tưởng với nhau về sự phẫn nộ của người dân rồi hình dung người dân đang cay cú chính quyền y như họ. Họ hình dung đất nước như đang sống trong ngục tù người dân đói khổ lầm than xã hội dẫy đầy bất công chỉ chờ một mồi lửa là có thể thành hỏa diệm sơn đốt cháy CS. Họ mơ về ngày tàn của chế độ CS, mơ về một cuộc cách mạng nhung, một cuộc cách mạng hoa lài,  mà hoàn toàn mù tịt về thực tế trong nước. Trong bài này cũng có thể thấy Phạm Hòai Nam cũng mù như thế nên mới viết  : “…ngày nay trở thành một quốc gia nghèo khổ, bất công, một dân tộc điêu linh, phân hóa, bạc nhược…”

Ông Nguyễn Phương Hùng, một nhà báo tự do tại Bolsa sau 36 năm về thăm quê hương đã chua chát tâm sự rằng ông từng cho VN dưới chế dộ CS là “thiên dường mù” nhưng về nước ông mới nhận ra chính ông đã mù và bị dẫn dắt bởi những kẻ chống cộng cực đoan cũng mù  suốt bao năm qua

Nếu cho rằng trong chiến tranh giành độc lập những người CS đã  “lợi dụng” được lòng dân Việt thì thời bình họ đang “lợi dụng”  cả thế giới. Viện trợ cứu đói cho Bắc Hàn nhưng làm ăn với anh Nam Hàn . Ca ngợi hữu nghị anh em với anh Tàu Cộng nhưng vẫn trải thảm dành chỗ cho anh Đài Loan vào làm ăn. Ủng hộ Palestine bằng mồm nhưng lại đem đô la  mua tên lửa israel. Đồng chí với Cuba cái gai sát nách Mỹ nhưng lại là đối tác  chiến lược với Mỹ. Chơi với Pakistan nhưng vẫn rủ anh Ấn Độ vào nhà,  cùng nhau làm ăn trên thềm lục địa khích tướng anh Tàu. Biết hai anh to xác có bom nguyên tử  hục hặc nhau nhưng một mặt họ thăm Trung cộng nước có tranh chấp biên giới với VN, một mặt thăm Ấn Độ nước có tranh chấp biên giới với Trung Cộng,  . Ăn cà ri Ấn Độ nhưng  vịt Bắc Kinh cũng  nhậu tuốt không chê.  Họ cũng ” lợi dụng” được cả Mỹ một cường quốc cựu thù rồi lại còn  lợi dụng trên 200 quốc gia trên thế giới, dụ nửa triệu Việt kiều về nước hàng năm, dụ hàng triệu người gửi  hàng  7, 8 tỷ  đô  la về nước.  Cái sự “ lợi dụng” rất thành công và hiệu quả này thì những người mù làm sao hiểu cho được

Một trong những luận điệu của những kẻ hận CS là chỉ trích CS chống đế quốc Mỹ nhưng chẳng chê cái gì của Mỹ, con cái thì cho sang Mỹ học v.v… Đấy, họ  đang “lợi dụng “ Mỹ đấy các cụ ạ.

Nếu có sự so sánh, nếu có thể gọi là lực lượng thì những người chống cộng và CSVN như con kiến và nguời không lồ, khéo lắm thì tìm chỗ chích được một phát để đối thủ phải gãi ngứa là sướng lắm rồi.  Khổ nỗi bao năm nay không những nó không ngứa mà dó đập chết tươi không biết bao nhiêu con rồi. Vì bịt mắt nhau nên họ không thấy được điều gì và cũng chẳng hình dung được thân phận con kiến của họ

Có bộ óc để suy gẫm có mắt để nhìn có tai để nghe nhưng họ bịt mắt nhau, chỉ nhìn những mảng đen ở đất nước,  nghe những luận điệu ru ngủ nhau và suy gẫm về phép mầu CS bị hạ bệ.   Họ tưởng tượng ra nhiều kịch bản rất khôi hài với đoạn kết là CSVN sụp đổ. Từ kịch bản có một Gorbachev Việt Nam hiện ra, đến kịch bản dân chúng phẫn nộ làm cách mạng hoa lài. Họ mơ đến ngày thượng đế trừng phạt CS, Họ cũng mơ đến kịch bản Tàu chiếm luôn VN để CS diệt vong

Mơ mãi không thành, cùng đường, hết cách họ đang tính chuyện kiện CSVN ra tòa quốc tế. Đến đây thì họ  đã cho ta thấy họ đã có những dấu hiệu tâm thần nghiêm trọng, chứng tỏ họ càng ngày họ càng u mê nếu không muốn nói là quá ngu đần không còn kiểm soát được lý trí nữa rồi.

AI KHÔN HƠN AI ?

Bài  viết dưới đây của một cờ vàng con đươc trích trong 1 comment của diễn đàn Vietweekly ( đã đóng cửa ) Bài viết rất hay phản ánh rất trực quan hình ảnh các anh cờ vàng chống cộng hải ngoại.  Anh cờ vàng con này đã ở trong cái chăn cờ vàng cho nên  biết rành rọt những con rận trong đó. Mời quý độc giả xem anh này dạy dỗ những  chú bác cờ vàng,

Thưa các chú các bác các các cô các dì, các vị niên trưởng tiền bối kính mến.

Hôm nay con xin lạm bàn tiếp đến 1 số vấn đề cơ bản trong công cuộc đấu tranh vì chính nghĩa quốc gia. Dù cái nhìn và lời lẽ của hậu sinh có ngứa lỗ tai, gai con mắt cũng mong quý vị hãy lắng nghe một lần.

Về mục tiêu đấu tranh :

Như chúng ta xác định như đinh đóng cột từ ban đầu, mục tiêu tối hậu của chúng ta là:

Chống cộng sản bằng mọi hinh thức, chống mọi lúc mọi nơi. Chống không phải để chơi, mà chống cho nó chết.

Chống cộng phải đạt đến mục tiêu loại chúng ra khỏi đất nước.

Cộng sản quốc tế thì chúng ta chơi không lại, chống không suể, chuyện đó để cho sư phụ ta lo, mục tiêu chính của chúng ta là chống Việt cộng.

Mục tiêu đề ra là như thế, nhưng xui xẻo là khi còn Mỹ đỡ đầu ta chưa làm được. Thế cho nên qua đến bên đây ta mới vẫn phải tiếp tục sự nghiệp.

Bọn Việt cộng lấy mục tiêu đánh đuổi đế quốc, giải phóng dân tộc làm kim chỉ nam.

Mục tiêu của chúng nó không thèm  đả động gì đến chúng ta nhưng chúng nó biết rất rõ rằng đánh bại đế quốc là đương nhiên chúng ta sẽ ẻo. Một mũi tên chơi được hai con nhạn.

Ngay cái mục tiêu đấu tranh ta đã thấy chúng nó khôn hơn ta rồi. Nó nhắm vào sư phụ ta mà đánh. Nó đánh từ thành thị đến nông thôn, nó đánh từ quân sự đến ngoại giao, Nó dụ sư phụ ta vào bàn hội nghi Paris, nó mua chuộc, nó hù dọa để sư phụ bỏ rơi ta.

Không biết nó mua chuộc hù dọa thế nào mà sư phụ ta bỏ chạy thê thảm, bỏ lại ta với lời hứa ngọt ngào : “cứ chơi đi vẫn còn ta bên cạnh. “

Sư phụ ta nói như thế cho ta yên lòng ta thôi chứ sư phụ ta đã lặng lẽ một đi không trở lại,

Thế là bọn Việt công nó rảnh tay chỉ việc dzớt cú chót trong 55 ngày.

Sư phụ ra đi không để lại cho ta gì, chỉ tặng lại một cái gia tài buồn thảm.

Chính là cái ngày quốc hận ta ôm tới hôm nay.

Cái gia tài mà các bác các chú đang lập di chúc và cố ấn vào tay lớp thế hệ con cháu như chúng con đây.

Về đối tượng bảo vệ quyền lợi :

Chúng ta đấu tranh, vì quyền lợi đồng bào , vì chính nghĩa quốc gia, vì tự do dân chủ, vì sứ mệnh ngăn cản làn sóng đỏ cộng sản vô thần và vì …. đủ thứ .

Việt cộng thì nó chỉ nói rất đơn giản : nó đấu tranh vì quyền lợi giai cấp công nhân và nông dân lao động.

Về mặt này nó cũng lại khôn hơn ta, nó nhắm đến số đông có chọn lọc,

Đầu thế kỷ thứ 20 ngay cả Phan Bội Châu, Phan châu Trinh cũng chỉ nhắm đến tầng lớp sĩ phu yêu nước. Vatican cũng chỉ nhắm đến tầng lớp nông dân nghèo thất học cuồng tín để truyền đạo, ngay cả ở Mỹ ững cử viên tổng thống cũng chỉ nhắm đến quyền lợi của những tầng lớp có khả năng mang lại lá phiếu cho họ, mỗi tiểu bang họ đều có sách lược vận động riêng.

Chúng ta thì lại tham lam quá, chúng ta nghĩ rằng cả nước sẽ chống cộng như chúng ta nên chúng ta chẳng cần nhắm đến đối tượng nào cả , tất cả những ai chống cộng đều là bạn ta. Từ sai lầm này chúng ta quơ vào phe ta tất cả mọi thành phần.

Chúng ta đã sai lầm khi ứng dụng một cách triệt để danh ngôn của sư phụ ta là : “A friend is one who has the same enemies as you have.” (Abraham Lincoln)

Thế cho nên ở trong nước thì bất cứ ai chỉ cần chứng tỏ đang “ bất đồng chính kiến “ là ta vơ tuốt tuồn tuột vào bất kể họ là ai, bất kể dưới con mắt người dân họ như thế nào. (Nếu cộng sản cũng có cái não trạng như chúng ta thì Trần Trường đã được kết nạp đảng và là bí thư ở đâu đó từ lâu rồi. )

Ở đất Mỹ thì sao?

Ở bên này từ Chí Thiện đến Chí Phèo Từ Lý Tống đến Lý Toét Từ Kỳ Nhông đến cắc ké , từ du côn đến đĩ điếm đứng đường đều là phe ta cả. Chỉ cần has the same enemies là đủ.

Cứ thử nhìn cái đám biểu tình ô hợp mà xem.

Thế mới ra cái nông nỗi hỗn quân hỗn quan, giành ăn cắn xé, cực đoan ngu xuẩn chửi bới lẫn nhau giành nhau chống cộng góp phần làm banh chành cái chính nghĩa quốc gia.

Tác dụng nguợc của nó là cứ nghe đến chống cộng là người ta co rúm người lại. Bởi vì nó đồng nghĩa với những hành động biểu tình, xin tiền, hăm dọa chửi rủa khủng bố lăng mạ.

Không phải hình ảnh cộng sản nó cao thượng hơn chúng ta đâu mà chính vì chúng ta đã tự hạ xuống quá thấp phẩm giá người quốc gia chống cộng.

Tuyên truyền phát động :

Khi đã xác định được mục tiêu đấu tranh, xác định được đối tượng cần vận động và cần tranh thủ sư đồng tinh, bước tiếp theo là tuyên truyền.

Ở Mỹ các cuộc vận động tranh cử cũng thế thôi, Họ nhắm vào quyền lợi của cử tri để tuyên truyền. Anh nào tuyên truyền giỏi anh đó thắng, điều đó cũng chưa chắc là anh ta có tài. Làm thế nào để hình ảnh của mình vượt trội hơn đối phương, thế là đủ. Không ai cấm phơi bày khuyết điểm của đối phương để làm suy yếu đối phương. Nhưng hãy coi chừng chỉ cần 1 chút sai lầm sẽ trả giá bằng hậu quả vô cùng nguy hại.

Ở điểm này con thấy CSVN quả là bậc thầy. Không biết chúng nói thế nào mà dân đói trơ xương vẫn theo chúng cầm súng giết giặc. Nhà không có cơm ăn vẫn góp gạo cho chiến trường.

Thế mới biết sách lược tuyên truyền nó mạnh mẽ đến bực nào.

Chúng tạo được thế trận chiến tranh nhân dân cực kỳ hiệu quả. Cứ nhìn đoàn dân công hỏa tuyến thồ luơng thực tiếp tế cho trận địa Điện Biên Phủ là thấy tất cả. Nó cực kỳ tương phản với hình ảnh tháo chạy bát nháo của quân đội ta, của sư phụ ta .

Đó là kết quả của chiến lược tuyên truyền có tính thuyết phục rất cao. Tuyên truyền hiệu quả nó nhân sức mạnh lên không biết bao nhiêu lần.

Còn chúng ta thì sao ? Trước đây Ta tuyên truyền tập trung vào việc khai thác triệt để sự độc tài của cộng sản, đồng thời vẽ ra hình ảnh tươi đẹp của thế giới tự do. Ta tạo ra hình tượng một xã hội cộng sản nghèo đói . những cán binh cộng sản ốm yếu tàn tạ, nền kinh tế cộng sản èo uột , người dân lầm than trong bức màn sắt, quyền tư hừu bị tước đoạt, thậm chí chúng ta cũng ngầm làm cho nguời ta hiểu ngay cả vợ cũng là của chung.

Ngày nay vẫn cũng chỉ có bài này chúng ta xào lại 1 tí để tấn công CS.

Cục diện thế giới đã thay đổi thời cuộc cũng đổi thay , cộng sản cũng khoác lên cái áo mới , duy có cách tuyên truyền của ta là vẫn như cũ.

Trước đây chúng ta đem cuộc sống phè phỡn được nuôi bằng tiền viện trợ ở miền nam để so sánh với miền Bắc làm bằng chứng về sự phồn vinh của thế giới tự do. Chúng ta tìm mọi cách để người dân sợ cộng sản. Ngày nay thì chúng ta lại lấy nước Mỹ để so sanh với VN xem Mỹ là chuẩn mực để tuyên truyền.

Những cái bài này từ khi có chế độ VNCH đến nay vẫn bất di bất dịch.
Chúng ta chỉ tập trung xoi mói đánh phá nhằm hạ thấp hình ảnh của đối phương chứ không quan tâm đến việc xây dựng hình ảnh của mình. Chính đây cũng là nguyên nhân dẫn đến thất bại của chúng ta.

Nhưng :

Nếu được hỏi đối tượng mà các cô các bác tranh thủ sự đồng tinh chống cộng là ai, thì dường như câu trả lời đã được lập trình sẵn trong đầu các chú các bác là: hơn 80 triệu dân VN. Đây là sự hoang tưởng nghiêm trọng nhất. Ngay ở cái cộng đồng Việt nhỏ xíu các chú các bác còn chẳng được lòng dân huống hồ gì 80 triệu dân.

Chính sai lầm nghiêm trọng từ tiền đề nhận thức này đã đưa chúng ta từ thất bại này đến thất bại khác.

Cái sơ đẳng nhất là việc xác định đối tượng quần chúng mà chúng ta nhắm tới để tranh thủ sự đồng tình chúng ta đã không có . Đối tượng ta cần ủng hộ để tăng thêm sức mạnh cũng không có nốt thì nói gì đến đấu tranh tranh đấu.

Các chú các bác vẫn cứ hoang tưởng rằng hơn 80 triệu dân VN cũng căm thù cộng sản như các chú các bác . Vấn đề còn lại chỉ là vạch tội cộng sản để người dân ủng hộ chúng ta lật đổ cộng sản mà thôi. Nếu dễ như thế thì cộng sản tiêu lâu rồi.

Kết quả là đứng về phía chúng ta là ai ? Chỉ toàn những kẻ ô hợp ôm ấp hận thù .

Các chú các bác đã từng mừng rỡ vỗ tay hoan hỉ khi liên xô và đông âu xụp đổ. Cứ tưởng rằng ngày tàn của cộng sản VN đã cận kề. Nhưng không, cộng sản ở đâu thì tiêu, nhưng cộng sản VN vẫn vững vàng và v ươn lên đầy kiêu hãnh.

Điều đó nói lên được điều gì? Công sức tuyên truyền bao nhiêu năm qua của các chú các bác đã hoàn toàn phá sản.

Các chú các bác đã quá kỳ vọng vào sư phụ Mỹ, thế cho nên cái gì cũng lấy Mỹ làm chuẩn.

Ngay cả văn hóa và đạo đức cũng đem Mỹ ra để chuẩn hòa thế thì chúng con cũng bó tay.

Tuy nhiên chúng ta quên rằng sư phụ Mỹ của chúng ta cũng đã đúc kết được và cũng đã phải thốt lên như thế này :

You can fool all the people some of the time, and some of the people all the time, but you can not fool all the people all the time. ( Abraham Lincoln )

Đây mới chính là bài học cho chúng ta.

PHÁT TRIỂN TRUYỀN THÔNG Ở VN – NỖI LO SỢ CỦA DÂN CHỐNG CỘNG CỜ VÀNG

xichloviet

Gần như tất cả mọi nguời trên thế giới muốn an toàn và tự do phải làm đúng luật cái đó là văn minh của loài người, luật lệ càng kỹ bao nhiêu, càng chặt chẽ bao nhiêu thì văn minh loài nguời càng cao bấy nhiêu. Trên nền văn minh của con người chính là an toàn và tự do, cho nên tôi nói tất cả thành phố trong đất nước này, muốn an toàn tự do phải làm đúng luật. Cũng như người đi bộ tham gia giao thông sẽ an toàn và tự do nếu mình đi đúng lề bên phải. Chứ đường xe máy đang chạy mình nhảy tung ra giữa đuờng thì làm sao tan toàn được. Tôi lấy cái ý như vậy và đã nói đầy đủ, nhưng báo chí lại cắt câu và không đăng đầy đủ

Đó là lời của ông Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Lê Doãn Hợp trong buổi gặp gỡ báo chí ngày 11/6 , tại San Francisco.

Lấy hình ảnh trực quan về tham gia giao thông đúng lề bên phải để làm ví dụ về việc tuân thủ luật pháp quốc gia trong một xã hội văn minh là chính xác, câu chữ của ông Hợp rất rõ ràng minh bạch và dễ hiểu. Thế nhưng các anh cờ vàng lại dĩễn dịch việc tuân thủ “lề bên phải” của báo chí như là việc thông tin một chiều không có một chút tự chủ nào. Đây chính là sự lưu manh tráo trở.

Từ lâu các anh chống cộng cờ vàng vẫn luôn nhai đi nhai lại VN không có tự do ngôn luận, cho rằng hơn 700 tờ báo trong nước chỉ là công cụ tuyên truyền một chiều cho CS và đòi phải nhập khẩu cái tự do của các anh. Cái tự do báo chí mà các anh đòi là tự do kiểu Bolsa, có quyền chửi nhau như cái chợ. Cái tự do các anh đòi hỏi là tự do chạy sang lề bên trái bất chấp luật lệ để có thể tố cộng và tập hợp phe đảng lật đổ CS. Tự do kiểu các anh là tự do trong cái “lằn ranh” mà các anh gọi là “lằn ranh quốc cộng” không được bước ra ngoài cái lằn ranh đó. Tự do của các anh là không ai đựợc giẫm đạp vào cái “nỗi đau” của các anh nếu đạp vào thì các anh biểu tình đạp lại. Lý lẽ của các anh là cứ ai khen công sản là khiêu khích các anh, đã qua đến Mỹ là phải xác định là trốn chạy CS , đã trốn chạy CS thì phải chống cộng sản, đã chống cộng sản thì phải đứng dưới lá cờ vàng của các anh. Đúng là các anh chơi trên đầu cha thiên hạ.

Hầu hết các phương tiện truyền thông của cộng đồng Việt ở Mỹ đều do dân cờ vàng nắm giữ và khuynh loát từ đó đến nay , không có lề mà chỉ có một chiều duy nhất là chiều chống cộng. Nhìn lại truyền thông, báo chí cờ vàng hơn 36 năm qua ai cũng thấy quá rõ. Hầu hết những cuộc biểu tình chống lại các cơ quan báo chí cũng đều xuất phát từ việc những tờ báo đó nêu quan điểm hay thông tin trái với khẩu vị cờ vàng. Những cuộc biểu tình như thế chỉ thấy trong cộng đồng người Việt và chỉ thấy toàn các anh cờ vàng cầm đầu.

Sở dĩ có chuyên bịt miệng nhau, tố nhau loạn cào cào bấy lâu nay vì các anh cờ vàng lo sợ vô cùng những thông tin “có lợi cho CS” đến được với cộng đồng. Các anh dị ứng với bất cứ hình ảnh nào có nền đỏ sao vàng, sợ cả những ca sĩ từ VN sang lôi kéo những fan hâm mộ và như thế tạo hình ảnh tốt đẹp cho CS. Các anh vô cùng sợ hãi nghị quyết 36 của CSVN sẽ lôi kéo hết kiều bào về phía CS bằng nhiều hình thức và nghĩ đến cái thảm họa là một ngày nào đó tiếng nói cờ vàng sẽ chỉ còn là tiếng nấc nghẹn ngào ở ngay tại Bolsa cho nên các anh lập hết ủy ban này đến ủy ban khác để chống nhưng càng chống kiều bào về nước càng nhiều các anh cứ như ngồi trên đống lửa.

Cuộc tháo chạy năm 1975 làm các anh cờ vàng bàng hoàng vì không thể tin được đó là sức mạnh của CS. Các anh quen đánh giá rất thấp và tuyên truyền với nhau về CS như một loại thổ phỉ ô hợp bạo tàn không có chính nghĩa cho nên chiến thắng của CS là điều quá khó hiểu đối với các anh, nhất là con cháu các anh bị nhồi sọ hình ảnh cộng sản là răng đen mã tấu 7 thằng leo cây đu đủ không ngả. Nhiều năm sau đó ngay cả những sĩ quan cao cấp của các anh cũng vẫn tin rằng phải có sự dàn xếp nào đó của Mỹ chứ CS không thể nào thắng được, cuộc tháo chạy đó là chiến lược lùi một bước của Mỹ nên họ vẫn hy vọng trở về. Và họ đã chờ 36 năm qua.

Biết nguời biết ta trăm trận trăm thắng, đó là tư tuởng lý luận quân sự trong Binh Pháp Tôn Tử từ thời Xuân Thu nhưng vẫn không bao giờ cũ. Các anh cờ vàng quá tin và lệ thuộc vào Mỹ cho nên không cần biết đến đối phương, tin tưởng tuyệt đối vào CIA, không tự lượng được sức mình và gần như mù tịt về đối phương.

Cuộc hành quân Hạ Lào mang tên Lam Sơn 719 năm 1971 là cuộc trắc nghiệm lớn về khả năng chiến đấu của cờ vàng, các anh tin vào thắng lợi vì có hỏa lực hùng mạnh, có Mỹ yểm trợ sau lưng và quân CS sẽ bị bất ngờ, nhưng các anh đã đã thất bại thê thảm, các anh mới chính là người bị bất ngờ. Các anh gặp hết bất ngờ này đến bất ngờ khác, kế hoạch hành quân bị đảo lộn thương vong cao ngoài dự kiến. Phòng không đối phương quá mạnh và các anh như rơi vào trân đia đã được mai phục sẵn.

“Chỉ có một quân đội kỉ luật cao và hiệp đồng tốt mới có thể thực hiện được một cuộc lui quân có trật tự khi phải đối mặt với một đối phương quyết chiến, nhưng QLVNCH không có đặc điểm nào trong hai điều trên. Cuộc rút quân nhanh chóng biến thành một sự thảm bại hỗn loạn. Những giờ phút bi thảm nhất của đạo quân chủ lực tinh nhuệ, thực hiện cuộc hành quân Lam Sơn – 719 đã diễn ra. Hàng trăm binh sĩ QLVNCH vứt bỏ súng đạn, chạy cắt rừng hòng thoát thân đã bị bắt làm tù binh.” (Trích Wikipedia )

Sau khi chiến tranh kết thúc ngẫm lại các anh mới ngã ngửa ra rằng kế hoạch của các anh đã được Bắc Việt biết và mổ xẻ từ trứng nước. Gián điệp đối phương chui sâu vào đến trung ươngcác anh và chính Mỹ đã thú nhận thế trận chiến tranh nhân dân đã làm thất điên bát đảo cả một bộ máy chiến tranh khổng lồ, ngay cả một em bé chăn trâu, một anh xích lô cũng có thể làm gián điệp cho Việt cộng.

Những chiến thắng xuất quỷ nhập thần của đối phương đã đảo ngược lại đánh giá của các anh về khả năng của CS, sau khi sang đến Mỹ, định thần lại các anh mới thấy sức mạnh CS nằm ở đâu. CS ở khắp nơi trong chính quyền của các anh. Chiến tranh nhân dân mà CS áp dụng như thiên la địa võng giăng mắc khắp nơi cho nên dù có sức mạnh quốc phòng vượt trội với sự đỡ đầu của Mỹ các anh cũng không thể giành thế thượng phong. Nỗi ám ảnh ma quỷ về CS theo các anh sang tận nước Mỹ và khi VN mở cửa, bang giao với Mỹ các anh bắt đầu lo sợ thật sự. Các anh nghi ngờ mọi thứ, nhìn đâu cũng thấy CS, các anh đánh phủ đầu nhau ngay trong cộng đồng bằng cái mũ CS. Nỗi ám ảnh nó lớn đến nỗi các anh biểu tình chống sợi dây thắt lưng của một nghệ sĩ vì nó có ngôi sao giống lá cờ VN.

Dân cờ vàng ra sức tố cộng và tố mạnh nhất là tự do ngôn luận trong nước cho rằng CSVN đã bịt miệng truyền thông. Tuy nhiên các anh lại rất lo sợ truyền thông trong nuớc nó bung ra hải ngoại và ra sức ngăn chận những thông tin cho là “có lợi cho CS”. Vũ khí duy nhất của các anh hiện nay để chống cộng là truyền thông và biểu tình, dùng biểu tình để áp đảo người khác chính kiến, dùng truyền thông để tuyên truyền chống cộng và chống nhau. Các anh chú trọng đến việc tạo ra một thứ quyền lực đen dưới là cờ vàng với danh nghĩa chống cộng mà không cần biết có bao nhiêu người ủng hộ lá cờ này. Các anh luôn lợi dụng tên tuổi những người nổi tiếng để quảng bá hình ảnh lá cờ vàng . Một ca sĩ từ VN sang các anh cũng cố treo lá cờ vàng để chụp hình ám chỉ rằng ca sĩ này đã về với “quốc gia”. Các anh ép cô Tim Aline Rebeaud, một thiện nguyện viên Thụy Sĩ bỏ cả tuổi thanh xuân sang VN giúp trẻ em họan nạn VN phải chào cờ vàng như là điều kiện để họ vận động từ thiện giúp cô. Các anh không bỏ qua cơ hội khoác chiếc khăn cờ vàng lên cổ đức Giáo Hoàng trong một đại hội thanh niên công giáo để giáo hoàng quảng bá không công lá cờ vàng.

Những trò lưu manh đó đã bị cộng đồng khinh bỉ nhưng các anh lại không thấy được cái lố bịch trong những hành động đó. Sự im lặng của những người thầm lặng vì họ không muốn dây với hủi càng khiến cho các anh tưởng rằng đã khống chế được cả cộng đồng về mặt ý thức chính trị và coi mình là một lực lượng khả dĩ có thể đại diện cộng đồng để . . . đối thoại với CS.

Cuộc cách mạng thông tin ở VN làm cho những luận điệu xuyên tạc của các anh đối với CSVN trở nên lố bịch. Thống kê 2010 cho thấy VN có 170 triệu thuê bao điện thoại tăng 35% so với cùng kỳ năm 2009. VN là nước có tốc độ phát triển internet đứng đầu thế giới và viễn thông đứng hàng thứ hai trên thế giới. Internet đã tăng 7500 lần trong vong 10 năm với giá rẻ nhất khu vực và đã đạt con số thuê bao trên 20,2 triệu (2008) đạt tỷ lệ 26% trên số dân . Hãng nghiên cứu Business Monitor International (Anh) dự đoán Việt Nam sẽ đạt 31,5 triệu người kết nối mạng vào năm 2011, thực tế đến nay con số đó đã cao hơn như thế.

Báo giấy phát hành tại VN có số lượng năm sau luôn cao hơn năm trước. Những tờ báo lớn như Thanh niên Tuổi trẻ có số phát hành gần nửa triệu bản mỗi ngày. Số lượng độc giả nêu trên đã nói lên tất cả về nội dung và chất lượng tờ báo, không có một tờ báo nào đưa tin méo mó, một chiều hay lừa gạt độc giả mà có thể sống sót được chứ đùng nói chi có số độc giả đông như thế, chẳng có ai có thể ấn vào tay người dân tờ báo bắt họ trả tiền cả. .

Đến đây hẳn các anh chống cộng cờ vàng sẽ nói rằng vì người dân không có quyền chọn lựa, không có báo nào khác để người dân đọc nên phải đọc báo “tuyên truyền” của CS. Thế thì các anh hãy xem Mỹ nó thống kê đây.

Tháng 6/2007 Tập đoàn thương mại trực tuyến hàng đầu thế giới Amazon.com thông qua hệ thống xếp hạng website Alexa đã xếp tờ báo điện tử vnexpress nằm trong top 100 website toàn cầu (hạng98) bỏ xa Washington Post (566), Guardian (554), Independent (2.700), Financial Times (2.780) Wall Street Journal (1.019). Trong số độc giả của vnexpress có 10,4% người đọc VnExpress sống tại Mỹ, và hơn 21% là từ các nước khác.

Con số đến 7 triệu lượt độc giả truy cập mỗi ngày nói lên được cái uy tín lớn lao và chất lượng thông tin của tờ báo điện tử này.

Không riêng ở trong nước, 10,4% trong số 7 triệu độc giả của vnexpress mỗi ngày đang sống ở Mỹ là con số biết nói rằng những người Việt thầm lặng ở Mỹ vẫn tìm đến những thông tin từ những website trong nuớc mà các anh cờ vàng gọi là công cụ tuyên truyền một chiểu của cộng sản . Hầu hét những website hải ngoại đều cọp thông tin của những tờ báo một chiều này để đăng tải. Nếu tính 10,4% trên số độc giả truy cập hằng ngày thì riêng ở Mỹ mỗi ngày đã có khoảng trên 700 ngàn lượt truy cập từ Mỹ vào vnexpress, Họ tình nguyện vào đây để cho cộng sản lừa gạt bằng thông tin một chiều bóp méo sự thật nhồi sọ của CS chăng? Đấy là chưa tính đến hàng trăm website khác của cộng sản.

Hầu hết những sự kiện trong nước được các cơ quan truyền thông trong nước đưa tin sớm nhất và đó cũng là nguồn rẻ tiền nhất để các các quan truyền thông hải ngoại cóp dán và còn lưu manh cắt xén để xuyên tạc.

Tại cuộc gặp gỡ báo chí Việt tại San Francisco ông Lê Doãn Hợp cũng giới thiệu đề án vể chiến lược sớm đưa Việt Nam trở thành một quốc gia mạnh về thông tin và truyền thông vào năm 2020 đã đựợc thủ tướng VN phê chuẩn ngày 22/9/2010. Mục tiêu đề án là đưa ngành công nghệ thông tin VN thành ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển hạ tầng băng thông đến tận xóm ấp và hộ gia đình và đưa thiết bị nghe nhìn đến từng hộ dân, ứng dụng chính phủ địện tử để cải cách hành chính, đào tạo 1 triệu kỹ sư chuyên ngành v.v…,Điều này chứng minh rằng VN rất chú trọng việc phát triển và phổ cập thông tin và dĩ nhiên tự nó đã phản bác lại những luận điệu bưng bít thông tin mà các anh cờ vàng tuyên truyền.

Tuy nhiên càng phát triển mở rộng truyền thông thì các anh cờ vàng lại càng lo sợ phải đuơng đầu với luồng thông tin khổng lồ đến với người dân không chỉ trong nước mà còn ở hải ngoại khiến cho việc xuyên tạc sự thật của các anh càng ngày càng khó khăn và cái mặt nạ lưu manh của các anh càng ngày càng rách bươm .

Thời đại thông tin toàn cầu này không có sự thật nào có thể che đậy được, không có quyền lực và sự ngăn chận nào có hiểu quả, thế mà các anh cờ vàng vẫn chỉ có một chiêu cổ điển là nói láo chứng tỏ tầm nhìn chính trị các anh chỉ quanh quẩn trong quán cà phê để tâng bốc nhau rồi vẽ chuyện chửi CS cho nó sướng cái mồm. Chính trị cà phê nó làm cho các anh hoang tưởng như đang sống ở trên mây cho nên các anh mới đòi “hòa hợp hòa giải” bằng cách đề nghị CSVN tỏ thiện chí trước bằng cách để cho các anh phất cờ vàng của các anh ở ngay giữa thủ đô Hà Nội. Các anh nghĩ các anh là ai mà CSVN phải “hòa giải”? Cứ lồng lộn lên chống cộng rồi chửi cả lãnh tụ của người ta rồi bảo người ta phải “hòa giải” với các anh à?

Các anh cờ vàng cứ cố tình nhập nhằng việc hòa giải dân tộc với “hòa giải với cờ vàng” . Dân tộc là vĩnh cửu, còn cờ vàng của các anh thì đã chết, các anh nghĩ các anh đủ sức mạnh để gây áp lực CS đáp ứng yêu sách cờ vàng của các anh sao? Rõ là các anh đang ở trên mây để mơ giấc mơ cờ vàng.

TÂM SỰ CỜ VÀNG

Lại hết một năm sống tha hương.
Băm mấy xuân qua vẫn đọan trường.
Cộng sản vẫn còn, ta chưa chết.
Nhưng biết bao giờ thấy cố hương?

Quốc hận hằng năm vẫn nhớ ngày
Ôm niềm uất hận lết sang đây,
Ngày xưa nhớ cái năm năm bốn
Cũng tại cộng nô phải chạy dài.

Số kiếp di cư đến hai lần
Hai lần nhưng vạn nỗi gian truân.
Lần sau còn nhục hơn lần trước,
Vứt cả ba lô cởi cả quần.

Cũng tại ta xui mới thế này
Thầy ta đừng chạy chúng biết tay
Phải chi thầy thí vài trăm triệu
Đâu phải chạy te vứt cả giày.

Dù bỏ chạy te vứt cả giày.
Nhưng ta nào có sợ chúng bay.
Chẳng qua cũng chỉ vì thời vận
Tại số nên ta mới như vầy.

Ta quyết không quên mối hận này.
Con không làm được cháu ta thay
Cờ vàng ta phất không ngừng nghỉ.
Rồi sẽ có ngày chúng biết tay

Ta vẫn cờ vàng vẫn duyệt binh
Vẫn hát vang lên khúc quân hành
Để cháu con ta luôn ghi nhớ
Hình ảnh hào hùng lớp cha anh.

Dù là quần áo chợ si đa
Dù chẳng súng gươm cũng gọi là
Quân đội cộng hòa thời oanh liệt,
Để ta ôn lại quãng đời ta.

Ta phất cờ vàng giữa cờ hoa
Cờ hoa cứu giúp chở che ta
(Không có cờ hoa ta lạnh gáy
Cộng sản rập rình rét bỏ cha.)

Nhớ về hòn ngọc viễn đông xưa
Nơi ta hoan lạc suốt bốn mùa
Tên em ngày ấy không còn nữa
Còn lại nơi này cái little.

Thế mà chúng cũng chẳng buông tha.
Theo đến nơi này xứ cờ hoa.
Cái little kia nào có tội
Chúng cũng vặt luôn tức bỏ bà.

Mấy chục năm ròng giữa chốn đây.
Eo phe (welfare) vẫn lãnh vẫn ăn mày.
Phút tem (food stamp) không có đời ta tận
Bởi thế cho nên phải lụy thầy.

Ta chạy sang đây đã cùng đường
Thế nên ta vẫn phải khói hương
Tâm nguyện khấn cầu ông thánh Mỹ
Phù hộ ta tròn mộng hồi hương.

Thầy ta ta dựng tượng phụng thờ
Cũng vì ơn nghĩa những năm xưa
Thế mà chúng bảo “quân chơi đĩ ”
Năm mươi tám vạn hồn có biết chưa

Hỡi chúa hỡi thần hỡi Ala
Hỡi Mô ha mét hỡi Di đà,
Cộng nô láo xược không vặn cổ
Lại cứ vặn nhầm cổ chúng ta.

Thà ta nô lệ xứ cờ hoa
Quyết không về lại chốn quê nhà
Làm mướn, cu li, hay rửa chén,
Rửa đít cho thầy cũng sướng cha.

Rửa đã bao năm rửa mòn tay,
Nhưng vẫn không quên rửa hận này.
Đời ta không được, đời con cháu,
Quyết diệt cho tiêu bọn chúng mày.

Trung cộng âm mưu chiếm Trường Sa.
Đã lâu mới có dịp hò la.
Cầu trời nó chiếm luôn Hà nội.
Cho đáng bọn mày hả dạ ta.

Trung cộng to đầu thế mà ngu.
Đất liền không lấy lấy san hô.
Sao bay không chiếm luôn cả nước,
Chẳng lẽ bọn mày sợ chúng ư.

Bay cứ đánh đi có chúng tao
Tuy tao chẳng có tí quân nào
Nhưng tao có cái mồm to khỏe.
Chống cộng nhưng tao khoái ba tàu.

Ta có cờ vàng có ống loa
Có kèn có trống có cờ hoa.
Tuy hô đả đảo thằng trung cộng
Nhưng chống chỉ là Cộng xứ ta.

Chẳng lẽ xuống đường chống tụi bay
Mà không đả đảo thật hăng say.
Thì ai mà biết ta yêu nước.
Nhưng tấm lòng ta khoái chúng mày.

Hàng hóa Việt Nam bán dẫy đầy
Nhưng ta cương quyết phải tẩy chay
Thà ta ủng hộ hàng tàu chệt
Cho lũ cộng mày chết trắng tay.

Nhớ nước ta càng thêm uất ức,
Thương nhà tiếc mãi cái vila.
Sang đây cam phận thằng ở đợ
Cũng tại bọn mày lũ cộng nô

Lạy thánh A la lạy chúa tôi
Con chống bao năm quá đuối rồi
Sức kiệt lực tàn đành chống gậy.
Nay còn chỉ mỗi cái mồm thôi.

Xin chúa hộ phù lũ chúng con
Vặt cho chết hết lũ tham tàn
Mai này phục quốc con xây tượng
Xây nhà thờ mới đẹp to hơn.

                       ***

Mấy chục năm ròng giữa chốn đây.
Bưng bê rửa bát đã bao ngày.
Vẫn chưa rửa được niềm căm hận
Ôi biết sao vơi mối thù này.

(Trích comment diễn đàn vietweely)

“CÔNG HÀM BÁN NƯỚC”

xichloviet

Việc những người chống cộng lấy công hàm năm 1958 của thủ tướng Phạm Văn Đồng rồi rêu rao như là bằng chứng chính quyền VN bán biển bán đảo cho Tàu cho thấy đến nay mà vẫn còn có quá nhiều người ngu trong hội cờ vàng. Ngu là vì quá xem thường quần chúng, cho nên mới diễn dịch công hàm này thành văn kiện bán nước để tố cộng họ hy vọng đánh vào lòng yêu nước của người dân để mong kích động chống lại chính quyền. Tuy nhiên nguời ít học nhất cũng hiểu được việc chuyển sở hữu tài sản giữa cá nhân với nhau cũng phải có những bước đàm phán và ký kết rất chặt chẽ buộc chặt bằng những văn bản có tính pháp lý chứ đừng nói chi chuyển nhựợng tài sản đất đai quốc gia mà không có ông thủ tướng nào trên thế giới có quyền hạn.

Cũng chỉ vì muốn gỡ gạc cái tội bán nước cho ngoại bang, dẫn giặc vào nhà cho nên họ phải tìm mọi cách tố CS cũng bán nước như họ. Khi vớ được công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng thì họ như vớ đuợc vàng. Dù rằng nó không hề có giá trị pháp lý nào để TQ áp đặt chủ quyền lên các quần đảo nhưng lòng thù hận nó làm cho họ mất cả lý trí ra sức suy diễn nhào nặn công hàm này thành một văn kiện bán nước.

Cứ đơn giản hóa các quần đảo là một tài sản có chủ sở hữu thì việc chuyển nhượng phải có sự đồng thuận của chủ sở hữu và người mua. Một công văn của một cá nhân dù cá nhân đó là thủ tướng không có một chữ nào nói đến chủ quyền, không có chữ nào nói đến đảo, lại không phải là chủ sở hữu, không có đàm phán không có ký kết mà gọi là một công hàm bán nước mà cả bầy cờ vàng nghe rồi lải nhải theo thì quả không gọi là ngu thì không biết gọi là gì.

Trường Sa Hoàng Sa Năm 1958 do VNCH nắm quyền chủ sở hữu thế mà thủ tướng VNDCCH lại có thể nhượng bán cái mà mình không sở hữu và thằng Tàu ngu hơn, ngu đến nỗi chỉ mua trâu vẽ bóng. Thế mà cũng xuyên tạc rồi hùa nhau tố cộng được thì đúng là não lợn.

Bán một miếng đất ruộng cũng phải có bản đồ ghi rõ nó ở đâu, chủ nó là ai, có được quyền bán hay không hay đang tranh chấp, rồi phải có hàng xóm xác nhận ranh giới thực. Thế mà bán cả quần đảo chỉ cần vài chữ là xong, thế mà họ cố mà nghĩ ra. Suy nghĩ như thế chỉ có ở cái đầu nô lệ. Phận nô lệ thì chưa từng làm chủ đất nước bao giờ chỉ là tay sai, mọi thứ đều do ngoại bang quyết định cả , ngay cả cái hiệp định Paris Mỹ nó cũng viết sẵn cho mà ký vào thì làm gì có ý thức gì về chủ quyền. Ngô Đình Diệm đã từng tuyên bố biên giới nước Mỹ kéo dài đến vĩ tuyến17 đủ thấy cái tư tưởng nô lệ nó ăn sâu như thế nào, và thực tế cả miền Nam VN hoàn toàn lệ thuộc Mỹ đó mới chính là sự thật.

Nếu cho văn thư của thủ tướng Đồng là “công hàm bán nước “ có giá trị đối với Tàu thì còn gì để nói, làm gì phải đợi đến năm 1974 Tàu nó mới đánh chiếm Hoàng Sa. Thực tế từ năm 1956 Tàu nó đã chiếm đảo Phú Lâm và Linh Côn mà không cần đến cái “công hàm “ nào cả.

Đó hoàn toàn chỉ là một tuyên bố ngoại giao có tính cách song phương không liên quan đến lãnh hải của nước thứ ba và chỉ đề cập đến phần lãnh hải trước kia của VNDCCH theo đúng giá trị giới hạn tồn tại của nước VNDCCH.

Lãnh hải của VNDCCH năm 1958 và lãnh hải VNCH hoàn toàn khác xa nhau và có chủ quyền riêng . Sau khi giải phóng miền Nam, VN đã ngay lập tức chiếm giữ 21 đảo trên quần đảo Trường Sa, lúc đó thì VN mới chính thức tiếp quản chủ quyền trên quần đảo này khi Tàu chưa kịp ra tay cướp. Năm 1988 hải quân VN đã hy sinh 74 chiến sĩ để bảo vệ đảo và kiên quyêt bảo vệ đến nay. Thực tế đó đã chững minh ngược lại tất cả những gì bọn phản động cáo buộc. Nếu công hàm có giá trị chuyển nhượng lãnh thổ thì ngày nay không có vấn đề tranh chấp biển Đông mà Tàu chỉ việc lấy cái “công hàm “ ra mà chiếm cứ hợp pháp.

Chỉ có “ngu chính danh” mới không biết đến những việc nêu trên. Lưu manh Tàu cũng không thể sừ dụng công hàm như một bằng chứng để yêu sách về lãnh thổ thế mà lưu manh cờ vàng cứ cố ra sức ngụy biện mà bẻ cong cái lý lẽ về chủ quyền về phía Tàu thế mới khốn nạn.

Ngậm máu phun người lu loa tố cộng để che đậy tội ác bán nước là sách lược cờ vàng. Không lấy cái mồm, không xuyên tạc tố cộng thì chẳng còn lấy cái gì mà chống. Nhưng chống cộng bằng cách cố bói móc tìm cách bẻ cong lịch sử xuyên tạc sự thật có lợi cho Tàu, gán ghép chủ quyền đất nước cho Tàu thì chỉ có cái đầu của nô lệ cờ vàng mới nghĩ ra được.

“NGU CHÍNH DANH” VÀ GIẤC MƠ CỜ VÀNG

xichloviet

Lòng yêu nước của dân Việt đã giúp dân tộc ta tồn tại đến nay. Ai cũng thấy đó là sức mạnh vô cùng to lớn với điều kiện nó phải được tập hợp lại và thống nhất hành động. Đảng CSVN đã làm đuợc việc đó.  Các thế lực cờ vàng ý thức được sức mạnh này nhưng lại muốn lợi dụng lòng yêu nước của người dân vào việc lật đổ kẻ thù CS. Muốn thế phải tìm mọi cách xuyên tạc sự thật lợi dùng thời cơ kích động để hạ thấp giá trị của đảng CS, hạ thấp hình ảnh lãnh tụ của người dân. Họ có thể thành công phần nào. Tuy nhiên điều cốt lõi để quy tụ được lòng dân là họ phải tạo đựng được hình ảnh một thế lực, một lãnh tụ hơn hẳn đủ để thay thế CS thì họ không bao giờ làm  được dù là 100 năm nữa.

Cái sai lầm to lớn nhất của các thế lực cờ vàng là sử dụng hình ảnh lá cờ vàng nô lệ con đẻ thực dân làm biểu tượng tập hợp quần chúng chống CS. Biểu tượng này chỉ có thể tập hợp những thành phần đã hưởng lợi từ chế độ cờ vàng chủ yếu là để hoài niệm. Ảnh hưởng của nó chỉ quanh quẩn trong cái cộng đồng này không bao giờ có sức lan tỏa. Cái lệ làng bất thành văn của cộng đồng cờ vàng đã tác động phần nào hiệu quả trong việc gây áp lực và trấn áp những phần tử bất đồng chính kiến do đó  họ hoang tưởng rằng họ có sức mạnh cộng đồng và hoang tưởng họ là lực lượng đối lập được với CS.  Chính cái hoang tưởng đó mới là nguyên nhân của cái sự lố lăng vô tiền khoáng hậu của giới cờ vàng.

Việc tiên quyết phải làm  để có sức mạnh cộng đồng là phải tìm cách thống nhất tư tưởng và hành động ngay chính trong cộng đồng của họ thì họ loay hoay gần 40 năm nay không bao giờ có đựợc giải pháp. Điều duy nhất họ cùng nhận định và công nhận giống nhau là sự chia rẽ nghiêm trọng trong cộng đồng của họ. Từ chỗ chia rẽ nên anh nào cũng muốn lôi kéo về phe mình những phần tử chống phe nhóm khác tạo thành một ma trận chống nhau vô cùng  bát nháo. Chỉ một cuộc tiếp xúc báo chí với viên lãnh sự CS đủ để gây lọan cả lên. Anh thì cho đó là tạo diễn đàn cho CS, anh thì nói cần phải vào hang cọp xem cọp nó ra sao, anh thì nói phải chuyển hướng và đối thoại. Rốt cuộc anh nào cũng là hề.

Những anh hề này vẫn tự cho là phe nhóm mình mới là thế lực để CS phải dè chừng. Phải chống như mình mới đúng, thằng nào không chống như mình là việt gian, là thân cộng. Quyền tự do chửi nhau ở Mỹ đã biến cộng đồng cờ vàng thành cái chợ Cầu Muối ngay tại đất Mỹ. Anh nào có phương tiện truyền thông thì anh đó có ưu thế về cái mồm. Anh nào thất thế thì chơi đểu, ném đá giấu tay, thách đấu giang hồ, đâm bánh xe trả đũa, nhổ nước bọt vào mặt nhau. Anh nào cũng phải vũ trang cái lý lich nạn nhân CS thật hoành  tráng để khẳng định lập trường. Nếu chưa đủ đô thì mua đồ lính sida mặc vào. Anh nào không đi lính thì đeo cái tên trước ngực giống như anh bán thịt chó treo cái đầu chó chưa đủ, phải để bảng hiệu người ta mới biết đang rao thịt chó.

Dân cờ vàng thường bàn tới chuyện đao to búa lớn là đối thoại với CS. Cứ như họ là một thế lực đối lập ngang hàng với chính quyền VN. Tuy nhiên, khi bàn đến chuyện “đối thoại “ với CS thì anh này đẩy anh kia, hỏi trong “cộng đồng” thì cũng chẳng chỉ ra đuợc anh nào. Đơn giản là xưa nay họ chỉ biết tố cáo vu vơ vô căn cứ, hùa nhau xuyên tạc chứ làm gì có lập trường mà đòi đối thoại. Quanh quẩn chỉ có những đòi hỏi nhân quyền dân chủ vớ vẩn tố cáo chính quyền VN bán đất bán biển mà không biết đọc cái bản đồ thì đối thoại cái nỗi gì.

Hội đoàn cờ vàng hải ngoại thuờng xuyên nói đến việc báo chí VN không được tự do, phải đi theo lề phải  nói theo tiếng nói của đảng. thế mà đảng CS lại chẳng bao giờ dùng cái công cụ tuyên truyền khổng lồ ấy để chống lại lá cờ vàng của họ,  Rất đơn giản để hiểu chính quyền VN ý  thức được rằng họ đã dùng sức mạnh quân sự để loại trừ xong cái chính quyền dưới bóng là cờ này và loại luôn cả kẻ đỡ đầu thì không thể có thế lực nào có thể dùng lá cờ này để khôi phục lại cái chế độ đã chết. Họ không cần quan tâm đến những chống đối lẻ tẻ, không cần đến súng đại bác để bắn một con ruồi.

Mang quốc tịch Mỹ, ăn welfare của Mỹ không có một tí đóng  góp gì cho đất nước thế mà  đất nước dân tộc càng no cơm ấm áo họ càng tức, càng mạnh lên họ càng thù . Họ ngăn cản đồng hương gửi tiền về quê, tẩy chay hàng Việt, hô hào chống đối thương mại với Mỹ mà mồm thì chứ xoen xoét yêu nước thương nòi. Tàu nó gây hấn thì họ chỉ có một giọng duy nhất là tố chính quyền VN khiếp sợ Tàu, khấn vái cho Tàu nó đánh sống chết mặc bay.  Luận điều của họ là cứ Tàu nó gây hấn là phải đánh trả.  Nếu đó không phải là kiểu khích tướng  kiểu giang hồ thì rõ ràng đó là sự ngu dốt không thể biện minh.

Bọn  Polpot tấn công Tây Nam tổ quốc liên tục hơn một năm trời,  tràn vào nội địa hơn 10 cây số ta vẫn kiên trì nhẫn nại không nổ một phát súng, đánh động thế giới và thuyết phục ngoại giao.  Nhiều đơn vị quân đội đã phản ứng đòi tấn công nhưng những nhà chiến lược VN vẫn kiên trì ngoại giao để tránh đổ máu. VN sợ Pol pot chăng? Chẳng có tên cờ vàng nào nói như vậy.  Cho đến khi bọn Polpot gây tội ác  thì việc dùng vũ lực mới đựợc tính đến. Ngay sau khi được phát động, Cả triệu lá đơn tình nguyện bảo về biên giới Tây Nam đuợc gửi cho Đoàn Thanh Niên Cộng Sản HCM. Lòng yêu nứớc và căm thù đã tiếp sức mạnh cho quân đội đập tan bọn khát máu Polpot trong vòng có 1 tuần.

Quan thầy Tàu mở mặt trận phía Bắc để cứu nguy cho Polpot và tính toán rằng VN phải rút quân ở Kampuchia về tiếp ứng nhưng tất cả đã quá muộn, Bọn Tàu tính toán với quân chính quy áp đảo, bất ngờ sẽ tiến đến Hà Nội trong 72 giờ nhưng chúng lầm to,không cần tiếp ứng chỉ dùng dân quân địa phương  quan thấy Tàu cũng phải tháo chạy và đệ tử cũng bị đập tan nát như lũ cờ vàng 4 năm trước.  Biết bao nhiêu xuơng máu của quân đội và đồng bào đã đổ xuống để bảo vệ đất đai tổ quốc. Lúc đó lũ cờ vàng ở Mỹ thì  vác “hồn thiêng sông núi “ ra sức cầu nguyện cho “Tàu tràn vào Hà Nội,  Miên đánh đến SaiGon” chuẩn bị cho mộng quang phục cờ vàng.

Giới cờ vàng hô hoán là Nguyễn tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết đã ăn tiền của Tàu nên há miệng mắc quai không dám lên tiếng.  Một suy luận có vẻ hợp lý nếu   nghĩ đảng CS là đảng của riêng những ông này. Cho là những ông này có thể khuynh loát đảng CS  muốn làm gì thì làm như đảng Cần Lao của Ngô Đình diệm xưa kia.  Họ suy luận xưa kia ta làm tay sai cho  Mỹ thì CS phải là tay sai của Tàu. Xưa kia Mỹ nó bảo gì ta không dám cãi thì CSVN cũng thế phải nghe lời Tàu. Trong giới cờ vàng khoái chí truyền nhau câu nói” theo Tàu thì mất nước, theo Mỹ thì mất đảng” để đề cập đến đảng CSVN. Cái não trạng nô lệ nó như thế. Suy từ bụng ta phải “theo” Mỹ mới sống  Mỹ buông ra chưa đầy tháng đã chết cho nên dùng cái não trạng đó suy ra bụng nguời  là điều quá dễ hiểu.

Sách trắng quốc phòng VN đã nêu rõ VN cóc có theo thằng nào và cũng cóc có chống thằng nào nhưng  cũng đừng thằng nào hòng đụng đến chủ quyền và độc lập VN.  VN ủng hộ một nước Tàu thống nhất không công nhận Đài Loan nhưng vẫn mở của cho anh Tàu con này vào làm ăn mà anh Tàu lớn có tức cũng cóc làm gì được.  Ủng hộ Palestine nhưng vẫn mua tên lửa israel. Viện trợ cho Bắc Hàn nhưng chơi với Nam Hàn. Ca ngợi láng giềng anh em hữu nghị với anh Tàu nhưng mời chiến hạm Mỹ vào nhà chơi. Anh em đấy,  láng giềng đấy nhưng tàu ngầm mãy bay tên lửa thì  mua của Nga, của Ấn độ của Pháp. VN mua tàu ngầm Kilo, máy bay Su30K2  xịn hơn của nó,  tức lắm nhưng  chỉ biết bày tỏ  “quan ngại” vì khúc xương bển đông càng trở nên khó gặm.

Giới cờ vàng thường rêu rao với nhau có vẻ khinh miệt là CS chống Mỹ xâm lược nhưng lại không chê đồ Mỹ, học hành cũng lùa SV  qua Mỹ đào tạo và cho đó là sự nhục nhã. Đầu óc nô lệ làm sao hiểu được là thành tựu khoa học kỹ thuật dù của bất cứ nước nào đều là tài sản nhân loại và được chia sẻ cho cả thế giới. Nước Mỹ sở hữu những tài sản đó và hưởng lợi từ tài sản đó qua sự trao đổi với thế giới. Nó khác hoàn toàn với tài sản nứớc Mỹ đem ban ơn cho đàn em tay sai cờ vàng trước đây và dùng tài sản đó nuôi nấng dân welfare cờ vàng tốn kém ngày nay mà không hề sinh lợi cho nước Mỹ.

Điều nhục nhã nhãn  tiền là dân cờ vàng bị Mỹ nó chửi thì câm như hến. Tờ  OCregister.com đã phải dùng những từ “ngu xuẩn”, “ thiếu giáo dục” để chửi dân cờ vàng nhưng sợi thần kinh xấu hổ của dân cờ vàng nó đứt quá lâu rồi nên có biết nhục là gì đâu. Từ những cuộc biểu tình chống lá cờ đỏ sao vàng ở trường USC tờ OCregister.com đã bức xúc viết về dân cờ vàng như sau :

“Bạn có biết không. Ngu xuẩn là chính danh. Pháp và sau đó là Mỹ đã huấn luyện những người ngu dốt để phục vụ cho chúng. Công việc của họ là đánh hơi ra những kẻ nào chống chủ của họ, cộng sản hay không. Họ gọi bất cứ người nào chống lại sự thống trị của ngoại bang là “cộng sản” và cầm tù và giết người đó. Đó là tại sao họ không được sự ủng hộ của dân chúng. Đó là tại sao khi Mỹ tháo chạy thì họ cũng phải tháo chạy. Chế độ Saigon không có ngay cả sự ủng hộ của binh sĩ của mình, đó là tại sao mà chỉ có trong vòng 55 ngày mà quân đội miền Bắc có thể kiểm soát hoàn toàn Nam Việt Nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Một điều mà cái guồng máy chiến tranh lớn nhất trên thế giới không thể làm nổi dù rằng đã làm cả mười năm, đã giết cả triệu người, đã thả 8 triệu tấn bom và đã trải 70 triệu lít chất khai quang màu cam.

Cho đến ngày nay, suốt cuộc đời của họ dính cứng vào cái trạng thái tâm lý đó. Họ nghĩ rằng nếu họ cứ kiên trì hô to những khẩu hiệu trống rỗng như vậy thì họ sẽ được sự ủng hộ để họ đi hiếp đáp những người khác ở trên đất Mỹ này, và lạ lùng thay họ đã thành công. Điều này chứng tỏ một điều. Còn rất nhiều người ngu trên đất Mỹ.

Những người biểu tình chống đối có biết rằng trong thế giới ngày nay mà lên án một người nào là cộng sản thì thật là ngu xuẩn không? Nó đã quá lỗi thời và chứng tỏ là các người thiếu giáo dục.

1000 sinh viên Mỹ gốc Việt học ở USC đúng khi nói rằng lá cờ đỏ sao vàng không đại diện cho họ. Đó là vì lá cờ ba màu đỏ, trắng, và xanh (cờ Mỹ) đã đại diện cho họ ở mọi cơ sở liên bang, tiểu bang, quận, và các công sự trong thị trấn.

Các người không có quyền bảo USC hay bất cứ ai về vấn đề lá cờ nào mà họ muốn treo. Đó không phải là một đặc quyền mà là quyền đã tranh đấu để có được. Nếu những người chống đối muốn lá cờ cũ của Nam Việt Nam được treo thì các người phải ở lại trong nước và chiến đấu [nếu thắng thì đương nhiên lá cờ đó là cờ của quốc gia Việt Nam]. Miền Bắc đã ở lại và chiến đấu và họ đã được cái họ muốn. Sự kiện là điều này không xẩy ra cho miền Nam và ngày nay chúng ta đang ở năm 2008.

Các người muốn gì nữa từ nước Mỹ? Các người muốn chúng tôi gây một cuộc chiến khác với Việt Nam?

Nguyên văn: “You got it. Ignorant is the word. France and later the US had trained these ignorant people to serve them. Their job is sniffing out their people who is against their masters, communist or not. They would call anyone opposes foreign domiation “communist” and jail and kill them. That’s why they didn’t have any support from the population. That’s why when the US run, they had to run too. The Saigon regime didn’t even have the support of its own soldiers, that’s why it took only 55 days for the North Army to take total control of South Vietnam in the Ho Chi Minh Campaign in 1975. Something that the biggest war machine this world has ever seen couldn’t do in ten years despite killing millions of people, dropping 8 million tons of bombs anf 70 million liters of Agent Orange.

All their lives until this day, they’re stuck in that mentality. They think if they chant those empty slogans often enough they will get the support they need to bully others here in the US, and surprisingly they did succeed. That proves one thing. There’re a lot of ignorant people in the US ‘ population too.

Do you protestors realize how ignorant it sound to utilize and accuse someone of being  a communist in today’s world? It’s outdated and clearly demonstrates  your lack of education.

The 1000 USC American Vietnamese students are correct to state that the Red flag with the star doesn’t represent them. It is because the red, white, and blue represents them in every federal, state, county, and city building.

You have no right to  tell USC or anyone of that matter to fly what flag they want to. It is neither a privilege but a right that was given and fought for. If you protestors wanted to the old South Viet Nam flag to fly you should have stayed and fought. The North stayed and fought and they got what they wanted. The facts remains for the South that didn’t occur and we are here now in 2008. What else do you want more from the US? Do ou want us to wage another war against Vietnam?”

Điều đáng nói là cái “ngu chính danh” đó lại lây nhiễm trong giới cờ vàng như dịch tả, làm tê liệt lý trí chỉ biết lập lại như con vẹt những gì tuyên truyền để sướng với nhau.  Hết sướng với cách mạng hoa nhài đến sướng cái vụ Tàu nó gây hấn tưởng tượng ra CSVN sắp chết đến nơi rồi. Những cái “sướng”như thế luôn nằm trong cái “ngu chính danh” mà Mỹ nó chửi.

LIỆU CÓ THỂ XẢY RA CHIẾN TRANH TRUNG VIỆT?

xichloviet

Sự kiện TQ xâm phạm lãnh hải VN, cắt cáp thăm dò tàu Bình Minh 2 của Petro VN lá sự kiện nghiêm trọng nhất trong một chuỗi những sự kiện khiêu khích mới đây  nhằm thử phản ứng VN và các nước đang tranh chấp chủ quyển trên biển Đông.

Ngày 24/ 2 hải quân Trung Quốc tập trận ở khu vực Trường Sa, có nơi chỉ cách địa điểm quân đội Việt Nam đóng chưa đến 5 km. Chỉ vài ngày sau đó, quân đội Đài Loan từ đảo Ba Bình, đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa đã tập trận bắn đạn pháo thật

Ngày 2/3 hai tàu chiến của hải quân Trung Quốc di chuyển vu hồi áp sát khu vực bãi Cỏ Rong (Reed Bank), Trường Sa đe dọa tàu thăm dò của Philippines.

Ngày 3/3/2011, chính quyền tỉnh Hải Nam (Trung Quốc) đã công bố “Cương yếu qui hoạch phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Hải Nam 5 năm lần thứ 12″, trong đó có nhiều nội dung liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

Ngày  26.5 TQ cho 3 tàu hải giám xâm nhập sâu vào vùng đặc quyền kinh tế VN cắt cáp thăm dò địa chấn của cty Petro VN.

Ngày 31/05/2011, 3 tàu quân sự Trung Quốc đã nổ sung uy hiếp, ngăn cản 4 tàu cá của tỉnh Phú Yên trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Bộ tư lệnh Bộ đội biên phòng tỉnh Phú Yên, Việt Nam đã đề nghị Bộ Ngoại giao can thiệp.

Một mặt Việt Nam lên tiếng phản đối kịch liệt ở khía cạnh ngoại giao, nhưng mặt khác cũng thấy Việt Nam đang có những bước chuẩn bị mạnh mẽ, tìm biện pháp sẵn sàng đáp trả Trung Quốc về mặt quân sự, không để mình vào thế bị động.

Từ  trước đến nay VN một mặt vẫn vuốt ve ca ngợi tình hữu nghĩ với anh bạn phương Bắc này, một mặt vẫn âm thầm tăng cuờng hiện đại hóa quân đội nhất là không quân và hải quân.  Nhờ TQ, VN trở thành bạn hàng vũ khí lớn nhất của Nga . Đặc biệt những vũ khí nhằm mục tiêu  bảo vệ biển đảo. Mối đe dọa từ TQ đã buộc VN phải tăng ngân sách quốc phòng để trang bị vũ khí phòng thủ cho dù VN đang cần đầu tư rất nhiều cho mục tiêu phát triển.

Năm 2003 Việt Nam ký hợp đồng mua hệ thống phòng không S-300 trị giá 300 triệu USD,

Năm 2006, Việt Nam là nước đầu tiên đã ký hợp đồng mua 2 hệ thống hỏa tiễn phòng vệ bờ biển di động có tên K-300P Bastion-P của Nga.  Nga đang chuẩn bị hợp đồng hỗ trợ Việt Nam sản xuất tên lửa chống hạm Yakhont. Hợp đồng này trị giá ước 300 triệu USD. Tên lửa Yakhont được phóng từ hệ thống Bastion-P do công ty NPO của Nga nghiên cứu và chế tạo, chủ yếu dùng để tấn công các mục tiêu trên đất liền và trên biển. Phạm vi tấn công là 300 km, có thể dùng để bảo vệ đường bờ biển dài hơn 600km. Tên lửa Yakhont Có tên thiết kế là 3k-55 Onyx/Yakhont P-800, SS-N-26 là tên lửa tầm trung chiến thuật, phát triển từ năm 1983, trang bị cho hải quân Nga vào năm 1999. Đến năm 2001, P-800 đã được triển khai trên nhiều phương tiện khác nhau, bao gồm cả trên biển, trên không và đất liền.

Hải Quân VN cũng đã tiếp nhập chiếc tàu chiến Gepard 3.9 đầu tiên trong hợp đồng  2  chiếc và đặt tên là Ðinh Tiên Hoàng. VN cũng có kế hoạch đóng mới thêm 4 chiếc nữa với sự trợ giúp của Nga. Đây là thế hệ tàu chiến áp dụng công nghệ tàng hình được xem là quả đấm thép của hải Quân Nga. Gepard 3.9 được trang bị 1 chiếc trực thăng chống ngầm Ka28 (tiên tiến hơn loại Ka28 mà Nga bán cho Trung Quốc, nhờ có thêm hệ thống kết nối thông tin với tàu); hệ thống sonar MGK-335EM-03 có góc quét 260 độ, phát hiện được tàu ngầm ở bán kính từ 10 đến 12 km và thủy lôi ở cự ly 2 km (tương đương hệ thống sonar 1135.6 mà Nga bán cho Ấn Độ để lắp đặt trên tàu khu trục 4.000 tấn) và hai thiết bị phóng ngư lôi cỡ nòng 533 mm. Do vậy, những chiếc Gepard 3.9 không chỉ giúp hải quân Việt Nam kinh nghiệm đầu tiên về việc sử dụng hệ thống sonar cũng như trực thăng chống ngầm trên tàu, mà còn nâng khả năng chống ngầm biển gần của hải quân Việt Nam lên tầm cao mới. Nó cũng cho thấy hải quân Việt Nam rất coi trọng việc chống ngầm.

Tháng 4/2009 VN đặt mua 6 tàu ngầm loại Kilo 636 trị giá 1,8 tỷ đô la. Thế hệ tầu ngầm 636 là những chiếc tầu ngầm chạy êm nhất thế giới. Chúng có thể lặn sâu dưới nước 300 m, lướt đi với vận tốc độ 37 km một giờ và thực hiện nhiều nhiệm vụ cùng một lúc: vừa tiêu diệt tầu ngầm, vừa tiêu diệt tầu chiến của đối phương, bảo vệ các căn cứ quân sự trên bờ và trinh thám.Tàu ngầm loại này đựoc xem là sát thủ tàng hình. Hải quân Mỹ gọi nó là “hố đen” (black holes) vì nó  vừa có khả năng tránh được radar dò tìm, vừa được cấu tạo để chống tàu ngầm và các chiến hạm. Các phương tiện mới này sẽ cho phép Việt Nam tăng cường khả năng bảo vệ những đòi hỏi chủ quyền tại vùng Biển Đông cũng như hơn hai ngàn cây số bờ biển của mình.

Nga cũng đã  hợp đồng cung cấp 12 chiếc tiêm kích phản lực Su-30MK2 cho Việt Nam. Su-30 là thế hệ máy bay được tập đoàn Sukhoi nâng cấp và phát triển từ thập niên 1990, với nhiều phiên bản cho các khách hàng khác nhau, hợp đồng này trị giá hơn 500 triệu USD.

Cùng với tàu ngầm Kilo 636, máy bay chiến đấu đa năng Su30MK2 và tên lửa chống hạm siêu âm Yakhont có tầm bắn 300 km đặt trên bờ và Gepard 3.9 sẽ giúp lực lượng vũ trang Việt Nam chính thức có được năng lực tiến công đa năng 3 trong 1 (trên không, dưới nước và trên mặt nước) ở khu vực biển gần, đặc biệt là việc nâng cao đáng kể khả năng chống ngầm.

SU 30-MK2 là máy bay chiến đấu 2 chỗ ngồi đa chức năng. Nó vừa có khả năng dò tìm, tuần tra, bảo vệ, vừa có thể tấn công và tiêu diệt các mục tiêu trên không, dưới đất và trên biển của đối phương. Những chiếc máy bay chiến đấu lọai này có thể tiêu diệt các trạm tên lứa phòng không, làm tê liệt các họat động của đối phương từ trên không. Hệ thống điều khiển vũ khí của máy bay thế hệ SU 30-MK2 cho phép nó phát hiện ra mục tiêu trên không, trên biển, trên đất liền và tiêu diệt các mục tiêu này trong mọi điều kiện thời tiết và thời gian. Thế hệ chiến đấu cơ này cho phép có 2 thành viên phi hành đòan, điều đó giúp cho phi công chính được trợ giúp tối đa để thao tác điều khiển vũ khí tầm xa, bay trong đêm hay bay đường dài.

Đồng thời, với sự phối hợp các vũ khí tấn công biển đó, lực lượng vũ trang Việt Nam cũng cơ bản hình thành được năng lực phòng thủ biển gần tương đối hiệu quả. Năng lực kiểm soát và tấn công của hải quân Việt Nam sẽ mở rộng từ phạm vi 100 km trước đây lên 150-300 km. Nhưng hải quân Việt Nam vẫn còn  thiếu các hệ thống chống ngầm, chống hạm và tác chiến phòng không biển xa

Việt Nam cũng đã hoàn thành việc mua giấy phép đóng mới tàu tuần tra tên lửa Project 1241.8 (Molniya, tàu tuần cỡ nhỏ, trang bị hỏa tiễn). Ðiều kiện để đóng tàu tuần tra tên lửa này tại Việt Nam đã hoàn tất vào năm 2006. Năm 2010, việc giải quyết một phần của giấy phép để đóng mới 10 tàu tuần tra tên lửa đã bắt đầu. Dự kiến công việc đóng mới 10 tàu tuần tra tên lửa Project 1241.8 sẽ được hoàn thành vào năm 2016

Ngoài ra VN cũng đặt mua trực thăng và máy bay vận tải của Pháp, tên lửa tầm trung của israel và thủy phi cơ của Canada.

Mỹ cũng đã cung cấp những khí tài không sát thương cho VN, tương lai nếu lệnh  cấm vận vũ khí sát thương đuợc dỡ bỏ, chắc  VN sẽ là một khách hàng vũ khí quan trọng của Mỹ.

Tất cả các động thái trên cho thấy chính quyền VN đã chuẩn bị rất kỹ để sẵn sàng cho một cuộc đối đầu trên biển mà đối thủ không ai khác là TQ. VN cũng đã dự trù một kịch bản phòng thủ trên biển và các đảo VN đang nắm giữ chủ quyền

Không phải ngẫu nhiên mà gần đây những cuộc tập trận hải quân  bắn đạn thật và tên lửa càng ngày càng nhiều trên vùng biển VN.

http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2011/06/hai-quan-viet-nam-tap-luyen-bao-ve-chu-quyen-bien-dao

Không cần phải là chuyên gia quân sự ai cũng thấy được rằng những vũ khí phòng thủ bờ biển là lá chắn quan trọng, là quả đấm thép của hải quân VN. Với những hỏa tiễn tầm xa và những máy bay hiện đại nhất xuất kích từ các căn cứ không quân miền Trung VN có thể triển khai rất nhanh gần như tức thời kế hoạch tấn công trả đũa  chống lại bất kỳ hạm đội nào. Ngay cả khi TQ chiếm được Trường Sa thì mục tiêu này vẫn nằm trong tầm hỏa lực của hải quân và không quân VN trong khi máy bay chiến đấu TQ phải có máy bay tiếp nhiên liệu mới có thể tiếp ứng.

Tên lửa đất đối không, đất đối hạm hạm là vũ khí rất đáng gờm của VN,  muốn tấn công tiêu diệt các mục tiêu này   TQ không có cách nào khác là sử dụng không quân.  Căn cứ không quân gần nhất của TQ đặt tại đảo Hải Nam không thể đủ nhiên liệu để thực hiện một cuộc tấn công như vậy và trở về an toàn. Cho dù có được mẫu hạm hỗ trợ  để thực hiện phi vụ không quân không cần tiếp nhiên liệu TQ cũng khó thực hiện nhiệm vụ tiêu diệt những mục tiêu di động liên tục và được ngụy trang kỹ càng.  Hệ thống ra đa  và hỏa lực phòng không càng ngày càng hiện đại của VN cùng với kinh nghiệm chiến đấu của bộ đội tên lửa phòng không đã khiến ngay đến máy bay Mỹ cũng phải khiếp đảm. Chưa kể những máy bay tiềm kích hiện đại không hề thua kém TQ có thể xuất kích rất nhanh để tấn công phủ đầu.

Quân đội NDVN được xem là một trong số những quân đội thiện chiến nhất thế giới.  Sẵn sàng chiến đấu luôn luôn là khẩu hiệu hàng đầu của tất cả các binh chủng VN và quân đội NDVN  là một quân đội chưa hề biết run sợ trước bất cứ kẻ thù nào.

Không phải TQ không nhận ra điều đó. Quân số vượt trội của TQ không có ý nghĩa gì trong các cụộc đối đầu trên biển nếu TQ muốn xâm lược VN.  Ngược lại yếu tố địa lý lại là  ưu thế rất to lớn cho VN mà ưu thế về vũ khí của TQ chưa thể là yếu tố quyết định chiến thắng.

Chắc chắn TQ biết đo lường cái giá phải trả khi xâm lược VN. Từ xa xưa, tất cả những cụoc xâm lăng của TQ từ phía biển đều bị quân dân VN bẻ gãy dễ dàng. Ngay cả tấn công trên bộ, cái giá phải trả khi xâm lămg VN năm 1979 còn rất mới dù lúc đó VN còn rất nghèo và TQ sử dụng biển người với quân số áp đảo 8/1 đủ để TQ phải cân nhắc không thể động thủ  với VN lúc này.

TQ là cường quốc quân sự,  nhưng sức mạnh VN không dừng lại ở thời điểm 30 năm trước. Một Nam Hàn với kinh tế vượt trội và tiềm lực kinh tế và quân sự hùng  mạnh được yểm trợ tối đa của Mỹ vẫn chưa dám tấn công trả đũa  Bắc Hàn dù rằng bị khiêu khích vô cùng nghiêm trọng:   tàu ngầm  Cheonan của Bắc Hàn bị bắn chìm  và đảo Yeonpyeong  của Nam Hàn bị pháo kích gây thương vong cho cả dân thường và binh lính. Không phải Nam hàn ngán ngại vũ khí hạt nhân của Bắc Hàn mà ngán ngại phải sa lầy vào cuộc chiến tranh không thể lường hết hậu quả.

Phân tích như trên để thấy rằng dù rất mềm dẻo về ngoại giao nhưng VN cũng đã gởi thông điệp cho thế giới và cho TQ thấy rằng VN rất kiên quyết bảo về chủ quyền của mình và hé mở cho TQ thấy TQ không dễ  bắt nạt một nước đã có  bề dầy chiến đấu như VN và đã có chuẩn bị phòng thủ không thể tạo được yếu tố bất ngờ.

PHỎNG VẤN CỦA PHOBOLSATV VỚI PV TRẦN NHẬT PHONG VỀ SỰ KIỆN TÀU TQ XÂM PHẠM LÃNH HẢI VN

xichloviet

Trần Nhật Phong Là một nhà báo trẻ thuộc thế hệ thứ hai gốc Việt truởng thành tại Hoa Kỳ. Thế hệ này cũng có hai thành phần, thành phần thứ nhất cũng có tư tưởng chống cộng như cha ông họ, bị ảnh hưởng não trạng chống cộng của thế hệ trước, cũng hùng hổ chống cộng  mà không cần biết đến lịch sử. Họ biết rằng họ phải làm hài lòng các thế hệ trước bằng cách chống cộng họ mới được ủng hộ và tồn tại.

Thành phần thứ hai không thích chịu áp lực của thế hệ trước và có có suy nghĩ độc lập hơn. Họ không thích bị áp đặt về tư tưởng và thường có thái độ phản kháng.  Bằng kiến thức được tiếp thu, bằng trình độ văn hóa và chuyên môn đuợc đào tạo,  có đầu óc phân tích logic và khách quan lớp người này đang dần là một lực lượng có thể cải tạo tinh thần cực đoan của thế hệ trước.

Xichloviet ghi lại bài phỏng vấn của phobolsatv Vũ Hoàng Lân với phóng viên Trần Nhật Phong để quý vị có một cái nhìn rõ nét hơn về thế hệ trẻ này.

VHL : Xin chào phóng viên Trần Nhật Phong. Hôm nay chúng ta sẽ nói một vấn đề vừa mới xảy ra ở lãnh hải VN và theo VNexpress cũng như VTV 1 có đưa tin có vấn đề là tàu TQ vừa mới xâm nhập lãnh thổ VN, lãnh hải VN. Theo bản tin của VN express thì cụ thể nó như thế này : “Tàu TQ ngang ngược vi phạm lãnh hải VN, phó tổng giám đốc tập đoàn dầu khí quốc gia VN (petro VN) Đõ Văn Hậu cho biết rằng sáng ngày 26.5  các tàu hải giám TQ đã vi phạm lãnh hải thuộc chủ quyền VN gây thiệt hại lớn về kinh tế và cản trở hoạt động của Petro VN.” Nghe được tin này PV Trần Nhật Phong có nhận xét như thế nào?

TNP : Tôi chưa được nghe trên VTV1 nhưng có đọc trên Vnexpress có bản tin này. Tình hình biển Đông hiện nay không có giống như là giữa TQ và VN mà nó bao gồm nhiều quốc gia trong đó. Tôi nghĩ rằng bất cứ quốc gia nào đưa ra động thái về quân sự thì quốc gia đó bị thiệt hại trước. Thật sự nếu TQ đưa ra cái hành động quân sự đó  thì phía TQ có lẽ sẽ bị thiệt hại về mặt ngoại giao, về mặt chính trị, Đó  là đánh giá của tôi.

VHL: Tuy nhiên trên một số diễn đàn trên mạng sáng nay chúng tôi có lục qua, trên facebook hoặc trên các blog. Trên facebook thì có 1 facebook được rất nhiều người theo dõi từ VN tên là “nhật ký yêu nước”, còn trên blog có blog của ông Ngô Thanh Hảỉ hay Nguyễn Thanh Hải gì đó. Họ đưa ra những tin này và kể cả những người chủ trương của blog đó và những người đưa ý kiến,  rất nhiều người có vẻ rất bức xúc về vấn đề là VN chưa có những hành động đủ mạnh với TQ.

TNP : Thật sự bây giờ trên cái tình hình biển Đông, khi mà khối các quốc gia Đông Nam Á trong đó có VN mời gọi Hoa Kỳ bước vào trong cái sân chơi biển Đông, tức là những quốc gia khai thác quyền lợi biển đông đều có trách nhiệm phải lên tiếng trong cái vụ biển đông nhất là cái kế hoạch lưỡi bò của Trung Hoa đưa ra. Cho đến giờ phút này tình hình nó vẫn là kềm chế lẫn nhau mà thôi, tức là các phia đều phải tự chế. Tôi đánh giá tình hình biển Đông là quốc gia nào động thủ về quân sự trước thì sẽ mất đi thế ngoại giao. Do đó phia TQ có thể dùng vũ lực để lấn áp về mặt quân sự hoặc có thể  vi phạm như bản tin sáng nay xảy ra. Theo tôi đánh giá thì các quốc gia đng giành phần danh chánh ngôn thuận về mình vì nếu thắng trên mặt trận ngoại giao và chính trị sẽ chiếm được cái thế đứng và có tiếng nói mạnh hơn trong LHQ . Quốc gia nào có hành động vũ lực trắng trợn kể cả trung Quốc kể cả Hoa Kỳ thì cũng sẽ  bị chỉ trích và cũng sẽ bị lên án. Do đó nếu (sự kiện) giống như vnexpress đưa ra sáng nay thì tôi đánh giá là phía TQ muốn đo lường phản ứng của các quốc gia ĐNÁ, họ thử xem nó thế nào và VN là quốc gia nằm cạnh TQ nhất nên TQ động thủ với VN. Có hai mức, thứ nhất là đo lường phản ứng  của cộng đồng quốc tế khi TQ đưa ra hành động quân sự mà tôi gọi là hơi lỗ mãng như vậy. Và thứ hai là đo lường phản ứng của phía VN vì tất cả mọi người đều đánh giá là phía VN hiện nay vẫn chưa chọn khuynh hướng nào, hoa kỳ, hay TQ. Đây là hành động có thể phía TQ đưa ra để đo lường mà thội. Tức là mức độ của cái này nó sẽ không làm lớn chuyện vấn đề này và có thể là phía VN sẽ ngồi xuống thương thảo lại với TQ hoặc là nếu như đánh giá của anh lúc này là nếu VN không đủ sức chống chọi với TQ thì sự tham dự của Hoa Kỳ sẽ là điều tất yếu. Do đó tôi nghĩ rằng là trong giai đọan này ta không nên đưa ra những võ đoán một cách bất ngờ, bởi vì tình hình biển Đông không phải chỉ có TQ và VN mà còn nhiều quốc gia khác trong đó có cả Hoa Kỳ.

VHL : Cụ thể trong trương hợp này là TQ như anh nói là có hành động quân sự lỗ mãng và lộ liệu như vậy, nối tiếp những hành động từ trước đến nay của TQ mà chúng ta thường  hay nghe qua những cái từ ngữ như là tàu lạ mà bên phia VN sử dụng, Theo anh  phản ứng VN trong trường hợp này như thế nào là tốt nhất?

TNP : Tôi nghĩ rằng phía VN họ chọn thái độ đấu tranh về mặt ngoại giao và chính trị nhiều hơn là quân sự. Do đó ở bên ngoài chúng ta nhìn vào có thể là chúng ta có thể đánh giá rằng phía VN là quá mềm dẻo, hay là nhu nhược theo đánh giá của một số người. Nhưng mà nếu nhìn kỹ hơn cái tình thế và mọi thứ thì VN chỉ ở cái thế chon phương pháp ngoại giao mà thôi, tức là vận động ngoại giao nhiêu hơn tức là dùng đối ngoại nhiều hơn. Tại vì thứ nhất về cái lực thì đương nhiên về vũ trang VN chúng ta là tiểu quốc chưa có khả năng vũ trang đương đầu với cái sức mạnh quân sự của TQ . Cái thứ hai là VN muốn mời gọi nhiều quốc gia tham gia để làm loãng đi cái thế lực của TQ cho nên VN sẽ phải chọn cái thái độ là ứng phó bằng ngoại giao. Mà khi ứng phó bằng ngoại giao thì tất cả các ngôn ngữ phải tự chế, tất cả mọi việc đưa ra đều phải có bằng chứng . Tức là VN chọn con đường đó ở bên ngoài nếu mà nhìn kỹ  thì mình thấy đó là có sự khéo léo, nhưng nếu chúng ta bức xúc quá thì chúng ta cho rằng nhu nhược. Cái đó tùy theo đánh giá của mỗi người. Chúng ta thấy rằng chọn phương pháp ngoại giao là phương pháp tốt nhất.

VHL: Rõ ràng rằng về mặt quân sự thì VN không thể đối chọi với TQ trên cái tình hình quân sự thực tế hiện nay. Tuy nhiên những cái bức xúc của không phải những người ngoài nước đây đâu, kể cả những người trong nước, họ cho rằng mỗi lần TQ xâm phạm hay là có những hành động như vậy thì VN tiếp tục qua báo chí hoặc qua người phát ngôn viên của bộ ngoại giao cho một số phản đối chung chung. Đối với họ đó là biểu hiện của sự không cương quyết, nếu muốn nói một cái từ khác là nhu nhược. Và nếu tiếp tục như vậy thì TQ cứ tiếp tục không ngại gì phản ứng của VN nên TQ tiếp tục làm những chuyện như vậy trong hiện tại và trong tương lai. Anh nghĩ những sự lo lắng của những người ở những xu hướng như vậy có cơ sở không?

TNP : Có cơ sở, là tại vì họ thấy mỗi lần TQ lấn áp một chút thì phía VN có những tuyên bố theo đánh giá bên ngoài cho rằng nhu nhược hoặc là không có bày tỏ sự  độc lập của một quốc gia. Nhưng mà theo đánh giá của cá nhân tôi thì tôi thấy thế này. Khi họ định ra một hướng đi, chọn một phương pháo nào đó thì họ phải đi theo phương pháp mà họ chọn ra. Khi chọn phương pháp ngoại giao, khi mà tuyên bố,  thứ nhất lời tuyên bố của anh sẽ gây ảnh hưởng rất nhiều các nước xung quanh, kể cả Hoa Kỳ kể cả TQ. Do đó họ rất tự chế trong vấn đề ngôn ngữ. Đây là cái tôi đánh giá là thái độ của bộ ngoại giao hay phát ngôn viên của nhà nước VN họ đánh giá như vậy, họ đưa ra những lời  không thể quá khích, không thể đưa cái chủ nghĩa dân tộc lên quá nhiều, tại vì làm như vậy sẽ làm cho họ mất đi cái thế về ngoại giao. Đó là cái lý do mà chúng tôi thấy. Còn ngày xưa báo chí họ không dám chỉ để chữ tàu lạ. Nhưng mà hôm này tờ báo vnexpress họ đã khẳng định là TQ tức là họ đã có một bước mạnh về báo chí truyền thông, tức là họ dám thẳng thắn đó là tàu TQ. So với  một năm hai năm trước họ dùng chữ tàu là là mình đã thấy có sự tiến bộ rồi. Nhưng mà sự tiến bộ đó không phải do họ tiến bộ, mà do họ cân nhắc được là cái thế đứng VN ở mức độ nào và có thể nói ngôn từ ở mức độ nào. Đó là cái tôi đánh giá

VHL : Có nhiều người cho rằng là vì từ xưa đến nay chính quyền VN họ ngại rằng những cái biểu tình chống TQ mặc dù chính đáng nhưng có thể tạo thành tiền lệ và  việc biểu tình của SV của dân chúng sau này sẽ không còn có thể kiểm sóat được cho nên họ thường hạn chế chuyện đó và vì hạn chế chuyện đó trong những năm gần đây cho nên là tới khi có những chuyện thực sự xảy ra như vậy, có khi không vận động được quần chúng để tỏ rõ thái độ của dân chúng VN đối với TQ. Anh ngị điều đó như thế nào?

TNP: Thực sự nếu mà đánh giá chung tình hình về cái đó thì anh phải chia ra làm hai phần, cái phần thứ nhất là phía chính phủ, cái phần thứ hai là phía dân chúng. Phía dân chúng thì đương nhiên bất cứ hành động bị mất đất hay hành động bị lấn áp hay là bị đe dọa về chủ quyền thì người dân có phản ứng khác nhau. Và chính phủ lại có phản ứng khác. Do đó những cuộc biểu tình đó nếu nhìn một cách công bằng thì những cuộc biểu tình đó tương đối là chính đáng. Chính đáng ở chỗ nào ? tại vì họ xuất phát từ tâm thức của họ là họ cảm thấy đất nước bị đe dọa, đó là cái phần của họ, nhưng mà cái phần thứ hai là cái phần của chính phủ , chính phủ mới có thể hiểu được là mức độ trầm trọng đến mức nào và họ đánh giá đựợc cái tình hình, và họ giữ thái độ theo tình hình mà họ đánh giá. Đó là điểm thư nhất. Điểm thứ hai là có những hành động đưa ra đựợc xem là đàn áp, đối với nhữgn người bày tỏ thái độ đó thì ở đây có hai  trường hợp, trường hợp thứ nhất là những người thật sự có tâm thức để gióng lên tiếng nói đất nước đang bị đe dọa, trường hợp thứ hai là những người bất đồng chính kiến với chính quyền VN. Có hai thành phần khác nhau. Những người bất đồng chính kiến sẽ không bỏ qua cơ hội để mà gây áp lực với chính quyền VN. Riêng đối với những người có tâm thức thực sự họ bị đàn áp thì cái đó mình phải nói rõ là hai thứ, thứ  nhất cái hành động đó là sai chính quyền đối xử là sai. Nhưng mà nếu mình đứng ở góc độ chính quyền thì trong tình hình căng thẳng như vậy, mỗi bên cứ nhích lên một chút dấy lên tinh thần dân tộc sẽ tạo ra sự căng thẳng còn căng thẳng hơn, thì cái sự đói thoại bằng ngoại giao hay là về chính trị nó sẽ càng khó khăn cho nên chính quyền họ đưa ra những hành động tương đối cứng rắn để bảo vệ sự tự chế của họ thì cũng là hợp lý. Đó là cái nhận định của tôi. Còn riêng đối với những người chống đối hoặc là họ có tư tưởng khác biệt đối với VN, họ dùng cái đó như là cơ hội để gióng lên tiếng nói của họ thì mình cũng tôn trọng vấn đề đó vì thấy vấn đề đó mình vẫn tôn trọng vì họ làm đúng chứ không làm sai. Tuy nhiên cái động cơ của họ đã mất đi sự trong sáng và nó không đứng về cái tâm thức của cả một dân tộc . Do đó mình phải tách rời rõ ràng mới nhận thức vấn đề nó chính xác hơn.

VHL: Lần này hành động của TQ nó có tính cách trầm trọng là tại vì tàu TQ tấn công  không phải  vào các ngư nhân cá thể của VN nữa mà ngay vào một công ty lớn của nhà nước VN là PetroVN. Đứng về mặt nhìn một cách gọi là lạc quan có thể anh nghĩ đây là một cái cơ hội tốt nếu mà nhà nước VN hành xử một cách khôn khéo và đúng thì có thể là tạo một cái cơ hội để mà cho các tầng lớp VN ở trong nước cũng như ngoài nước có thể là đoàn kết lại với nhau để mà đối đầu với TQ tại vì cái chuyện trong lịch sử mỗi lần Trung Quốc ngoại xâm thì dân tộc VN thường đứng lại với nhau. Anh có nghĩ đây là cái cơ hội

TNP: Đúng, anh nhận định thì đây là có thể đây là cái cơ hội tốt nếu nhà nước VN hành xử một cách khéo léo nhưng mà anh nên nhớ rằng là cái hành động của TQ đưa ra nó không phải gây ra thiệt hại vấn đề kinh tế vừa rồi giống như tờ vn express nói mà nó còn cố tình mang ý nghĩa khác nữa mà tôi muốn nhắc tới mà chúng ta vô tình chúng ta kích động lên thì chúng ta sẽ gây thiệt hại cho chính đất nước của chúng ta. Cái điểm này lúc nãy tôi nói TQ đưa ra hành động quân sự một cách lỗ mãng như vậy thì họ có những động thái khác nhau, họ có những động cơ giống như tôi vừa nói thứ nhất là họ muốn đo lường các phản ứng của các quốc gia đông nam Á như thế nào. Cái thứ hai  họ muốn đo lường những thành phần thân với TQ ở VN phản ứng như thế nào và mức độ tin tưởng vào TQ nó như thế nào cái tình bạn giống như họ nói là 16 chữ vàng nó như thế nào. Cái thứ ba cái điều rất quan trọng, lần này họ không tấn công vào các ngư phủ, họ không tấn công vào các địa điểm dân sự mà họ tấn công vào ngay cái công ty Petro VN tức là sao? Có thể là cty PetroVN đang có thương thuyết với cty dầu khí của Hoa Kỳ của Anh để khai thác khu vực nào đó và hai bên đã đi đến một cái agreement tức là một sự đồng thuận nào đó rồi phía TQ không làm gì được, bây giờ họ đưa ra động thái quân sự lỗ mãng như vậy để họ cảnh cáo đối tác của VN . Cái sự nguy hiểm của biển Đông như vậy để cho phía đối tác của VN sợ hãi và rtút chân tại vì họ không thể sử dụng phương pháp ngoại giao để cảnh cáo hoặc cấm cửa những công ty dầu khí mà họ đối xử với BP của Anh Quốc, họ cảnh cáo Anh Quốc và Anh Quốc phải rút. Nếu Anh Quốc còn tiếp tục khai thác dầu ở khu vực hoàng sa Trường Sa thì TQ sẽ đóng cửa tất cả các cơ sở của BP ânh Quốc ở tại TQ. Những động thái đó họ đưa ra lúc trước thì nó có lợi cho họ vì họ dùng cái quyền cái thế lực của TQ nhưng nay Hoa Kỳ bước chân vào biển đông họ không thể dùng cái đó được nữa. thì bây giờ họ chơi cái trò hơi du côn một chút xíu là dùng áp lực quân sự như vậy để cho các đối tác VN sợ hãi không dám hợp tác với VN khai thác dầu khí ở khu vực vịnh Bắc bộ. Như vậy thì rõ ràng là cái đó là cái mà chúng ta phải nhìn thấy rõ. Và cái thứ hai giống như anh nói lúc nãy, cái cơ hội,  nếu nhà nước VN hành xử một cách khéo léo nhưng ngược lại các tầng lớp người Việt kể cả khối người Việt ở hải ngoại cũng phải biết cư xử nột cách khéo kéo để hỗ trợ cho VN đương đầu với TQ. Đó là cái mà mình phải tìm ra được biện pháp

VHL : Theo anh thì cách hành xủ tốt nhất của người Việt ở hải ngoại như thế nào?
TNP: Vấn đế thứ nhất là vấn đề ý thức hệ và cái sự đối lập với nhà nước VN, chúng ta phải có cái nhìn rõ ràng hơn. Và cái thứ hai là chung lưng chống ngoại xâm. Dù tôi và anh có khác biệt nhưng đất nước đang bị đe dọa thì cái sự khác biệt đó phải đặt sang 1 bên. Đây là cái nhận định của cá nhân tôi thôi. Tuy nhiên có người có những quan điểm tương đối cứng rắn hơn họ cho rằng ngày nào còn đảng CS cầm quyền thì sẽ không có làm được gì cả. Có những người có quan điểm đó nhưng có người có quan điểm tương đối cởi mở hơn  giống như tôi vừa nói dù rằng là có sự khác biệt chính kiến, khác biệt ý thức hệ, có khác biệt vè quan điểm nhưng khi đất nước bị đe dọa dân tộc bị đe dọa thì chúng ta phải dẹp bỏ những dị biệt đó. Đây là cái mà tất cả mọi người nhìn thấy . Nhận định của tôi phía người Việt hải ngoại tùy theo quan điểm của quý vị mà thôi.

VHL; Đặt giả sử nếu anh là người có khả năng vận động được quần chúng ở hải ngoại, trong cụ thể trường hợp này anh sẽ vận động làm gì?

TNP: Thư nhất tôi không phải là người có khả năng vận động, đó chỉ là cái ví dụ mà thôi. Nhưng mà nếu có khả năng vận động thì tôi vẫn lấy dân tộc và đất nước lên trên hết.. Nêu dân tộc đất nước và lãnh thổ bị đe dọa thì ta đem đó làm điều kiện tiên quyết và quan trọng nhất.

VHL: Trong truờng hợp cụ thể này nếu tất cả người Việt ở mọi nơi ở VN lẫn ở bên ngoài cùng tới tòa đại sứ TQ để phản đối ngay cái trường hợp cụ thể này anh nghĩ nó có tác dụng gì không?

TNP: Nó có tác dụng một phần về phương diện chính trị nhưng có thể nó sẽ tạo ra những hệ quả khác không tốt đẹp. Nên trước khi hành động chúng ta phải nhận định cho kỹ . Cái mà chúng ta biểu tình nó có tác động về phương diện chính trị tức là chúng ta gióng lên cho thế giới, quốc tế biết là TQ đang có hành động vi phạm chủ quyền của VN đồng thời TQ đang sử dụng sức mạnh quân sự của minh để trấn áp các quốc gia ĐNÁ trong đó có VN . Đuơng nhiên chúng ta báo động cho quốc tế biết. Điều đó tôi cho là điều tích cực. Nhưng mà cách biểu tinh như thế nào và nói lên thông điệp đó như thế nào và tránh gây những hệ quả không cần thiết mai này có thể xảy ra, và những hệ quả đó nó sẽ gây hại nhiều hơn. Chúng ta phải lượng định kỹ tình hình, đọc kỹ các thông tin một cách chính xác rồi mới đưa ra phương án để mà làm việc. Chúng ta không thể đến tòa đại sứ TQ vừa biểu tình chống TQ vưa hô đả đảo CS, cái đó tự nhiên quý vị thấy là quốc tế không chú ý đến chúng ta. Chúng ta chỉ có một mục tiêu và cái mục tiêu đó là làm sâo gởi cái thông điệp dó ra thế giới mà thôi và gởi tra bằng cách nào để cho thế giới nhìn thấy được sự lấn áp của TQ chứ  không phải gởi cái thông điệph đó ra để rồi chính thế giới nhìn thấy  họ lại coi như một cái việc không ra gì, đó là cái quan trọng nhất chúng ta phải làm sao gởi cái thông điệp đó ra một cách chính đáng và quốc tế quan tâm, đó là chúng ta giúp được cho đất nước và cho dân tộc.

VHL : Vì chuyện này mới xảy ra quá thành ra là ngoài những cái bàn bạc và bính luận trên hệ thống internet từ VN báo chí ở ngoài đây chưa kịp nghe. Là một nhà báo anh đánh giá trong những ngày sắp tới thì cái dư luận của báo chí cũng như người dân ở bên ngoài này  họ sẽ nói gì về cái chuyện này?

TNP: Đương nhiên giống như lúc nãy tôi có phân tích, vẫn có những thành phần khác nhau mình tạm gọi là các nhóm người khác nhau, trong đó có những người nhìn sự kiện đó với tâm thức của một ngừoi quan tâm cho đất nước và đân tộc thì đưong nhiên họ sẽ có cái quyết định riêng của họ. Nhưng có những người họ đóng hai vai trò vừa quan tâm cho vận mạng của đất nước, vừa quan tâm cho dân tộc đồng thời vừa quan tâm làm sao lật đổ chế độ bên đó, dĩ nhiên họ sẽ đưa ra động thái khác, đó là cái mà tôi đang nói và trong những ngày sằp tới thì theo cái nhìn nhận  của tôi và cái sự kiện đã từng xảy ra thì cộng đồng sẽ có nhứng phản ứng như biểu tình như anh vừa nói ra những thông cáo báo chí phản đối, thậm chí có những  người sẽ bức xúc hơn gởi thơ lên LHQ , gởit thơ lên quốc hội Hoa Kỳ kêu gọi . Tất cả cái đó đã xảy ra và mình đã làm trong thời gian qua, qua rất nhiều sự kiện rồi. Lần này xảy ra sự kiện đó tôi nghĩ phản ứng của cộng đồng VN ở hải ngoại kể cả mạng báo chí kể cả người dân bình thường họ cũng sẽ có nhứng phản ứng tương tự như vậy thôi. Vì cái đó khả năng chúng ta có thể làm được.

VHL : Bên ngoài xưa nay vẫn  những phản ứng như vậy, bên trong nước thì có những phản ứng mọi người cho rằng chưa đủ mạnh như vậy. . . .

TNP : Chưa chắc, tại vì những lần trước họ nói là tàu lạ và họ tự chế trong vấn đề báo chí đưa thông tin. Lần này họ đưa một cách thẳng thắn và họ làm như vậy tức là chính quyền  VN họ đã cân nhắc được, và lần này có thể có những phản ứng mạnh hơn lần trước nữa và có thể rằng chính quyền VN vẫn để cho người dân phản ứng để họ đạt được mục tiêu về ngoại giao và chính trị, tức là họ cho thấy phản ứng của người dân trong nước khi mà chủ quyền bị xâm phạm, và cũng bày tỏ tcho TQ thấy rằng người dân VN, tuy rằng anh là bạn đấy nhưng anh là ngừoi anh lớn, khi mà anh đụng đế tài sản của chúng tôi thì chúng tôi vẫn phản ứng như thường. Có thể lần này chúng ta chưa có thể khẳng định vì vụ việc này như anh nói tôi nói là mới quá, mới sáng hôm nay 26 tây thôi, mình chưa đo lường được, chưa biết được phản ứng nhà nước phía VN như thế nào và dân chúng VN phản ứng ra sao. Đương nhiên trên các bloger đã nói rồi, nhưng mà tất cả nằm trên bloger còn hành động thực tiễn ngoài xã hội, tức là dưới đất nó sẽ như thế nào trong những ngày sắp tới chúng ta cũng chưa tiên đoán được. Có thể phía VN sẽ tự chế hơn, và hàhn động tự chế của họ họ sẽ làm gay gắt hơn ngày xua . Nhưng cũng có thể họ sẽ mở con đường cho dân chúng nói lên ý nguyện của họ. Mình chưa biết phía nhà nước VN sẽ phản ứng như thế nào.

VHL Anh có thề cho một đúc kết ngắn gọn về tình hình vừa bàn qua.

TNP: Sự kiên lần này như tôi nó là nó có 3 vấn đề xảy ra và cái biển Đông nó có 2 cái hồ sơ về biển Đông chứ không phải một  hồ sơ. Hồ sơ thứ nhất là quyền lợi các quốc gia nằm xung quanh khu vực biểt Đông . Và cái quyền lợi thứ hai là hồ sơ về Hoàng Sa và Trường Sa, hai cái khác nhau. Lần này TQ đưa tàu vào trong hải phận VN thì cái phản ứng như thế nào và sự kiện nó như thế nào trong những ngày sắp tới chúng ta phải quan sát thêm. Đó là cái thứ nhất. Thứ hai nếu muốn phản ứng thì chúng ta nên đưa ra những phản ứng một cách chính đáng và rõ ràng. Thưa ba, đừng lẫn lộn những vấn đề khác vô ván đề này bởi vì quý vị  đưa nhứng vấn dề khác vô quý vị sẽ làm loãng đi cái tâm thức của quý vị dù rằng người Việt ở hải ngoại hay trong nước đều có chung tâm thức lúc nào cũng đề phòng anh miền Bắc cả. Nếu quý vị làm loãng đi như vậy vô tình chúng ta lại gây hại nhiều hơn cho cái trận đấu này. Và nếu quý vị muốn có một cái tác động hơn phải nghĩ ra những phương pháp tốt hơn và làm sao tạo được ảnh hưởng nhiều hơn. Đó là những cái mà tôi muốn nói trong kỳ này. Riêng đúc kết lại thì cái tin nó còn mới quá chúng ta chưa có được nhiều cái nhận định khác nhau về sự kiện, Có thể vài hôm nữa chúng ta sẽ nhìn sự kiện rõ ràng hơn và để coi phía nhà nước TQ trả lời như thế nào cho cái hành động vũ lực này.

VHLK : Nếu được dịp kiến nghị  với nhà nước sẽ hành xử như thế nào trong cái trường hợp cụ thể này anh sẽ kiến nghị điều gì.

TNP: Với tôi thì tôi thấy thế này. Quý vị chọn giải pháp nào có lợi cho dân tộc nhất. Dù là quân sự dù là ngoại giao, dù là chính trị, nó có lợi cho dân tộc và bảo vệ bảo tồn được lãnh thổ thì quý vị làm. Còn nếu như quý vị chọn sai lầm thì chính quý vị phải là người chịu trách nhiệm trước dân tộc và đất nước.

BÍ MẬT CỦA MỘT CHIẾN DỊCH PHẢN GIÁN (Hết)

Nguyễn Khắc Đức

Tàu địch xuất hiện. Đồng chí Tám Thậm xuống đón Mai Văn Hạnh và đưa vào đất liền theo kế hoạch. Sau đó, người của ta trong “Tổ đặc biệt” dụ Trần Văn Bá và tên điện báo viên của địch lên đảo, rồi quật ngã hai tên, nhét khăn vào miệng chúng nên việc bắt giữ diễn ra êm ru.

Gần như hàng tuần, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Nội vụ Phạm Hùng báo cáo những diễn biến quan trọng của Kế hoạch CM-12 với Bộ Chính trị. Các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ đánh giá cao kết quả và vai trò của Kế hoạch CM-12 trong cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia của ta.

Thực hiện chủ trương của Bộ, cho đến tháng cuối năm 1983, Lực lượng An ninh đã tiến hành Kế hoạch CM-12 rất sáng tạo và đầy bản lĩnh, buộc kẻ địch xâm nhập theo kế hoạch của ta với 15 chuyến bằng đường biển với 30 lượt tàu vào vùng biển Cà Mau. Do đó, ta đã bắt toàn bộ 126 tên gián điệp, biệt kích từ nước ngoài về, thu 132 tấn 278 kg vũ khí, 299.750.000 đồng tiền giả…

Bọn gián điệp biệt kích bị xét xử trước tòa án, tháng 12/1984.

Cũng thông qua Kế hoạch CM-12, ta đã buộc địch phải bộc lộ 10 tổ chức phản cách mạng và một số đầu mối của địch trong nội địa. Từ đó, Lực lượng Công an nhân dân chủ động tiến hành đấu tranh và đấu tranh có hiệu quả với các lực lượng thù địch, bảo vệ vững chắc an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân.

Trước tình hình địch tăng cường hoạt động, chuẩn bị chuyển sang giai đoạn 3 là tiến hành phá hoại và dùng lực lượng vũ trang cướp chính quyền ở các vùng hẻo lánh, Bộ trưởng Phạm Hùng báo cáo Bộ Chính trị về chủ trương kết thúc Kế hoạch CM-12. Bộ Chính trị rất phấn khởi và đánh giá đây là một vụ án rất lớn, thắng lợi của ta cũng rất lớn và đồng ý với chủ trương kết thúc Kế hoạch CM-12 của Bộ Nội vụ.

Theo chỉ đạo của Bộ trưởng Phạm Hùng trong cuộc họp ngày 12 và 13/3/1984,kế hoạch kết thúc CM-12 được vạch ra. Bộ Nội vụ chủ trương: Khôn khéo dụ Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh từ nước ngoài về nước, bắt gọn cả người, tàu xâm nhập, vũ khí, điện đài và đưa toàn bộ bọn gián điệp xâm nhập từ năm 1981 đến nay ra xét xử công khai. Nếu cả Túy và Hạnh chưa vào thì ta chưa kết thúc kế hoạch này. Nhưng nếu tình hình không hoàn toàn theo đúng kế hoạch của ta thì cũng cần phải bắt cho được một trong hai tên đầu sỏ.

Đồng thời, phá toàn bộ lực lượng ngầm của chúng đã cài lại trong nội địa. Phối hợp với các cơ quan truyền thông vạch trần âm mưu của các thế lực thù địch trước dư luận quốc tế, đập lại những luận điệu chiến tranh tâm lý xuyên tạc chế độ xã hội ta, nâng cao uy tín chính trị của Việt Nam trên trường quốc tế.

* * *

Bước vào năm 1984, tình hình và diễn biến quốc tế cũng như âm mưu và hoạt động của Lê Quốc Túy – Mai Văn Hạnh đã chuyển biến theo đúng ý đồ và kế hoạch của ta. Nhưng lúc đầu, chúng chỉ dự định có một mình Mai Văn Hạnh vào.

Để buộc địch thực hiện theo kế hoạch, ta  khéo léo tác động để Túy cùng vào với Hạnh. Tuy thông báo là Túy có thể cùng vào với Hạnh, nhưng đến ngày 9/5/1984, Trung tâm chỉ huy của địch có thông báo là chuyến xâm nhập mới hoãn lại và sau đó chỉ có C5 (Mai Văn Hạnh) vào vì Túy “bị bệnh bất ngờ nên C5 phải trở về Pháp sắp xếp công việc của C4”.

Qua các nguồn tin ta được biết đúng là Lê Quốc Túy bị bệnh thận nặng, phải dùng máy lọc máu thận. Ban chỉ đạo quyết định vẫn thực hiện kế hoạch theo phương án 2, nghĩa là một tên đầu sỏ vào ta cũng kết thúc chiến dịch.

Trong thời gian này, chuyến xâm nhập lần thứ 16 của địch gồm hai tàu chở gần 6 tấn vũ khí vào hòn Đá Bạc, ta “tiếp nhận” an toàn.

* * *

Cuối tháng 8/1984, Lê Quốc Túy thông báo cho cơ sở trong “quốc nội” biết là trong thời gian khoảng đầu tháng 9 thì Mai Văn Hạnh sẽ vào và “không thay đổi” kế hoạch nữa.

Ban chỉ đạo chiến dịch kết thúc Kế hoạch CM-12 phân công đồng chí Bùi Thiện Ngộ, lúc này là đặc phái viên của Bộ trưởng, đồng chí Lê Minh Học và đồng chí Nguyễn Phước Tân xuống Minh Hải trực tiếp chỉ đạo và tổ chức thực hiện chiến dịch. Có thể gọi đây Ban chỉ huy tiền phương của chiến dịch kết thúc Kế hoạch CM-12.

Tại TP HCM, đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm và đồng chí Lê Tiền thường xuyên liên lạc với  đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng ở Hà Nội và Ban chỉ huy tiền phương ở Minh Hải qua hệ thống thông tin liên lạc đặc biệt của chiến dịch.

Ngày 1/9/1984, Lê Quốc Túy cho “Tổ đặc biệt” biết là sẽ vào Việt Nam khoảng tối ngày 7 hoặc 8/9. Theo đề nghị của đồng chí Nguyễn Phước Tân, ban lãnh đạo Kế hoạch CM-12 quyết định ép địch phải vào đêm 9/9/1984 vì cách đó ba năm chuyến “hàng” đầu tiên của địch thực hiện theo kế hoạch của ta vào đêm 9/9/1981.

Sáng 8/9/1984, các đồng chí trong Ban chỉ huy tiền phương từ “mật cứ” của “Tổ đặc biệt” ở ngoại ô thị xã Bạc Liêu đi xuống Công an huyện Trần Văn Thời đóng ở  Rạch Ráng.

Còn một bộ phận của Tổ An ninh, trong đó có đồng chí Nguyễn Khánh Toàn, Trần Tôn Thất, Nguyễn Đông Phương, Phan Trung Tiến và một tổ trinh sát vũ trang của đại đội đặc biệt do đồng chí Hữu Ân chỉ huy triển khai kế hoạch đón bắt Mai Văn Hạnh tại ngã ba Tân Thành.

Yêu cầu rất cao của kế hoạch là tuyệt đối bảo đảm tính mạng lực lượng của ta. Đây là một trận đánh kiểu an ninh. Các đồng chí lãnh đạo Kế hoạch CM-12 cho rằng những tên gián điệp biệt kích cũng là con em của nhân dân, chẳng may bị lôi kéo làm tay sai cho bọn đầu sỏ gián điệp. Do vậy tinh thần chỉ đạo là hạn chế tối đa thương vong kể cả số gián điệp biệt kích xâm nhập. Trong trường hợp bất khả kháng mới tiêu diệt chúng.

Chiều 9/9/1984, các đồng chí trong Ban chỉ huy tiền phương ra hòn Đá Bạc. Biển tương đối êm. Gió nhè nhẹ thổi. Những đợt sóng duềnh lên như đón chào các chiến sĩ an ninh vào trận. Trời mùa thu trong xanh và thỉnh thoảng có những đám mây trắng xốp hiện ra rồi tan đi…

Khoảng 18h, bỗng gió lớn nổi lên. Trời vần vũ. Những đám mây đen kịt ập xuống. Sóng biển dồn dập. Hai chiếc tàu của ta neo sẵn bị sóng biển dồi lên dồi xuống, chao đảo. Trong cái chòi lá mà đại đội đặc biệt dựng trên lưng chừng đảo gió rít ào ào. Các đồng chí trong Ban chỉ huy tiền phương lo lắng.

Nhưng độ hơn một tiếng đồng hồ sau, trời trở lại bình thường. Gió lặng. Biển êm. Lực lượng của ta triển khai vào vị trí chiến đấu theo kế hoạch. Các đồng chí Bùi Thiện Ngộ và Lê Minh Học ở trên chòi chỉ huy. Các đồng chí Nguyễn Phước Tân, Thi Văn Tám, Huỳnh My (Chỉ huy trưởng Công an vũ trang Ninh Hải) xuống gần mép bãi đổ. Đại đội Cảnh sát đặc biệt của ta triển khai vào các vị trí và sẵn sàng chiến đấu.

20h kém 15′, tàu địch xuất hiện. Hai tàu của ta áp sát hai tàu của chúng. Đồng chí Tám Thậm (Trần Phương Thế) xuống đón Mai Văn Hạnh và đưa lên xuồng máy để đưa vào đất liền theo kế hoạch.

Sau đó, người của ta trong “Tổ đặc biệt” dụ Trần Văn Bá và tên điện báo viên của địch lên đảo. Theo đúng kế hoạch, các đồng chí trong Đại đội Cảnh sát đặc biệt đã quật ngã hai tên Trần Văn Bá và tên điện báo viên, nhét khăn vào miệng chúng nên việc bắt giữ diễn ra êm ru.

Trong lúc đó, những tên gián điệp biệt kích có nhiệm vụ cảnh giới vẫn ôm súng không rời vị trí, mặc dù anh em thủy thủ của ta dụ sang tàu “nhậu lai rai”. Trước tình hình đó, kế hoạch nổ súng đánh phủ đầu để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho kế hoạch được thực hiện.  K64 khai hỏa bằng một loạt đạn AK-47. Quân ta nhất loạt nổ súng áp đảo bọn gián điệp biệt kích. Bọn biệt kích bị bất ngờ không kịp chống cự, đứa bị bắn chết, đứa nhảy xuống biển…

Trận đánh chỉ diễn ra trong vòng 2 phút 7 giây. Bọn gián điệp biệt kích bị ta tiêu diệt tại trận 12 tên, còn 7 tên khác bị bắt sống. Ta thu hai tàu xâm nhập cùng toàn bộ vũ khí, phương tiện của chúng, kết thúc thắng lợi trận đánh quyết định.

Trong khi đó, theo đúng kế hoạch, Công an TP HCM phối hợp với các tỉnh đồng loạt bắt Mai Văn Hạnh và toàn bộ các đối tượng trong Chuyên án H82.

Sau khi ta bắt giữ Mai Văn Hạnh, Trần Văn Bá và bọn gián điệp biệt kích, công tác giam giữ được tiến hành rất khẩn trương và thận trọng. Ta đối xử với bọn gián điệp, biệt kích theo đúng chính sách nhân đạo.

Riêng Mai Văn Hạnh, trong thời gian giam giữ, bệnh đau dạ dày của y tái phát nặng. Ta cho Hạnh vào điều trị tại Bệnh viện 30-4. Các bác sĩ quyết định phẫu thuật để cắt bỏ phần viêm loét quá nặng.

Đây là một quyết định y học nhưng lại có tác động rất mạnh về tư tưởng và chính trị. Nếu không may Mai Văn Hạnh bị chết thì sẽ rất phức tạp. Tuy nhiên, các bác sĩ cho biết là nếu không phẫu thuật thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng của y.

Lãnh đạo Bộ đồng ý cho phẫu thuật để cứu sinh mạng của Mai Văn Hạnh. Sau này, các đồng chí trong Tổ An ninh được giao nhiệm vụ giám sát Hạnh kể lại rằng, khi bác sĩ đưa dao cạo râu để cạo lông bụng của y cho sạch trước khi mổ, mặt Hạnh tái đi. Có lẽ y sợ bị chết.

Nhưng ca mổ đã thành công. Sức khỏe của y nhanh chóng hồi phục. Một lần tâm sự với cán bộ ta, Mai Văn Hạnh thành thật nói rằng chính các bác sĩ Công an Việt Nam đã sinh ra y lần thứ hai. Ta còn cho cả hai con gái của Hạnh từ Pháp về thăm. Những điều này cũng góp phần thức tỉnh lương tâm của Mai Văn Hạnh.

Từ ngày 14 đến 18/12/1984, tại TP HCM, Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm vụ án gián điệp Lê Quốc Túy – Mai Văn Hạnh.

Chủ tọa phiên tòa là đồng chí Huỳnh Việt Thắng, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; giữ quyền công tố trước tòa là đồng chí Trần Tề, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

21 bị cáo, trong đó có Mai Văn Hạnh, Trần Văn Bá, Huỳnh Vĩnh Sanh, Lê Quốc Quân, Hồ Thái Bạch và nhiều tên khác đã phải ra trước vành móng ngựa. Một số khác được đưa ra làm nhân chứng. Phiên tòa đã gây chấn động dư luận trong nước và quốc tế. Nhân dân tự hào về chiến công to lớn của Lực lượng Công an Việt Nam.

* * *

Về nhiệm vụ tiếp theo, trong Kế hoạch ĐN-10, ta khéo léo tung tin giả là Mai Văn Hạnh mâu thuẫn với Lê Quốc Túy, có âm mưu lật đổ Túy và Năm Quân trong nội địa. Ta đã làm cho Túy tin như vậy, vừa đảm bảo bí mật của Kế hoạch CM-12, vừa duy trì được Kế hoạch ĐN-10.

Lực lượng An ninh lại tiếp tục tiến hành cuộc đấu tranh mới kéo dài suốt ba năm nữa trong Kế hoạch ĐN-10, buộc Lê Quốc Túy phải đưa hết quân đã huấn luyện ở nước ngoài về nước qua Campuchia.

Trong thời kỳ này, đồng chí Bùi Thiện Ngộ, Thứ trưởng Bộ Nội vụ kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh nhân dân cùng đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm tiếp tục chỉ đạo đấu tranh với bọn gián điệp biệt kích Lê Quốc Túy.

Các đồng chí Nguyễn Khánh Toàn, Trần Tôn Thất, Thi Văn Tám và nhiều đồng chí khác đã trực tiếp tổ chức thực hiện các phương án nghiệp vụ câu nhử địch một cách sáng tạo và đã thành công. Ta đã hút hầu hết lực lượng gián điệp biệt kích trong hai khóa huấn luyện “Phù Đổng 1” và “Phù Đổng 2” sau này của Túy ở nước ngoài về.

Công tác đấu tranh trong giai đoạn này không kém phần gian khổ và khó khăn, nhất là trong điều kiện phải di chuyển trên những vùng rừng núi ở Battambang hay ở vùng biển đảo Phú Quốc. Các đơn vị và công an các địa phương tiếp tục phối hợp chặt chẽ trong Kế hoạch ĐN-10.

Đặc biệt, ta đã làm tốt công tác hợp tác quốc tế với Lực lượng An ninh Campuchia, đảm bảo thực hiện tốt Kế hoạch ĐN-10 trong hơn ba năm tiếp theo. Gần cuối năm 1987, ta hốt mẻ lưới cuối cùng, bắt các toán xâm nhập qua Campuchia về Kiên Giang.

Vào hạ tuần tháng 1/1988, Lê Quốc Túy đã chết tại Paris vì bệnh thận. Trước khi chết, Túy ủy quyền cho tên Hiển (tức K36, sau này đổi bí số là F2) xử lý toàn bộ công việc của “mặt trận”.

Ngày 30/1/1988, tên Hiển gửi điện cho các toán của ĐN-10 bức điện khá dài báo tin Lê Quốc Túy đã chết hồi 11h ngày 25/1/1988 và an táng vào ngày 6/2/1988 tại Paris (Pháp). Sau khi lo đám tang cho chồng, Nhan Thị Kim Chi, vợ của Lê Quốc Túy bay tới “Tổng hành dinh” để thu vén và thanh toán số tài sản còn lại của Túy. Tên Hiển đề nghị Nhan Thị Kim Chi thay chồng “lãnh đạo” “mặt trận” nhưng Chi từ chối và nhanh nhóng bay trở lại Pháp.

Như rắn mất đầu, không còn tiền bạc và cả tương lai, Hiển đã thấy rõ y phải làm gì. Ngày 4/3/1988, Hiển gửi bức điện cuối cùng cho các toán ở trong nước với nội dung sau:

“Đã đến lúc phải báo sự thiệt cho các bạn rõ là C4 mất không có để lại di chúc gì cả. Mặt trận ta không có người thay thế, hướng đi tới trong tương lai rất là xa vời. Chúng ta sẽ trở thành công cụ của nước ngoài. Vì thế, vì quyền lợi của tất cả chúng ta và sự sống còn của mình, chúng ta phải giải tán toàn bộ… Kể từ điện này sẽ chấm dứt mọi sự liên lạc. Chúng tôi ở ngoài này chưa biết số phận sẽ ra sao… Thôi cầu chúc các bạn gặp được nhiều sự may mắn để xây dựng lại một cuộc đời mới. Chào tạm biệt – VT5”.

Kế hoạch ĐN-10 kết thúc.

Thắng lợi của Kế hoạch CM-12 thật sự to lớn và trọn vẹn.

* * *

Mới đây, kỷ niệm 25 năm mở đầu Kế hoạch CM-12, Bộ Công an và Tổng cục An ninh cùng Công an Cà Mau tổ chức cuộc gặp mặt các nhân chứng chỉ đạo thực hiện Kế hoạch CM-12. Các đồng chí lãnh đạo Bộ Công an như Thượng tướng Nguyễn Khánh Toàn, Trung tướng Thi Văn Tám, Thiếu tướng Trương Hòa Bình, và lãnh đạo Tổng cục An ninh đã về dự.

Nhiều đồng chí cán bộ an ninh lão thành và cán bộ chiến sĩ an ninh từng tham gia Kế hoạch CM-12 bồi hồi, xúc động ôn lại những kỷ niệm khó quên. Không khí sôi động và những tình cảm đồng chí, đồng bào vẫn nồng ấm như những năm tháng chiến đấu gian khổ và hào hùng.

Phát biểu tại cuộc gặp mặt, Thượng tướng Nguyễn Khánh Toàn, Thứ trưởng thường trực Bộ Công an nhấn mạnh: Thắng lợi của Kế hoạch CM-12 rất to lớn, góp phần giữ vững an ninh của Tổ quốc.

Đây là thắng lợi chung của toàn Lực lượng Công an nhân dân, có sự hợp đồng chặt chẽ của Quân đội nhân dân và một số cơ quan khác. Thắng lợi của Kế hoạch CM-12 còn thể hiện tính nhân văn cao bởi đã đưa những người con của dân tộc lầm đường lạc lối trở về với con đường sáng (Tiếp theo và hết)

BÍ MẬT CỦA MỘT CHIẾN DỊCH PHẢN GIÁN (VIII)

Nguyễn Khắc Đức

Trong một cuộc họp Ban chỉ đạo Kế hoạch CM-12, Bộ trưởng Phạm Hùng chỉ thị: Cần phải nâng nhiệm vụ của CM-12 lên tầm cao mới trước sự phát triển của tình hình. Chủ trương và cũng là nguyên tắc đối với Kế hoạch CM-12 trong giai đoạn mới là duy trì, sử dụng Kế hoạch CM-12, tạo cho địch tin CM-12 tồn tại, nhưng tuyệt đối không cho địch phát triển, hành động theo ý đồ của chúng.

Vũ khí thu được của Lê Quốc Tuý và  Mai Văn Hạnh trong  Chuyên án CM-12

Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm triển khai ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Bộ và nhắc một số vấn đề cần chú ý khi tiến hành đấu tranh với các đầu mối ở nội địa là: Kế hoạch CM-12 đến nay trở thành kế hoạch có tính chất quốc gia và liên quan tới quan hệ đối ngoại, do đó mọi việc làm phải chú ý bảo vệ, giữ gìn, thúc đẩy Kế hoạch CM-12 phát triển, không được làm việc gì lộ bí mật.

Thực hiện kế hoạch thông qua CM-12 và ĐN-10 ngăn chặn ý đồ phá hoại của địch, ta đã cho “báo cáo” với trung tâm là trong thời gian này tình hình trong nước rất khó khăn và lồng vào đó tin tức nhằm vô hiệu hóa một số đối tượng xâm nhập mà ta đã bắt giữ. Chẳng hạn, ĐN-10 báo cáo: “Trình Chủ tịch thêm tin cẩn. Từ nay đến tết, Cộng sản tăng cường hoạt động mạnh để bảo vệ mục tiêu quan trọng, mở các cuộc truy lùng sâu các bìa rừng, xét hỏi và kiểm tra gắt gao giấy đi đường, xét nhà; nhiều trạm kiểm soát kinh tế, bắt dân vào hợp tác. Cho đến nay toán vẫn chưa liên lạc được với tổ HK168 và HK143. Từ khi HK168 cưới một gái điếm thì càng trốn tránh nhiệm vụ. Đại đội HK132 đã bám và sống nhờ vào sự che chở và tiếp tế của dân chúng”.

Ban chỉ đạo thông qua “Tổ đặc biệt” ở Minh Hải gửi một bức điện có nội dung đề đạt với “chủ tịch” Lê Quốc Túy về việc thực hiện kế hoạch “Khởi động toàn quốc vào tháng 6/1983”. Bức điện viết: “Gần đây, qua một số chỉ thị rõ ràng của Chủ tịch, Tổ đặc biệt đã bàn thảo với B4 (bí số Túy đặt cho Huỳnh Vĩnh Sanh – TG) + các toán và rút ra hai yếu tố cần cho mốc khởi động toàn quốc vào tháng 6/1983 như sau:

1- Nếu tổ phối hợp chiến lược theo chủ trương của Mặt trận thì Đông Dương là một chiến tuyến đồng nhất về nhiều phương diện. Nếu tháng 6/1983 ta khởi động toàn miền Nam, kể cả Campuchia thì chúng tôi thấy quá vội vàng và đơn lẻ chăng? Vì thiếu sự phối hợp của miền Bắc và Lào thì Cộng sản vẫn còn nơi hậu thuẫn làm bàn đạp đàn áp chúng ta.

2- Phải được sự đồng lòng hưởng ứng của toàn dân lẫn các đảng phái, tôn giáo. Theo Tổ + B4, việc thu phục dân chúng và những phe nhóm trong nước phải chuẩn bị một cách chu đáo, kiên nhẫn vì không chỉ Mặt trận mình, các nhóm chống Cộng mà thôi… Có một số lực lượng trong nước chống Cộng có thành tích và sức mạnh lớn nhất nhưng chưa nghe Chủ tịch đề cập đến. Ngoài ra, việc kết hợp với các nhóm bên ngoài sẽ giúp thêm trong nước hoàn tất nhiệm vụ tạo một ảnh hưởng bao quát trong nhiều tầng lớp toàn quốc để khi hành động sẽ gây tác dụng rộng lớn hơn. Nhưng thời gian qua chỉ thấy Chủ tịch nhắc đến nhóm ông Quang + tướng Là mà thôi. Chúng tôi mong được biết ý kiến Chủ tịch trong vấn đề này”.

Đây là một bức điện mang nhiều ý nghĩa và nhằm vào hai mục tiêu chủ yếu là ngăn chặn ý đồ chuyển giai đoạn 2 của địch và gợi cho Lê Quốc Túy bộc lộ thêm các đầu mối của chúng ở trong nước và cả ở nước ngoài mà ta chưa biết. Tất nhiên là lời văn phải phù hợp với giọng điệu của lực lượng nội địa và đề cao “chủ tịch”.

Đúng như phán đoán và tính toán của ta, bức điện đã gợi trúng các vấn đề và Lê Quốc Túy đã “thông báo” cho “Tổ đặc biệt” những tin tức quan trọng mà ta đang cần nắm thêm. Trong bức điện trả lời sau đó, Lê Quốc Túy cho biết:  “Hiện nay Nguyễn Văn Thiệu đang làm bình phong cho Hoàng Cơ Minh, Nguyễn Văn Là, Nguyễn Ngọc Huy và với sự hậu thuẫn của nước ngoài sắp sửa thành lập chính phủ lưu vong. Bọn Hoàng Cơ Minh đang tìm đường về nước nhưng bị Thái chặn lại. Bọn Thiệu đã công khai đả kích mặt trận mình vì mình từ chối không làm con mồi cho chúng ở trong nước.

Việc đoàn kết toàn dân là mục đích của mình nhưng đừng quên là mình không chấp nhận những thành phần của chế độ cũ. Đường lối của Mặt trận là đánh đổ Cộng sản, tiêu diệt chế độ phong kiến và làm lại nước Việt Nam với những người mới.

Ở Mỹ cộng đồng người Việt và nhóm Công giáo theo cố Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày trước đã chuẩn bị sẵn sàng ủng hộ Mặt trận mình chống lại bọn Thiệu. Ngoài ra những sự phối hợp của mình đã có ở trong nước, nếu có đoàn thể nào thì mình sẵn sàng thu nạp họ… Tuần tới C4 và C5 sang đàm đạo với các nước lớn và trong tháng 2 tới sẽ có hẹn với Phó tổng thống Hoa Kỳ tại Hoa Thịnh Đốn…”.

Nội dung bức điện của Lê Quốc Túy đã nói lên được nhiều điều quan trọng mang tính chiến lược mà ta đang cần tìm hiểu về âm mưu của các thế lực thù địch cũng như của bọn Túy – Hạnh.

Trên cơ sở các nguồn tin và tài liệu cũng như diễn biến tình hình, Ban chỉ đạo Kế hoạch CM-12 dự kiến hoạt động của địch trong năm 1983 và năm 1984. Quán triệt chủ trương và phương hướng lãnh đạo Bộ đã chỉ thị, Ban chỉ đạo Kế hoạch CM-12 nhanh chóng triển khai công tác chuẩn bị để đối phó với chiến dịch xâm nhập mới của địch. Đồng thời, Tổ An ninh K4/2 và công an các tỉnh phía Nam cũng tích cực thực hiện kế hoạch trinh sát và đấu tranh với các mảng nội địa của địch.

Trung tâm địch thông báo cho “Tổ đặc biệt” là “Chiến dịch mới” sẽ có tất cả 5 chuyến “chở toàn than và củi”, ý chúng là có cả vũ khí và quân “Tổng hành dinh” cho biết cứ mỗi chuyến sẽ có 10 K (tức là gián điệp biệt kích) vào, khi Mai Văn Hạnh “hành quân” xong sẽ để lại cho Tổ đặc biệt 2 “cá” tàu) và số thủy thủ luôn.

Ta lấy lý do là lúc đầu trung tâm nói chiến dịch bắt đầu từ giữa tháng nhưng nay thay đổi vào cuối tháng nên gây khó khăn cho Tổ đặc biệt vì phải thông báo lại cho thủy thủ và các toán khác. Đồng thời, ta yêu cầu trung tâm địch phải cho biết cụ thể hơn về kế hoạch xâm nhập trong thời gian tới.

Lê Quốc Túy yêu cầu: “NKA1 + K64 cần cho C4 biết tới cuối năm có thể tuyển được 1.000 NK không? K27 phải nghiên cứu bành trướng hệ thống phá hoại, bằng mọi cách phải thực hiện được một vài phá hoại lớn ở Sài Gòn. Vì tình hình chính trị và ngoại giao bắt mình phải thực hiện việc này trong năm nay”. Đồng thời, Túy cũng gửi điện ĐN-10 thúc giục nghiên cứu thực hiện kế hoạch vận chuyển vũ khí, tuyển thêm quân và phá hoại

Trong năm 1983, chúng có kế hoạch tổ chức 5 chuyến xâm nhập để đưa thêm vũ khí, phương tiện và số quân còn lại. Tương kế tựu kế, trong năm 1983, ta cho tiến hành tiếp nhận chiến dịch vận chuyển quân, vũ khí, hàng và tổ chức tiếp nhận theo kế hoạch.

Đối với nội địa chúng dự kiến sắp xếp như sau: Vùng ven biển: giao cho K64 phụ trách tổ chức kiểm soát. Khi Mai Văn Hạnh vào nội địa sẽ tổ chức phương án cụ thể để khống chế và kiểm soát chặt chẽ vùng biển ngăn ngừa các nhóm khác lợi dụng đưa người của chúng vào nội địa. Xây dựng thêm căn cứ ven biển để phục vụ cho công tác hậu cần, huấn luyện và mở rộng tầm hoạt động, trước mắt củng cố các cơ sở ở Minh Hải và mở thêm địa bàn hoạt động mới ở Kiên Giang.

Vùng chiến khu A: giao cho NKA1 (tức đồng chí Trần Phương Thế) phụ trách, có nhiệm vụ tổ chức lực lượng khoảng 1.000 người rải rác đều các tỉnh, tăng cường phát triển lực lượng tình báo, hệ thống kinh tài… Dùng hàng “đặc biệt”  mua chuộc cán bộ để phát triển lực lượng trong nội bộ Cộng sản, lực lượng này là đội quân hợp pháp có nhiệm vụ nằm tại làng xã. Khi có điều kiện tổ chức đánh chiếm, cướp chính quyền ở các tỉnh miền Tây.

Vùng Vĩnh Bình giao cho K18 phụ trách, có nhiệm vụ xây dựng vùng Vĩnh Long, Trà Vinh thành địa bàn hoạt động quân sự. Chúng dự kiến sẽ bổ sung cho vùng này thêm 20 tên nữa, bổ sung HK24 làm phụ tá cho K18. Lê Quốc Túy có ý đồ lợi dụng bọn phản động trong dân tộc Khmer ở Trà Vinh để xây dựng căn cứ.

Mở thêm quân khu C: Đưa K94 cùng 5 cán bộ thành về vùng Rạch Giá phát triển lực lượng mở quân khu C gồm các tỉnh Rạch Giá, Hà Tiên, Long Xuyên, Châu Đốc và Sa Đéc. Chuẩn bị mở thêm một bãi đỗ mới từ cầu số 2 đến Hòn Đất, Rạch Giá dùng để tiếp nhận vũ khí vì ở đây thuận lợi hơn, trong tương lai có thể thay thế bãi đỗ ở Minh Hải.

“Quân khu” Sài Gòn – Gia Định – Chợ Lớn có nhiệm vụ tăng cường tổ chức tình báo và hoạt động phá hoại trước mắt tiến hành phá hoại các mục tiêu quan trọng như Nhà đèn Chợ Quán, Nhà hát Thành phố… Chuẩn bị kế hoạch móc nối các lực lượng trong nội địa mà chúng sẽ giới thiệu trong các chuyến xâm nhập tới.

Vùng Cao Đài và quân khu B giao cho HK122 phụ trách, tăng cường phát triển lực lượng, móc nối và trang bị cho lực lượng vũ trang của Võ Văn Nhơn chuẩn bị điện đài làm đầu mối mới để liên lạc trực tiếp với trung tâm.

Vùng miền Trung: các cơ sở miền Trung giao cho H82 nghiên cứu xây dựng, phát triển thêm lực lượng. Đưa hàng “đặc biệt” mới và cũ ra miền Trung tổ chức hệ thống kinh tài, trang bị vũ khí cho lực lượng vũ trang cánh miền Trung.

Kế hoạch nói trên của địch đã nằm trong dự kiến  của ta và chúng ta đã có kế hoạch đối phó cụ thể.

Ban chỉ đạo Kế hoạch CM-12 yêu cầu trung tâm địch chi viện thêm tiền để giải quyết một số khó khăn của “Tổ đặc biệt”. Thực ra, mục đích chính là gián tiếp nêu khó khăn để ngăn chặn ý đồ chuyển giai đoạn của địch, đồng thời làm cho chúng thấy nhu cầu về tiền của lực lượng nội địa là hợp lý.

Trong thời gian này, qua một số gián điệp biệt kích mới xâm nhập ta biết được S, tức K14 rất bất mãn với Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh. Túy nghi ngờ K14  đang tìm đường để chuyển sang gia nhập tổ chức phản động lưu vong khác. Lê Quốc Túy muốn trừ khử K14.

Theo số gián điệp biệt kích xâm nhập khai báo, thì trong số những tên ban đầu mà Túy tuyển ở Thái Lan có một cô gái. Đó là T.K.H. Thị là người Khmer ở Trà Vinh. Vốn là một giáo viên tiểu học, nhưng H. lại muốn có một cuộc sống giàu sang ở nước ngoài nên đã vượt biên. Nhưng H. cũng không được đi định cư ở nước thứ ba vì không có người thân bảo lãnh. Khi S. vào trại của HCR tuyển người cho Túy, S. đã lôi kéo được H. tham gia tổ chức phản cách mạng này. Lúc đầu, H. được phân công làm y tá, sau đó H. lọt vào con mắt “háo ngọt” của “Chủ tịch” Lê Quốc Túy. Vì vậy khi S. đưa H. về, Túy sử dụng thị như là thư ký đồng thời là người tình của mình ở “Tổng hành dinh”. Trong khi đó, H. cũng lại có tính lăng nhăng, cùng một lúc quan hệ trăng gió với S. và một số tên khác ở “Tổng hành dinh” như một ả điếm. Túy biết chuyện này và đã điều S. đến căn cứ huấn luyện làm “chỉ huy trưởng” “Mật cứ Tự Thắng”. Khi được mật báo là S. có ý định tìm cách nhảy sang tổ chức của Hoàng Cơ Minh, Lê Quốc Túy quyết định sẽ trừ khử anh ta.

Bộ trưởng Phạm Hùng có chỉ thị hướng xử lý đối với trường hợp K14 khi vào Việt Nam là bắt giữ, cho anh ta biết ý đồ của Lê Quốc Túy muốn giết nhưng ta đã cứu để tính toán kế hoạch lâu dài và cũng thể hiện chính sách nhân đạo của cách mạng.

Đúng 20 giờ ngày 23/3/1983, 2 tàu địch xâm nhập vào Vàm Đồng cùng thuộc tỉnh Minh Hải, ta cho 2 tàu ra tiếp nhận. Trong chuyến này có 10.788kg vũ khí, số hàng hóa và 4.000 đôla tiền mặt cùng 3 tên gián điệp biệt kích trong đó có K14 và 2 tên khác là K104 và HK201. Ta tổ chức tiếp nhận vũ khí và tiền, đồng thời bố trí kế hoạch bắt giữ ba tên gián điệp biệt kích xâm nhập, đặc biệt là đối với S.

Đúng như ta đã biết qua các nguồn tin, trong chuyến xâm nhập này của địch, Lê Quốc Túy đã có gửi một chỉ thị đặc biệt cho K64 là thực hiện lệnh tử hình K14. Nhưng ta thực hiện kế hoạch bắt giữ K14 và thực hiện theo sự chỉ đạo của đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng. Cách xử lý của ta đối với S. thể hiện tính nhân đạo cao cả của cách mạng.(còn tiếp)

BÍ MẬT CỦA MỘT CHIẾN DỊCH PHẢN GIÁN (VII)

Nguyễn Khắc Đức

Hai tên chỉ huy ở trong nội địa của địch: Huỳnh Vĩnh Sanh và Hồ Thái Bạch

Lợi dụng Lê Quốc Túy đã cho người móc nối liên lạc với Hồ Tấn Khoa, người của ta đóng vai liên lạc của Túy và đã thực hiện thành công việc “móc nối” với Hồ Tấn Khoa. Chính vì vậy, Hồ Tấn Khoa đã bộc lộ lực lượng bí mật mà ông ta cho tổ chức thành lập để chống phá cách mạng.

Cuối tháng 12/1981, Bộ trưởng Phạm Hùng gọi Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm từ miền Nam ra Hà Nội để họp về Kế hoạch CM-12 trong hai ngày 29 và 30. Cùng dự cuộc họp quan trọng này có đồng chí Thứ trưởng Trần Đông, phụ trách công tác an ninh.

Tại cuộc họp, Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm báo cáo tình hình diễn tiến của Kế hoạch CM-12 gồm các vấn đề đối phó với hoạt động xâm nhập mới của địch, hoạt động của các tổ chức địch trong nội địa có liên quan đến tổ chức của Lê Quốc Túy – Mai Văn Hạnh, và dự kiến một số tình hình tiếp theo. Thứ trưởng Trần Đông nêu một số ý kiến về chủ trương đối phó với địch, nhất là đối với hai tên đầu sỏ này.

Đặc biệt, các đồng chí lãnh đạo Bộ Nội vụ rất chú trọng đến việc bóc gỡ các tổ chức phản cách mạng ở trong nước. Về chủ trương này, Bộ trưởng Phạm Hùng nhắc lại ý mà ông đã báo cáo với Bộ Chính trị và được Bộ Chính trị nhất trí.

Bộ Chính trị nhận định rằng, các thế lực đế quốc và phản động quốc tế câu kết với nhau chặt chẽ và có ý đồ chống phá cách mạng nước ta. Tuy nhiên, họ cũng thấy “lấy lại” Việt Nam là khó nên cố tình gây rối loạn, xáo động ở Đông Dương, âm mưu lâu dài của họ vẫn là tổ chức bạo loạn, lật đổ bằng hoạt động gián điệp biệt kích và kết hợp với bọn phản động ở trong nước. Đây là cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch đối với cách mạng Việt Nam thời bấy giờ.

Bộ trưởng Phạm Hùng nhấn mạnh: “Muốn giải quyết tốt Kế hoạch, trước hết phải đánh giá tình hình cho đúng rồi mới quyết định. Phải quan sát các đầu mối khác, giải quyết các ẩn số đặt ra và phải làm sao cho “nó” thấy là chưa đến lúc mở chiến dịch hoạt động. Tiếp tục đấu tranh có hiệu quả chống địch xâm nhập, chống địch phá hoại kinh tế. Đặc biệt phải sử dụng CM-12 với tần suất tối đa nhằm biết được âm mưu, tổ chức, chủ trương hoạt động cụ thể của địch. Phải “cắt” cho được những tổ chức có dính líu đến CM-12. “Nó” muốn làm cho ta rối thì ta cũng phải cho “nó” thấy là không phải dễ…

Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ, Tổ An ninh phối hợp với công an các tỉnh tổ chức đấu tranh bóc gỡ bọn phản động ở trong nội địa có liên quan đến Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh. Sau khi bắt Lê Quốc Quân, ta phá án TQ-42 một cách có hiệu quả. Đóng góp rất lớn vào kế hoạch này là Công an TP HCM.

Nắm được kế hoạch của địch, ta chủ động phá tổ chức phản động “Mặt trận quốc gia Việt Nam” do Lê Quốc Quân cầm đầu (Chuyên án TQ42). Thông qua Huỳnh Vĩnh Sanh, tác động y báo cáo với trung tâm địch ở nước ngoài để chúng tự thấy do tổ chức của Quân bị phá vỡ nên không thể tiến hành sử dụng “hàng đặc biệt” cũng như kế hoạch đã định.

Kết quả là Sanh đã nhân danh “Chủ tịch quốc nội” yêu cầu và trung tâm địch đã chính thức ra lệnh tạm hoãn việc sử dụng “hàng đặc biệt”, tạm hoãn việc phá hoại vào cuối năm 1982. Huỳnh Vĩnh Sanh đã ra lệnh cho bọn bên dưới “án binh bất động” để bảo toàn lực lượng. Vì vậy ta chủ động ngăn chặn các hoạt động phá hoại của địch, bảo vệ được an ninh chính trị ở TP HCM và các tỉnh miền Nam.

* * *

Trong số các chuyên án ở trong nước có liên quan đến CM-12 có hai chuyên án lớn mang bí số TK-90 và H-82. Chuyên án TK-90 đấu tranh với bọn phản động lợi dụng đạo Cao Đài mà chúng có tổ chức cái gọi là “Thiên khai huỳnh đạo”. Còn Chuyên án H-82 chính là tổ chức trong nội địa do Huỳnh Vĩnh Sanh cầm đầu.

Trong các đầu mối của Lê Quốc Túy xây dựng ở trong nước, Hồ Tấn Khoa, Bảo đạo Cao đài Tây Ninh có vai trò rất quan trọng. Hồ Tấn Khoa, sinh năm 1898, quê quán ở xã Bình Lập, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Khoa được thực dân Pháp tin dùng và cho làm nhiều chức tước.

Năm 1939 được thăng phẩm Đốc phủ sứ, một chức ngang với tỉnh trưởng sau này. Năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, đưa Hồ Tấn Khoa làm tỉnh trưởng Châu Đốc. Cách mạng Tháng Tám thành công, Hồ Tấn Khoa vẫn được cách mạng sử dụng và bố trí làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến sau đó là Chủ tịch Ủy ban hành chánh tại Châu Đốc.

Đến ngày kháng chiến bùng nổ, Hồ Tấn Khoa không tham gia mà lên Sài Gòn, chạy vào Tòa thánh Cao Đài ở Tây Ninh và gia nhập đạo này. Đến năm 1954 y được phong chức Bảo đạo, vì vậy thường được gọi là Hồ Bảo đạo.

Năm 1956 Bảo Thế bị anh em Diệm – Nhu đàn áp, Hồ Tấn Khoa theo Hộ pháp Phạm Công Tắc sang Phnôm Pênh sống lưu vong ở đó với tư cách là “tị nạn chính trị”. Sau khi Phạm Công Tắc chết, Hồ Tấn Khoa thay Phạm Công Tắc điều hành Hội thánh Cao Đài ở Campuchia.

Năm 1961, Quốc trưởng Campuchia Norodom Sihanouk tổ chức một hội nghị quốc tế hòa bình ở Đông Dương. Lê Quốc Túy được Trần Văn Hữu cử làm đại diện về tìm gặp Hồ Tấn Khoa để bàn việc tổ chức tiếp đón nhóm Trần Văn Hữu và nâng uy tín của Trần Văn Hữu tại hội nghị này.

Sau hội nghị, Trần Văn Hữu về Pháp, còn Lê Quốc Túy ở lại Phnôm Pênh khoảng một tháng và thường xuyên đến gặp Hồ Tấn Khoa. Trước khi Lê Quốc Túy về Pháp thì Túy và Hồ Tấn Khoa có hứa hẹn với nhau là sau này sẽ cùng nhau hoạt động nếu có cơ hội. Sau đó, thỉnh thoảng Lê Quốc Túy gửi bưu thiếp cho Hồ Tấn Khoa để duy trì liên lạc.

Năm 1970, Lon Nol được Mỹ hậu thuẫn tổ chức cuộc đảo chính Norodom Sihanouk. Việt kiều ở Campuchia bị tàn sát đẫm máu. Hồ Tấn Khoa được Mỹ dàn xếp với Nguyễn Văn Thiệu cho về Sài Gòn.

Khi Hồ Tấn Khoa về Sài Gòn buổi chiều thì sáng hôm sau một viên chức hàng đầu của Đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn đã đến “thăm” ông ta. Sau này, Hồ Tấn Khoa khai rằng, người Mỹ đó có nói với ông ta y là bạn của Lê Quốc Túy.

Trong bối cảnh chính quyền Sài Gòn sắp sụp đổ hoàn toàn, ngày 27/4/1975, tại nhà Đỗ Cao Minh, Đại tá quân đội Sài Gòn, con rể của Hồ Tấn Khoa đã diễn ra một cuộc gặp được dàn xếp  từ trước. Viên Bí thư thứ nhất Sứ quán Mỹ và Lê Quốc Túy đến gặp Hồ Tấn Khoa. Túy và người Mỹ nọ hỏi Hồ Tấn Khoa có muốn xuất ngoại không thì sẽ thu xếp cho đi. Nhưng Hồ Tấn Khoa nói y đã già rồi nên ở lại.

Túy đề nghị Hồ Tấn Khoa ở lại trong nước tổ chức lực lượng Cao Đài phá hoại chính quyền cách mạng. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, mặc dù được chính quyền cách mạng tôn trọng, nhưng Hồ Tấn Khoa vẫn tiếp tục thực hiện ý đồ chống phá cách mạng.

Y đã chỉ đạo cho tay chân các tổ chức phản động có liên quan đến đạo Cao Đài như Truyền trạng Võ Văn Nhơn và Hồ Vũ Khanh lập “Hội đồng hòa giải quốc tế”, còn Chí Mỹ với Bạch Hùng lập tổ chức “Thiên khai Huỳnh đạo”…

Lãnh đạo Bộ Nội vụ và Tổ An ninh K4/2 giao cho đồng chí Hồ Khiết tổ chức thực hiện kế hoạch đấu tranh với mảng Hồ Tấn Khoa. Đồng chí Hồ Khiết có công lớn trong việc phối hợp với Công an Tây Ninh tổ chức thực hiện kế hoạch do lãnh đạo Bộ Nội vụ giao. Đồng chí Hồ Khiết, nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị 1, là một cán bộ an ninh lão thành, được đào tạo kỹ về công tác phản gián và là người có không ít kinh nghiệm trong công tác an ninh.

Lợi dụng Lê Quốc Túy đã cho người móc nối liên lạc với Hồ Tấn Khoa, người của ta đóng vai liên lạc của Túy và đã thực hiện thành công việc “móc nối” với Hồ Tấn Khoa. Chính vì vậy, Hồ Tấn Khoa đã bộc lộ lực lượng bí mật mà ông ta cho tổ chức thành lập để chống phá cách mạng.

Đặc biệt, Hồ Tấn Khoa đã giới thiệu hai tổ chức vũ trang nòng cốt của lực lượng phản động lợi dụng đạo Cao Đài để yêu cầu Lê Quốc Túy cung cấp vũ khí, phương tiện hoạt động. Đó là tổ chức “Thiên khai Huỳnh đạo” do tên Bạch Hùng cầm đầu, lập căn cứ trên núi Bà Đen và xây dựng lực lượng vũ trang bí mật ở nhiều tỉnh Nam Bộ có tín đồ Cao Đài.

Một tổ chức khác là  “Hội đồng hòa giải quốc tế” để hỗ trợ cho hoạt động của “Thiên khai Huỳnh đạo” do Truyền trạng Võ Văn Nhơn và Hồ Vũ Khanh lập ra. Sau khi bắt được liên lạc với Lê Quốc Túy, Hồ Tấn Khoa cùng đồng bọn có âm mưu gây bạo loạn và lật đổ chính quyền cách mạng vào tết Quý Hợi – 1983. Và dần dần qua các lần gặp gỡ của “đặc phái viên”, ta đã nắm được hệ thống tổ chức và lực lượng vũ trang ngầm của chúng ở 11 tỉnh Nam Bộ. Âm mưu của chúng khi được trang bị vũ khí đầy đủ sẽ đứng lên cướp chính quyền.

Để thực hiện quyết định trên, ngày 17/11/1982, đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm và đồng chí Lê Tiền lên Tây Ninh họp với lãnh đạo Tỉnh ủy và Công an Tây Ninh bàn kế hoạch đấu tranh với bọn phản động lợi dụng đạo Cao Đài.

Dự họp có đồng chí Hai Bình, Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Ngô Quang Nghĩa, Giám đốc Công an tỉnh. Sau khi nhận định, đánh giá tình hình, các đồng chí đã đề ra kế hoạch phá án đối với các tổ chức phản động lợi dụng đạo Cao Đài. Kế hoạch này cũng được tính toán rất kỹ, không để lộ bí mật và ảnh hưởng tới Kế hoạch CM-12.

Thực hiện kế hoạch tấn công hai bước, trong thời gian đầu năm 1983, ta tổ chức phá các vụ án đấu tranh với bọn phản cách mạng lợi dụng đạo Cao Đài. Kết quả thực hiện bước 1: ta đã bắt 714 tên và gần 100 tên tự thú, đầu thú. Qua phân loại có 41 tên cấp trung ương, 122 tên cấp tỉnh, 171 tên cấp huyện, số còn lại là tay sai cốt cán. Bước 2 được thực hiện trong 7 địa phương (Tây Ninh, An Giang, Tiền Giang, Hậu Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Minh Hải).

Phát huy thắng lợi về việc phá tổ chức phản động lợi dụng đạo Cao Đài Tây Ninh và theo kinh nghiệm dùng kết quả của việc phá TQ42, ta đã tác động “Tổng hành dinh” có hiệu quả. Lần này Ban chỉ đạo Kế hoạch CM-12 quyết định dùng việc phá tổ chức phản động lợi dụng đạo Cao Đài Tây Ninh để tác động đẩy lùi ý đồ hành động của bọn Túy – Hạnh, trong đó có việc làm cho chúng từ bỏ ý định đưa quân về bằng đường bộ.

* * *

Trong các mạng lưới nội địa của bọn Túy – Hạnh, Huỳnh Vĩnh Sanh đóng vai trò rất quan trọng. Huỳnh Vĩnh Sanh, nguyên là đại úy quan thuế thời ngụy, bạn thân của Mai Văn Hạnh. Từ trước và sau ngày 30/4/1975, Sanh đã gặp Mai Văn Hạnh và Lê Quốc Túy bàn bạc kế hoạch phối hợp hành động chống phá cách mạng.

Sau giải phóng, Sanh được bọn địch bố trí ở lại miền Nam hoạt động. Y bí mật móc nối, tập hợp lực lượng trong giới trí thức, công chức cũ, ngụy quân ngụy quyền lập tổ chức để chống phá cách mạng. Nhưng bề ngoài y lại khéo léo che đậy nên được cử làm tổ trưởng dân phố.

Thực hiện chỉ đạo của Túy, Hạnh, Huỳnh Vĩnh Sanh còn nhằm vào số cán bộ chính quyền, trí thức đang nắm giữ các chức vụ để móc nối, âm mưu xây dựng tổ chức của Sanh thành chỗ dựa chủ yếu về chính trị khi bọn Túy, Hạnh cướp được chính quyền. Qua công tác điều tra, ta còn phát hiện Sanh đang cầm đầu một tổ chức phản cách mạng tại TP HCM và có quan hệ chặt chẽ với bọn phản cách mạng ở miền Trung.

Vì vậy, ta đã xác lập chuyên án H82 trong Kế hoạch CM-12. Trong các chuyến bí mật về nước (tháng 4 và 6/1982), Mai Văn Hạnh và  Lê Quốc Túy đều gọi Huỳnh Vĩnh Sanh xuống Minh Hải bàn bạc kế hoạch hoạt động, đồng thời giao cho y chuẩn bị nhân sự “Chính phủ lâm thời” khi lật đổ chính quyền cách mạng, lập chế độ mới của chúng.

Tháng 7/1982, sau khi xác định được tính chất, vị trí quan trọng của Huỳnh Vĩnh Sanh và tổ chức của y trong kế hoạch CM-12, lãnh đạo Bộ Nội vụ chủ trương: Thông qua Huỳnh Vĩnh Sanh để tìm hiểu và làm rõ hơn âm mưu ý đồ của địch ở trong nước, tiếp tục phát hiện các đầu mối lẻ và các lực lượng của Huỳnh Vĩnh Sanh trong nội địa, khống chế, tác động không cho chúng hoạt động phá hoại và phát triển lực lượng vũ trang.

Thực hiện chủ trương của Bộ, ban chuyên án vạch kế hoạch đấu tranh cụ thể và huy động một số cán bộ của Công an TP HCM như các đồng chí Hai Sơn, Trương Hòa Bình (hiện là UVT.Ư Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an), Nguyễn Chí Dũng (hiện là Thiếu tướng, Giám đốc Công an TPHCM), Nguyễn Chí Thành, Lê Thanh Bình (hiện đều là Đại tá, Phó Giám đốc Công an TP HCM)… tham gia trực tiếp đấu tranh với chuyên án này. Bộ phận đấu tranh Chuyên án PK07 có liên quan trực tiếp tới Huỳnh Vĩnh Sanh ở Phú Khánh và các tỉnh miền Trung cũng được triển khai.

Để chủ động ngăn chặn các hoạt động manh động của địch, Ban chỉ đạo Kế hoạch CM-12 chủ trương phá toàn bộ bộ Chuyên án PK07 ngay sau khi phá toàn bộ Chuyên án D781 tại Đồng Nai. Thực hiện kế hoạch phá án, ngày 20/5/1983, ta đồng loạt bắt 8 tên trong cánh của Nguyễn Chuyên ở địa bàn Phú Khánh và các đối tượng ở Nghĩa Bình, Bình Trị Thiên, Quảng Nam – Đà Nẵng.

Ta khéo léo làm cho chúng hiểu rằng nguyên nhân “đổ bể” là do đồng bọn của chúng khai báo dây chuyền từ Đồng Nai đến TP HCM ra các tỉnh miền Trung. Sau này, thông qua Kế hoạch CM-12, ta đã bóc gỡ và vô hiệu hóa 10 tổ chức phản cách mạng trong nước có liên quan đến tổ chức của Lê Quốc Túy – Mai Văn Hạnh ở miền Nam. Làm thất bại âm mưu lớn của thế lực thù địch sử dụng bọn phản động lưu vong, bọn phản động trong nội địa, với ý đồ ngoài đánh vào, trong nổi dậy.

Với kết quả đấu tranh một cách có hiệu quả đối với các mảng nội địa của địch, ta đã ngăn chặn được ý đồ chuyển giai đoạn của địch, đồng thời vẫn giữ được Kế hoạch CM-12 theo chủ trương chiến lược đã đề ra. (còn tiếp)

BÍ MẬT CỦA MỘT CHIẾN DỊCH PHẢN GIÁN (VI)

Nguyễn Khắc Đức

Trong một cuộc hỏi cung, vốn rất thèm thuốc lá mà Đ lại quen hút thuốc lá ngon, nên khi đồng chí Ba Gừng, cán bộ của Công an Minh Hải đưa gói thuốc lá cho Đ hút, còn ông lại lấy trong túi một gói thuốc rê ra quấn hút, Đ rất cảm động. Từ đó, anh không còn mặc cảm và tự hại mình nữa. Đ chấp nhận khai báo và tự nguyện làm việc cho ta.

Để thực hiện mục tiêu đó, kế hoạch của chúng được chia ra làm ba giai đoạn:

Giai đoạn 1: Từ năm 1977 đến năm 1980: Nhiệm vụ của giai đoạn này là móc nối tìm quan thầy để tranh thủ sự giúp đỡ, viện trợ về tài chính, phương tiện, vũ khí, xây dựng căn cứ, tuyển mộ và tổ chức huấn luyện để xây dựng và phát triển lực lượng. Đồng thời tìm cách móc nối với các tổ chức, đảng phái phản động trong nước để bàn kế hoạch phối hợp hành động.

Giai đoạn 2: Từ năm 1980 đến năm 1984. Đây là giai đoạn chủ yếu nhằm tổ chức xâm nhập người, vũ khí và phương tiện về trong nước, xây dựng căn cứ, phát triển lực lượng trong nước, tiến hành các hoạt động phá hoại, tổ chức chiến tranh du kích.

Giai đoạn 3: Bắt đầu từ năm 1985. Nhiệm vụ của giai đoạn này là tiến hành các hoạt động vũ trang, cướp chính quyền ở từng vùng, chủ yếu là các vùng núi, vùng biển. với phương châm lấy “nông thôn bao vây thành thị” kích động quần chúng nổi dậy, tổ chức thành lập chính phủ, dùng đài phát thanh tranh thủ dư luận quốc tế và kêu gọi các nước giúp đỡ… để tiến tới chiến tranh giành chính quyền trong cả nước.

Trên thực tế Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh cùng một số tay chân đắc lực đã phần nào thực hiện được giai đoạn 1. Túy đã “móc” liên lạc với các viên chức tình báo một vài nước lớn và nhận được sự hậu thuẫn nhất định. Với sự trợ giúp của lực lượng tình báo quân đội  một nước trong khu vực Đông Nam Á Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh đã lập được “Tổng hành dinh” ở thủ đô và xây dựng một căn cứ huấn luyện tại nước này. Trong các năm 1981, 1982 đồng thời với việc huấn luyện, chúng ráo riết thực hiện các chuyến đưa người xâm nhập về nước để xây dựng cơ sở, căn cứ.

Trong kế hoạch của chúng, dựa vào sự thỏa thuận từ năm 1975 với các tổ chức, đảng phái phản động lợi dụng đạo Cao Đài, Hòa Hảo… Lê Quốc Túy có ý đồ tổ chức đưa người và vũ khí về trang bị cho những tổ chức đó. Kế hoạch của Túy, triển khai thành lập 3 “quân khu”: “quân khu” A (miền Tây), “quân khu B” (miền Đông), “quân khu” Sài Gòn – Gia Định và một “Liên tỉnh xứ”, đồng thời phát triển các tổ chức phản cách mạng, nắm nhân sĩ, chuẩn bị lực lượng chính trị, hình thành bộ máy chính quyền, chờ thời cơ nổi dậy cướp chính quyền một số nơi, tiến tới giành chính quyền trong cả nước.

“Tương kế tựu kế”, trên cơ sở kế hoạch của địch,  ta đã thành lập “quân khu A” với căn cứ ở Minh Hải và “quân khu Sài Gòn – Gia Định”. Còn việc triển khai thành lập “quân khu B” được “triển khai” sau chuyến xâm nhập 9/9/1981 của địch. Tất nhiên, cũng như “quân khu A”, “quân khu B” chỉ là giả. Địa bàn “quân khu B” và các hoạt động của các toán này được ta tính toán kỹ để đối phó với địch, làm cho chúng tin tưởng.

Thông qua CM-12, ta phát hiện được âm mưu của địch là muốn xây dựng một căn cứ mật ở vùng Đồng Nai – Bà Rịa. Thời kỳ đó, tỉnh Đồng Nai còn gồm cả Bà Rịa -Vũng Tàu, nghĩa là có cả bờ biển. Ý đồ của Túy là muốn thiết lập một “bãi đổ” cho các chuyến xâm nhập ở vùng biển này. Không những thế, Túy còn muốn mở rộng ra cả miền Trung để đổ quân, vũ khí cho “Liên tỉnh xứ”. Lê Quốc Túy còn có kế hoạch đưa T.N.M (K18), một trong những “Kinh Kha” lớp đầu tiên “Minh Vương 1” vốn là một sĩ quan quân đội Sài Gòn, về “quân khu B” hoạt động, sau đó sẽ đưa M lên vị trí chỉ huy các lực lượng quân sự của Túy -Hạnh ở trong nước.

Trong Kế hoạch ĐN-10, ta sử dụng toán “6 cán bộ thành” xâm nhập ngày 9/9/1981, tức là chuyến xâm nhập đầu tiên của địch theo kế hoạch của ta. Toán này do T.Đ (K55) làm toán trưởng và T.H.M.(K66) làm hiệu thính viên. Lê Quốc Túy rất tin tưởng K55. Đây là một thanh niên khá lanh lợi nhưng cũng có cá tính mạnh. Sau khi mới bị bắt, lúc đầu K55 rất “cứng đầu”, không chịu khai báo và quyết định tự tử. Nhưng cán bộ, chiến sĩ công an trại Cây Gừa kịp thời phát hiện và cứu sống anh ta. Sau khi được bồi dưỡng phục hồi sức khỏe, Đ đã thực sự cảm động trước tấm lòng của những cán bộ công an chăm sóc cho mình. Trong một cuộc hỏi cung, vốn rất thèm thuốc lá mà Đ lại quen hút thuốc lá ngon, nên khi đồng chí Ba Gừng, cán bộ của Công an Minh Hải đưa gói thuốc lá cho Đ hút, còn ông lại lấy trong túi một gói thuốc rê ra quấn hút, Đ rất cảm động. Từ đó, anh không còn mặc cảm và tự hại mình nữa. Đ chấp nhận khai báo và tự nguyện làm việc cho ta.

Theo sự phân công của lãnh đạo Bộ và lãnh đạo Tổ An ninh K4/2, đồng chí Lê Tiền phụ trách công tác đấu tranh với các chuyên án trong nội địa và Kế hoạch ĐN-10. Tham gia công tác quan trọng này có đồng chí Nguyễn Khánh Toàn và một số cán bộ từ công an các tỉnh được điều động về như đồng chí Nguyễn Đông Phương (Sáu Phương, nguyên là Phó giám đốc Công an tỉnh Sông Bé trước đây, nay là Giám đốc Sở Thương mại – Du lịch Bình Phước). Công an Đồng Nai cũng cử một số cán bộ an ninh giỏi, tham gia Kế hoạch ĐN-10. Tuy được phân công chuyên trách các mảng như vậy, nhưng trên thực tế, mỗi khi có các chuyến xâm nhập, các đồng chí Lê Tiền, Nguyễn Khánh Toàn… cũng trực tiếp tham gia chỉ đạo hoặc các công tác đón bắt.

Thực hiện Kế hoạch ĐN-10 nhằm khống chế việc mở rộng phạm vi hoạt động của địch, ta chọn một địa điểm thích hợp ở Xuyên Mộc, Đồng Nai. Ban chỉ đạo Kế hoạch chọn 4 cán bộ trinh sát có kinh nghiệm vào các vai “phụ việc” cho toán K55

Mặt khác, thông qua đường liên lạc của CM-12 với “Tổng hành dinh”, ta đã khéo léo buộc địch phải đưa quân và vũ khí xâm nhập ở Cà Mau để có thể kiểm soát cho chắc và đỡ vất vả. Mặt khác, thực hiện sự chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Nội vụ, ban chỉ đạo Kế hoạch ĐN-10 chuẩn bị chu đáo, cho bộ phận điện đài của “quân khu B” lên máy liên lạc với trung tâm. Ngày 16/8/1982, ta tổ chức phiên liên lạc đầu tiên của điện đài ĐN-10. Chúng ta cho K66 lên máy theo quy ước đã được “Tổng hành dinh” trao cho toán K55. Trong phiên liên lạc này, ta cho đài ĐN-10 gửi một bức điện cho trung tâm dưới danh nghĩa K55. Nội dung như sau:

“K55 kính trình, HK132 an toàn đang thiết lập căn cứ và phát triển lực lượng. Điều kiện lên máy khó khăn. Hẹn 20 giờ 15 phút ngày 25/8 liên lạc lại. Nếu không gặp sẽ lên máy vào 21 giờ ngày 28”.

Trung tâm gửi một bức điện thông báo là từ nay điện đài ĐN-10 liên lạc với “Tổng đài” theo quy ước “đã gửi cho K66”.

Phiên liên lạc đầu tiên của ĐN-10 thành công. Trung tâm địch không hề nghi ngờ gì cả. Hơn thế, Túy – Hạnh lại còn tỏ ra đắc thắng vì đã mở rộng phạm vi hoạt động và phát triển được thêm lực lượng.  Như vậy là cùng một lúc ta duy trì hai điện đài liên lạc với “Tổng hành dinh” của địch ở nước ngoài. Kế hoạch CM-12 được phát triển. Tuy nhiên, để làm cho bọn Túy – Hạnh hiểu được là hoạt động bí mật ở vùng Đồng Nai – Bà Rịa không dễ dàng nên ngay trong phiên liên lạc đầu tiên ta đã cho biết tình thế khó khăn của ĐN-10 và báo cho trung tâm biết là điện đài của toán K55 chỉ nên liên lạc với trung tâm sau 10 ngày nữa.

Đúng ngày 25/8/1982, theo hẹn, ta cho đài ĐN-10 lên máy bắt liên lạc với trung tâm địch. Cũng vẫn với giọng điệu là đang gặp khó khăn, nên ta cho K55 báo cáo với “Tổng hành dinh” như sau:

“Hiện nay Cộng sản kiểm soát gắt để bảo vệ lễ 2/9 nên chưa gặp được các tổ để nhận tin. Đang thiếu tài chánh, số đã cấp chưa dám xài vì sợ lộ. Do thiếu tiền và phương tiện nên hoạt động rất hạn chế. Hẹn 20 giờ ngày 6-9 liên lạc lại”.

Trong phiên liên lạc này, trung tâm địch gửi một bức điện cho toán K55 có nội dung:

“Khoảng giữa tháng 9 có 15K vào do K55 di chuyển, có K14. K14 hoàn toàn thuộc hệ thống hành chánh vận chuyển và truyền tin của toán K55. Trong giai đoạn này K14 chỉ được bổ nhiệm một số việc quân sự của tỉnh Biên Hòa – Xuân Lộc. Phải cố gắng nghiên cứu dùng đường thủy chuyên chở hàng hóa với K64. Phải điều nghiên đường biển từ K64 tới Xuyên Mộc dùng ghe loại 5 hoặc 6 tấn để chuyển hàng khi biển yên. Theo dõi lộ trình của tàu vận tải Liên Xô trên sông Đồng Nai từ Vũng Tàu vào Sài Gòn, dùng B40 bắn chìm để làm gián đoạn dòng sông. Một số mục tiêu phá hoại dự định K55 phải ráng nghiên cứu để thực hiện trong đầu năm tới. Khi Đại đội HK132 có căn cứ an toàn phải tiếp vận chất nổ và vũ khí đầy đủ để tiến tới những mục tiêu đã ấn định”.

Qua bức điện này, chúng ta thấy bọn Túy – Hạnh đang rất muốn gây tiếng nổ để phô trương thanh thế. Chúng đặt hy vọng nhiều vào toán K55. Vì vậy cần phải tính toán cẩn thận về việc đối phó với địch trong Kế hoạch ĐN-10. Tổ An ninh K4/2 và Công an tỉnh Đồng Nai tích cực triển khai kế hoạch này.

Trong thời gian này, ta biết địch đang thúc giục các đối tượng trong nội địa khẩn trương triển khai kế hoạch hành động. Tuy nhiên, ta cũng đang thực hiện đối sách ngăn chặn và gây cho địch hiểu được những khó khăn để chúng chùn lại ý đồ phá hoại. Đặc biệt, thông qua CM-12 và các đầu mối khác, kể cả ĐN-10, một trong những mục tiêu trước mắt của ta là làm cho Túy – Hạnh từ bỏ việc sử dụng tiền giả.

Cũng như CM-12, “mật cứ” của ĐN-10 cũng chỉ là những mật cứ ảo mà ta dựng nên để cho Túy – Hạnh tưởng như thật. Những “kế hoạch phát triển lực lượng”, “xây dựng cơ sở” của toán K55, trong Kế hoạch ĐN-10 chỉ là đồ giả. Nhưng để làm cho địch tin là thật lại không phải dễ và phải thực hiện chu đáo, cẩn trọng, kín kẽ từng li từng tí.

Trong thời gian này, địch dự kiến sẽ đưa quân về tăng cường cho khu vực miền Đông. Ngày 6/9/1982, ta cho đài ĐN-10 lên máy và hỏi lại trung tâm về việc Lê Quốc Túy dự định đưa 15 tên nữa vào thì bố trí ở đâu? K14, tức B.S sẽ ở nơi nào là chính để “K55 lo sắp xếp trước và cần biết sớm thời gian vào để kịp phối hợp với K64 đón nhận”.

Nhưng sau đó, thông qua điện đài CM-12, địch báo cho “Tổ đặc biệt” là chiến dịch tới đến đầu năm 1983 mới thực hiện được. Chiến dịch này được dự kiến là thực hiện trong ba tháng liên tục. Trong phiên liên lạc ngày 21/9, trung tâm địch cũng thông báo cho ĐN-10 biết là chiến dịch xâm nhập tạm ngưng và chỉ thị là không nên xài “hàng đặc biệt” vào lúc này.

Như vậy là những động tác của ta nhằm ngăn chặn địch chỉ đạo sử dụng tiền giả đã có kết quả. Tuy nhiên, Lê Quốc Túy vẫn chỉ thị cho ĐN-10 tiếp tục nghiên cứu, nắm tình hình để tổ chức phá hoại ở khu vực miền Đông để “tiếp tay cho sự vận động ngoại giao của C4”. Lê Quốc Túy đang rất muốn có “sự biến” ở trong nước để chứng minh rằng lực lượng của y ở trong nước là có thật và đang hoạt động có hiệu quả, tiếp tục phô trương thanh thế, hòng kiếm thêm viện trợ và sự ủng hộ của các thế lực quan thầy. Mặt khác, y cũng muốn qua những hoạt động đó để lên mặt với các đối thủ cạnh tranh của chúng ở nước ngoài. Cùng thời gian này, Túy cũng chỉ thị cho CM-12 tiến hành phá hoại để gây tiếng vang và hỗ trợ cho hoạt động tuyên truyền, vận động của chúng ở bên ngoài.

Ban chỉ đạo Kế hoạch CM-12 quán triệt nguyên tắc là bảo vệ tuyệt đối an ninh, không để địch phá hoại. Ban chỉ đạo soạn thảo các bức điện gửi cho Lê Quốc Túy, tất nhiên là dưới danh nghĩa của K55 nêu những khó khăn trong việc thực hiện yêu cầu của “Tổng hành dinh”. Mặt khác, trước sự thúc bách phá hoại của địch, ta cũng nghiên cứu các phương án gây ra một vài vụ nổ mà không ảnh hưởng đến an ninh nhưng giữ được niềm tin của bọn đầu sỏ đối với Kế hoạch CM-12 và Kế hoạch ĐN-10. Sau này ta thực hiện một vụ nổ phá hoại giả tạo tại ngoài hàng rào nhà máy nước ở Thủ Đức vào ban đêm. Sau đó, ta cho K55 báo cáo qua đài ĐN-10 và một số đầu mối phản động nội địa thông báo cho Túy biết. Lê Quốc Túy rất phấn khởi, tổ chức họp báo ở nước ngoài và điện khen toán K55.

Quá trình thực hiện Kế hoạch ĐN-10 đã tạo được niềm tin cho Túy – Hạnh và trên thực tế, ta đã tạo ra được một lối rẽ để thực hiện kế hoạch thu hút lực lượng của địch ở nước ngoài về. Quá trình thực hiện Kế hoạch ĐN-10 thể hiện sự sáng tạo và quyết đoán trong cách đánh địch của lực lượng An ninh Việt Nam, góp phần ngăn chặn không cho địch chuyển sang giai đoạn phá hoại mới…(còn tiếp)

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 39 other followers